1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại PHÁP LUẬT về CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG cáo và KHUYẾN mại

55 286 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 550,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có những nhà sản xuất , kinh doanh vì cạnh tranh không nổi với những hãng khác thì lại dùng những biện pháp không đẹp để cạnh tranh không lành mạnh bằng nhiều thủ đoạn khác nhau: bán phá

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

NIÊN KHOÁ 2004 - 2008 TÊN ĐỀ TÀI:

PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG

HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO VÀ KHUYẾN MẠI

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Mai Hân Họ và Tên: Nguyễn Lâm Duy Linh

Mssv: 5044111

Lớp: Luật Thương Mại – K30

Cần Thơ, tháng 05/2008

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN



Cần Thơ, ngày tháng năm 2008

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỤC LỤC  PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO VÀ KHUYẾN MẠI Trang Lời nói đầu 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 4

1 Khái quát chung về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh 4

1.1 Khái niệm cạnh tranh và ý nghĩa của cạnh tranh 4

1.2 Sự cần thiết phải có pháp luật cạnh tranh 5

1.3 Sự ra đời của pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam 8

2 Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh 10

2.1 Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh 10

2.2 Mục đích và hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh 12

2.3.Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh 15

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO VÀ KHUYẾN MẠI 17

1 Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo 17

1.1 Khái niệm quảng cáo và nội dung quảng cáo 17

1.2 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo 18

1.2.1 So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hoá dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác 19

1.2.2 Bắt chước sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng 23

1.2.3 Quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng 24

1.3 Xử lý và chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo 26

2 Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại 28

2.1 Khái niệm khuyến mại và nội dung khuyến mại 28

2.2 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại 29

2.2.1 Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng 29

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.2.2 Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối

khách hàng 30

2.2.3 Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại 30

2.2.4 Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoá cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hoá của mình 31

2.3 Xử lý và chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại 32

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG QUẢNG CÁO VÀ KHUYẾN MẠI – MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 34

1 Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo và khuyến mại 35

1.1 Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo 35

1.2 Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh trong khuyến mại 40

2 Hướng giải quyết và một số đề xuất 43

2.1 Đối với hoạt động quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 43

2.2 Đối với hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh 46

2.3 Một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo và khuyến mại 48

KẾT LUẬN 52

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LỜI NÓI ĐẦU

Bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế cùng với nền kinh tế thị trường Đây là những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế một quốc gia và tồn tại trong đó nhiều vấn đề liên quan chi phối nhiều khía cạnh của nền kinh tế ảnh hưởng đến sự phát triển cân bằng của nền kinh tế và cho cuộc sống của mỗi người dân, một trong những vấn đề đó là cạnh tranh mà điều đáng chú ý là cạnh tranh không lành mạnh Khi bước vào môi trường kinh doanh tự do để tạo bước chuyển cho nền kinh tế phát triển năng động thì cạnh tranh trong mua bán hàng hoá là cần thiết và không thể tránh khỏi Mỗi một nhà sản xuất luôn muốn kiếm lợi nhuận thật nhiều và mua bán hàng hoá đòi hỏi phải có chiến lược và có thể bao gồm cả thủ đoạn không đẹp để hạ gục đối thủ cạnh tranh với mình Có nhiều biện pháp sử dụng trong cạnh tranh như: quảng cáo, khuyến mại, cạnh tranh bằng giá cả… Bất

kỳ một sản phẩm nào làm ra đều cần được đưa tới người tiêu dùng bằng nhiều cách khác nhau để làm sao thu hút thật nhiều khách hàng mà quảng cáo và khuyến mại là hai hoạt động rất thường được sử dụng để giới thiệu hàng hoá của mình như: quảng cáo sản phẩm trên truyền hình, báo chí, hàng loạt các chương trình khuyến mại diễn ra rầm rộ… nhằm kích thích sức mua của khách hàng cho một loại sản phẩm nào đó Có những nhà sản xuất , kinh doanh vì cạnh tranh không nổi với những hãng khác thì lại dùng những biện pháp không đẹp để cạnh tranh không lành mạnh bằng nhiều thủ đoạn khác nhau: bán phá giá hàng hoá, gièm pha quảng cáo so sánh nói xấu sản phẩm của doanh nghiệp khác… Những

vụ việc, vấn đề này phải được pháp luật can thiệp và xử lý kịp thời để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng Luật cạnh tranh ra đời năm 2004 trong đó có quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm Đây là hành lang pháp lý quan trọng tạo ra sự cạnh tranh công bằng trong hoạt động kinh doanh, sự yên tâm cho các nhà sản xuất và cả những nhà đầu tư vào kinh doanh Nhưng pháp luật cũng không thể quy định bao quát hết và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh với thủ đoạn ngày càng diễn

ra tinh vi hơn xuất hiện ngày càng nhiều Vì thế, để thấy rõ hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra như thế nào chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu cụ thể hai hành vi rất thường được

sử dụng trong trong cạnh tranh là quảng cáo và khuyến mại, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng ta sẽ đi tìm hiểu pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo và khuyến mại Qua đó, chúng ta sẽ có nhìn nhận cụ thể về pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo, khuyến mại, cùng những đề xuất hoàn thiện

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Mục đích: Tìm hiểu quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo và khuyến mại, quảng cáo và khuyến mại cạnh tranh không lành mạnh tồn tại dưới những hình thức nào, quy định của pháp luật có mang lại hiệu quả như mong muốn hay không nhằm ổn định môi trường cạnh tranh lành mạnh

- Phương pháp nghiên cứu: Nhằm tìm hiểu những quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh ta dùng những cách thức sau:

+ Dùng phương pháp phân tích câu chữ của luật để tìm hiểu quy định của pháp luật như thế nào, có phù hợp với thực tế hay không, tác dụng của nó đối với hoạt động cạnh tranh.+ Tổng hợp từ thực tế các số liệu về tình hình cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo và khuyến mại diễn ra như thế nào, đánh giá những quy định của luật trong việc giải quyết những vụ việc này

+ Cuối cùng căn cứ vào tình hình thực tế mà có những đề xuất tổng hợp lại

* Nội dung của đề tài: Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo và khuyến mại:

+ Nhìn nhận chung về hoạt động cạnh tranh và hoạt động cạnh tranh không lành mạnh.+ Nghiên cứu đề tài gồm 3 chương:

- Chương 1: Khái quát chung về pháp luật cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh Đưa ra cái nhìn khái quát về hoạt động cạnh tranh, sự cần thiết phải có pháp luật cạnh tranh, vai trò của luật cạnh tranh trong hoạt động mua bán kinh doanh

- Chương 2: Quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt đông quảng cáo và khuyến mại Ta sẽ đi sâu tìm hiểu những quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo và khuyến mại như: quảng cáo là gì, nội dung quảng cáo được quy định ra sao, hành vi nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo và khuyến mại…

- Chương 3: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo và khuyến mại và một số đề xuất Ta sẽ tìm hiểu hoạt động cạnh tranh không lành mạnh diễn ra như thế nào, dưới những hình thức gì… Từ đó có hướng đề xuất hoàn thiện cho phù hợp Xây dựng pháp luật hoàn chỉnh về cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh sẽ tạo lòng tin cho các nhà sản xuất, kinh doanh chân chính thu hút đầu tư, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ HÀNH VI

CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

1 Khái quát chung về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh

Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng từ năm 1986, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Khuôn khổ pháp lý và thiết chế cần thiết để vận hành nền kinh tế mới đã được xây dựng và từng bước hoàn thiện Luật cạnh tranh ra đời đã được Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 3 tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2005 là một trong những nỗ lực quan trọng nhằm xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích và bảo vệ cạnh tranh bình đẳng, không phân biệt đối xử dựa trên nền tảng của nguyên tắc chung là tự do kinh doanh theo khuôn khổ pháp luật

1.1 Khái niệm cạnh tranh và ý nghĩa của cạnh tranh

Thuật ngữ “Luật cạnh tranh” được biết đến ở Việt Nam chỉ vào khoảng trên dưới chục năm trở lại đây nhờ vào quá trình giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế Các công trình nghiên cứu về Luật cạnh tranh ở nước ta, có thể nói là khá hạn chế so với nhiều chuyên ngành luật khác, chủ yếu mới dừng lại ở việc đề cập sự cần thiết ban hành Luật cạnh tranh hoặc phân tích một vài chế định hay khía cạnh cơ bản của Luật cạnh tranh Muốn hiểu được Luật cạnh tranh trước hết cần phải hiểu cạnh tranh là gì và nó được cấu thành từ những yếu tố nào:

+ Khái niệm cạnh tranh: Theo từ điển Cornu của Pháp, thì cạnh tranh được hiểu là:

“Chạy đua trong kinh tế, hành vi của các doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhau, cung ứng hàng hoá, dịch vụ, nhằm làm thoả mãn nhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để bị mất đi một lượng khách hàng thường xuyên”1

“Chạy đua trên thị trường mà cấu trúc và sự vận hành đáp ứng các điều kiện của quy luật cung cầu của một bên là các nhà cung cấp với bên kia là những người sử dụng hoặc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ được tự do tiếp cận và các quyết định kinh doanh không phải là

1 Pgs.Ts Dương Đăng Huệ và Ths Nguyễn Hữu Huyên - Những vấn đề lý luận cơ bản của Luật cạnh tranh - Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9/2004.

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hệ quả của áp lực hoặc do những ưu đãi của pháp luật mang lại” Như vậy cạnh tranh bao gồm các yếu tố cơ bản sau:

+ Thứ nhất, khách hàng thường xuyên Đây cũng là đối tượng và cũng là mục tiêu mà tất

cả các bên tham gia cạnh tranh đều hướng tới, lôi kéo khách hàng vế phía mình

+ Thứ hai, các bên tham gia cạnh tranh chủ yếu là các doanh nghiệp Muốn có cạnh tranh thì ít nhất phải có từ 2 doanh nghiệp trở lên là đối thủ của nhau Nếu không có đối thủ hay nói cách khác là tình trạng độc quyền thì cạnh tranh không thể diễn ra và do vậy Luật cạnh tranh cũng không có cơ sở kinh tế- xã hội để tồn tại

+ Thứ ba, một môi trường chính trị, pháp lý tạo thuận lợi cho cạnh tranh Đó chính là nền kinh tế thị trường, cạnh tranh chỉ có thể diễn ra trong môi trường mà tự do khế ước, tự do kinh doanh được thừa nhận như là những quyền cơ bản của công dân

+ Thứ tư, thị trường liên quan Đây là một trong những khái niệm cơ bản của Luật cạnh tranh Nội hàm của nó thường được xác định thông qua hai yếu tố là thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Chỉ có thể nói đến cạnh tranh khi đã xác định được thị trường liên quan Khi xử lý các vụ việc về cạnh tranh thì việc xác định thị trường liên quan chính là công việc đầu tiên mà các chủ thể áp dụng Luật cạnh tranh cần phải tiến hành

- Cạnh tranh có ý nghĩa sau:

Kích thích sản xuất tạo ra các sản phẩm ngày càng an toàn, hiệu quả phục vụ cho nhu cầu và cuộc sống mọi người với một giá cả hợp lý Tạo ra cho mọi người nhiều sự lựa chọn với nhiều loại sản phẩm khác nhau căn cứ vào nhu cầu và khả năng của mọi người Làm cho các nhà sản xuất phải luôn tự đổi mới, cải tiến chất lượng để cạnh tranh với đối thủ Góp phần không nhỏ làm cho nền kinh tế năng động hơn, tạo ra nhiều của cải cho xã hội.Có cạnh tranh thì mới thúc đẩy sản xuất, góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế là biểu hiện của nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển năng động

1.2 Sự cần thiết phải có pháp luật cạnh tranh

- Cùng với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài và khuyến khích đầu tư trong nước, số lượng các doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế ngày càng tăng Sự năng động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường đang tạo ra những bước chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế của nước ta Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực, thị trường nước ta đang bị đe dọa trước sức tấn công của những hành vi cạnh tranh không lành mạnh Cùng với thời gian và cùng với

sự phát triển của nền kinh tế, những thủ đoạn cạnh tranh ngày càng tinh vi, gây ra hậu quả

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nghiêm trọng và ảnh hưởng sâu sắc đến sự ổn định của nền kinh tế nước nhà cũng như sức sống của một ngành công nghiệp nội địa Nhìn chung, các hành vi cạnh tranh được thể hiện bằng nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh phổ biến như:

+ Cạnh tranh bằng giá cả: Cạnh tranh thông qua giá cả là biện pháp kinh điển và lỗi thời ở các nước có nền kinh tế phát triển Nhưng đối với nền kinh tế thị trường non trẻ của nước

ta, biện pháp bán phá giá đang là công cụ hữu hiệu của các hãng lớn sử dụng để thâu tóm thị phần của các đối thủ cạnh tranh

+ Cạnh tranh bằng khuyến mại: Lợi dụng thế mạnh tài chính, bên cạnh việc bán phá giá, các hãng lớn đang thi nhau chiến dịch khuyến mại với quy mô và giá trị ngày càng lớn, với các món quà, giải thưởng có giá trị và hấp dẫn có khi lên đến vài trăm triệu đồng Với những chính sách khuyến mại này người tiêu dùng có lẽ cũng không quan tâm đến việc lựa chọn, so sánh với sản phẩm khác mà chỉ quan tâm mua để trúng thưởng

+ Cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo: Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động quảng cáo diễn ra rất sôi động Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích thiết thực, hoạt động quảng cáo này cũng góp phần tạo ra một môi trường cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế nước ta Cuộc chiến trong lĩnh vực quảng cáo đang diễn ra đầy kịch tính, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra ngày càng nhiều như: quảng cáo không trung thực, quảng cáo so sánh… các hành vi quảng cáo gian dối, quá lố về quy cách, phẩm chất của hàng hoá đang diễn ra một cách công nhiên ở Việt Nam, những lời khẳng định chắc chắn về tính ưu việt của sản phẩm đang diễn ra hàng ngày, Quảng cáo cho sản phẩm của mình là tốt nhất, giá

rẻ, nhưng thực tế không phải vậy, các kiểu so sánh mập mờ khiến người xem khó hiểu… + Các hành vi cản trở quyền lựa chọn của người tiêu dùng: Hiện nay chúng ta dễ dàng tìm

ra một cửa hàng chỉ bán sản phẩm của một nhà sản xuất mà hoàn toàn không bán sảnphẩm của nhà sản xuất khác Lúc này nhà tiêu dùng sẽ không có bất cứ sự lựa chọn nào khác là buộc phải mua sản phẩm của nhà sản xuất đó…

+ Các hành vi gièm pha, bôi nhọa đối thủ: Hành vi gièm pha bôi nhọa đối thủ được thực hiện bằng việc tung ra các tin tức không có thật nhằm giảm uy tín của đối thủ như: trong chai bia của hãng A có gián, trong chai nước ngọt của hãng B có kiến, sản phẩm của hãng

C có hoá chất độc hại hay sản phẩm của hãng này được lấy từ nước sông… Những hành

vi này rất nguy hiểm vì chỉ cần một tin đồn là một doanh nghiệp làm ăn chân chính có thể đóng cửa vì hàng hoá của mình không tiêu thụ được trên thị trường

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

+ Hành vi nhái nhãn hiệu nổi tiếng: Nhãn hiệu nổi tiếng là một lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn của các hãng sản xuất bởi khi đọc đến tên nhãn hiệu, người tiêu dùng có thể cảm nhận được ngay, phân biệt được tiềm lực chất lượng, phương thức phục vụ của sản phẩm này

so với sản phẩm cùng loại mang nhãn hiệu khác Tình trạng hàng nhái tràn lan và không kiểm soát được đến mức báo động và cần phải có cơ chế điều chỉnh

- Rõ ràng đã đến lúc cần phải có luật cạnh tranh với một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để quản lý các hành vi cạnh tranh trong giai đoạn hiện nay để đảm bảo một trật tự kinh doanh rong kinh tế thị trường, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và người tiêu dùng cũng như các nhà kinh doanh Trước khi luật cạnh tranh ra đời, chúng ta cũng có nhiều những quy định của pháp luật để điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhưng nó nằm rải rác ở các văn bản pháp luật riêng biệt: Bộ luật dân sự, Luật thương mại… Tuy nhiên, những quy định này còn rất chung, sơ lược, hiệu lực pháp lý chưa cao dẫn đến không đủ sức đối phó với các thủ đoạn cạnh tranh tinh vi, phức tạp của thị trường Ngoài việc thiếu các văn bản pháp luật điều chỉnh, chúng ta còn thiếu một cơ chế bảo đảm trật tự cạnh tranh lành mạnh Để làm được việc này, không chỉ cần một chế định pháp lý riêng biệt, hữu hiệu về cạnh tranh mà còn cần có một cơ quan chuyên biệt, có quyền lực để chống lại những hành vi tiêu cực trong cạnh tranh Tóm lại thị trường cạnh tranh Việt Nam giống như một sân chơi tự do không có trọng tài, mà nếu có trọng tài đi nữa thì cũng không có quy định nào để xử lý vi phạm Thực tế cho thấy, pháp luật có hay không có quy định điều chỉnh thì cạnh tranh vẫn tồn tại với cả hai mặt tích cực và tiêu cực vốn có của nó Như vậy, khi đã chấp nhận nền kinh tế thị trường, chấp nhận kinh doanh thì cần thiết phải

có luật chơi của thị trường, của cạnh tranh Và nếu không kịp thời có những quy định điều chỉnh thì sẽ đến lúc pháp luật cạnh tranh Việt Nam không theo kịp với sự tinh vi trong các thủ đoạn cạnh tranh trên thương trường cũng như trong pháp luật cạnh tranh trên thế giới Chúng ta đang phải hứng chịu và khắc phục hậu quả do hành vi cạnh tranh không lành mạnh mang lại, cạnh tranh không lành mạnh như là một căn bệnh nan y của thị trường vốn không dễ chữa khỏi nhưng có thể kiểm soát được và có thể hạn chế được thấp nhất những hậu quả xấu có thể xảy ra Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, thực tế đòi hỏi chúng ta phải có một đạo luật cạnh tranh kịp thời để điều chỉnh và định hướng sự phát triển lành mạnh của thị trường đó chính là Luật cạnh tranh

1.3 Sự ra đời của pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam

- Cạnh tranh là một khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam vì khái niệm này chỉ gắn liền với

sự phát triển của nền kinh tế thị trường Suốt trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung trước

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

đây cạnh tranh dường như không được tồn tại và thừa nhận Qúa trình chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra việc thích ứng với những quy luật mang thuộc tính vốn có của kinh tế thị trường, trong đó phải kể đến yếu tố cạnh tranh Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh

tế, là cơ sở quan trọng bảo đảm cho tự do kinh doanh hợp pháp và mang lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng Để đạt được mục tiêu này thì cần phải có nhiều biện pháp điều chỉnh khác nhau, trong đó pháp luật được coi là biện pháp quan trọng điều chỉnh quan hệ cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Thực tiễn vận hành nền kinh tế non trẻ ở Việt Nam thiếu khuôn khổ pháp lý đầy đủ về cạnh tranh cho thấy có nhiều hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh đã và đang xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau tác động xấu đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và cản trở hoạt đông kinh doanh hợp pháp của các chủ thể trên thị trường nói riêng và điều đó đã tác động tiêu cực đến quyền lợi của người tiêu dùng

+ Thực hiện nghị quyết của Quốc hội ngày 12/4/2000, Bộ Thương Mại đã ra quyết định thành lập ban soạn thảo Luật cạnh tranh Qua nghiên cứu các đề tài khoa học xung quanh vấn đề này, tham khảo Luật cạnh tranh của 9 nước và vùng lãnh thổ, Luật mẫu về cạnh tranh của một số Tổ chức quốc tế, học hỏi kinh nghiệm của các nước, Ban soạn thảo đã hoàn thành 9 dự thảo Ngày 6/1/2004 Bộ Thương Mại đã trình Chính Phủ dự thảo 9 phiên bản 3 Luật cạnh tranh Ngày 5/2/2004 Chính Phủ đã họp thảo luận và cho ý kiến vào dư thảo này Nội dung kết cấu của dự án Luật cạnh tranh: Dự án Luật cạnh tranh gồm 9 chương, 93 điều; Chương 1: Những quy định chung (từ điều 1 đến điều 7); Chương 2: Thoả thuận hạn chế cạnh tranh (từ điều 8 đến điều 10); Chương 3: Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền (từ điều 11 đến điều 15); Chương 4: Tập trung kinh tế (từ điều 16 đến điều 23); Chương 5: Cạnh tranh không lành mạnh (từ điều 24 đến điều 33); Chương 6: Thủ tục thực hiện các trường hợp miễn trừ (từ điều 34 đến điều 45); Chương 7: Điều tra xử lý vụ việc cạnh tranh (từ điều 46 đến điều 89); Chương 8: Quản lý nhà nước về cạnh tranh (từ điều 90 đến điều 91); Chương 9: Điều khoản thi hành (từ điều

92 đến điều 93)

+ Cùng với đó là có nhiều ý kiến và góp ý đối với dự thảo Luật cạnh tranh như: về tên gọi, phạm vi điều chỉnh, về vấn đề độc quyền, có cấm tập trung kinh tế hay không… Và cuối cùng Luật cạnh tranh đã được Quốc hội khoá 11 kỳ họp thứ 6 thông qua vào ngày 3 tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2005 Để thực thi luật này, ngày

15 tháng 9 năm 2005 Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định chi

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh Việc Luật cạnh tranh được thông qua và có hiệu lực đã góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực pháp luật về kinh tế, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Luật cạnh tranh ra đời

có những lợi ích:

+ Đảm bảo sự bình đẳng của các doanh nghiệp: Quy định của Luật cạnh tranh tạo cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khi tham gia vào thị trường được bình đẳng như nhau, thể hiện ở chỗ nếu các doanh nghiệp dù doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, tư nhân hay có vốn đầu tư nước ngoài nếu vi phạm các quy định về hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh đều sẽ bị xử lý

+Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Có điều rõ ràng là khi thưc hiện Luật cạnh tranh, các doanh nghiệp đều có cơ hội như nhau, không sợ rằng mình khi tham gia vào thị trường đối với mặt hàng nào đó mà lại thấy rằng lĩnh vực đó đã có doanh nghiệp lớn hay giữ vị trí độc quyền chi phối cản trở việc gia nhập thị trường

+ Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Bằng các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh, Luật cạnh tranh nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng đứng trước những thách thức:

- Thứ nhất, mọi doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế, kể cả các doanh nghiệp thuộc kinh tế quốc doanh, phải chấp nhận cạnh tranh một cách văn minh hơn, rõ ràng hơn, bài bản hơn mà không còn đất cho những chiến thuật cạnh tranh chộp giật, doanh nghiệp lớn sẽ phải cẩn thận hơn trước khi ra những quyết định quan trọng trong kinh doanh vì những quyết định của doanh nghiệp lớn có ảnh hưởng đến thị trường và đã được giám sát chặt chẽ

- Thứ hai, doanh nghiệp phải chấp nhận những cơ chế mới do Luật cạnh tranh đặt ra Doanh nghiệp phải thông báo khi tập trung kinh tế đạt đến một ngưỡng nhất định Trong một số trường hợp, nếu tập trung kinh tế có khả năng gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường thì doanh nghiệp sẽ không được phép tập trung kinh tế Khi doanh nghịêp cho rằng hành vi của mình có thể đem lại cho lợi ích cộng đồng nhiều hơn những tác hại mà nó gây

ra thì doanh nghiệp cần làm thủ tục miễn trừ để thực hiện hành vi

- Thứ ba, doanh nghiệp sẽ đối mặt với những chế tài rất nghiêm khắc nếu có hành vi vi phạm pháp luật với dự kiến mức phạt không phải là một số tiền tuyệt đối mà được tính theo phần trăm doanh thu của doanh nghiệp vi phạm

2 Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Đây là một nội dung quan trọng trong Luật cạnh tranh Việt Nam Pháp luật cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới có nhiều cách giải quyết khác nhau về vấn đề cạnh tranh không lành mạnh Một số quốc gia điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong một số văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt như: Đức, Thụy sĩ, Trung Quốc, Nhật Bản… Một số quốc gia khác lại xây dựng thành một chế định trong Luật cạnh tranh như: Bungari, Hàn Quốc, Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG)… Ngoài ra, còn có các quốc gia lại coi cạnh tranh không lành mạnh là một lĩnh vực đặc biệt của pháp luật dân sự như: Pháp, Italia…Tuy nhiên, mục đích điều chỉnh của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh của các quốc gia đều nhằm bảo vệ môi trường cạnh tranh công bằng bình đẳng

2.1 Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Muốn quy định về một vấn đề nào đó thì trước tiên phải hiểu được vấn đề đó là như thế nào, bao gồm nội dung gì Ở các nước khác nhau cũng có những khái niệm không giống nhau về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

+ Theo quy định tại Điều 10 Bis Công ước Pari: “Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh không trung thực, vi phạm những nguyên tắc cơ bản của đạo đức kinh doanh, được tiến hành trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, nhằm hưởng lợi bất hợp pháp từ thành quả kinh doanh của người khác hoặc gièm pha đối thủ cạnh tranh, qua

+ Căn cứ vào khái niệm cạnh tranh không lành mạnh của Công ước Pari, pháp luật cạnh tranh của các quốc gia đã đưa ra định nghĩa về hành vi này trong các đạo luật của mình Luật chống hành vi cạnh tranh của Trung Quốc đã xác định: “Cạnh tranh không lành mạnh là các hoạt động của doanh nghiệp, của các chủ thể kinh doanh khác thực hiện trái pháp luật, gây thiệt hại chính đáng cho doanh nghiệp khác, làm rối loạn trật tự kinh tế, xã hội” Luật cạnh tranh của cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) đã đưa ra định nghĩa:

“Cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp với mục đích thu lợi bất chính trong khi tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, vi phạm tập quán kinh doanh, vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh, gây ra thiệt hại cho các doanh nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh hoặc gây ảnh hưởng uy tín kinh doanh của họ”

+ Theo Luật cạnh tranh 2004 của Việt Nam thì: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” Như vậy,

2 Ts.Lê Hoàng Oanh - Bình luận khoa học Luật cạnh tranh - NXB: Chính trị quốc gia - 2005.

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các nước có những cách diễn đạt không giống nhau về hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhưng nội dung chủ yếu đều gần giống nhau Hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm 2 nội dung:

+ Thứ nhất, nó là hành vi cạnh tranh trong quá trình sản xuất, kinh doanh mà hành vi này

vi phạm các nguyên tắc cơ bản của đạo đức kinh doanh hay những quy định của pháp luật

về cạnh tranh Đó có thể là vi phạm những thoả thuận trong kinh doanh, một tập quán kinh doanh mà những nhà sản xuất, kinh doanh đều hiểu và tuân theo hay đó là những hành vi vi phạm những quy định rõ ràng trong pháp luật cạnh tranh để thu lợi bất chính, làm giảm uy tín của đối thủ cạnh tranh hoặc có thể làm những đối thủ cạnh tranh bị phá sản

+ Thứ hai, nó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây ra thiệt hại cho nhà sản xuất chân chính, người tiêu dùng hay gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước Điều này có thể thấy được thông qua những tác động trực tiếp của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây

ra như: làm cho đối thủ cạnh tranh rơi vào tình trạng khó khăn, sản phẩm không thể tiêu thụ được, doanh thu bị giảm sút hoặc thiệt hại không bằng vật chất như: làm uy tín của doanh nghiệp bị bôi nhọa dẫn đến mất lòng tin của khách hàng vào sản phẩm, hàng hóa của mình hoặc hành vi đó sẽ gây ra những thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước đến sự phát triển của nền kinh tế như độc quyền sản phẩm nâng giá quá cao…

2.2 Mục đích và hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh

*Mục đích của hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

Nhìn vào tên gọi là ta có thể biết được là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra với ý đồ xấu, không đẹp, với nhiều mục đích khác nhau, nhiều lúc chúng ta cũng không hiểu hết được vì chính nhà sản xuất, kinh doanh đưa ra nó mới hiểu chính xác được

là họ muốn làm gì Nhưng ta có thể liệt kê một số điểm cơ bản như sau:

+ Mục đích quan trọng nhất đó chính là tìm kiếm lợi nhuận Vì đã sản xuất, kinh doanh thì phải kiếm được lợi nhuận, và chính sức hút của đồng tiền mà các doanh nghiệp sử dụng cả những thủ đoạn không đẹp để cạnh tranh và khi tồn tại trong nền kinh tế thị trường thì nó càng xuất hiện rõ nét và không thể tránh khỏi, điều này chỉ có thể được kiềm chế khi có sự tự giác của các nhà sản xuất, kinh doanh biết tuân thủ đúng luật và có đạo đức kinh doanh cùng với đó là sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm

+ Tiếp theo chính là để hạ gục đối thủ Vì muốn kiếm lợi nhuận nhiều khi mà sản phẩm của minh là độc quyền, không ai cạnh tranh, bên ngoài các doanh nghiệp kinh doanh

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

trong không gian bình đẳng nhưng tồn tại trong họ những kế hoạch lật đổ đối thủ bằng những chiến lược và sách lược ngắn hạn, dài hạn với nhiều hình thức khác nhau và đôi lúc

đó là những hành vi cạnh tranh không đẹp cạnh tranh không lành mạnh và khi đó pháp luật phải can thiệp để cho nó hoạt động trong khuôn khổ cạnh tranh lành mạnh

+ Kế tiếp là chiếm lĩnh thị trường, thu hút khách hàng Khi đã hạ gục đối thủ muốn có lợi nhuận nhiều thì phải có khách hàng mua sản phẩm của mình, muốn bán được nhiều hàng hoá thì phải có một thị trường rộng lớn không ai cạnh tranh với mình Nhưng thực tế thì

đa số các thị trường tiêu thụ một loại sản phẩm thì có nhiều hãng sản xuất giống nhau như: bột giặt, mì gói, dầu gội đầu… hàng ngày hàng giờ cạnh tranh rất quyết liệt và người tiêu dùng có rất nhiều sự lựa chọn và muốn giảm bớt sự lựa chọn để chiếm lĩnh thị trường thì phải sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh đan xen với những biện pháp cạnh tranh hợp pháp, khi đó luật cạnh tranh sẽ được đưa vào để kiềm chế nó làm cho hoạt động cạnh tranh không vượt quá giới hạn cho phép

+ Một điểm nữa có lẽ không phổ biến nhưng nó hoàn toàn có thể xảy ra đối với nền kinh

tế cạnh tranh theo cơ chế thị trường là: có những doanh nghiệp nhỏ không đủ sức cạnh tranh bình đẳng vì không đủ tiềm lực về tài chính thì có thể dùng những thủ đoạn cạnh tranh không đẹp nhằm tìm kếm lợi nhuận bằng mọi cách Điều này là vấn đề mà các doanh nghiệp lớn rất lo ngại khi hoạt động trong cơ chế thị trường mà không có quy định chặt chẽ về cạnh tranh, hàng hoá của họ có thể bị làm giả, nháy sản phẩm, tên gọi… điều này có thể làm cho các doanh nghiệp lớn mất uy tín giảm doanh thu Vì thế Luật cạnh tranh ra đời như là một công cụ hiệu quả nhất nhằm xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng và góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế

* Hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

Cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn đến những hậu quả mà chúng ta không thể lường trước được vì chúng ta không thể xác định chính xác phạm vi ảnh hưởng của nó,

mà ta chỉ có thể xác định một cách khái quát về khả năng có thể xảy ra, bị ảnh hưởng tới Điều này cũng dễ hiểu vì ngay cả những người tiến hành thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh cũng không thể tính toán được chính xác phạm vi ảnh hưởng hoặc cũng có thể họ chẳng quan tâm đến hậu quả xảy ra vì mục đích của họ là lợi nhuận càng nhiều và tìm mọi cách để hạ gục đối thủ Bất chấp lợi ích người tiêu dùng, hàng loạt vụ cạnh tranh nhằm triệt hạ uy tín của đối thủ đang được một số doanh nghiệp áp dụng Điều đáng nói

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

là dường như chế tài vẫn chưa đủ mạnh khiến cho bài toán làm trong sạch môi trường kinh doanh vẫn bỏ ngõ

Như ta thấy hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là rất lớn, chỉ cần dùng vài thủ đoạn có thể nói là rất nhẹ nhàng như: tung tin đồn trong kinh doanh về một loại hàng hoá nào đó kém chất lượng… là đối thủ cạnh tranh hay chính hàng hoá đó rất khó tồn tại, ta có thể rút ra vài khía cạnh mà hành vi cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng tới như sau:

+ Đầu tiên, nó ảnh hưởng đến sự cạnh tranh công bằng trong kinh doanh: Có thể dẫn đến làm giảm uy tín của nhà sản xuất, lợi nhuận giảm sút và có thể lâm vào tình trạng phá sản… Khi đã bị đối thủ chơi xấu dùng những thủ đoạn không minh bạch thì các doanh nghiệp bị hại đã biết thì quá muộn vì đây là cạnh tranh không lành mạnh, nên không công khai hoặc công khai dưới nhiều hình thức mà không biết được Khi nhà sản xuất hay tin thì sự việc đã diễn ra xong rồi, họ chỉ biết thanh minh, giải thích và có thể gánh chịu cả hậu quả thua lỗ dù mình bị vu oan Dù có thanh minh với công chúng được thì uy tín của

họ đã bị giảm sút, người tiêu dùng sẽ e ngại hay lưỡng lự trước sản phẩm đó, hậu quả này

có thể kéo dài trong vài tháng có khi cả năm và thiệt hại về kinh tế là không thể tránh khỏi

+ Người tiêu dùng: Chính khách hàng là người phải gánh chịu trực tiếp hậu quả do hành

vi cạnh tranh không lành mạnh mang lại Một sản phẩm đã được sử dụng thường xuyên, trong một lúc nào đó lại bị nói xấu, làm cho tâm lý chính người tiêu dung rất lo ngại, đôi khi bị kích động Vì tâm lý người tiêu dùng thường xuyên tiêu thụ sản phẩm và rất nhạy cảm đến những tin tức cho dù có thật hay không Nó sẽ tạo làn sóng tẩy chay sản phẩm của nhà sản xuất bị hại và người tiêu dùng sẽ quay sang sản phẩm của đối thủ cạnh tranh

và có thể sản phẩm này không tốt bằng loại cũ Tiếp đó, người tiêu dùng còn bị tình trạng độc quyền của sản phẩm cạnh tranh không lành mạnh tăng giá lên hoặc hạ giá xuống để bán được nhiều tuỳ vào sản phẩm này tốt hay dở mà nhà sản xuất cạnh tranh không lành manh thắng sẽ quyết định tận dụng cơ hội này nhưng có một điều chắc chắn là nhà sản xuất sẽ tìm cách thu được nhiều lợi nhuận nhờ vào cạnh tranh không lành mạnh và người tiêu dùng là người chịu thiệt thòi

+ Ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của nền kinh tế: Một điều mà đương nhiên sẽ xảy

ra, nền kinh tế sẽ mất ổn định, mất cân bằng Vì nếu như không có pháp luật can thiệp để đưa các hoạt động này vào khuôn khổ thì ta có thể tưởng tượng đến cảnh tượng:các doanh nghiệp sẽ cạnh tranh bằng mọi cách, bằng mọi thủ đoạn để hạ gục đối thủ cạnh tranh

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nhằm chi phối và chiếm lĩnh thị trường sẽ dẫn đến độc quyền, giá cả không kiểm soát được, các doanh nghiệp chân chính không kinh doanh được thì cũng phải trả đũa đối thủ bằng nhiều cách khác nhau và cuối cùng hậu quả là mất ổn định kinh tế, xã hội cuộc sống bình thường của người dân có thể bị đảo lộn trước sức ảnh hưởng của hoạt động cạnh tranh không lành mạnh như: giá cả hàng hoá, các sản phầm tiêu dùng dịch vụ đều tăng lên, các doanh nghiệp sẽ dùng nhiều thủ đoạn để cạnh tranh với đối thủ, cùng với đó là doanh nghiệp không cạnh tranh được sẽ bị phá sản, tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng lên, thiệt hại không thể xác định được

2.3 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh

Dựa vào các khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể được phân chia dưới góc độ xem xét các lợi ích của chủ thể bị xâm hại, bao gồm: “Hành vi xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh: xâm phạm bí mật kinh doanh, ngăn cản, gièm pha và bôi nhọa đối thủ cạnh tranh…, hành vi xâm hại lợi ích của khách hàng: can thiệp vào quyền tự do quyết định của khách hàng, khuyến mại không trung

+ Theo công ước Pari, cạnh tranh không lành mạnh được chia thành các nhóm cơ bản sau: hành vi gây nhầm lẫn lừa dối, làm mất uy tín đối thủ cạnh tranh; vi phạm bí mật thương mại; lợi dụng không chính đáng thành quả kinh doanh của người khác; quảng cáo so sánh; mua chuộc, dụ dỗ hoặc ép buộc khách hàng của đối thủ cạnh tranh một cách bất hợp pháp

để buộc họ phải buôn bán, làm ăn với mình…

Theo Luật cạnh tranh 2004 tại điều 39, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong điều luật khá cụ thể và bao quát, tương đồng với các quy định của pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm:+ Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;

+ Xâm phạm bí mật kinh doanh;

+ Ép buộc trong kinh doanh;

+ Gièm pha doanh nghiệp khác;

+ Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;

+ Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

+ Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

3

Đỗ Gia Phan - Vai trò của người tiêu dùng trong việc thực thi Luật cạnh tranh ở Việt Nam- Hội tiêu chuẩn và bảo

vệ người tiêu dùng Việt Nam.

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

+ Phân biệt đối xử của hiệp hội;

số trường hợp hai chính sách này có thể có những mục tiêu và tác động không giống nhau Chính sách cạnh tranh tập trung tác động tới cách hành hành xử của các doanh nghiệp đối với nhau và đối với người tiêu dùng Trong khi đó, chính sách thương mại lại

có xu hướng tập trung vào các lợi ích của các doanh nghiệp và dễ bị những nhóm doanh nghiệp có lợi ích đặc biệt sử dụng để trục lợi Có thể thấy rằng, chính sách cạnh tranh trước hết giành ưu tiên cho quan hệ giữa người tiêu dùng với doanh nghiệp Chính sách này bao gồm các biện pháp của Chính Phủ, nhằm kiểm soát hạn chế cạnh tranh, mang tính tiêu cực cục bộ, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng chống lại sự độc quyền cũng như tác động của các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường

+ Điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh chính là khuyến khích các hành vi cạnh tranh lành mạnh, mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là lợi nhuận Muốn tăng lợi nhuận, doanh nghiệp phải bán được nhiều hàng hoá, phải thực hiện nhiều biện pháp nhằm cạnh tranh thắng lợi trên thị trường Những biện pháp cạnh tranh lành mạnh phải nhằm không ngừng cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, hạ giá bán sản phẩm, tăng cường chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng, nhằm chiếm được lòng tin của người tiêu dùng Có như vậy, người tiêu dùng mới có nhiều sự lựa chọn phong phú hơn Các doanh nghiệp cũng qua đó mà cạnh tranh với nhau để thoả mãn người tiêu dùng, để bán được nhiều hàng hoá hơn và thu được nhiều lợi nhuận hơn và nền kinh tế cũng như

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT

ĐỘNG QUẢNG CÁO VÀ KHUYẾN MẠI

1 Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo

Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một trong các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong Luật cạnh tranh Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh xảy ra rất thường xuyên dưới nhiều hình thức khác nhau, nhiều dạng mà mục đích của hành vi này là nhằm giới thiệu về sản phẩm của mình tới người tiêu dùng nhưng có ẩn chứa trong đó là hành vi cạnh tranh không đẹp, vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh

1.1 Khái niệm quảng cáo và nội dung quảng cáo

+ Khái niệm quảng cáo: Theo Luật thương mại 2005 thì “ Quảng cáo thương mại là hoạt

động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình” Còn theo Pháp lệnh quảng cáo năm 2001 thì:

“Quảng cáo là giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ,

quảng cáo là một trong các hành vi xúc tiến thương mại mà mục đích của nó là nhằm giới thiệu với người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa hay cả quá trình sản xuất của mình, thông qua đó người tiêu dùng biết đến họ, biết đến sản phẩm đó, và thu hút được lợi nhuận nhiều hơn hoặc vì mục đích khác Luật Thương mại quy định tổng quát về hành vi quảng cáo còn theo Pháp lệnh quảng cáo thì cụ thể hoá hành vi quảng cáo là nhằm giới thiệu về hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ báo gồm: dịch vụ có mục đích sinh lời

và dịch vụ không có mục đích sinh lời Do đó, để hiểu rõ ràng, cụ thể về hành vi quảng cáo ta sẽ căn cứ theo định nghĩa của Pháp lệnh quảng cáo Theo Pháp lệnh quảng cáo thì quảng cáo bao gồm: Dịch vụ có mục đích sinh lời (quảng cáo thương mại) là: quảng cáo

về các dịch vụ kinh tế, xã hội nhằm tạo ra lợi nhuận của tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ), còn quảng cáo các dịch vụ không sinh lời (quảng cáo phi thương mại) là: các quảng cáo về các dịch vụ thực hiện chính sách xã hội và những thông tin nhằm thông báo, nhắn tin, rao vặt Vì thế, quảng cáo phi thương mại không nhằm mục đích lợi nhuận nên sẽ

4 Pháp lệnh của UBTVQH, số 39/2001/PL-UBTVQH 10, ngày 16/11/2001 về Quảng cáo.

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

không có cạnh tranh không lành mạnh xuất hiện trong hành vi này Vì thế chỉ xuất hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo thương mại với mục đích kích thích thị hiếu người tiêu dùng nhằm thu được nhiều lợi nhuận của một tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ nào đó Họ có thể dùng những thủ đoạn, cách thức quảng cáo không đẹp để cạnh tranh với nhau thông qua hoạt động quảng cáo Khi hành vi quảng cáo mà ảnh hưởng tới doanh nghiệp khác vi phạm quy định pháp luật cạnh tranh đó là quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, họ lợi dụng quảng cáo nhằm thực hiện thủ đoạn của mình để cạnh tranh với đối thủ

+ Nội dung của quảng cáo: Bao gồm: “Thông tin quảng cáo về hoạt động kinh doanh

hàng hoá dịch vụ, thông tin này phải đảm bảo trung thực, chính xác rõ ràng không gây

cáo dùng để giới thiệu về những thông tin cho một loại sản phẩm, hàng hoá dịch vụ nào đó: tốt như thế nào, tiện ích ra sao, giá cả, chất lượng vượt trội hơn những sản phẩm khác cùng loại… mà ta thường thấy trên truyền hình, báo chí, đọc vào người tiêu dùng sẽ nắm bắt được nội dung quảng cáo nói về gì, đây cũng là chỗ mà nhà sản xuất tận dụng nhằm cạnh tranh không lành mạnh như: có lời quảng cáo so sánh với hàng hoá khác, dùng những từ ngữ nói xấu hàng hoá khác, dùng những thông tin gian dối, sản phẩm của mình

là nhất, tốt nhất… nhưng khi dùng thì người tiêu dùng lại vỡ lẽ ra là không phải như lời khẳng định của nhà sản xuất Vì thế cần quy định cụ thể hành vi quảng cáo nào được xem

là hành vi canh tranh không lành mạnh để tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng bình đẳng trong hoạt động quảng cáo

1.2 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo

Nhằm cụ thể hoá hoạt động quảng cáo nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh,

để căn cứ vào đó các nhà kinh doanh có khuôn khổ cạnh tranh công bằng, không vi phạm luật, đảm bảo ổn định kinh kinh tế, bảo vệ nhà sản xuất, người tiêu dùng Chúng ta có thể hình dung vai trò của quảng cáo thông qua các phương tiện như sau Thứ nhất, đối với người sản xuất, quảng cáo là phương tiện để cho các chủ thể kinh doanh đưa thông tin về hoạt động sản xuất hàng hoá, dịch vụ của mình đến khách hàng Vai trò này càng trở nên quan trọng đối với những chủ thể mới gia nhập thị trường, những sản phẩm mới ra đời Thứ hai, Đối với người tiêu dùng quảng cáo là kênh thông tin mà qua đó người tiêu dùng

có thể tìm những thông tin về: hàng hóa, dịch vụ, các sản phẩm mới… Qua đó, phục vụ

5 Pháp lệnh của UBTVQH, số 39/2001/PL-UBTVQH 10, ngày 16/11/2001 về Quảng cáo.

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tốt hơn cho nhu cầu tiêu dùng của mình, nâng cao sự lựa chọn của họ đối với hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Với vai trò như vậy quảng cáo ngày càng được các chủ thể sử dụng nhiều hơn Tuy nhiên, với sự cuốn hút của lợi nhuận, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo cũng hình thành, có nhiều cách thức, thủ đoạn Điểm chung của những hành vi này là: “Hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với những chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” Với cách tiếp cận mặt trái của vấn đề, điều 45 của Luật cạnh tranh như là biên giới của quảng cáo, nghiêm cấm những hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

1.2.1 So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác

Ta thấy hành vi so sánh xuất phát từ ý chí của nhà sản xuất hay nói cách khác là cố

ý dùng hành vi so sánh hàng hóa này để hạ uy tín, chất lượng của sản phẩm cùng loại Sản phẩm cùng loại này thường nổi tiếng nhiều người biết đến, còn sản phẩm quảng cáo có thể là mới sản xuất ra hoặc sản xuất ra lâu rồi nhưng không được người tiêu dùng lựa chọn, họ dùng hành vi này dù không hạ gục đối thủ canh tranh nhưng có thể làm cho người tiêu dùng nghi ngờ sản phẩm cùng loại và chú ý đến sản phẩm của họ Với môi trường cạnh tranh quyết liệt như hiện nay thì quảng cáo so sánh là rất dễ xảy ra ngày càng tinh vi và có khi không thể kiểm soát, hàng ngày quảng cáo so sánh ta rất dễ thấy được trên truyền hình, và sản phẩm cùng loại bị so sánh thường bị che giấu hình ảnh không thấy rõ nhưng tồn tại trong hình ảnh, lời thoại quảng cáo đều có ngụ ý ám chỉ sản phẩm cùng loại khác để khẳng định sản phẩm mình là tốt Nhưng hành vi so sánh hàng hóa này cần phải được cụ thể hoá như thế nào là so sánh trực tiếp hàng hóa của mình với hàng hoá cùng loại, nếu so sánh với hàng hóa cùng loại mà giấu di nhãn hiệu chỉ thấy được kiểu dáng sản phẩm cùng loại thôi hay quảng cáo có lời thoại nói so sánh với những đặc điểm của sản phẩm khác thì có vi phạm hay không có gọi là so sánh trực tiếp nhằm cạnh tranh không lành mạnh được không… nếu qui định quá cụ thể hành vi nào là so sánh hàng hóa thì sẽ không liệt kê hết còn nếu quy định quá chung chung thì cũng không giải quyết được nhiều, chính do điều này mà nhà sản xuất khai thác để cạnh không lành mạnh

- Mục đích của quảng cáo là đưa các thông tin về hoạt động: sản xuất, kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ…cho khách hàng Qua các thông tin này khi khách hàng tiếp cận thì có được cái nhìn về hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo, qua đó hình thành nên khả năng tiêu thụ

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

sản phẩm Để thực hiện mục đích này có nhiều cách thức khác nhau, việc lựa chọn các hình thức nào là quyền của các doanh nghiệp, pháp luật không nên và cũng không thể nào liệt kê hết được tất cả các hình thức quảng cáo Biên giới của quảng cáo chỉ xuất hiện khi doanh nghiệp lựa chọn cách thức so sánh sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác nhằm mục đích quảng bá cho sản phẩm của mình Dưới góc độ lý luận của việc so sánh

có thể được tiến hành dưới nhiều cấp độ: so sánh bằng, so sánh hơn, so sánh nhất Rõ ràng việc cung cấp thông tin thông qua so sánh và việc cung cấp thông tin đơn thuần là khác nhau thông thường được khách hàng tin dùng Một cách đơn giản, không ai dại gì đem một sản phẩm chưa ai biết đến để thực hiện việc so sánh việc so sánh tất yếu này sẽ không mang lại hiệu quả mong muốn cho chủ thể thực hiện hành vi

+ Bản chất không lành mạnh của quảng cáo so sánh được thể hiện ở tính chất bám víu, vay mượn của sản phẩm được quảng cáo đối với sản phẩm mà nó dùng để so sánh Rõ ràng như ta thấy thì sản phẩm bị so sánh đã có một thời gian tồn tại trong thói quen của người tiêu dùng Việc tạo lập nên hình ảnh một sản phẩm là cả một quá trình đầu tư từ: chất lượng, kiểu dáng, tính năng, công dụng, tiếp thị… cho nên sự tin dùng của khách hàng là một phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực của doanh nghiệp Dùng ngay chính trong quá trình đầu tư ấy của doanh nghiệp khác kinh doanh sản phẩm cùng loại để làm điểm tựa nhằm làm nổi bật sản phẩm của mình trong mắt người tiêu dùng có thể là:”Sản phẩm của tối tốt không thua gì của A, tốt hơn của B ”

+ Cũng có thể việc so sánh ấy là đúng sự thật, sản phẩm được quảng cáo là có chất lượng Tuy nhiên, khi sử dụng phương thức quảng cáo so sánh hành vi của doanh nghiệp bị lên

án như: với quảng cáo so sánh, doanh nghiệp thực hiện hành vi mong muốn tạo được hiệu quả ngay lập tức cho sản phẩm của mình mà không cần một quá trình trải nghiệm trên thị trường Với tính chất như vậy, hành vi quảng cáo đã thể hiện một cách rõ nét tính chất

“bấu víu” vào thành quả của người khác Dù sản phẩm của mình có tốt hơn sản phẩm cùng loại thì cũng phải dùng những cách thức hợp pháp hoặc để chính người tiêu dùng sẽ đánh giá thông qua giá trị thật của sản phẩm mình Nhưng ở tất cả các quy định này ta thấy các nhà làm luật đều tiếp cận đối tượng bằng cùng một cách thức đó là nhằm vào phương pháp so sánh chứ không nhằm vào nội dung so sánh Nhằm vào phương pháp so sánh thì các nhà làm luật phân biệt giữa so sánh gián tiếp và so sánh trực tiếp để cấm so sánh trực tiếp Nhưng nếu họ nhằm vào nội dung so sánh thì sự phân biệt trên là không cần thiết Thay vào đó phải là các tiêu chí để xác định một quảng cáo là khách quan hay không khách quan “Ta nhận thấy với cách tiếp cận đối tượng điều chỉnh như của Luật

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

cạnh tranh và Luật thương mại 2005 thì có thể xảy ra trường hợp một quảng cáo so sánh gián tiếp nhưng không khách quan thì được xem là được phép, còn một quảng cáo so sánh

minh Châu âu thì họ cho rằng: Quảng cáo so sánh có thể khuyến khích sự cạnh tranh giữa các nhà cung ứng hàng hoá và dịch vụ vì lợi ích của người tiêu dùng, quảng cáo so sánh

có thể là một phương tiện hợp pháp nhằm thông tin cho người tiêu dùng về các ưu thế của hàng hóa và dịch vụ nếu có so sánh các đặc tính căn bản, liên quan, có thể kiểm chứng và tiêu biểu và không gây nhằm lẫn, thông qua sự thông tin đến khách hàng về ưu thế của hàng hoá dịch vụ thì sự cạnh tranh giữa các nhà cung ứng sản phẩm dịch vụ đó được kích thích Với nhận thức như vậy, các nhà làm luật Liên minh Châu âu không cấm quảng cáo nói chung hay một phương thức quảng cáo nhất định nào mà đặt ra các tiêu chí để làm cơ

sở để đánh giá một quảng cáo so sánh có đạt được mục tiêu thông tin đến khách hàng và khuyến khích cạnh tranh giữa các nhà cung ứng hay không và như vậy có thể được xem là hợp pháp hay không

- Trước Luật cạnh tranh thì mọi phương thức quảng cáo so sánh đều bị cấm, bởi vậy vấn

đề dưới điều kiện nào thì một quảng cáo so sánh được xem là hợp pháp không hề được đặt ra Quảng cáo so sánh được thực hiện ở nhiều cấp độ khách nhau như: so sánh bằng,

so sánh hơn, so sánh nhất, dù ở mức độ so sánh nào thì doanh nghiệp đều có thể vi phạm Luật cạnh tranh nếu như “quảng cáo đó so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác” Quảng cáo “so sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác” thì bị cấm theo khoản 1 điều 45 Luật cạnh tranh Tuy nhiên, vấn đề là quy định cấm này có bao hàm

cả mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà phân phối hay không hay chỉ nhằm vào quan hệ cạnh tranh giữa các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ? Nếu cho rằng quy định này chỉ nhằm vào quảng cáo của các nhà sản xuất hay cung ứng dịch vụ (bởi vì chỉ có nhà sản xuất mới có hàng hoá, dịch vụ của mình) thì đồng thời cũng thừa nhận là Luật cạnh tranh

đã tạo ra một lỗ hổng ngoài ý muốn: Luật cạnh tranh chỉ cấm quảng cáo so sánh trực tiếp của nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ mà không cấm quảng cáo so sánh trực tiếp của nhà phân phối qua đó tạo nên sự phân biệt đối xử Còn nếu cho rằng quy định cấm này cũng nhằm cả vào mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà phân phối (bằng lập luận rằng hàng hoá

6

Ts.Phan Huy Hồng - Quảng cáo so sánh trong pháp luật cạnh tranh, một nghiên cứu so sánh luật - Nhà nước và pháp luật - Số 1/2007.

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

mà nhà phân phối bán chính là hàng hoá của họ theo ý nghĩa của quy định này) thì quảng cáo trên cũng phải bị cấm vì đấy là quảng cáo trực tiếp Trong thực tế quảng cáo so sánh diễn ra phổ biến và thường xuyên Cơ quan chức năng không can thiệp, các doanh nghiệp hầu như không khiếu nại lẫn nhau liên quan đến quảng cáo so sánh Bởi lẽ, một mặt đại

đa số quảng cáo so sánh không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của họ, mặt khác việc khiếu nại doanh nghiệp khác áp dụng phương pháp quảng cáo so sánh là không có lợi khi chính mình cũng cần sử dụng phương pháp này Luật cạnh tranh và Luật thương mại 2005 chỉ còn cấm quảng cáo so sánh trực tiếp Nhưng một khi các luật này không định nghĩa thế nào là quảng cáo so sánh thì chúng cũng không đưa ra các tiêu chí để xác định và phân biệt giữa phương pháp quảng cáo so sánh trực tiếp và gián tiếp Trong khi đó các nhà làm luật Liên minh Châu âu cho rằng phải đặt ra các điều kiện mà một quảng cáo so sánh phải đáp ứng để được xem là hợp pháp Các điều kiện này cần phải chứa đựng các tiêu chí đảm bảo sự so sánh tính chất của hàng hoá, dịch vụ một cách khách quan Còn một quảng cáo chỉ nhằm so sánh giá cả của hàng hoá, dịch vụ thì cũng cần được xem là hợp pháp nếu nó đáp ứng được một số điều kiện, đặc biệt là không được nhầm lẫn như: quy định quảng cáo so sánh không được gây nhầm lẫn có nghĩa là một quảng cáo không đáp ứng điều kiện này đồng thời bị cấm theo quy định quảng cáo gây nhầm lẫn hay một quảng cáo gây nhầm lẫn có thể được thực hiện bằng phương pháp so sánh, quy định quảng cáo so sánh phải nhằm so sánh hàng hóa hoặc dịch vụ cho cùng một nhu cầu hoặc cho cùng một mục đích sử dụng xuất phát từ quan điểm cho rằng chỉ có hàng hoá, dịch vụ như vậy mới có thể được so sánh với nhau một cách khách quan, quảng cáo so sánh phải nhằm vào một hoặc nhiều tính chất căn bản, liên quan, có thể kiểm chứng được và tiêu biểu của hàng hoá dịch vụ Những so sánh như vậy phải khách quan, đúng sự thật, yêu cầu có thể kiểm chứng đòi hỏi trong trường hợp tranh chấp người quảng cáo so sánh phải đưa ra được các bằng chứng chứng minh cho tính khách quan của sự so sánh Vì thế, tuy pháp luật cạnh tranh của Việt Nam đã có những quy định cụ thể về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là như thế nào, nhưng luật lại không nói rõ như thế nào

là so sánh trực tiếp và kéo theo đó thì quảng cáo so sánh như thế nào là rơi vào trường hợp cấm của luật Các nhà làm luật của chúng ta thường hay có những chỗ quy định chung chung theo cách hiểu không rõ ràng như vậy thì dẫn đến hậu quả là không có cách hiểu chung nhất như hành vi quảng cáo so sánh là như thế nào, so sánh trực tiếp ra sao, các và bản hướng dẫn chỉ có thể giải thích luật, chứ không thể đưa ra những định nghĩa về từng hành vi, khi mà quy định luật không rõ thì các doanh nghiệp sẽ lách luật để cạnh

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tranh không lành mạnh, còn các cơ quan chức năng thì không biết phải xử lý thế nào, mà hành vi quảng cáo so sánh là rất thường xảy ra và ngày càng tinh vi hơn, rất khó kiểm soát nếu như chúng ta không có quy định rõ ràng về từng hành vi cụ thể, khi các quy định

rõ ràng, cụ thể, đầy đủ thì Luật sẽ được thực thi có hiệu quả Từ góc độ so sánh của luật

có hai vấn đề đặt ra đối với pháp luật cạnh tranh Việt Nam như sau: Thứ nhất, các điều kiện để một quảng cáo so sánh được xem là hợp pháp mà pháp luật Liên minh Châu âu

đặt ra có thể sử dụng được cho “quảng cáo so sánh gián tiếp” ở Việt Nam hay không? Thứ hai, pháp luật cạnh tranh Việt Nam có thể thừa nhận tính hợp pháp của “một quảng

cáo so sánh trực tiếp”7 nhưng đáp ứng các điều kiện nêu trên hay không? Nếu xem xét cả hai vấn đề từ góc độ mục tiêu của pháp luật cạnh tranh thì câu trả lời thứ nhất là “được”

và câu trả lời thứ hai là “nên” Bởi vì các điều kiện đó đều nhằm và có khả năng đảm bảo cạnh tranh công bằng, đảm bảo người tiêu dùng được cung cấp thông tin khách quan về doanh nghiệp, hàng hoá, dịch vụ

1.2.2 Bắt chước sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng

- Việc quảng cáo được thực hiện thông qua sản phẩm quảng cáo Theo đó, sản phẩm quảng cáo được hiểu là sản phẩm chứa đựng hình thức quảng cáo và nội dung quảng cáo theo Pháp lệnh quảng cáo Đó có thể là những tập nhỏ chứa đựng: nội dung quảng cáo, băng rôn, các video clip… Phải thừa nhận sản phẩm quảng cáo ngày càng đa dạng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Có những quảng cáo rất thành công tạo nên ấn tượng mạnh mẽ trong mắt người tiêu dùng về sản phẩm được quảng cáo Đôi khi có những sản phẩm quảng cáo thân thiện với người tiêu dùng đến mức chỉ cần thoáng qua thôi, không cần phải tiếp cận toàn bộ sản phẩm quảng cáo, người tiếp nhận thông tin cũng có thể hình dung ngay được sản phẩm quảng cáo là sản phẩm nào Ví dụ: Khi xem cảnh một chàng trai và một cô gái chạy dưới mưa trong nền nhạc của bài hát “Vũ điệu mưa” ta có thể hình dung đến Chewgum Doublemint

- Ở quy định trong việc quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh bằng hành vi “Bắt chước một sản phẩm quảng cáo”, cũng một vấn đề đặt ra là hành vi “Bắt chước” là như thế nào, biểu hiện của hành vi này trên thực tế ra sao mới được xem là vi phạm luật cạnh tranh, nếu hành vi bắt chước này chỉ giống sản phẩm quảng cáo khác một phần thì có thể xem là vi phạm hay không hoặc nếu như một sản phẩm quảng cáo nào đó đã bắt chước

7

Ts.Phan Huy Hồng - Quảng cáo so sánh trong pháp luật cạnh tranh, một nghiên cứu so sánh luật - Nhà nước và pháp luật - Số 1/2007.

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

sản phẩm quảng cáo khác nhưng lại không gây nhầm lẫn cho khách hàng thì sao có xem

là vi phạm hay không Ở đây quy định chưa rõ ràng: nếu như theo luật thì hành vi bắt chước sản phẩm quảng cáo này nhằm để gây nhầm lẫn cho khách hàng thì mới xem là vi phạm thì có thể xảy ra tình trạng các nhà doanh nghiệp sẽ lách luật để vi phạm như: hành

vi bắt chước nhưng không gây nhầm lẫn, gây nhầm lẫn nhưng không có hành vi bắt chước thì sao…vì thế muốn tránh tình trạng không bao quát hết khả năng của luật thì cần phải quy định cụ thể hơn về hành vi này Tính không lành mạnh của việc bắt chước sản phẩm quảng cáo được thể hiện ở chỗ để có được một sản phẩm quảng cáo thành công có thể khẳng định là cả một sự đầu tư cả về vật chất và trí tuệ Cho nên thành quả của sự đầu tư này cần được ghi nhận và bảo vệ việc bắt chước sản phẩm quảng cáo chính là sự xâm hại đến thành quả lao động đó Do đó hành vi này phải bị xử lý kịp thời Mặt khác, phải thấy sản phẩm quảng cáo khác các sản phẩm nghệ thuật Tất nhiên sản phẩm quảng cáo cũng cần đến những chất liệu về màu sắc, ánh sáng, âm thanh…Trong một chừng mực nhất định có thể nhìn nhận các sản phẩm quảng cáo ở góc độ của những tác phẩm nghệ thuật Tuy nhiên, điều tạo nên sự khác biệt của những sản phẩm quảng cáo và sản phẩm nghệ thuật là ở thông tin mà nó truyền tải đến cho người tiếp nhận tất cả các yếu tố: màu sắc, chất liệu, chất liệu, ánh sáng, bố cục… của sản phẩm quảng cáo nhằm mục đích duy nhất

là truyền tải thông tin quảng cáo về hàng hóa dịch vụ đến với người tiếp nhận thông tin nhằm giới thiệu sản phẩm của mình với những tính năng, công dụng để kích thích sức mua của người tiêu dùng Với chức năng truyền tải thông tin này việc bắt chước sản phẩm quảng cáo có khả năng tạo nên sự nhầm lẫn cho khách hàng, có khi làm mất uy tín, ảnh hưởng xấu đến sản phẩm chính hãng đã bị so sánh

1.2.3 Quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhằm lẫn cho khách hàng

Theo Luật cạnh tranh 2005 tại điều 45 khoản 3 thì đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về những nội dung sau đây:

+ Gía, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công;

+ Cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành;

+ Các thông tin gian dối hoặc gây nhằm lẫn khác

- Ở đây ta thấy có hai hành vi được luật quy định nhằm ngăn cấm các doanh nghiệp thực hiện hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là: quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng Có rất nhiều thông tin được luật liệt kê mà

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm