1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn tập pháp luật hệ trung cấp

39 1,9K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn tập pháp luật hệ trung cấp
Trường học Trường Trung cấp Pháp luật
Chuyên ngành Pháp luật
Thể loại Ôn tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 546,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

6. Có quan điểm cho rằng: “Mọi cá nhân xâm phạm đến các quy tắc quản lý nhà nước đều bị xử phạt vi phạm hành chính.” Hãy cho biết quan điểm đó đúng hay sai? Vì sao? Trả lời: Quan điểm trên sai Vì: Theo pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính 1989, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Từ khái niệm trên, vi phạm hành chính phải có 4 dấu hiệu cơ bản sau đây: - Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước; tác hại (tính nguy hiểm) do hành vi gây ra ở mức độ thấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và hành vi đó được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Đây chính là dấu hiệu “pháp định” của vi phạm. - Thứ hai, hành vi đó phải là một hành vi khách quan đã được thực hiện (hành động hoặc không hành động), phải là một việc thực, chứ không phải chỉ tồn tại trong ý thức hoặc mới chỉ là dự định, đây có thể coi là dấu hiệu “vật chất” của vi phạm. - Thứ ba, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện, đây là dấu hiệu xác định“chủ thể” của vi phạm. - Thứ tư, hành vi đó là một hành vi có lỗi, tức là người vi phạm nhận thức được vi phạm của mình, hình thức lỗi có thể là cố ý, nếu người vi phạm nhận thức được tính chất trái pháp luật trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả của vi phạm và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc ý thức được hậu quả và để mặc cho hậu quả xảy ra; hình thức lỗi là vô ý trong trường hợp người vi phạm thấy trước được hậu quả của hành vi nhưng chủ quan cho rằng mình có thể ngăn chặn được hậu quả hoặc không thấy trước hậu quả sẽ xảy ra dù phải thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả của vi phạm. Đây có thể coi là dấu hiệu “tinh thần” của vi phạm. Do đó, không xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. - Tình thế cấp thiết là tình thế của một người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hay của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Chẳng hạn, người lái xe ô tô buộc phải đánh tay lái để xe lao lên vỉa hè và đâm vào gốc cây bên đường để tránh không đâm vào người bất ngờ chạy vụt qua đường. Xe ô tô - tài sản của Nhà nước có bị hỏng nhưng đã cứu được một sinh mạng. Hành vi điều khiển xe lao xe lên vỉa hè đâm vào gốc cây được thực hiện trong tình thế cấp thiết, do đó không phải là vi phạm hành chính. - Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hay của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết, người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Chẳng hạn, hành động chống trả và gây thiệt hại về sức khoẻ cho người đang tấn công mình hay tấn công người khác. Phòng vệ chính đáng không phải là vi phạm hành chính. - Hành vi của một người gây thiệt hại cho xã hội nhưng do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải là vi phạm hành chính. Chẳng hạn, người lái xe ô tô trên đường không vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ (có bằng lái xe, trong tình trạng tỉnh táo, không say rượu hoặc say do dùng một chất kích thích mạnh khác, chạy đúng tốc độ cho phép, đúng phần đường…), bất ngờ có người bên đường chạy ra đâm vào xe, bị xe hất ngã, bị thương - tai nạn bất ngờ, không do người lái xe gây ra. Hành vi làm người khác bị thương do sự kiện bất ngờ không phải là vi phạm hành chính. - Vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì cũng không bị xử lý vi phạm hành chính. 7. Có quan điểm cho rằng: “ Mọi cá nhân xâm phạm đến các quy tắc quản lý nhà nước đều là tội phạm hình sự. ” Hãy cho biết quan điểm đó đúng hay sai? Vì sao? Đáp án: Quan điểm trên sai Vì: Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc xâm phạm chế độ chính trị (thay chế độ XHCN), chế độ kinh tế nền văn hoá quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN Vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm Thông thường, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được biểu hiện thông qua một loạt các chỉ số nhất định như: mức độ hậu quả, tái phạm, vi phạm nhiều lần hoặc có tính chất chuyên nghiệp, vi phạm với số lượng lớn... Nhiều hành vi ngay từ đầu đã là tội phạm hình sự bởi mức độ nguy hiểm của nó cho xã hội là cao. Nhưng trong nhiều trường hợp, hành vi vi phạm lần đầu là vi phạm hành chính nhưng nếu tái phạm hoặc có tính chất chuyên nghiệp thì là tội phạm hoặc một hành vi vi phạm hành chính nếu gây hậu quả nghiêm trọng thì có thể chuyển hoá thành tội phạm... Ví dụ, hành vi gây rối trật tự công cộng không gây hậu quả nghiêm trọng là vi phạm hành chính, nhưng nếu đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì chuyển thành tội gây rối trật tự công cộng được quy định tại Điều 245 Bộ luật hình sự hiện hành. Hành vi cố ý gây thương tích nếu tỷ lệ thương tật dưới 11%là vi phạm HC, nhưng nếu tỷ lệ thương tật trên 11% là vi phạm HS Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi vi phạm hành chính đều có thể chuyển hoá thành tội phạm. Trên thực tế, có loại vi phạm hành chính không thể và không bao giờ có thể chuyển hoá thành tội phạm cho dù trong bất cứ điều kiện nào. Đây là những hành vi vi phạm nhỏ nhặt, mức độ nguy hiểm cho xã hội không cao hoặc không đáng kể. Ví dụ như hành vi đổ rác bừa bãi làm mất vệ sinh chung; khạc nhổ nơi công cộng; tiểu tiện, đại tiện trên đường phố, nơi công cộng...

Trang 1

A- Lý thuyết

1 Có quan điểm cho rằng: “Mọi hành vi trái pháp luật đều là hành vi vi phạm pháp luật.”

Hãy cho biết quan điểm đó đúng hay sai? Vì sao?

Trả lời: Quan điểm trên là sai Vì “ trích trong sách giáo trình pháp luật hệ

- Là hành vi trái pháp luật được quy định trong Bộ Luật hình sự

- Do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện

- Người vi phạm phải có lỗi cố ý hoặc vô ý

- Xâm phạm, gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ

Trong trường hợp này, H đã thực hiện hành vi trái pháp luật, làm tổn hại đến sức khỏe của em Q Tuy nhiên, H bị tâm thần từ nhỏ và thực hiện hành vi gây thương tích khi đang phát bệnh Điều đó có nghĩa H thực hiện hành vi trái pháp luật trong tình trạng mà anh ta không nhận thức và điều khiển được hành vi của mình

Pháp luật hình sự Việt Nam coi tình trạng của H là không có năng lực trách

nhiệm hình sự Cụ thể, Khoản 1, Điều 13, Bộ luật hình sự quy định: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.”

Như vậy, do H là người không có năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi trái pháp luật do anh thực hiện không phải là vi phạm pháp luật hình sự

2 Quy phạm pháp luật là gì? Phân tích cấu trúc của quy phạm pháp luật (lấy ví dụ minh họa) Là quy tắc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí và lợi ích của nhân dân lao động, nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội.

Trang 2

3 Cho biết những điểm khác biệt cơ bản giữa quy phạm pháp luật và quy phạm đạo đức?

Trả lời:

Qui phạm pháp luật: là những qui tắc xử sự có tính chất khuôn mẫu, bắt buộc

mọi chủ thể phải tuân thủ, được biểu thị bằng một hình thức nhất định, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được Nhà nước bảo đảm thực hiện và có thể có cả các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, nhằm mục đích điều chỉnh các QHXH

Qui phạm đạo đức: là những qui tắc hành vi được hình thành trong xã hội trên

cơ sở quan niệm về đạo đức và được con người tự giác thực hiện

Điểm khác biệt:

Quy phạm pháp luật, quy phạm đạo đức đều là một loại quy phạm xã hội, vì vậy nó mang đầy đủ những đặc tính chung vốn có của quy phạm xã hội, như: là quy tắc xử sự chung, là khuôn mẫu để mọi người làm theo, là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người

Ngoài những đặc tính chung của quy phạm xã hội thì quy phạm pháp luật còn

có những đặc tính riêng khác so với qui phạm đạo đức

- Quy phạm pháp luật luôn gắn liền với Nhà nước Chúng do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đặt ra, thừa nhận hoặc phê chuẩn Chúng được Nhà nước đảm bảo thực hiện Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt QPPL với QPĐĐ khác QPĐĐ không do Nhà nước qui định mà do các tổ chức xã hội qui định hay do các quan niệm

về đạo đức hình thành nên hoặc được hình thành một cách tự phát do thói quen trong

xã hội Các qui phạm đạo đức được thực hiện dựa vào tổ chức, vào lực lượng và uy tín của tổ chức đó hoặc được thực hiện trong đời sống nhờ lòng tin của con người; còn các phong tục được thực hiện trong xã hội, nhờ thói quen của mọi người

- Quy phạm pháp luật thể hiện ý chí Nhà nước Nhà nước thể hiện ý chí của mình bằng cách xác định những đối tượng nào trong những điều kiện, hoàn cảnh nào thì phải xử sự theo pháp luật, những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà họ có và cả những biện pháp cưỡng chế mà họ buộc phải gánh chịu nếu họ không thực hiện đúng những nghĩa vụ đó

Trang 3

- Quy phạm pháp luật là các quy tắc hành vi có tính bắt buộc chung Tính bắt buộc chung của quy phạm pháp luật được hiểu là bắt buộc tất cả những ai nằm trong điều kiện mà quy phạm pháp luật đã quy định.

- Quy phạm pháp luật được thể hiện dưới hình thức xác định Tính hình thức ở đây thể hiện trong việc biểu thị, diễn đạt chính thức nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật

Còn tính xác định thể hiện trong việc biểu thị rõ nội dung các quy phạm pháp luật quy định các quy tắc hành vi và được diễn đạt rõ ràng, chính xác Nhờ được biểu thị dưới hình thức nhất định, các quy phạm pháp luật trở nên dễ hiểu và áp dụng được trong đời sống xã hội

4 Hãy nêu sự khác biệt giữa vi phạm hành chính và vi phạm hình sự ?

Trả lời:

Vi phạm hành chính và tội phạm đều là vi phạm pháp luật

Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân hay tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm tới các quy tắc quản lý Nhà nước, làm mất trật tự, ổn định đối với các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực trật tự nhà nước và xã hội; sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân; quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của công dân, trật

tự quản lý nhà nước và xã hội, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và phải chịu xử phạt vi phạm hành chính

Vi phạm hình sự ( Tội phạm ) là hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách

cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

Tóm lại, vi phạm hành chính và tội phạm có những điểm chung sau:

- Vi phạm hành chính và tội phạm đều là hành vi, nó chỉ được thực hiện bởi hành vi của con người Suy nghĩ, t- tưởng khi chưa thể hiện thành hành vi thì dù xấu đến đâu cũng chưa phải là vi phạm pháp luật nói chung, vi phạm hành chính và tội phạm nói riêng

Trang 4

- Vi phạm hành chính và tội phạm đều là hành vi trái pháp luật, tức là trái với yêu cầu cụ thể của pháp luật hay trái với tinh thần của pháp luật Đã là hành vi trái pháp luật thì dù là vi phạm hành chính hay tội phạm đều là hành vi nguy hiểm cho xã hội Sự khác nhau giữa chúng chỉ là ở mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi.

- Vi phạm hành chính và tội phạm đều được thực hiện bởi hành vi có lỗi của các chủ thể

- Vi phạm hành chính và tội phạm đều là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được pháp luật quy định chặt chẽ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền (vi phạm hành chính và tội phạm khác với các vi phạm đạo đức và vi phạm tôn giáo ở chỗ vi phạm đạo đức và vi phạm tôn giáo không dược pháp luật quy định) Chủ thể thực hiện vi phạm hành chính và tội phạm đều bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, việc

áp dụng các biện pháp cưỡng chế đều dựa trên cơ sở, trình tự do pháp luật quy định

- Những vi phạm hành chính và tội phạm được thực hiện trong điều kiện: phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết và sự kiện bất ngờ, theo quy định của pháp luật hành chính và hình sự, đều được miễn truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với

những người thực hiện hành vi vi phạm đó

Sự khác biệt:

Trang 6

5 Hãy nêu sự khác biệt cơ bản giữa quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật?

6 Có quan điểm cho rằng: “Mọi cá nhân xâm phạm đến các quy tắc quản lý nhà nước đều bị xử phạt vi phạm hành chính.” Hãy cho biết quan điểm đó đúng hay sai? Vì sao?

Trang 7

Trả lời: Quan điểm trên sai

Vì:

Theo pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính 1989, Điều 1 của Pháp lệnh này

quy định “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý

hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và

theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”

Từ khái niệm trên, vi phạm hành chính phải có 4 dấu hiệu cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước; tác hại (tính nguy hiểm) do hành vi gây ra ở mức

độ thấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và hành vi đó được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Đây chính là dấu hiệu

“pháp định” của vi phạm

- Thứ hai, hành vi đó phải là một hành vi khách quan đã được thực hiện (hành

động hoặc không hành động), phải là một việc thực, chứ không phải chỉ tồn tại trong ý thức hoặc mới chỉ là dự định, đây có thể coi là dấu hiệu “vật chất” của vi phạm

- Thứ ba, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện, đây

là dấu hiệu xác định“chủ thể” của vi phạm

- Thứ tư, hành vi đó là một hành vi có lỗi, tức là người vi phạm nhận thức

được vi phạm của mình, hình thức lỗi có thể là cố ý, nếu người vi phạm nhận thức được tính chất trái pháp luật trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả của vi phạm

và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc ý thức được hậu quả và để mặc cho hậu quả xảy ra; hình thức lỗi là vô ý trong trường hợp người vi phạm thấy trước được hậu quả của hành vi nhưng chủ quan cho rằng mình có thể ngăn chặn được hậu quả hoặc không thấy trước hậu quả sẽ xảy ra dù phải thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả của vi phạm Đây có thể coi là dấu hiệu “tinh thần” của vi phạm

Do đó, không xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế

cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

- Tình thế cấp thiết là tình thế của một người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình

Trang 8

hay của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa Chẳng hạn, người lái xe ô tô buộc phải đánh tay lái để xe lao lên vỉa hè và đâm vào gốc cây bên đường để tránh không đâm vào người bất ngờ chạy vụt qua đường Xe ô tô - tài sản của Nhà nước có bị hỏng nhưng đã cứu được một sinh mạng Hành vi điều khiển xe lao xe lên vỉa hè đâm vào gốc cây được thực hiện trong tình thế cấp thiết, do đó không phải là vi phạm hành chính.

- Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hay của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết, người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Chẳng hạn, hành động chống trả và gây thiệt hại về sức khoẻ cho người đang tấn công mình hay tấn công người khác Phòng vệ chính đáng không phải là vi phạm hành chính

- Hành vi của một người gây thiệt hại cho xã hội nhưng do sự kiện bất ngờ, tức

là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải là vi phạm hành chính Chẳng hạn, người lái xe ô tô trên đường không vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ (có bằng lái xe, trong tình trạng tỉnh táo, không say rượu hoặc say do dùng một chất kích thích mạnh khác, chạy đúng tốc độ cho phép, đúng phần đường…), bất ngờ có người bên đường chạy ra đâm vào xe, bị xe hất ngã, bị thương - tai nạn bất ngờ, không do người lái xe gây ra Hành vi làm người khác bị thương do sự kiện bất ngờ không phải là vi phạm hành chính

- Vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì cũng không bị xử lý vi phạm hành chính

7 Có quan điểm cho rằng: “ Mọi cá nhân xâm phạm đến các quy tắc quản lý nhà nước đều là tội phạm hình sự ” Hãy cho biết quan điểm đó đúng hay sai? Vì sao?

Đáp án: Quan điểm trên sai

Vì:

Trang 9

Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,

xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo

quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người

có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc xâm phạm chế độ chính trị (thay chế độ XHCN), chế độ kinh tế nền văn hoá quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN

Vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm Thông thường, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được biểu hiện thông qua một loạt các chỉ số nhất định như: mức độ hậu quả, tái phạm, vi phạm nhiều lần hoặc

có tính chất chuyên nghiệp, vi phạm với số lượng lớn Nhiều hành vi ngay từ đầu đã

là tội phạm hình sự bởi mức độ nguy hiểm của nó cho xã hội là cao Nhưng trong nhiều trường hợp, hành vi vi phạm lần đầu là vi phạm hành chính nhưng nếu tái phạm hoặc có tính chất chuyên nghiệp thì là tội phạm hoặc một hành vi vi phạm hành chính nếu gây hậu quả nghiêm trọng thì có thể chuyển hoá thành tội phạm

Ví dụ, hành vi gây rối trật tự công cộng không gây hậu quả nghiêm trọng là vi

phạm hành chính, nhưng nếu đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì chuyển thành tội gây rối trật tự công cộng được quy định tại Điều 245 Bộ luật hình

kể

Ví dụ như hành vi đổ rác bừa bãi làm mất vệ sinh chung; khạc nhổ nơi công

cộng; tiểu tiện, đại tiện trên đường phố, nơi công cộng

Trang 10

8 Cơ quan quản lý Nhà nước bao gồm những cơ quan nào?

9 Nêu khái quát về chế độ kinh tế ở nước ta theo quy định Hiến pháp 1992?

10 Hãy cho biết Quốc Hội nước CHXHXN Việt Nam có những chức năng gì?

11 Hãy cho biết Chính phủ nước CHXHXN Việt Nam có những chức năng

gì? Bộ Công thương là cơ quan thuộc hệ thống cơ quan nào trong bộ máy Nhà

nước Việt Nam? Chức năng của Bộ Công thương là gì?

12 Hãy sắp xếp các văn bản dưới đây theo giá trị hiệu lực giảm dần: Bộ luật

Hình sự, Hiến pháp, Nghị định, Thông tư.

Trả lời:

Các đạo luật, Bộ luật

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan

Tổng kiểm toán Nhà nước Quyết địnhChánh án Tòa án nhân dân tối

cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Thông tư

Giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với Tổ chức chính trị - xã hội

Thông tư liên tịch

Hội đồng nhân dân Nghị quyết

Chỉ thị

Trang 11

Phân tích cấu trúc của quy phạm pháp luật sau:

Điều 138 (Bộ luật Hình sự 1999):Tội trộm cắp tài sản

“1 Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả

nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đó bị kết án

về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

13 Hãy phân tích khái niệm vi phạm pháp luật và các dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật?

Trả lời:

1 Khái niệm vi phạm pháp luật.

Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.

Vi phạm pháp luật là một hiện tượng xã hội có những dấu hiệu cơ bản sau:-Vi phạm pháp luật luôn là hành vi (hành động hoặc không hành động) xác định của con người Chỉ những hành vi (biểu hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động) cụ thể mới bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật; những ý nghĩ dù tốt,

dù xấu cũng không thể coi là những vi phạm pháp luật

-Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Hành vi trái pháp luật là hành vi không phù hợp với những quy định của pháp luật như không thực hiện những nghĩa vụ pháp lý, sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn pháp luật cho phép Tính trái pháp luật là dấu hiệu không thể thiếu của hành vi bị coi là vi phạm pháp luật

-Vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi Dấu hiệu trái pháp luật mới chỉ là biểu hiện bên ngoài của hành vi Để xác định hành vi vi phạm pháp luật cần xem xét cả mặt chủ quan của hành vi, nghĩa là, phải xác định trạng thái tâm lý của chủ thể đối với

Trang 12

hành vi trái pháp luật của mình Nếu một hành vi trái pháp luật được thực hiện do những hoàn cảnh và điều kiện khách quan, chủ thể hành vi đó không cố ý và không

vô ý thực hiện hoặc không thể ý thức được, từ đó không thể lựa chọn cách xử sự theo yêu cầu của pháp luật thì hành vi đó không thể coi là có lỗi và chủ thể không bị coi là

vi phạm pháp luật Kể cả những hành vi trái pháp luật mà chủ thể bị buộc phải thực hiện trong điều kiện không có tự do ý chí thì cũng không bị coi là có lỗi

- Chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật phải có năng lực trách nhiệm pháp lý Trong pháp luật XHCN, sự độc lập gánh chịu nghĩa vụ pháp lý chỉ quy định đối với những người có khả năng tự lựa chọn cách xử sự và có tự do ý chí, nói một cách khác, người đó phải có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình Những hành vi mặc dù trái pháp luật nhưng do những người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không thể coi là vi phạm pháp luật Hành vi trái pháp luật của trẻ em (chưa đến độ tuổi pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm pháp lý) cũng không bị coi là vi phạm pháp luật Như vậy, trách nhiệm pháp lý trong pháp luật XHCN chỉ quy định cho những người đã đạt một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật, có khả năng lý trí và tự do ý chí

Từ những dấu hiệu trên có thể xác định: vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật XHCN bảo vệ.

2 Cấu thành vi phạm pháp luật.

Vi phạm pháp luật là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý, song để truy cứu trách nhiệm pháp lý trước hết phải xác định cấu thành của vi phạm pháp luật Cấu thành vi phạm pháp luật gồm:

- Mặt khách quan của vi phạm pháp luật ;

- Khách thể của vi phạm pháp luật ;

- Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật ;

- Chủ thể của vi phạm pháp luật

a Mặt khách quan của vi phạm pháp luật.

Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là toàn bộ các dấu hiệu bên ngoài của vi phạm pháp luật, gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả thiệt hại cho xã hội, mối

Trang 13

quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả thiệt hại cho xã hội cùng các dấu hiệu khác (thời gian, địa điểm, phương tiện, công cụ ).

Vi phạm pháp luật trước hết phải là hành vi thể hiện bằng hành động hoặc không hành động Không thể coi ý nghĩ, tư tưởng, ý chí của con người là vi phạm pháp luật nếu nó không được thể hiện thành những hành vi cụ thể Hành vi để bị coi là nguy hiểm cho xã hội phải là hành vi trái pháp luật Tính trái pháp luật được biểu hiện dưới hình thức làm ngược lại điều pháp luật quy định, thực hiện hành vi vượt quá giới hạn pháp luật cho phép hoặc làm khác đi so với yêu cầu của pháp luật

Hậu quả thiệt hại cho xã hội là những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà xã hội phải gánh chịu Xác định sự thiệt hại của xã hội chính là xác định mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả thiệt hại cho xã hội được biểu hiện: sự thiệt hại cho xã hội phải do chính hành vi trái pháp luật nói trên trực tiếp gây ra Trong trường hợp giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả thiệt hại cho

xã hội không có mối quan hệ nhân quả thì sự thiệt hại của xã hội không phải do hành

vi trái pháp luật trên gây ra mà có thể do những nguyên nhân khác, trường hợp này không thể bắt chủ thể của hành vi trái pháp luật phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà hành vi trái pháp luật của họ không trực tiếp gây ra Ví dụ: hành vi trộm cắp tài sản, hành vi cố ý gây thương tích, hậu quả chết người, làm thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của người khác

VD1: hành vi xâm phạm tính mạng con người nguy hiểm hơn hành vi xâm

phạm đến trật tự công cộng; hành vi xâm hại đến ANQG nghiêm trọng hơn hành vi xâm hại đến trật tự quản lý hành chính

VD2: Khách thể của QHPLHS là quyền tự do về sức khỏe, thân thể, tính mạng,

quyền sở hữu tài sản, an ninh chính trị và trật tự an tòan xã hội

c Mặt chủ quan củavi phạm pháp luật.

Trang 14

Mặt chủ quan củavi phạm pháp luật là toàn bộ các dấu hiệu bên trong của nó, bao gồm yếu tố lỗi và các yếu tố có liên quan đến lỗi là động cơ, mục đích của chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật.

Lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình, cũng như đối với hậu quả của hành vi đó

Lỗi được thể hiện dưới 2 hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý Lỗi cố ý có thể là cố ý trực tiếp có thể là cố ý gián tiếp Lỗi vô ý có thể là vô ý vì quá tự tin cũng có thể là vô

ý do cẩu thả

- Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; nhìn thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây

ra và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra

Ví dụ: Lỗi cố ý giết người, lỗi cố ý gây thương tích cho người khác.

- Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; nhận thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây

ra, tuy không mong muốn những để mặc cho hậu quả xảy ra

Ví dụ: Lỗi cố ý gián tiếp không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy

hiểm đến tính mạng dẫn đến người đố chết

- Lỗi vô ý vì quá tự tin: Chủ thể vi phạm nhìn thấy trước hậu quả thiệt hại cho

xã hội do hành vi của mình gây ra, nhưng hy vọng, tin tưởng điều đó không xảy ra hoặc nếu xảy ra có thể ngăn chặn được

- Lỗi vô ý do cẩu thả: Chủ thể vi phạm không nhận thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra, mặc dù có thể thấy hoặc cần phải nhận thấy trước

* Động cơ là lý do thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

* Mục đích là kết quả mà chủ thể muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm

Trong mặt chủ quan, lỗi là dấu hiệu bắt buộc, còn động cơ và mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc, trong thực tế, nhiều trường hợp vi phạm pháp luật chủ thể thực hiện hành vi không có mục đích và động cơ

d Chủ thể vi phạm pháp luật.

Trang 15

Chủ thể vi phạm pháp luật là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Khi truy cứu trách nhiệm pháp lý nếu chủ thể hành vi trái pháp luật là cá nhân phải xác định người đó có năng lực trách nhiệm pháp

lý trong trường hợp đó hay không, muốn vậy phải xem họ đã đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp đó hay chưa? Khả năng nhận thức và điều khiển hành vi trong trường hợp đó như thế nào? Còn đối với chủ thể là tổ chức phải chú ý tới tư cách pháp nhân hoặc địa vị pháp lý của tổ chức đó

Ở mỗi loại vi phạm pháp luật đều có cơ cấu chủ thể riêng, chúng ta sẽ xem xét

a) Tội phạm (vi phạm hình sự): là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy

định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN

Chủ thể vi phạm hình sự chỉ là cá nhân

Ví dụ: A sinh ngày 15.09.1970, nhận thức bình thường Do mâu thuẫn cá

nhân, vào lúc 22h00 ngày 15.09.2007 trên đường đi làm về, anh B đã bị anh A dùng gậy đánh thương tích với tỉ lệ thương tích sức khỏe là 15%.

Cấu thành tội phạm tội "Cố ý gây thương tích" theo điều 104 BLHS trong trường hợp này như sau:

1 Khách thể của tội phạm: Hành vi cố ý gây thương tích xâm phạm đến sức khoẻ, thân thể của người khác, xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể và sức khoẻ của con người.

2 Mặt khách quan của tội phạm:

Trang 16

- Hành vi khách quan: Là hành vi cố ý dùng gậy đánh người khác, gây tổn hại cho sức khoẻ của người đó

- Hậu quả: Gây thương tích (hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ) người khác 15%.

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm: Hành vi dùng gậy đánh là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn hại 15% sức khoẻ của người khác.

- Công cụ phạm tội: Chiếc gậy là công cụ phạm tội, nó có thể là "hung khí nguy hiểm" quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 104 BLHS Trong trường hợp này, A sẽ bị truy tố, xét xử theo khoản 2 Điều 104 BLHS.

3 Mặt chủ quan của tội phạm:

- Có thể là cố ý trực tiếp: A nhận thức rõ tính chất của hành vi dùng gậy đánh người là nguy hiểm, hành vi đó có thể gây ra tổn hại cho sức khoẻ của B

và A mong muốn gây ra tổn hại cho sức khoẻ của B.

- Có thể là cố ý gián tiếp: A nhận thức rõ tính chất của hành vi dùng gậy đánh người là nguy hiểm, hành vi đó có thể gây ra tổn hại cho sức khoẻ của B

và A không mong muốn gây ra tổn hại cho sức khoẻ của B nhưng vì lí do nào

đó mà A vẫn đánh, chấp nhận hậu quả đó xảy ra.

- Cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp còn phụ thuộc vào lời khai, tính chất hành vi khách quan, mức độ nguy hiểm của các vị trí bị đánh

4 Chủ thể của tội phạm:

A là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự chịu trách nhiệm về hành vi cố ý gây thương tích của mình.

b)Vi phạm hành chính: là hành vi do cá nhân,tổ chức thực hiện một cách cố ý

hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình

sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính

Chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhân và cũng có thể là tổ chức

Ví dụ:

Trang 17

c)Vi phạm dân sự: là những hành vi trái pháp luật, có lỗi của các cá nhân, tổ

chức có năng lực trách nhiệm dân sự, xâm hại tới các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân

Chủ thể vi phạm dân sự có thể là cá nhân cũng có thể là tổ chức

Ví dụ:

d)Vi phạm kỷ luật Nhà nước: là những hành vi có lỗi, trái với những quy chế,

quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ cơ quan, xí nghiệp, trường học , nói khác đi, là không thực hiện đúng kỷ luật lao động, học tập, phục vụ được đề ra trong cơ quan, xí nghiệp, trường học đó

Chủ thể vi phạm kỷ luật có thể là cá nhân, cũng có thể là tập thể và họ phải có quan hệ ràng buộc với cơ quan, đơn vị, trường học nào đó

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (điều 12

bộ luật hình sự).

Khoa học luật hình sự xác định tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự chủ yếu dựa vào tiêu chuẩn về sự phát triển tâm sinh lý của con người mà chủ yếu là sự phát triển

về quá trình nhận thức của con người và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm

+ Người chưa đủ 14 tuổi, trí tuệ chưa phát triển đầy đủ nên chưa nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình, chưa đủ khả nặng tự chủ khi hành động nên họ không bị coi là có lỗi về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện Một hành vi được coi là không có lỗi cũng tức là không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên họ không phải chịu trách nhiệm hình sự

Trang 18

+ Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi được coi là người chưa có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ Do đó họ cũng chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự

về một số tội phạm theo quy định của pháp luật chứ không chịu trách nhiệm hình sự

về tất cả các tội phạm

Theo luật hình sự nước ta thì người từ đủ 14 tuổi trở nên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nghiêm trọng do cố ý

* Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao

nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc

tử hình

Ví dụ: tội cướp tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và 2 điều 133 bộ

luật hình sự là tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng và khoản 3 của điều luật là tội phạm rất nghiêm trọng, khoản 4 là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Như vậy, một người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi nếu phạm tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 138 bộ luật hình sự thì không phải chịu trách nhiệm hình sự

Nếu người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi lại phạm tội do vô ý thì

họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Ví dụ: A 15 tuổi là học sinh lớp 9 Trên đường đi học về, A vô ý ném tàn

thuốc lá vào đống rơm của gia đình bà H, vì trời hanh khô nên bắt lửa làm cháy đống rơm và toàn bộ ngôi nhà của gia đình bà H thiệt hại trị giá hàng 100 triệu đồng

Bà H yêu cầu cơ quan điều tra phải khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi phạm tội của A Sau khi xem xét thì thấy A chưa đủ 16 tuổi và tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản quy định tại điều 145 bộ luật hình sự cả khoản 1 và khoản 2 của điều luật đều là tội phạm ít nghiêm trọng, nên cơ quan điều tra đã không khởi tố vụ án mà chuyển hồ sơ sang toà án giải quyết bằng vụ kiện dân sự

Người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi là người có năng lực trách nhiệm hình

sự nhưng năng lực đó bị hạn chế và họ cũng chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự hạn

Trang 19

chế, hay nói cách khác họ được loại trừ trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý.

Một người chưa đủ 18 tuổi khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội, theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự thì khi điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định rõ tuổi của họ

Cách tính đủ tuổi là tính theo tuổi tròn

Ví dụ: sinh ngày 1-1-1980 thì ngày 1-1-1994 mới đủ 14 tuổi và ngày 1-1-1996

mới đủ 16 tuổi

Trong trường hợp không có điều kiện xác định chính xác ngày sinh thì tính ngày sinh theo ngày cuối cùng của tháng sinh

Ví dụ: chỉ biết tháng sinh của người phạm tội là tháng 4-1981 mà không biết

ngày nào thì lấy ngày 30-4-1981 là ngày sinh của họ

Trường hợp cũng không có điều kiện xác định chính xác tháng sinh thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng năm sinh là ngày sinh của người phạm tội

Ví dụ: chỉ biết năm sinh của người phạm tội là năm 1983 thì ngày sinh của

người phạm tội là ngày 31-12-1983

16 Chủ thể nào phải chịu trách nhiệm hành chính?

Như vậy, khi xác định người

ở độ tuổi này có hành vi vi phạm hành chính hay không cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính hiện hành

cũng không định nghĩa thế nào là lỗi cố ý hoặc vô ý trong vi phạm hành

chính.Thông thường người thực hiện hành vi có lỗi cố ý là người nhận thức

được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm đoán

nhưng vẫn cố tình thực hiện Khi một người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

vi phạm hành chính thì theo Điều 7 về xử lí người chưa thành niên vi phạm

Ngày đăng: 25/04/2014, 21:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w