1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ôn tập đầu vào cao học triết học

40 982 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn tập đầu vào cao học triết học
Trường học Trường Đại học Tổng hợp Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tài liệu ôn tập
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 97,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Anh chị hãy nêu nhận xét của mình về thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo. Và cho ý kiến của mình về vấn đề tôn giáo ở địa phương ? Phật giáo là một trong những học thuyết triết học - tôn giáo lớn nhất trên thế giới và đã tồn tại rất lâu đời với hệ thống giáo lý rất đồ sộ. Phật giao la một ton giao được Thich Ca Mau Ni (Shakyamuni) truyền giảng ở miền bắc Ấn Độ vao thế kỷ 6 trước cong nguyen. Phật giao la hinh thức tổ chức giao đoan được xay dựng tren một niềm tin từ đức Phật, tức từ biển lớn tri tuệ va từ bi của Siddbada. Do được truyền ba trong một thời gian dai ra nhiều nơi đến nhiều chủng tộc nen lịch sử phat triển của đạo Phật kha đa dạng. Sau khi ra đời ở Ấn Độ vao thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 6 trước Cong nguyen, Phật giao được lưu hanh rộng rai ở cac quốc gia trong khu vực A - Phi, gần đay được truyền tới cac nước Au - Mỹ. Trong qua trinh truyền ba, đạo Phật đa kết hợp với tin ngưỡng, tập tục, dan gian, văn hoa bản địa để hinh thanh rất nhiều tong phai va học phai, co tac động vo cung quan trọng với đời sống xa hội va văn hoa của rất nhiều quốc gia. Tư tưởng triết học Phật giao thể hiện tren hai phương diện thế giới quan va nhan sinh quan,cả hai phương diện nay đều chứa đựng những tư tưởng duy vật va biện chứng chất phac. 1. Thế giới quan Phật giáo Thế giới quan Phật giao la một thế giới quan co tinh duy vật va vo thần, đồng thời co chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng sau sắc. Những tư tưởng triết học Phật giao nay đượcthể hiện thong qua 3 phạm tru cơ bản: vo nga, vo thường va duyen khởi.Tinh duy vật va vo thần thể hiện ro net nhất ở quan niệm về tinh tự than sinh thanh,biến đổi của vạn vật, khong do sự chi phối quyết định của một lực lượng thần linh haythượng đế tối cao nao. Trai lại vạn vật đều tuan theo tinh tất định va phổ biến của luật nhan quả. Điều nay được quan triệt trong việc ly giải những vấn đề của cuộc sống nhan sinh như: Hạnh phuc, đau khổ, giau ngheo, thọ, yểu… - Phật giao cho rằng vạn vật la vo thủy chung, khong co sự vật đầu tien vi khong co nguyen nhan đầu tien va cũng khong co sự vật cuối cung. Vạnvật, kể cả con người đều khong do thần linh hay thượng đế sang tạo ra. Như vậy ngay từ đầu Phật giao đa đặt ra mục đich giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học một cach biệnchứng va duy vật. Phật giao đa gạt bỏ vai tro sang tạo thế giới của cac “đấng tối cao” của“Thượng đế” va cho rằng bản thể của thế giới tồn tại khach quan va khong do vị thần naosang tạo ra cả. Cai bản thể ấy chinh la sự thường hằng trong vận động của vũ trụ, la muon ngan hinh thức của vạn vật trong vận động, no co mặt trong vạn vật nhưng no khong dừnglại ở bất kỳ hinh thức nao. Tuy nhien, Phật giao cũng cho rằng vạn vật, kể cả con người chỉ la ảo va giả, chỉ do “tam vo minh” sinh ra. - Vạn vật tuy muon hinh vạn trạng nhưng đều tuan hanh nghiem ngặt theo quan hệ nhan quả (nhan quả tương tục va nhan quả vo tạp loạn) thong qua điều kiện nhất định gọi la duyen– Tư tưởng nay được gọi la “duyên khởi”. Từ quan niệm vạn vật khong tự nhien co, khongtự nhien sinh ra, va cũng khong do một thần quyền hay một đấng thieng lieng nao tạo ra,Phật cho rằng sự vật sinh ra phải co nhan duyen. Phật giao lại nhấn mạnh: quả co thể khac nhan sinh ra no, quả co thể hơn nhan nếu gặp đủ duyen tốt, trai lại co thể kem nhan nếu gặp duyen xấu. Nhan gặp đủ duyen thi sẽ thanh quả, quả sinh ra nếu hội tủ đủ duyen lại co thểbiến thanh nhan rồi lại sinh ra quả khac. Như vậy, sự vật la một chuỗi nhan quả nối tiếpnhau, ảnh hưởng lẫn nhau khong bao giờ đứt quang, khong bao giờ ngừng.Tinh biện chứng sau sắc của triết học Phật giao đặc biệt thể hiện ro qua việc luận chứng về tinh chất “vo nga” va “vo thường” của vạn vật. - Phạm tru “vô ngã.” bao ham tư tưởng cho rằng, vạn vật trong vụ trụ vốn khong co tinh thường hằng no chỉ la sự “giả hợp” do sự hội đủ nhan duyen nen thanh ra “co” (tồntại). Ngay bản than sự tồn tại của thực tế con người chẳng qua cũng la do “ngũ uẩn”

Trang 1

Câu 1: Anh chị hãy nêu nhận xét của mình về thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo Và cho ý kiến của mình về vấn đề tôn giáo ở địa phương ?

Phật giáo là một trong những học thuyết triết học - tôn giáo lớn nhất trên thế giới và đã tồn tạirất lâu đời với hệ thống giáo lý rất đồ sộ Phật giao la một ton giao được Thich Ca Mau Ni(Shakyamuni) truyền giảng ở miền bắc Ấn Độ vao thế kỷ 6 trước cong nguyen Phật giao la hinh thức

tổ chức giao đoan được xay dựng tren một niềm tin từ đức Phật, tức từ biển lớn tri tuệ va từ bi củaSiddbada Do được truyền ba trong một thời gian dai ra nhiều nơi đến nhiều chủng tộc nen lịch sửphat triển của đạo Phật kha đa dạng Sau khi ra đời ở Ấn Độ vao thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 6 trướcCong nguyen, Phật giao được lưu hanh rộng rai ở cac quốc gia trong khu vực A - Phi, gần đay đượctruyền tới cac nước Au - Mỹ Trong qua trinh truyền ba, đạo Phật đa kết hợp với tin ngưỡng, tập tục,dan gian, văn hoa bản địa để hinh thanh rất nhiều tong phai va học phai, co tac động vo cung quantrọng với đời sống xa hội va văn hoa của rất nhiều quốc gia

Tư tưởng triết học Phật giao thể hiện tren hai phương diện thế giới quan va nhan sinh quan,cảhai phương diện nay đều chứa đựng những tư tưởng duy vật va biện chứng chất phac

1 Thế giới quan Phật giáo

Thế giới quan Phật giao la một thế giới quan co tinh duy vật va vo thần, đồng thời co chứađựng nhiều yếu tố biện chứng sau sắc Những tư tưởng triết học Phật giao nay đượcthể hiện thongqua 3 phạm tru cơ bản: vo nga, vo thường va duyen khởi.Tinh duy vật va vo thần thể hiện ro net nhất

ở quan niệm về tinh tự than sinh thanh,biến đổi của vạn vật, khong do sự chi phối quyết định của mộtlực lượng thần linh haythượng đế tối cao nao Trai lại vạn vật đều tuan theo tinh tất định va phổ biếncủa luật nhan quả Điều nay được quan triệt trong việc ly giải những vấn đề của cuộc sống nhan sinhnhư: Hạnh phuc, đau khổ, giau ngheo, thọ, yểu…

- Phật giao cho rằng vạn vật la vo thủy chung, khong co sự vật đầu tien vi khong co nguyennhan đầu tien va cũng khong co sự vật cuối cung Vạnvật, kể cả con người đều khong do thần linhhay thượng đế sang tạo ra Như vậy ngay từ đầu Phật giao đa đặt ra mục đich giải quyết vấn đề cơbản của Triết học một cach biệnchứng va duy vật Phật giao đa gạt bỏ vai tro sang tạo thế giới của cac

“đấng tối cao” của“Thượng đế” va cho rằng bản thể của thế giới tồn tại khach quan va khong do vịthần naosang tạo ra cả Cai bản thể ấy chinh la sự thường hằng trong vận động của vũ trụ, la muonngan hinh thức của vạn vật trong vận động, no co mặt trong vạn vật nhưng no khong dừnglại ở bất kỳhinh thức nao Tuy nhien, Phật giao cũng cho rằng vạn vật, kể cả con người chỉ la ảo va giả, chỉ do

“tam vo minh” sinh ra

- Vạn vật tuy muon hinh vạn trạng nhưng đều tuan hanh nghiem ngặt theo quan hệ nhan quả(nhan quả tương tục va nhan quả vo tạp loạn) thong qua điều kiện nhất định gọi la duyen– Tư tưởng

nay được gọi la “duyên khởi” Từ quan niệm vạn vật khong tự nhien co, khongtự nhien sinh ra, va

cũng khong do một thần quyền hay một đấng thieng lieng nao tạo ra,Phật cho rằng sự vật sinh ra phải

co nhan duyen Phật giao lại nhấn mạnh: quả co thể khac nhan sinh ra no, quả co thể hơn nhan nếugặp đủ duyen tốt, trai lại co thể kem nhan nếu gặp duyen xấu Nhan gặp đủ duyen thi sẽ thanh quả,quả sinh ra nếu hội tủ đủ duyen lại co thểbiến thanh nhan rồi lại sinh ra quả khac Như vậy, sự vật lamột chuỗi nhan quả nối tiếpnhau, ảnh hưởng lẫn nhau khong bao giờ đứt quang, khong bao giờ

Trang 2

ngừng.Tinh biện chứng sau sắc của triết học Phật giao đặc biệt thể hiện ro qua việc luận chứng vềtinh chất “vo nga” va “vo thường” của vạn vật.

- Phạm tru “vô ngã.” bao ham tư tưởng cho rằng, vạn vật trong vụ trụ vốn khong co tinh

thường hằng no chỉ la sự “giả hợp” do sự hội đủ nhan duyen nen thanh ra “co” (tồntại) Ngay bảnthan sự tồn tại của thực tế con người chẳng qua cũng la do “ngũ uẩn” (nămyếu tố) hội hợp lại: Sắc(vật chất), thụ (cảm giac), tưởng (ấn tượng), hanh (suy ly) va thức (y thức) Theo cach phan loạikhac-“lục tại”: địa (chất khoảng), thuỷ (chất nước), hoả (nhiệt năng), phong (hơi thở), khong (khoảngtrống) va thức (y thức) Noi một cach tổngquat thi vạn vật chỉ la sự “hội hợp” của hai loại yếu tố lavật chất “sắc” va tinh thần“danh” Như vậy thi khong co cai gọi la “toi” (vo nga)

- Phạm tru “vô thường” gắn liền với phạm tru “vo nga” Vo thường nghĩa la vạn vật biến đổi

vo cung theo chu trinh bất tận: Sinh – Trụ – Dị – Diệt…(hay: Sinh – Trụ – Hoại –Khong) Vậy thi

“co co” – “khong khong” luan hồi (banh xe quay) bất tận: “thoang co”,“thoang khong” cai con machẳng con, cai mất ma chẳng mất Bản chất sự tồn tại của thếgiới la một dong biến chuyển khongngừng (vo thường) Khong thể tim ra nguyen nhanđầu tien, do vậy khong co ai tạo ra thế giới va cũngkhong co gi vĩnh hằng

Như vậy, Phật giao cho rằng cac sự vật va hiện tượng trong vũ trụ (chu phap) la vo thuỷ, vo

chung (vo cung, vo tận) Tất cả thế giới đều ở qua trinh biến đổi lien tục (vothường) khong co một vịthần nao sang tạo ra vạn vật cả Tất cả cac Phap đều thuộc về mộtgiới (vạn vật đều nằm trong vũ trụ)gọi la Phap giới Mỗi một phap ( mỗi một sự v iệc hiệntượng, hay một lớp sự việchiện tượng) đều ảnhhưởng đến toan Phap Như vậy cac sự vật,hiện tượng hay cac qua trinh của thế giới la luon luon tồntại trong mối lien hệ, tac độngqua lại va qui định lẫn nhau, đều bị chi phối bởi luật nhan quả, biến hoa

vo thường, khong co cai bản nga cố định, khong co cai thực thể, khong co hinh thức nao tồn tại vĩnhviễn cả.Cai nhan nhờ co cai duyen mới sinh ra được ma thanh quả Quả lại nhờ co duyen ma thanhnhan khac, nhan khac lại thanh quả Quả lại nhờ co duyen ma thanh nhan khac, nhan khaclại nhờ coduyen ma thanh quả mới Cứ thế nối nhau vo cung vo tận ma thế giới, vạn vật, muon loai, cứ sinhsinh, hóa hóa mãi

Phật giao đa đề cập đến vấn đề ngũ uẩn: sắc, thụ, tưởng, thanh, thức la những vấn đề co y thứcluận sau xa Tuy đối tượng đo la tam va tinh chất la duy tam nhưng trong qua trinh ngũ uẩn chứađựng một qua trinh nhận thức hợp ly Từ sự vật khanh quan (Sắc),con người cảm thụ được(Thụ), suynghĩ(Tưởng), rồi thực hiện (Hanh), va cuối cung la biết (Thức).Ở đay nếu đem boc cai thần bi ra tathấy co những hạt nhan hợp ly Phật giao đa đưa vao những quan niem biện chứng với cac khai niệm

‘vo thường’, ‘vo nga’ Cho thấy Phật giao nhin sự vật trong sự vận động biến đổi lien tục khong co gi

la trụ lại mai, khong co ai la tồn tại mai Tuy nhận thức đo chỉ nhin thấy cai biến đổi ma khong nhinthấy cai ổn định tương đối Phật giao đề cập đến mối nhan duyen đến mối quan hệ nhan quả, đến việcxet sự vật phải từ kết quả tim ra nguyen nhan va xem kết quả nay la nguyen nhan từ kết quả khactrong mỗi qua hệ khac

2 Nhân sinh quan Phật giáo

Nhan sinh quan Phật giao la phần trọng tam của triết học nay Nội dung triết học nhan sinhcủa Phật giao tập trung ở bốn luận điểm (gọi la Tứ diệu đế hay con gọi la tứ chan đế hay tứ thanh đế).Bốn luận điểm nay được Phật giao coi la bốn chan ly vĩ đại về cuộc sống nhan sinh cho bất cứ cuộc

Trang 3

sống nhan sinh nao thuộc đẳng cấp nao, đồng thời cũng la cơ sở của cac thuyết khac trong giao lyPhật.

Khổ đế giải thich sự thật nơi cuộc sống nhan sinh khong co gi khac ngoai sự đau khổ, rang

buộc hệ luỵ, khong co tự do Đo la 8 nỗi khổ trầm lam bất tận ma bất cứ ai cũng phải ganh chịu: Sinh,Lao, Bệnh, Tử, Ai biệt Ly (yeu thương chia lia), Oan tăng hội (oan ghet nhau ma phải sống với nhau),

Sở cầu bất đắc (cai mong muốn ma khong đạt được), va Ngũ thụ uẩn (5 yếu tố vo thường nung nấulam khổ)

Nhân đế la những nguyen nhan tạo thanh sự khổ Những nguyen nhan đo khong phải timđau

xa ma ở ngay trong mỗi chung ta Do đo, Phật đưa ra ly thuyết thập nhị nhanduyen để thấy đượcnguồn gốc của sự vật trong thế gian 12 nhan duyen la sợi day lien tụcnối tiếp con người trong vongsinh tử luan hồi đo la: 1.Vo minh; 2.Hanh; 3.Thức; 4.Danhsắc; 5.Lục nhập; 6.Xuc; 7.Thụ; 8.Ai;9.Thủ; 10.Hữu; 11.Sinh va 12.Lao Tử Trong 12 nhanduyen ấy thi “Vo minh” la nguyen nhan thautom tất cả Bởi vậy diệt trừ vo minh la diệttrừ tận gốc rễ sự đau khổ nhan sinh Dưới goc độ nhậnthức, vo minh la “ngu tối”, “khong sang suốt”, “thiếu giac ngộ chan ly”

Nhan đế la một chan ly thể hiện tinh biểu chứng sau sắc trong mối quan hệ nhan quả va đa timtới cac nguyen nhan rất đa dạng, phong phu Cac nguyen nhan ấy quan hệ với nhau,cai nao cũng cothể lam nhan lam duyen cho cai khac, như lan song tren mặt biển, lớptrước la lớp nhan la duyen cholớp sau va cứ thế tiếp diễn Nhưng cai hạn chế của nhan đếla chưa đề cập đến nguyen nhan từ xa hội.Đặc biệt la chưa nhắc tới quan hệ giai cấp, boc lột trong xa hội Luận điểm nay thể hiện ro từ traohướng nội hướng nội trong nhận thứcluận Phật giao

Diệt đế ban về khả năng co thể tieu diệt được sự khổ nơi cuộc sống nhan sinh, đạt tới trạng

thai Niết ban, cứu canh của hanh động tự do Luận điểm nay cũng bộc lộ tinh thần lạc quan ton giaocủa Phật giao; cũng thể hiện khat vọng nhan bản của no muốn hướng con người đến niềm hạnh phuc

“tuyệt đối”; khat vọng chan chinh của con người tới Chan –Thiện – Mỹ

Đạo đế la con đường, la mon phap hướng dẫn cho chung sinh diệt khổ, ra khỏi luan hồi sinh

tử, đạt tới giải thoat Đo khong phải la con đường sử dụng bạo lực ma la con đường “tu đạo” Thựcchất của con đường nay la hoan thiện đạo đức ca nhan Sự giải phong mang y nghĩa của sự thực hiện

ca nhan, khong mang y nghĩa của những phong trao cach mạng hay cải cach xa hội Đay la net đặcbiệt của “tinh thần giải phong nhan sinh” của Phật giao Phap mon tu dưỡng ra khỏi luan hồi sinh tửrất nhiều, nhưng thường được đề cao la phương phap 37 đạo phẩm

Trong 37 đạo phẩm, bat chinh đạo la quan trọng nhất No la con đường giup người ta thoatkhỏi phiền nao, đau khổ đi tới cảnh giới Niết Ban tự tại, an lạc Bat chinh đạo gồm co:

1 Chinh ngữ : la tu nghiệp thanh tịnh, khong phat ra lời noi sai trai

2 Chinh nghiệp: hanh động chan chinh, mang lại lợi ich cho mọi người

3 Chinh mệnh: sống bằng nghề nghiệp chan chinh

4 Chinh tịnh tiến : tiến tới tren con đường đạo, khong đi vao cac đường ta

5 Chinh niệm: tam tri luon luon nghĩ đến đạo ly vo nga, diệt trừ những kiến chấp me lầm,đoạt trừ những tư tưởng, hanh động bất chinh

6 Chinh định : Giữ tam vắng lặng khong một vọng niệm khởi len để tri tuệ xuất hiện, chứngquả tu đa hoan

Trang 4

7 Chinh kiến : kết quả của việc sống, tư duy con người phải co y biến lấy tieu biểu la cac vịPhật.

8 Chinh tư duy: Sau khi co niệm khởi, con người sẽ tư duy, suy nghĩ một cach chan chinh,lam chủ được dong tư duy.Tam nguyen tắc (hay “bất chinh đạo”) co thể thau tom vao ba điều học tập,ren luyện lớn la: Giới - Định – Tuệ (tức la: Giữ giới luật, thực hanh thiền đinh va khai thong tri tuệBat nha)

Muốn thực hiện được “ Bat chinh đạo” thi phải co phương phap để thực hiện nhằm ngăn ngừanhững điều gian ac gay thiệt hại cho minh va những người lam điều thiện co lợi ich cho minh va chongười Nội dung của cac phương phap đo la thực hiện “ Ngũ giới” ( năm điều răn ) va “Lục độ” (Sauphep tu ) “Ngũ giới” gồm: Bất sat (Khong sat sinh), Bất đạo (Khong lam điều phi nghĩa), Bất dam(Khong dam dục), Bất vọng ngữ (Khong bịa đặt, khong vu oan giao hoạ cho kẻ khac, khong noi dối),

“Lục độ” gồm: Bố thi (Đem cong sức, tai tri, của cải để giup người một cach thanh thực chứ khong

để cầu lợi hoặc ban ơn), Tri giới (Trung thanh với điều răn, kien tri tu luyện), Nhẫn nhục (Phải biếtkien nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng để lam chủ được minh), Tịnh tiến (Cố gắng nỗ lực vươn len),Thiền định (Tư tưởng phải tập trung vao điều ngay, chinh khong để cho cai xấu cho lấp), Bat nha (Trituệ thấy ro hết, hiểu thấu hết mọi chuyện tren thế gian)

Tom lại, Phật giao cũng co những hạn chế, ảnh hưởng tieu cực nhất định đến tư duy của

người Việt Nam Phật giao chỉ thấy ca nhan con người ma khong thấy xa hội con người, chỉ thấycong người noi chung ma khong thấy con người của giai cấp đối khang nhau trong xa hội trước đay,khong thừa nhận đấu tranh trong giai cấp xa hội,do đo khong thấy được nguyen nhan khổ ải của conngười, khong thấy được sự cần thiết phải chống ap bức, boc lột vi thế quan niệm từ bi bac ai trongmột số trường hợp bất lợi cho đấu tran giải phong giai cấp, chống ap bức

Phật giao cho rằng chỉ co bằng sự kien định để thực hiện “Bat hanh đạo”, “Ngũ giới”, “Lụcđộ” thi chung sinh mới co thể giải thoat minh ra khỏi nỗi khổ Phật giao khong chủ trương giải phongbằng cach mạng xa hội Mặc du Phật giao len an rất gay gắt chế độ người boc lột người, chống lại chủnghĩa duy tam cua Balamon giao Đo la một trong những nhược điểm đồng thời cũng la ưu điểm nửavời của Đạo phật Đứng trước bể khổ của chung sinh Phật giao chủ trương cải tạo tam linh chứ khongphải cải tạo thế giới hiện thực

Như vậy, Phật giao nguyen thuỷ co tư tưởng vo thần, phủ nhận đấng sang tạo ( vo nga, vo tạo

giả) va co tư tưởng biện chứng ( vo thường, ly thuyết Duyen khởi ) Tuy nhien, Triết học Phật giaocũng thể hiện tinh duy tam chủ quan khi coi thế giới hiện thực la ảo giả va do cai tam vo minh củacon người tạo ra

Ý kiến: Kể từ chúa Nguyễn Hoàng, sự hiện diện của Phật giáo ở Huế đã trên 400 năm Với

những mặt tích cực trong giáo lý của mình, Phật giáo đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển củaHuế nói riêng và Việt Nam nói chung Cùng với sự tồn tại ấy Đạo Phật đã trải qua bao cơn thăng trầmsuy thịnh với sự chuyển biến chung của Đất nước Vận nước hưng thì Đạo Phật cũng phát triển mạnh

và ngược lại vận nước suy thì Đạo Phật cũng rơi vào thoái trào Phật giáo Huế vẫn như xưa thời kỳhưng thịnh ở thế kỷ XVII - XVIII, những năm tháng chấn hưng 1932 -1933, những năm tháng đấutranh bảo vệ Phật pháp và dân tộc 1952, 1963, 1966, 1967, 1973

Trang 5

Trải qua nhiều thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, lúc yếu, lúc mạnh khác nhau, có biến động,

có được, có mất, nhưng cái mà Phật giáo Huế không thay đổi chính là sống trong lòng người dân xứHuế, với tình cảm Từ, Bi, Hỷ, xả, hướng thiện, vị tha sẵn sàng giúp đỡ con người Các tín đồ phật tử,tăng, ni Huế ngày càng hiểu rõ chủ trương chính sách mới về tự do tín ngưỡng của Đảng và nhà nước,các chủ trương của ”Giáo hội Phật giáo Việt Nam“ Họ yên tâm tu hành và tích cực tham gia vào sảnsuất, tham gia vào hoạt động từ thiện xã hội, thực hiện nếp sống tốt đời đẹp đạo, thực hiện nghĩa vụcủa một người công dân đối với đất nước, xã hội theo đường hướng “Đạo pháp - Dân tộc - Xã hội chủnghĩa” Cho đến nay, Huế vẫn là một trong ba trung tâm Phật giáo lớn nhất của Nhà Nước cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngày nay, Phật giáo Huế đang ra sức cùng Phật giáo cả nước và nhân dân Việt Nam cùng gópsức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Tinh thần đó đượcbiểu hiện rực rỡ trong những việc làm tốt đời đẹp đạo, nó chính là chất keo đã gắn bó Phật giáo Huế

với những sinh hoạt tinh thần trong truyền thống Huế trong mọi lĩnh vực Chính thế, trong xã hội Thừa Thiên - Huê, khi đến chùa người ta không cầu trở thành triệu phú, mà chỉ mong có người giải đáp cho họ những thắc mắc về bản chất và ý nghĩa đích thực của đời sống.

Câu 2: Tại sao nói vấn đề trung tâm của Phật giáo là giải thoát và ý nghĩa của nó đối với đời sống hiên nay ?

Ấn Độ cổ đại là một trong những cái nôi triết học cổ xưa nhất của nhân loại và mang một “hơithở” riêng, độc đáo, thể hiện tính nhân văn, nhân bản sâu sắc Đó là một nền Triết học hướng vào sựgiải thoát khổ bằng con đường thực nhiệm tâm linh, tức là vén mở chính thế giới nội tâm của conngười Tuy có nhiều khuynh hướng và hình thức khác nhau, nhưng giải thoát luận là khuynh hướngnổi trội của triết học Ấn Độ cổ trung đại Lý tưởng, mục đích tối cao là giải thoát con người khỏi bểkhổ của cuộc đời là đỉnh cao của triết học Phật giáo

Hầu hết tất cả các môn phái triết học Ấn Độ cổ đại, dù là thuộc hệ thống Bà la môn chínhthống hay thuộc hệ thống không chính thống, đều có xuất phát điểm của tư tưởng giải thoát nỗi khổcủa cuộc đời con người và điểm đạt tới của sự giải thoát là dập tắt hay diệt hết mọi dục vọng, trở vềvới chân bản tính của mình, đồng nhất với thực tại tuyệt đối tối cao, vĩnh hằng hay niết bàn Tuynhiên, khác với các tôn giáo khác, giáo lý, luật lệ, lễ nghi và triết lý của họ thường bị các tầng lớpthống trị phản cách mạng lợi dụng để hạ thấp và đọa đày con người nói chung, người lao động nóiriêng xuống địa vị của những sinh vật thấp hèn; Tư tưởng Phật giáo chống đối lại những thế lực đó -những thế lực nấp sau lưng Thượng đế để duy trì vĩnh viễn quyền lực thống trị của mình trong các xãhội tồn tại dựa trên sự phân chia đẳng cấp Triết thuyết Phật giáo chứng minh vạn vật đều có mâuthuẫn nội tại của nó và đều nằm trong quá trình vận động biến đổi không ngừng Sự biến đổi đókhông do một lực lượng siêu nhiên nào chi phối điều khiển đến mức an bài cả cuộc sống con người

mà con người không thể nhận thức được Phật giáo khẳng định sự biến đổi ấy đều theo duyên sinh,nhân quả

Chính việc núp sau lưng Thượng đế của kẻ thống trị mà Phật giáo đã lấy giải thoát làm trọngtâm cho giáo lý của mình Đức Phật nói: “ Này các đệ tử, ta nói cho mà biết, nước ngoài khơi chỉ cómột vị mặn, đạo của ta dạy cũng chỉ có một vị là vị giải thoát” Ngài khuyên mọi người dẹp bỏ mọiTham, Sân, Si và trở về với thực tại giải quyết những vấn đề nhân sinh: “Này các vị, đừng thắc mắc

Trang 6

rằng thế giới này là hữu hạn hay vô hạn, cõi đời này là hữu cùng hay vô cùng Dù nó hữu hạn hay vôhạn, hữu cùng hay vô cùng thì điều các vị phải thừa nhận trước hết vẫn là: cuộc đời đang đầy rẫy khổđau.” Chính vì thế trong bốn chân lý lớn của triết lý Phật giáo - Tứ Diệu Đế - Đức Phật Thích CaMâu Ni đã coi khổ đế là chân lý đầu tiên.

Như một sự tổng kết về tư tưởng giải thoát của triết học - tôn giáo Ấn Độ, Đức Phật đã đưa raquan điểm có tính khái quát về nổi khổ rằng: “Hởi các tỳ kheo! Bây giờ đây là chân lý cao thượng về

sự khổ: Sinh là khổ, bệnh là khổ, phiền não, ưu tư là khổ, sống chung với người mình không ưa làkhổ, xa lìa những người thân yêu là khổ, mong muốn mà không được là khổ, tóm lại chính thụ ngũuẫn là khổ” Vậy, chính nỗi khổ của cuộc đời thôi thúc con người vươn lên mơ ước một cõi hạnhphúc tuyệt đối Triết học và tôn giáo Ấn Độ nói chung, Phật giáo nói riêng không chỉ là thoát khổtheo quan niệm thông thường, mà trên con đường hướng đến mục đích đó, nó còn đặt ra những câuhỏi khiến con người luôn khao khát tìm kiếm như: Bản chất và ý nghĩa tối cao của cuộc đời là gì? Cái

gì là giá trị cao cả và là cứu cánh của cuộc sống con người? Những câu hỏi đó đã làm cho mọi quanniệm của thế tục lấy vật chất, của cải, danh lợi, sinh tử làm thước đo giá trị đời sống trở nên hết sứcnhỏ bé tầm thường

Phật giáo luận giải thêm rằng, sở dĩ con người ta mắc vào vòng trói buộc của nổi khổ chính là

do con người mê lầm không nhận ra được trên bản tính của mình và thực tướng của con vật Tất cả sựvật hiện tượng trong thế giới chỉ là giả tạm nó luôn nằm trong trạng thái biến đổi Không có cái gì làthường hằng, thượng trụ cả Vì thế mà duyên của Phật giáo thì từng giây từng phút đang sinh, đangdiệt Nhưng vì con người ta vô minh cải là ta, do ta và của ta Từ đó mà nảy sinh ra những luyến ái,dục vọng, thúc đẩy ta hành động, theo đuổi những ham muốn vật chất, tiền tài danh vọng hư ảo, đãtạo nên những nghiệp báo, chìm ngập trong nổi thất vọng đau khổ từ kiếp này sang kiếp khác Đểthoát khỏi mê lầm, dục vọng trở về với cái tâm thanh tịnh, không vọng đọng bằng thiền định, tu luyệnđạo đức, thực nghiệm tâm linh lâu dài

Vậy, giải thoát theo triết lý Phật giáo tức là trạng thái tinh thần con người vượt ra khỏi mọi sựràng buộc của thế giới nhục dục, là sự “diệt“ hết mọi dục vọng, dập tắt ngọn lưả duc vọng để đạt tớicõi Niết bàn (Nirvana) với cái tâm tuyệt đối thanh tịnh Giải thoát tức là giải thoát tất cả những mốiphiền não, những dây phiền não đã trói buộc cái tâm, làm mê tâm mờ tính do nhục dục quyến rũ Khicon người ta được giải thoát cũng chính là con người ta đạt tới sự siêu thoát, nghĩa là họ vượt sự trỏibuộc của thế giới trần tục, thoát khỏi sự chi phối của dục vọng, sinh tử, phiền não, sống hoàn toànthanh thoát tự tại Giải thoát là thấu suốt lý nhân sinh để đạt tới thể “không tịch” Song đạt tới thểkhông tịch không có nghĩa là trở về với cái hoàn toàn hư vô, mà thưc ra là để xóa bỏ thành kiến chấpngã hẹp hòi bởi thế giới đang tồn tại là thế giới vô ngã, để từ đó có thể thấu đạt tư tưởng: “chư hành

vô thường, vạn pháp vô ngã, hết thảy đều là không“ của pháp ân Triết lý Phật giáo cho rằng xuấtphát điểm của tư tưởng giải thoát là từ nỗi khổ của cuộc đời con người Vì vậy muốn được giải thoátthì cần dập tắt mọi dục vọng, trở về với chân bản tính của mình

Từ đó, ta thấy rằng, không một tôn giáo nào trên thế giới lại có giọng thiết tha thâm trầm đốivới nổi đau khổ của thế gian như ở Phật giáo: “Nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới đem chứatích lại còn nhiều hơn nước trong bốn bể” Chính hiện thực xã hội Ấn Độ cổ đại lúc bấy giờ đầy rẫy

Trang 7

những bất công đau khổ đã khiến cho mọi người đều cảm thấy nổi đau khổ của nhân loại Điều này

cũng đòi hỏi Phật giáo phải hướng đến tư tưởng giải thoat cho mình và cho chúng sinh

Ý nghĩa:

Đỉnh cao của tư tưởng giải thoát trong triết học, tôn giáo Ấn Độ Cổ đại là triết lý giải thoátcủa Phật giáo Ở đó có sự kế thừa, chắt lọc, dung hợp và cả sự hoàn thiện những mặt mạnh và cảnhững mặt yếu của tất cả những quan điểm, những phương pháp, các chủ trương gíải thoát của cáctrường phái triết học, tôn giáo vào thời đó

Tư tưởng giải thoát mà Đức Phật đưa ra đã thể hiện rất sâu sắc tính chất nhân bản, nó quantâm đến thân phận và đời sống của mỗi con người, giúp con người thoát khỏi những nổi khổ của cuộcđời, tìm cho họ một niềm tin trong cuộc sống, một chỗ dựa vững chắc và chỗ dựa vững chắc âýkhông ở đâu xa lạ mà chính ngay trong tâm mỗi người

Thời đại ngày nay là thời đại phát triển Nước ta vừa trải qua mấy chục năm chiến tranh vàhàng chục năm sống dưới chế độ tập trung quan liêu bao cấp, nên đời sống còn rất nghèo nàn lạc hậu,rất cần có sự phát triển kinh tế Phát triển có nghĩa là có sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế, vềđời sống vật vất và văn hóa Đảng và Nhà nước ta chỉ ra nhiệm vụ trước mắt là tiến đến làm cho dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Để đạt được điều đó, nước ta cần có nhữngcon người tham vọng lớn, năng động, lạc quan, tin tưởng, dũng cảm mưu trí và đầy tính sáng tạo.Nhưng những phẩm chất cần có đó của con người, phần lớn trái với giáo lý của Phật giáo, vì thamvọng trái với cấm dục, thực hành vô dục, ly dục của nhà Phật; Lạc quan tin tưởng có phần trái với từbi; Dũng cảm sáng tạo trái với tinh thần nhẫn nhục chịu đựng của Đức Phật Ngay khi nói tới một chủtrương phát triển chăn nuôi để có nhiều thịt để xuất khẩu ra các nước khác cũng trái với giới sát củanhà Phật Vì thế, hoằng dương thế giới quan Phật giáo trong thời đại hiện nay, rõ ràng có những trởngại khó có thể vượt qua Thế nhưng, thế giới quan vô thần khoa học và nhân đạo không từ bỏ vị trícủa mình vì sự phát triển của nhân loại, vì sự phát triển toàn diện và hoàn thiện của con người, cũngkhông có lý do gì mà không bổ sung những nét tích cực mà Phật giáo đã từng dẫn dắt con người gắn

bó với con người Những trở ngại trên là do sự đối lập về thế giới quan Trên phương diện nhân sinhquan, nhất là lĩnh vực đạo đức, lối sống của Phật giáo có nhiều mặt, nhiều nét tương đồng mà cuộcsống hôm nay của con người mới Xã hội Chủ nghĩa rất cần phải kế thừa và phát huy Ảnh hưởng của

tư tưởng giải thoát ở đây là thuộc loại thứ hai, con người luôn bị trói buộc bởi quyền uy danh vọnglàm mê mờ tâm tính cần phải đoạn tuyệt nó mà được tự tại Về lý là giải thoát khỏi sự trói buộc coiquyền uy danh vọng là mục đích làm tâm ô nhiễm, hệ phược để được thanh thãn giữa cuộc đời, là đạtcuộc sống không tham, không sân, không si đến với ung dung tự tại giữa thế gian - xã hội hiện đạiđầy biến động của phát triển

Câu3: Anh chị hãy dùng các phạm trù vô ngã, vô thường, duyên để làm rõ tư tưởng của vạn Hạnh Thiền Sư trong bài: “ Đời người giống như ánh chớp có đó không có đó” – Thị đệ

Trang 8

đặt Sách Thiền uyển tập anh chép rõ: "Ngày 15 tháng 5 năm Thuận Thiên thứ 9 (1018), sư không

bệnh, gọi tăng chúng đến đọc bài kệ:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Dịch nghĩa:

Đời người như bóng chớp, có rồi không,

Vạn thứ cây mùa xuân tốt tươi, mùa thu khô héo

Đạt đến thông hiểu rồi thì sự thịnh suy không sợ hãi,

Thịnh suy chẳng qua như giọt sương treo đầu ngọn cỏ

Sư lại bảo các đệ tử: "Các ngươi muốn đi đâu? Ta không lấy chỗ trụ mà trụ, cũng chẳng dựachỗ vô trụ mà trụ" Một lát sau sư qua đời Vua cùng các quan dân làm lễ hỏa táng, xây tháp chứa xá

lỵ để đèn hương phụng thờ"

Đến với bài thơ, trước hết cần đặt thi phẩm này trong toàn cảnh kiểu truyện tiểu sử thiền sư,trong văn cảnh nhà sư làm ngay trước khi qua đời và tính chất một bài thơ - thi tụng - thơ Thiền - kệthị tịch

Trên hết, đây là bài kệ do Vạn Hạnh đọc trước khi qui tịch và được Thiền sư giải thích rõthêm về bản chất sự tồn tại cái bản ngã "không lấy chỗ trụ mà trụ", "chẳng lấy chỗ vô trụ mà trụ" Xét cho cùng, Vạn Hạnh đứng trên lập trường Phật giáo để hình dung về đời người và thế giới conngười

Phạm tru “vô ngã.” bao ham tư tưởng cho rằng, vạn vật trong vụ trụ vốn khong co tinh

thường hằng no chỉ la sự “giả hợp” do sự hội đủ nhan duyen nen thanh ra “co” (tồntại) Ngay bảnthan sự tồn tại của thực tế con người chẳng qua cũng la do “ngũ uẩn” (nămyếu tố) hội hợp lại: Sắc(vật chất), thụ (cảm giac), tưởng (ấn tượng), hanh (suy ly) va thức (y thức) Theo cach phan loạikhac-“lục tại”: địa (chất khoảng), thuỷ (chất nước), hoả (nhiệt năng), phong (hơi thở), khong (khoảngtrống) va thức (y thức) Noi một cach tổngquat thi vạn vật chỉ la sự “hội hợp” của hai loại yếu tố lavật chất “sắc” va tinh thần“danh” Như vậy thi khong co cai gọi la “toi” (vo nga)

Cái "thân" con người tồn tại trên cõi đời này chỉ như điện và ảnh, như ảnh của điện, như bóng chớp, hiện hữu rồi qua đi Chữ điện ảnh đến nay vẫn được dùng để chỉ ngành nghệ thuật thứ bảy (gọi nôm na là chớp bóng, chiếu bóng, chiếu phim) Cái "thân" con người đang hữu (có) rồi tất yếu sẽ đến ngày trở về vô (không) Nhưng theo quan niệm của Phật giáo và theo Thiền sư Vạn Hạnh, cái "thân" con người không phải từ hữu tuần tự đi đến vô mà là hoàn vô, trở về vô, về cõi hư vô - về

với "Tây phương cực lạc", "hạc giá vân du", "thiên thu vĩnh quyết" Muôn kiếp con người có tự cõi

vô thủy vô chung, từ quá khứ vô cùng (α) cho đến thời khắc sinh ra ở điểm A, cứ cho là thượng thọ) cho đến thời khắc sinh ra ở điểm A, cứ cho là thượng thọđến 80 tuổi, tồn tại trong 80 năm trên cõi đời yêu dấu, rồi tạ từ cuộc sống ở điểm C và lại được trở vềvới cõi vị lai - vô cùng - vô chung vô thủy (α) cho đến thời khắc sinh ra ở điểm A, cứ cho là thượng thọ) Thế là trọn vẹn một kiếp con người

Phạm tru “vô thường” gắn liền với phạm tru “vo nga” Vo thường nghĩa la vạn vật biến đổi

vo cung theo chu trinh bất tận: Sinh – Trụ – Dị – Diệt…(hay: Sinh – Trụ – Hoại –Khong) Vậy thi

“co co” – “khong khong” luan hồi (banh xe quay) bất tận: “thoang co”,“thoang khong” cai con ma

Trang 9

chẳng con, cai mất ma chẳng mất Bản chất sự tồn tại của thếgiới la một dong biến chuyển khongngừng (vo thường) Khong thể tim ra nguyen nhanđầu tien, do vậy khong co ai tạo ra thế giới va cũngkhong co gi vĩnh hằng.

Đời người hữu sinh hữu tử, có sinh tất có tử Thế thì sau khi hân hạnh được sinh ra làm kiếpcon người, mỗi ngày ta sống đây cũng tức là đang mất đi, đang xa dần điểm A, tóc ngày một bạcphai, mắt ngày một mờ, chân ngày một chậm Mỗi ngày ta sống đây tức là đang thêm một ngày tiếndần về điểm C, quĩ tháng năm dần thu hẹp, "miếng da bò" thời gian dần khép lại

Nên hiểu rằng Phật giáo và Thiền sư Vạn Hạnh thấu triệt bản chất giới hạn sự tồn tại của thânkiếp con người nhưng tuyệt nhiên không quan niệm cuộc đời là hư vô, hư ảo, vô nghĩa Trong thực

chất, việc Thiền sư nhấn mạnh sự thật Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô (Vạn thứ cây mùa xuân tốt

tươi, mùa thu khô héo) chính là nhằm chỉ rõ chân lý và qui luật tồn tại của thế giới hữu hình muônkiếp chúng sinh Đời người có những tháng năm tuổi trẻ thì rồi sẽ đến ngày già nua, da mồi tóc bạc

Từ cuối chặng đường đời, chính Nguyễn Trãi cũng từng tiếc nuối "Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên" và nhắc nhở kẻ hậu sinh: "Biên xanh nỡ phụ cười đầu bạc - Đầu bạc xưa rày có thuở xanh" (Thơ tiếc cảnh) Đời người cũng như muôn vật, có doanh thì có hư, có trưởng thì có tiêu, có thừa thì

có trừ, có thăng thì có giáng Qui luật đời người là "sinh, lão, bệnh, tử", điều gì đến sẽ đến, có gì mà

lo sợ

Trước thực tại về cái hữu cái vô, cái còn cái mất, cái được cái không, Thiền sư Vạn Hạnh đề

cao khả năng nhận thức và nắm bắt qui luật sự sống: Nhậm vận thịnh suy vô bố uý (Đạt đến thông

hiểu rồi thì sự thịnh suy không sợ hãi) Con người khi đã đạt đến trình độ "nhậm vận" tức là đã đạtngộ, đạt tới vô cầu vô kỷ, thấu suốt trước sau, không gì làm cho bất ngờ, sợ hãi Người "nhậm vận"hiểu rõ thời vận, qui luật cuộc đời và biết rõ ngay cả những thăng trầm số phận cũng chính là mộtphần tất yếu của sự sống Câu chuyện Tái Ông thất mã không chỉ nói lên tính tương đối của sự mayrủi mà còn đem đến một phương thức xử thế và niềm an ủi lớn lao Bản thân sự thịnh - suy có thể làhiện thực tất yếu nhưng thái độ "thông hiểu", chủ động trước thịnh - suy cũng giữ vai trò vô cùngquan trọng Do đó người "nhậm vận" thắng không kiêu, bại không nản, không nịnh trên, không nạt

dưới Bậc đạt đạo có thể vô bố úy, không sợ thịnh, không sợ suy, tự chủ được cả khi suy cũng như khi hưng thịnh Ngược trở lại, người đời quá "sợ suy" mà chưa biết đến "sợ thịnh"! Trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều từng cảnh tỉnh: Bả vinh hoa lừa gã công khanh Bừng con mắt dậy thấy mình tay không! Với tinh thần "nhậm vận", dường như Thiền sư Vạn Hạnh đã cập bến bờ giác

ngộ, vượt lên hai chiều suy - thịnh, thịnh - suy

Đến câu kết Thịnh suy như lộ thảo đầu phô (Thịnh suy chẳng qua như giọt sương treo đầu

ngọn cỏ), Thiền sư Vạn Hạnh không chỉ diễn giải bản chất thịnh suy giống như giọt sương trên đầungọn cỏ mà còn đặt sự thịnh suy trong quá trình biến đổi, từ phía cuối con đường, phía bên kia cuộcđời, phía sau của thực tại hôm nay Nói khác đi, Thiền sư đặt mình ở điểm nhìn chung cuộc, kết cuộc,đặt mình vào cõi hư vô mà soi nhìn lại đời người và tháng năm quá khứ Tất cả đời người và sự thịnhsuy đều như giọt sương, sẽ tan đi trên đầu ngọn cỏ, tan đi dưới ánh ban mai, tan đi trước thời gian.Trong cuộc đời dài rộng chừng tám mươi năm, con người trải qua biết bao những sự thịnh suy lớnnhỏ khác nhau Sự thịnh - suy nho nhỏ thì như một lần bốc thăm được cái quạt thanh lý, hai lần thănglương sớm, ba lần cảm gió, năm lần trượt xổ số hai trăm triệu, một lần mất xe máy ; sự thịnh - suy

Trang 10

lớn thì như một lần lấy vợ, một lần xây nhà ba tầng, một lần ngoi lên chức phó tổng, một lần đi Pháp,một lần đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua, v.v Nhưng sự hưng thịnh nào rồi cũng qua, khó khăn nào rồi

cũng qua, nỗi buồn nào rồi cũng dứt: Ai nắm tay được suốt ngày, Không ai giàu ba họ, không ai khó

ba đời, Bảy mươi chửa què chớ khoe làm tốt, Cười người hôm trước hôm sau người cười Nếu biết

vậy? Thì chính Thiền sư Vạn Hạnh đã tổng kết, chỉ rõ cái kết cục tất yếu để mỗi con người an nhiênhơn trước mọi sự thịnh suy trong hôm nay để đến ngày mai không bao giờ phải ân hận, tiếc nuối

Theo Thiền sư Vạn Hạnh, khi còn có tấm thân và được làm một bóng chớp, làm một giọtsương treo trên đầu ngọn cỏ giữa cõi đời này, con người cần phải biết quí từng phút từng giây Thờigian rồi sẽ qua đi, đối diện với mọi lẽ thịnh suy, con người càng cần biết làm chủ chính mình, đạt đến

"nhậm vận", an nhiên tự tại trước mọi thăng trầm thế sự Sống một ngày là lãi một ngày Sống mộtngày là thêm niềm vui và hạnh phúc Có thể đó là thông điệp Thiền sư Vạn Hạnh gửi đến mọi chúngsinh trên cõi đời này

Câu 4: Anh chị hãy làm rõ triết lý nhân sinh của lão Tử là vô vi và ý nghĩa của nó đối với đời sống hiện nay ?

Quan điểm "vô vi" của Lão Tử xét cho cùng là những vấn đề đạo đức, nhân sinh và chính trị

xã hội Mặc dù Lão Tử đề cao mặt tự nhiên của con người, phủ nhận mặt xã hội, nhưng quan điểm

"vô vi" của Lão Tử vẫn biểu hiện sâu sắc nghệ thuật sống, thái độ ứng xử của con người, phươngpháp trị nước của vua chúa hay bộ máy nhà nước, và đây cũng chính là chỗ tập trung giá trị hệ thốngtriết học của ông

Tư tưởng vô vi với tự nhiên

Trong Đạo Đức kinh Lão Tử viết: “vạn vật trong trời đất sanh từ có (hữu), (hữu) có sanh từkhông (vô) Hữu vô đều từ thiên đạo”

"Vô vi" là một khái niệm triết học đạo đức của người Trung Hoa cổ đại Đó là phương phápsống tự nhiên, mộc mạc, thuần phác, không bị cưỡng chế, gò ép Khái niệm "vô vi" ở Lão Tử cũngxuất phát từ ý nghĩa này, nhưng cốt lõi thực sự của nó là nghệ thuật sống của con người trong sự hoànhập với tự nhiên Thuận theo bản tính tự nhiên của con người "Vô vi" trong "Đạo Đức kinh" có ba ýnghĩa chính : Một là vạn vật đều có bản tính tự nhiên của mình, chúng tồn tại, vận động, biến hoátheo lẽ tự nhiên, không cần biết đến ý nghĩa, mục đích của bản thân chúng, ví dụ như cá, bản tính tựnhiên của nó là lội dưới nước, chim là bay trên trời Nghĩa là sống với cái vốn có tự nhiên, không canthiệp vào quá trình vận hành của các vật khác, biết chấp nhận và thích ứng với mọi hoàn cảnh, môitrường Từ đó Lão Tử phản đối trường phái hữu vi, cho rằng hành vi của họ chỉ làm xáo trộn trật tự,điều hoà tự nhiên của tạo hoá

Câu chuyện đầy ẩn dụ thời Tống về ba người nếm dấm cắt nghĩa rất rõ quan điểm vô vi củaLão Tử Một hôm, Phật Thích ca, Khổng Tử và Lão Tử gặp nhau trước một vại dấm tượng trưng chocuộc sống Mỗi người dúng ngón tay vào để nếm, Khổng Tử thấy dấm chua, Phật Thích ca thấy vịđắng, còn Lão Tử thì lại thấy dấm ngọt

Nói về "Đạo vô vi" Lão Tử viết :

Trang 11

- Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật Lão Tử đếm vài con số rồi phán nhưthế, và ta hiểu ý của ông cho rằng không thể định nghĩa Đạo, nhưng Đạo có trước vũ trụ và Đạo lànguồn gốc của vũ trụ Theo Lão Tử, trời đất muôn vật do Đạo mà sinh thành Đạo là cái hỗn mangchưa phân, là cái nguyên thủy và là sự vận động hằng cửu mà ta không thể cảm, không thể biết Đạo

vô danh vô hình, là căn nguyên và cốt lõi của muôn vật Muôn vật đều khởi đi từ Đạo, đi theo Đạo vàquay về Đạo

- "Đạo là cái luật tự nhiên, không cần tranh mà thắng, không cần nói mà ứng nghiệm, khôngcần mời mà các vật theo về, lờ mờ mà hay mưu tính"

- "Vô vi" còn có nghĩa tự do "tuyệt đối", không bị ràng buộc bởi bất cứ ý tưởng, dục vọng,đam mê, ham muốn nào Nếu trong đời sống người ta cố chạy theo những nhu cầu, ham muốn trái vớikhả năng, bản tính tự nhiên của mình thì sẽ đánh mất chính bản thân mình Lão Tử viết : "Ngũ sắclàm cho mắt mờ, ngũ âm làm cho tai điếc, ngũ vị làm cho miệng chán Cưỡi ngựa săn bắn làm chophát cuồng, vật khó kiếm khiến cho lòng tà vậy"

Ba là "Vô vi" còn có nghĩa là luôn bảo vệ, giữ kín bản tính tự nhiên của vạn vật mà trước hết

là chống lại mọi hành động của con người xã hội Lão Tử nói "Thiên hạ nhiều kị huý thì dân càngnghèo, dân nhiều khí giới thì nước càng loạn Người nhiều tài khéo, vật xảo càng thêm Pháp lệnhcàng tăng, trộm cắp càng nhiều" Theo đạo vô vi người ta "có ba của báu hòng nắm giữ và bảo vệ :một là tự ái, hai là tiết kiệm và ba là không dám đứng trước thiên hạ"

Từ quan điểm vô vi, Lão Tử rút ra những điểm căn bản trong nghệ thuật sống của con người,

đó là những đức tính : từ ái, cần kiệm, khiêm nhường, khoan dung, trí túc và kiến vi Họ luôn giữđược đồng nhất với đạo, họ hoà mình vào khoảng không Họ biết dành cho người khác chỗ mà khônglàm mất chỗ của mình Họ biết giảm ánh sáng của mình để có thể làm mất chỗ của mình vào bóng tốicủa kẻ khác Họ ngập ngừng như kẻ phải lội qua sông trong mùa đông, lưỡng lự như kẻ e ngại lánggiềng run rẩy như tuyết sắp tan, giản dị như miếng gỗ chưa đẽo gọt, trống trải như thung lũng và bấtdạng như nước đục

Tư tưởng vô vi đối với vấn đề quốc trị

Tương tự như Khổng Tử, Lão Tử sinh trưởng trong giai đoạn chiến tranh triền miên cho nên rất ưu tư về vấn đề quốc trị Ông thấy là “dân đói vì người trên lấy thuế nhiều cho nên dân đói, dân khó trị vì người trên theo hữu vi cho nên dân khó trị,” “thiên hạ nhiều kiêng kỵ thì dân càng nghèo; dân nhiều lợi khí thì quốc gia thêm mờ tối, người càng nhiều xảo thuật thì vật kỳ lạ càng xuất hiện, pháp luật càng sáng tỏ thì trộm cướp càng nhiều.” Và vì nhận xét như vậy cho nên Lão Tử chủ trươngrằng người lãnh đạo quốc gia phải áp dụng sách lược vô vi để trở về (phản phục) với đạo hay cái gốc

tự nhiên ban đầu thì mới có thể an bang tế thế

“Phản phục (trở về) là cái động của đạo “Động mà không động, không động mà động”, yếu mềm là cái dụng của đạo Ông cho rằng với đường lối vô vi: lo cho dân no ấm, mạnh khỏe và dạy chodân sống tự nhiên hợp với môi trường chung quanh, không suy nghĩ hay thèm thuồng mỹ vật Một khi dân được ấm no, không bệnh tật và không ham chuộng của quý vật lạ cũng như không có nhu cầukhoe tài hay ganh đua để được lãnh tụ yêu mến thì dân đã thấm nhuần tinh thần vô vi (không làm); vàkhi đã theo vô vi rồi thì dẫu có kẻ tài trí, tham lam xách động nhân dân nổi loạn thì họ cũng không

Trang 12

làm (vô vi) Như vậy, nếu muốn lòng dân không loạn thì người lãnh tựu của quốc gia phải biết lo cho dân, không đặc ra sưu cao thế nặng, không bóc lột.

Lãnh tụ quốc gia phải biết thương dân, không thể chỉ đặt ra luật lệ và đợi dân làm sai rồi hành

hạ, giam cầm, xử trảm Lãnh tụ quốc gia có nhiệm vụ chỉ bảo nhân dân hướng thiện theo đạo chứ không thể đem cái chết ra hăm dọa nhân dân Tương tự như con thú khi bị dồn vào chân tường thì cắnlại, nhân dân khi bị bóc lột, khổ sở hết mức thì hết sợ chết; mà khi nhân dân hết sợ chết thì sự dọa nạt của lãnh tụ trở nên vô dụng Kẻ nào dùng bạo lực để trị quốc thì “hiếm khi không bị thương ở tay” Thương dân thì phải lo cho dân no ấm, tránh sưu thuế cao và không ép buộc dân phục dịch Nếu kẻ ở trên sống xa xỉ, thâu sưu thuế cao mà còn bắt dân phục dịch thì nhân dân chỉ có thể chịu đựng đến một mức độ nào đó rồi trở nên loạn bởi vì họ không còn sợ chết nữa “Thánh nhân vi phúc, bất vi mục” (Thánh nhân vì cái bụng mà không vì con mắt) Lãnh tụ quốc gia không nên đam mê cái bề ngoài xa xỉ mà ngược lại phải biết thương dân, lo cho dân no bụng và tránh những hành động ép dân vào cái thế khinh tử

"Không chuộng hiền khiến dân không tránh, không trọng vật khiến dân không trộm cướp,không thấy vật đáng ham khiến lòng dân khỏi loạn Cho nên lối trị dân như vậy, thường khiến cholòng dân trống, bụng no nhược trĩ, xương cứng cáp, thường khiến cho dân không biết, không muốn"

"Thánh nhân coi toàn dân như trẻ sơ sinh" Vì trẻ nhỏ vốn sống hồn nhiên, không có ham muốn, dụcvọng, chưa xa cái đức tự nhiên, vô vi Lão Tử nói : "Không xa đức trở lại thời kì trẻ thơ" Hơn thế,thánh nhân còn "không làm cho dân sáng, mà làm cho dân ngu" Dân không sáng ở đây không hàmnghĩa ngu dốt, thô lậu Cái lù mù, hỗn độn của Lão Tử là cái ngu thấu suốt mọi lẽ của tự nhiên màsống hoà hợp với tự nhiên, không tự mãn, không tự phụ, không xáo động, không phô trương, khôngthái quá, không bất cập Cái ngu ấy của ông là dại trí Theo đạo vô vi, phản đối những hiện tượng bấtbình đẳng trong xã hội do sự áp bức bóc lột của bọn quý tộc cũng như sự phát triển kinh tế hàng hoágây nên mơ ước trở lại đời sống chất phác của thời đại công xã nguyên thuỷ, Lão Tử chủ trương bấtbạo động, phản đối việc gây chiến tranh bạo lực Ông cho đó là sự tàn bạo, là tai hoạ của đời sốngcon người Trong cuộc chiến tranh Lão Tử cho rằng, chẳng có thắng bại vinh nhục Ông viết : "Chiếntranh là việc chẳng lành, không phải việc của quân tử Nếu bắt buộc phải dùng binh thì phải điềmđạm Nếu thắng cũng đừng cho là hay Đắc thắng mà cho là hay tức là kẻ thích giết người, cuộc chiếntranh phải xử bằng tang lễ"

Bậc thánh nhân chủ trương trị quốc theo phương pháp vô vi nhằm giảm thiểu phép tắc vốn được đặt ra để áp bức và trừng phạt nhân dân Lãnh tụ quốc gia theo đạo sẽ hướng dẫn nhân dân noi theo gương của mình, dùng cái thanh liêm của mình để dạy dỗ dân bỏ đi lòng tham dục cũng như các hành động xấu Dần dần nhân dân trở thành thuần hậu và sống theo tự nhiên, chất phác mà không bị phép tắc chính trị gò bó Luật lệ hà khắc được đặt ra (hữu vi) nhằm khiến người ta sợ nhưng hiếm khi tiêu diệt hết được các tệ nạn xã hội; trong khi đó đường lối vô vi không dựa trên phép tắc rườm rà lại

có thể cảm hóa nhân dân để họ theo con đường thiện hợp với cái đạo của tạo hóa

Lão Tử không chủ trương dùng pháp luật để trị quốc mà cổ võ cho sách lược đạo trị (vô vi) đểvạn vật phát triển tự nhiên (không bày ra phép tắc, xảo thuật để gò ép nhân dân) Theo ông, nếu muốnhướng thiện thì đừng trừng phạt kẻ xấu mà nên dùng tư cách thánh nhân để cảm hóa kẻ xấu

Trang 13

Chính sách quốc trị cao nhất là đạo trị, rồi mới đến đức trị (nhân trị), và rồi đến pháp chế; chính sách xảo trị (dùng xảo thuật để cầm quyền) là phương pháp thấp nhất vì lãnh tụ không còn được nhân dân tin tưởng nữa mới dùng đến xảo thuật Lãnh tụ không tin dân cho nên mới bày kế để

gò ép dân; dân không tin lãnh tụ cho nên phải đóng kịch sợ sệt hay cung kính để lừa gạt lãnh tụ Hai bên đều dùng bề ngoài xảo trá để làm bình phong che giấu sự bất tín

Quốc gia lý tưởng trong nhãn quan của Lão Tử là một quốc gia nhỏ mà trong đó nhân dân sống thuận với thiên nhiên, biết vừa đủ mà không ham biết nhiều, không muốn tư dục, không ganh đua bề ngoài, mà chỉ sống theo đạo vô vi Trong quốc gia lý tưởng này, người dân sống chất phác, hiền lành, thuần phục với thiên nhiên; bởi vì hài lòng với cuộc sống thiên nhiên, con người không lìa

xa nơi sinh trưởng, không có lòng tham để tranh giành quyền lợi Con người không tranh giành quyềnlợi thì thiên hạ không có chiến tranh cho nên quốc gia dẫu có xe cộ, thuyền bè, binh giáp cũng không dùng đến Khi người dân có đời sống thái hòa gần gũi với thiên nhiên thì lãnh tụ quốc gia có thể “giũ

áo, chắp tay, không làm (vô vi)” mà thiên hạ cũng được thái bình

Tư tưởng của Lão Tử về "Đạo" cũng như phép biện chứng và chủ nghĩa "vô vi" là rất sâu sắc

và độc đáo Với trình độ tư duy lí luận cao, những quan điểm ấy của Lão Tử đã đóng góp đáng kể vào

sự phát triển tư tưởng triết học phương Đông Trong cái "lờ mờ", "hỗn độn" và gợi mở, Lão Tử đãlàm cho người đời sau kinh ngạc, thán phục trước sức mạnh của tư duy trừu tượng Tuy nhiên Lão

Tử, mặc dù được đời sau tôn vinh là Thái Thượng Lão Quân, vẫn không thoát khỏi sự hạn chế, bởiđiều kiện lịch sử khi giải quyết những vấn đề về bản thể luận, nhận thức luận hay phép biện chứng.Nhưng dù sao, về phương diện lịch sử, chúng ta cũng phải nghiêng mình trước di sản tài hoa và sắcsảo của ông

Ý nghĩa

Khái niệm vô vi trong Đạo Đức kinh thường được hiểu lầm là không nên làm gì cả, nhưngthật ra Lão Tử khuyên rằng làm mà như không làm, và không làm những điều không nên làm Ôngcũng viết rằng nước tuy mềm mại uyển chuyển nhưng có thể chảy đến bất cứ nơi nào, và với mộtkhối lượng lớn thì có thể làm lở cả đất đá Như vậy vô vi có thể ví von với cách hành xử của nước

Tư tưởng “ vô vi” của Lão Tử luôn phát triển, góp phần giáo dục nhân sinh quan cho từng cánhân, luôn tự răn mình phải làm người tốt, không để ảo ảnh hữu vi lôi kéo cám dỗ, khuyên “tri nhângiả trí, tự tri giả minh”, nghĩa là biết người khác chỉ mới là trí, nhưng tự biết mình thì mới là sáng.Như vậy ông chú trọng đến việc tự chinh phục bản thân hơn là chinh phục kẻ khác Nên bằng lòngvới cái mình có, “tri túc chi túc hà thời túc, tri nhàn chi nhàn hà thời nhàn”, nghĩa là biết đủ thì đủ vàlúc nào cũng đầy đủ cả, biết nhàn thì nhàn và lúc nào cũng nhàn cả

Một đặc tính căn bản của sách lược vô vi của Lão Tử là tiết kiệm, không phí sức, phí công thi triển tài năng, mà ngược lại thì tằn tiện trong mọi trường hợp để bồi bổ, nuôi dưỡng ngay cả trong lúcphải thi thố tài năng Sự sung mãn, dồi dào đến từ nỗ lực tiết kiệm lâu dài sẽ đem đến thắng lợi

Trong hoạt động, nhận thức con người cần phải tôn trọng các mối quan hệ vốn có của nó Cái đúng của Vô Vi là mọi người luôn thuận theo quy luật, xã hội sẽ được thái bình Làm trái quy luật

sẽ bị ổn hại Đó là về xã hội còn về con người:

" Người thông minh không cậy vào chức vụ của mình để hành sự, người dũng không lợi dụn

g chức vụ để thi hành bạo ngược, người nhân không dùa vào chức quan để thực hiện ân huệ"

Trang 14

Tuy nhiên, khi vô vi đi vào các quan hệ xã hội thì không thể vô vi, không thể không làm gì.Con người là tổng hòa các qhxh nên con người không thể tách biệt mình ra khỏi xã hội đó.

Câu 5: Anh chị hãy làm rõ vấn đề nhạn thức luạn và phương pháp luận là vấn đề trung tâm của triết học thời kì Tây Âu cận đại ?

Lịch sử triết học Tây Âu thời cận đại là một cuộc đấu tranh của các trào lưu, khuynh hướng,trường phái triết học khác nhau trong bối cảnh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và tự

khẳng định mình, trong sự hiện thực hóa vai trò thống trị của giai cấp tư sản Thế giới quan duy vật máy

móc, nhân sinh quan nhân đạo tư sản, và phương pháp luận siêu hình thể hiện rất rõ trong các trườngphái, trào lưu, khuynh hướng triết học xung đột nhau lúc bấy giờ

Nếu như ở triết học Phục hưng chủ yếu tìm kiếm chân lý, đúng hơn, khôi phục các giá trị vănhoá cổ đại, thì triết học Cận đại lại được xây dựng trên mảnh đất mới, do đó cùng với việc kế thừa các

di sản của quá khứ, nó xem việc tìm kiếm phương pháp nhận thức thích hợp để con người khám pháchân lý, khẳng định quyền lực của mình trước tự nhiên là nhiệm vụ chủ yếu Sự khác nhau này quiđịnh sự khác nhau trong tính chất tư duy Có những vấn đề của thời Cận đại chưa hề được biết đếnvào thời Phục hưng như cuộc tranh luận về phương pháp nhận thức đưa đến sự hình thành khuynhhướng kinh nghiệm (thực nghiệm) và duy lý, chủ nghĩa duy vật máy móc - siêu hình, những tìm tòitrong quan niệm về xã hội…

Triết học Tây Âu cận đại ra đời trong điều kiện khoa học tự nhiên được tách ra khỏi triết học

và phát triển Nhưng vấn đề cần là làm sao tìm cho được phương pháp khoa học chung của nhận thức

và phải khái quát và hệ thống hóa các khoa học đã tách ra Do đó, nhiệm vụ trọng tâm của triết họccận đại XVII - XVIII là lý luận nhận thức, là tìm ra phương pháp của tri thức chân lý cho tất cả cáckhoa học Những vấn đề ấy đã được các nhà tư tưởng thời kỳ này nghiên cứu, họ đã đi tìm các quyluật của lý tính mà khả năng của lý tính được biếu hiện một cách vô hạn Nhưng xét lý tính của thờiđại mà các nhà triết học đang sống theo như Phranxi Bêcơn thì còn nhiều khái niệm, quan niệm sailầm Các nhà triết học, hăng hái đi tìm phương pháp chân lý cơ bản của nhận thức và các phươngpháp ấy sẽ dẫn con người đến chân lý, vĩnh hằng, đầy đủ, tuyệt đối Cơ sở của phương pháp mới ấyđược các nhà triết học xem là kinh nghiệm cảm tính (Bêcơn, Hốpxơ, Lốccơ), hoặc là lý tính nó đemlại trí thức lôgíc toán học - diễn dịch không bị quy định bởi kinh nghiệm của con người (Đềcáctơ,

Lépních, Xpinôda ) Vì vậy, vấn đề nhận thức luận và phương pháp luận trong triết học thời cận đại chủ yếu đi tìm phương pháp nhận thức mới để khắc phục triệt để phương pháp kinh viện giáo điều, nhằm xây dựng một triết học và một khoa học mới có liên hệ mật thiết với nhau, hướng đến xây dựng tri thức.

Các nhà triết học thời kì này đều thừa nhận chân lý khách quan Trong học thuyết về các

“ngẫu tượng”, Bacon phê phán uy quyền tư tưởng như trở lực đối với sự phát triển tri thức khoa học,

và khẳng định rằng “ chân lý - đứa con của thời gian, chứ không phải của uy quyền” Trong trườnghợp này, thời gian trở thành sự thẩm định tính đúng đắn của tri thức Descartes thì nhấn mạnh sự cầnthiết xác lập phương pháp khoa học, giúp con người tránh khỏi những sai lầm ngộ nhận, rơi vào tìnhtrạng mất phương hướng hoặc thiếu tự chủ trong đánh giá vấn đề “Để tìm kiếm chân lý về sự vật cầnphải có phương pháp” - Descartes nhấn mạnh như vậy

Điểm tương đồng tiếp theo gắn với tinh thần hoài nghi và phê phán đối với tri thức kinh việc

Trang 15

trung cổ và chủ nghĩa giáo điều trong khoa học , đề cao vai trò của “ánh sáng tự nhiên của trí tuệ conngười”, thứ ánh sáng mà nhờ nó chủ nghĩa phổ quát Kytô giáo bị loại trừ dần, thay thế nó là nhậnthức luận khoa học, giúp con người phá vỡ các rào cản, các “vùng cấm” đối với tri thức

Tuy nhiên về lý luận nhận thức; cụ thể, ở cách hiểu về nguồn gốc và bản chất của tri thức,

về phương pháp nhận thức lại có những điểm khác biệt rõ rệt

Ph Bê cơn, T Hôpxơ, J Lốccơ là những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm cho rằng nguồngốc duy nhất của tri thức là kinh nghiệm Kinh nghiệm liên quan đến cảm tính, cảm giác, tri giác,biểu tượng Nội dung của mọi tri thức con người nói cho cùng đều quy về kinh nghiệm Phương châmcủa những người này là "không có gì trong nhận thức mà trước đó không do cảm giác thunhận".Trong tâm hồn và lý tính của con người không hề có những tri thức, biểu tượng hoặc ý niệmnào bẩm sinh Tâm hồn, trí tuệ của con người từ đầu vốn thuần khiết, như cái bảng trắng, nhưng khi

có tri giác, cảm giác thì những sự kiện đó đã "viết lên bảng những bức thư của mình" Do cảm giác cóthể đánh lừa, chúng ta kiểm tra chúng bằng thực nghiệm, qua đó chỉnh lý lại các cơ quan cảm tính củamình

Becon cho rằng: những sai lầm về mặt nhận thức (ông ta gọi là Iđôla) nó có nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan Vì vậy nó sẽ dẫn đến những sai lầm về mặt nhận thức, bởi thế khi loại bỏ được những Iđôla này thì cũng là quá trình đi khắc phục hoàn thiện nhân cách của con người

Becon đã chỉ ra 4 Iđola làm ảnh hưởng, cản trở quá trình nhận thức của con người đó là:

- Iđôla loài (loài là loài người) Nội dung cơ bản của Iđôla loài là con người thường xuất phát

từ bản thân mình để xem xét, đánh giá hiện tượng bên ngoài mình Nói cách khác là con người chủ quan phải căn cứ vào mình cho nên mất đi tính khách quan trong đánh giá nhận thức

Để khắc phục Iđôla này con người phải tôn trọng sự thật trong quá trình nhận thức, không được áp đặt tư tưởng của mình vào đối tượng và phải thường xuyên quan sát, thực nghiệm, kiểm tra những tài liệu đã có để không rơi vào tình trạng chủ quan

- Iđôla hang động: Iđôla hang động thực chất đó là Iđôla loài nhưng nó được biểu hiện ở từng người cụ thể do nghề nghiệp khác nhau, giáo dục khác nhau, cấu tạo sinh học khác nhau Vì vậy, việckhắc phục Iđola loài cũng là để khắc phục Iđôla hang động

- Iđôla thị trường: Điều này thể hiện ở chỗ sử dụng khái niệm những phạm trù không, áp đặt trong nhận thức bằng quyền uy, bằng uy tín

- Iđôla sân khấu: chúng ta nhận thức đối tượng mà đối tượng đó đã bị khúc xạ giống như diễn viên trên sân khấu

Ngược lại, R Đềcáctơ, B Xpinôda, H.Lépních và một số người khác theo chủ nghĩa duy lýcho rằng kinh nghiệm dựa trên cảm giác con người không thể trở thành cơ sở phương pháp chung chomọi khoa học được Tri giác và cảm giác là ảo Chúng ta có thể cảm giác được cái không có - chẳnghạn sự đau đớn ở đầu các chi và chúng ta có thể cảm giác được một số âm thanh, màu sắc v.v Những kinh nghiệm cho trước cũng như các kết quả thực nghiệm bao giờ cũng bị nghi vấn, chưađược khẳng định Tuy vậy, trong lý tính, trong chính tâm hồn của con người hàm chứa những tưtưởng rõ nét một cách trực giác - (tức những tư tưởng không phụ thuộc vào kinh nghiệm, không phảidựa trên cơ sở cảm giác mà có trước cảm giác)

Trang 16

Nếu như Becon yêu cầu phải loại bỏ những Iđôla để đảm bảo tính khách quan, tính chân thực của quá trình nhận thức thì Decac yêu cầu phải thanh tẩy trí tuệ con người khỏi những ám ảnh, cản trở nhận thức của con người Theo Decac để nhận thức cần loại bỏ những vấn đề sau:

+ Những sức ỳ được cấu thành từ thời niên thiếu

+ Loại bỏ những định kiến không có khả năng làm chủ ý chí

+ Sự căng thẳng nhọc nhằn của trí óc

+ Sự không chính xác của các khái niệm

Không chỉ dừng lại ở đó, trong vấn đề nhận thức Decac còn yêu cầu khi kế thừa phải biết phê phán cho dù đó là tư tưởng của những con người có uy tính nhất Không chỉ vậy, Decac cho rằng, để

có được tri thức chân thật thì chúng ta phải biết thoát khỏi những tư tưởng giáo điều, chủ nghĩa giáo điều và để chống giáo điều thì phải biết hoài nghi Vì vậy hoài nghi không phải là chủ nghĩa hoài nghi

uy quyền”

Đềcát trong tác phẩm “Những quy tắc hướng dẫn lý trí” nhấn mạnh sự cần thiết giải phóng lý

trí ra khỏi nhận thức mơ hồ Phương pháp luận của Đềcáctơ đề cao tri thức xác thực và dựa vào toánhọc “phổ quát” để nêu ra những quy tắc quan trọng nhất của tư duy

Cuộc luận chiến giữa các nhà triết học xung quanh việc tìm cơ sở của phương pháp mới chính

là cuộc luận chiến giữa chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý thời cận đại

Theo chủ nghĩa kinh nghiệm tri thức cần phải đi từ cái cụ thể, cái kinh nghiệm (thực nghiệm)đến những khái quát và đưa ra lý thuyết Đó là phương pháp quy nạp của sự vận động trí tuệ đồnghành với thực nghiệm và nó chính là phương pháp chính xác trong triết học và khoa học

Theo chủ nghĩa duy lý phải đi từ cái chung đến cái cụ thể, khi phát triển những tư tưởng cósẵn trong đầu ấy, con người có thể thu được tri thức chính xác về thế giới Dù những bằng chứng vềthế giới là do chúng ta thu được từ cảm giác, vì vậy cả kinh nghiệm và thực nghiệm đều là những cáicấu thành tri thức về thế giới, song cần phải tìm cơ sở của phương pháp chính xác trong trí tuệ Tưduy đều dựa trên trực giác và diễn dịch Tư duy xuất hiện trước cảm giác và không phụ thuộc vàocảm giác, song tư duy lại phải đi kèm với cảm giác Phương pháp chính xác của mọi khoa học và triếthọc đều giống phương pháp toán học

Trong thực tế, chủ nghĩa duy lý và phương pháp tương tự của nó luôn chiếm ưu thế, nó được

sử dụng rộng rãi Mọi sự "phân tích", "chia nhỏ", sự vật hiện tượng trong nghiên cứu đã đem lại hiệuquả rất lớn, nhất là trong toán học, trong cơ học, nhưng chỉ được xem là cơ sở của tri thức khoa học.Khuynh hướng duy lý trong triết học cận đại với phương châm thế tục hoá đầy đủ khoa học, khẳng

Trang 17

định không có một uy tín nào được thừa nhận ngoài uy tín của lý tính, (T.Hốpxơ), đẩy khoa học lênhàng đầu các môn quan trọng của nhân loại, vì nó có khả năng giảm bớt sự nghèo đói, có khả nănglàm giàu, có khả năng đưa xã hội phát triển (Ph.Bêcơn) Sự phát triển của khoa học bắt tự nhiên lệthuộc vào con người khi hình thành phương pháp cơ bản của tư duy - phương pháp lý tính thuần tuý(R.Đềcáctơ)

Trong phần 2 của “Bàn về phương pháp hướng dẫn lý trí của mình một cách đúng đắn và tìm kiếm chân lý trong khoa học” Dêcáctơ nêu ra 4 quy tắc cơ bản vủa nghiên cứu khoa học, còn gọi là

các quy tắc vàng

Quy tắc thứ nhất - tính rõ ràng và phân minh của đối tượng Đềcáctơ nhấn mạnh:“không bao

giờ thừa nhận cái mà ta cho là không phân minh rõ ràng là cái chân lý, nghĩa là phải tránh sự vội vàng

và hấp tấp, chỉ xem là đối tương nghiên cứu những gì rõ ràng và phân minh đối với trí tuệ của tôi, làmsao để không còn bất kỳ hoài nghi nào”

Quy tắc thứ hai - phân tích đối tượng ra các yếu tố để làm rõ những nan giải cần vượt qua,những nhiệm vụ cần giải quyết, mục tiêu cần đạt tới;

Quy tắc thứ ba - tính trình tự của tư duy Theo Đềcáctơ, cần phải bắt đầu việc nghiên cứu từnhững sự vật đơn giản nhất, dễ nhận biết nhất, dần dần đi đến nghiên cứu những sự vật và hiện tượngphức tạp hơn Đềcáctơ bổ sung thêm: toàn bộ phương pháp là ở trình tự và vị trí các sự vật mà lý trícần hướng đến để tìm ra một chân lý nào đó “Chúng ta kiên trì sử dụng nó, nếu dần dần đưa đượcnhững cái rối rắm và mơ hồ về những cái đơn giản, rồi sau đó, xuất phát từ sự lý giải những cái đơngiản nhất, cố gắng đi tới sự nhận thức những cái khác”

Quy tắc thứ tư - lập bảng liệt kê đầy đủ, đánh giá tổng quan các sự kiện, các phát minh, giảthiết, hệ thống, để chắc chắn rằng không có điều gì chúng ta bỏ qua

Nhận thức luận, phương pháp luận của triết học thời kì này đã mở đường cho nền triết họcTây phương ngày nay Nó đã đặt nền cho một hướng triết học mới : quan tâm đến mối tương quan,tương tác giữa chủ thể ý thức - tri thức và đối tượng khách quan mà các hệ thống triết học phổ thôngtrước không quan tâm đến vấn đề này Các nhà triết học thời kì này đã đặt vấn đề về sự tương xứnggiữa thế giới bên ngoài và nội dung của tri thức con người ; và phát khởi đi từ một tiền đề không thểchối cãi về chủ thể ý thức - tri thức để xây dựng một hệ thống triết học về sự hiện hữu của thế giớikhách quan

Câu 6: Anh chị hãy c/m đức tin là vấn đề của mọi tôn giáo ?

Thời kỳ trung cổ ở Tây Âu được đánh dấu bằng thời điểm sụp đổ của tây đế quốc La Mã năm

476 và kết thúc khi xuất hiện các hình thức ban đầu của chủ nghĩa tư bản (thế kỷ XV) Một loạt nhànước phong kiến vốn là các tỉnh thành của đế quốc La Mã đã hình thành như Anh, Pháp, Ý, Tây BanNha, Đức… Quá trình hình thành chế độ phong kiến ở Tây Âu được biểu hiện ở ba mặt chủ yếu: sựlãnh địa hoá toàn bộ ruộng đất trong xã hội, quá trình nông nô hoá giai cấp nông dân và trang viênhoá nền kinh tế

Từ thế kỷ V đến XI, nền kinh tế Tây âu là nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp Sản phẩm làm

ra chỉ đủ cung cấp cho công xã và thái ấp của giai cấp địa chủ phong kiến Công xã và thái ấp lànhững tổ chức kinh tế khép kín Sự hình thành vô số công xã, thái ấp phong kiến thời kỳ này đã tạonên chế độ phong kiến cát cứ, phân quyền Xã hội có hai giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân

Trang 18

Quyền chiếm hữu tư liệu sản xuất, tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm thuộc về giai cấp địa chủ.Mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp địa chủ và nông dân hết sức sâu sắc, cuộc đấu tranh giữa hai giai cấpnày ngày càng diễn ra gay gắt Do hoàn cảnh kinh tế - xã hội như vậy, tầng lớp nghèo khổ của xã hộichiếm đa số đã phải cầu đến đấng thiêng liêng che chở, họ theo đạo, đọc kinh và vào nhà tu nươngtựa Tôn giáo, đặc biệt là đạo Cơ đốc phát triển mạnh Tu viện mở nhiều và quyền vị của Giáo hoàngrất lớn.

Qua những đặc điểm kinh tế - xã hội, chúng ta có thể nhận ra rằng nhà thờ đạo Kito là một tổchức tập quyền hùng mạnh, thống trị châu Âu cả về tinh thần và chính trị Trong xã hội đó, khoa học

và triết học không thể tìm cho mình một con đường đi độc lập, việc nghiên cứu khoa học và triết họcchủ yếu tập trung trong các tu viện và trường học của nhà thờ Do đó, triết học trung cổ Tây Âu cònđược gọi là “triết học Kytô giáo” – triết học tôn giáo Tên gọi “triết học Kytô giáo” đã cho thấy liênminh giữa triết học và tôn giáo, sự chi phối của tôn giáo đối với tư duy triết học Triết học Kytô giáo,

do đó, là triết học chịu sự chi phối của tư tưởng Kytô giáo, là công cụ của thần học Kytô giáo, giảiquyết các vấn đề triết học theo các chuẩn mực của nó Tư tưởng Kytô giáo chi phối toàn bộ diện mạotinh thần xã hội, trong đó có triết học Sự độc tôn này thể hiện trong thái độ đối với di sản cổ đại Nhàthờ chỉ cho phép truyền bá những tư tưởng phù hợp hoặc gần với hệ thống nhất thần và đạo đức Kitôgiáo như học thuyết duy tâm của Socrate, Platon, nhị nguyên luận duy tâm của Aristote, chủ nghĩakhắc kỷ, trường phái Platon… Một khi đa thần giáo bị bài xích thì tinh thần đa nguyên triết lý cũngkhông còn, vì theo quan điểm của các Giáo phụ tinh thần ấy gây chia rẽ con người và bất ổn xã hội.Khát vọng khám phá cái mới bị thay bằng sự tuân phục “Lời thiêng” Là “người phụng sự trungthành” nhà thờ Kytô giáo, liên minh chặt chẽ với thần học, triết học có nhiệm vụ chứng minh chochân lý đã có sẵn theo sự dẫn dắt của niềm tin

Kinh thánh Kytô giáo chi phối triết học ở cả ba bình diện – bản thể luận, nhận thức luận vàđạo đức Thần học cần đến hệ thống các khái niệm triết học Trong phạm vi thần học tư duy triết họcchủ yếu hoàn thành vai trò “kẻ phụng sự”, bởi lẽ nó chỉ tiếp nhận, chú giải, phân tích “Lời thiêng”.Kinh Thánh Kytô giáo chi phối triết học thông qua những tư tưởng cơ bản sau đây:

Bản thể luận: thuyết Thần là trung tâm và thuyết Sáng tạo làm nền tảng Tất cả mọi thứ đều

từ Chúa, do Chúa và thông qua Chúa Trong sách Sáng thế, thuộc phần Cựu ước, vấn đề Chúa Trờisáng tạo ra Sự sáng và Sự sống trên trái đất đã được trình bày theo trình tự “sáu ngày sáng thế”

Theo Philông, thông qua trực giác huyền bí, hay mặc khải, con người linh cảm về Chúa như

cái bất biến, vô hạn, bất phân và siêu việt, siêu thời gian

Theo Đacanh, Thượng đế là động lực ban đầu, là mục đích tối cao, là nguyên nhân cuối cùng, làquy luật vĩnh cửu, là hình thức thuần túy, là cái tất nhiên - hoàn thiện tuyệt đối, là cái siêu lý tạo ra mọicái hợp lý của thế giới Giới tự nhiên không tồn tại vĩnh cửu mà được Thượng đế sáng tạo ra từ hư vô;mọi cái hoàn thiện nhất trong giới tự nhiên cảm tính đều được quyết định bởi sự thông minh củaThượng đế, đều có được sự hợp lý nhờ vào Thượng đế

Nhận thức luận: Tư tưởng Kytô giáo nhấn mạnh ưu thế của niềm tin trước lý trí Là đại diện

của chủ nghĩa sùng tín, Tertullien tuyên bố “Tôi tin, vì đó là điều phi lý” Một Giáo phụ Latinh khác,Lactantius cho rằng, để lý trí đi đúng hướng cần quàng cho nó một cái ách, ngầm hiểu là niềm tin

Trang 19

Téctuliêng cho rằng trí tuệ con người không có khả năng sáng tạo gì hết, còn tôn giáo baohàm trong nó tất cả, do đó không thể cho rằng triết học, lý trí là cơ sở của tôn giáo Trong quan hệgiữa lý trí và lòng tin tôn giáo, ông cho rằng lý trí chỉ nhận thức được giới tự nhiên, còn lòng tin vượt

ra khỏi giới hạn đó với mục đích nhận thức Thượng đế

Cũng như các nhà tư tưởng Kytô giáo khác, Oguýtxtanh nhấn mạnh ưu thế của đức tin trước

lý trí Luận điểm “tin để hiểu”, “đức tin đi trước nhận thức” do Oguýtxtanh khởi xướng trở thànhnền tảng tư tưởng của nhà thờ Đức tinlà điều kiện tiên quyết, nhưng chưa phải là điều kiện đủ củanhận thức Con người không chỉ tin, mà còn suy nghĩ về những gì mình tin Đức tin có trước lý trí xét

về thời gian, lý trí cần hơn đức tin xét về thực chất công việc Theo Oguýtxtanh, tri thức con ngườixuất phát từ hai nguồn:kinh nghiệm sống và niềm tin, cao hơn là đức tin tôn giáo Nguồn thứ nhất tỏ

ra phân tán, phiến diện, hạn chế; nguồn thứ hai phong phú và chân thực Do đó tin vào Thiên Chúacần đi trước nhận thức Niềm tin giúp con người hiểu biết sâu sắc hơn; không có niềm tin không điđến tri thức một cách vững chắc

Thuyết nhân bản và đạo đức học: Con người là khâu trung gian đặc thù giữa vương quốc

tinh thần và vương quốc tự nhiên Cuộc đấu tranh, sự giằng co giữa cái thiện và cái ác, giữa phần

“thần” và phần “thú” trong con người là một quá trình gắn với tồn tại trần gian của con người Cáckhái niệm “nguyên tội tổ tông”, “chuộc lỗi”, “cứu rỗi” và “phục sinh” thường được nhắc đến trongđạo đức học Kytô giáo, nhằm nhắc nhở con người luôn biết tự kiểm điểm về những hành vi của mình,vươn đến cái thiện Đối với con người trung cổ chết không phải là sự kết thúc hoàn toàn, mà chỉ là sựchấm dứt một cuộc sống (cõi trần), chờ phán xử để đón nhận cuộc sống khác ở Cõi vĩnh hằng

Ôguýtxtanh cho rằng, trên trần thế, tức là nơi con người, loài người đang sống, vương quốccủa điều ác là nhà nước, vương quốc của Thượng đế là nhà thờ Ôguýtxtanh là người luôn bảo vệ sựbất bình đẳng xã hội và cho rằng Thượng đế ban thưởng cho người này được sướng và bắt người kiaphải khổ Người nghèo chỉ nên yêu cái không lấy được, không nên yêu của cải, chỉ nên yêu Thượng

đế, vì cuộc sống những năm tháng ở trần gian là tạm bợ là quỷ sứ, còn "thiên đàng" mới là hạnh phúc

Đacanh không chỉ đề cao sự thống trị của Nhà thờ đối với xã hội mà còn kịch liệt chống lại sựbình đẳng xã hội Theo ông, xã hội trần thế chỉ là sự chuẩn bị cho cuộc sống ở thế giới bên kia Giáo

hoàng là Đại diện của Thượng đế ở trần gian Nhà thờ phải là Chính quyền tối cao đứng trên chính

quyền Nhà nước của các quốc vương Quốc vương có nghĩa vụ thực hiện yêu cầu của Nhà thờ trừngphạt không thương tiếc kẻ tà đạo Ông coi xuyên tạc tôn giáo là tội rất lớn, lớn hơn cả tội làm tiền giả; vìđồng tiền chỉ để thỏa mãn nhu cầu đời sống tạm thời, còn xuyên tạc tôn giáo sẽ làm mất đi cuộc sốngvĩnh hằng sau khi chết Nếu quốc vương buộc những kẻ làm tiền giả vào tội chết là đúng, thì treo cổnhững kẻ tà đạo là việc làm còn đúng hơn…

Tômát Đacanh ca ngợi chế độ bất bình đẳng và trật tự đẳng cấp trong xã hội ông cho rằngchính quyền của vua chúa là do thượng đế sáng tạo ra Dân phải phục tùng vua, vua phải phục tùngGiáo hoàng La Mã Chính quyền quản lý thân thể, Giáo hội quản lý phần hồn Cao hơn thân thể làlinh hồn, cao hơn quyền lực nhà nước là Giáo hội - đại diện thiêng liêng của Thượng đế trên trần thế

Triết học duy lý chỉ đóng vai trò “người phiên dịch” những hình ảnh, biểu tượng của Kinhthánh ra ngôn ngữ logic và những khái niệm trừu tượng

Trang 20

Như vậy đặc điểm cơ bản của triết học trung cổ Kytô giáo là sự liên minh của nó với thần học

và chịu sự chi phối của thần học thông qua chú giải, chứng minh cho Kinh Thánh như chân lý duynhất và “cái vòm của sự uyên bác” Nội dung xuyên suốt của Kinh thánh là câu chuyện về lịch sử cứu

độ với tư tưởng trung tâm là “di huấn” (giao ước) của Thiên Chúa với loài người và việc thực hiện dihuấn đó Kinh thánh đòi hỏi niềm tin tuyệt đối của con người vào Thiên Chúa thông qua mặc khải,tức với sự ra đời của Kinh thánh, trọng tâm nhận thức đã được chuyển sang niềm tin, tạo ra bộ mặt

mới khác với thời kỳ cổ đại Nhờ công lao của các nhà triết học trung cổ, Kinh Thánh trở thành

nguồn chất liệu tiềm tàng của triết học, chứ không chỉ dừng lại ở những câu chuyện huyền bí và cáchngôn Liên minh triết học - thần học tạo ra bản sắc riêng của ý thức thời kỳ trung cổ Trong liên minh

ấy, đức tin định hướng lý trí Theo đó, đức tin là niềm tin vào một đấng siêu nhiên là có thật, hằnghữu và vĩnh cửu; nó không thể không có, không thể và không cần tìm thấy từ phép suy diễn logichoặc từ các số liệu khoa học

Câu 7: Anh chị hãy làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của con đường đi lên CNXH ở nước

ta hiện nay là bỏ qua chế độ TBCN ?

Lịch sử vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam, thực tiễn phát triển của thế giới suốtthế kỷ XX, cũng như thập niên đầu thế kỷ XXI đã chứng minh rằng, nước ta quá độ lên chủ nghĩa xãhội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế vận động tiến bộcủa thời đại và điều kiện lịch sử - cụ thể của Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đặc điểm nổi bật trong giaiđoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại,vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc Cuộc đấu tranh của nhândân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó

khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” Trong xu thế vận động chung đó của thế giới, thì việc Việt

Nam “đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộngsản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử… Đây là một quátrình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi vềchất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài vớinhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen” Điều đó được chứng minhtrên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn:

Cơ sở lí luận

- Thứ nhất, trong lịch sử xã hội loài người giữa hình thái kinh tế - xã hội cũ và HTKTXH mới

sẽ thay thế nó bao giờ cũng có một thời kỳ quá độ Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sửphát triển và thay thế nhau của các HTKTXH Song, không phải HTKTXH này kết thúc hoàn toàn rồiHTKTXH tiếp sau mới ra đời Giữa HTKTXH cũ bị thay thế và HTKTXH mới sẽ thay thế nó bao giờcũng có một giai đoạn chuyển tiếp, một TKQĐ Xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa với giai đoạnđầu là chủ nghĩa xã hội, một chế độ xã hội mới hoàn toàn về chất so với các chế độ xã hội trước đó lạicàng đòi hỏi phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, đầy khó khăn, thử thách, khó tránh khỏi những

va vấp, đổ vỡ tạm thời Trong “Phê phán Cương lĩnh Gô-ta”, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã chỉ

Ngày đăng: 25/04/2014, 21:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w