1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

1953401020112_Nguyễn Đức Mạnh_Qtl44A2.Docx

34 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Arbitration Between The Republic Of Croatia And The Republic Of Slovenia
Tác giả Nguyễn Đức Mạnh
Người hướng dẫn Ths. Lê Minh Nhựt
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Công Pháp Quốc Tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  KHOA QUẢN TRỊ LỚP 107 – QTL44A 2 MÔN HỌC CÔNG PHÁP QUỐC TẾ ĐỀ TÀI ARBITRATION BETWEEN THE REPUBLIC OF CROATIA AND THE REPUBLIC OF S[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- 

-KHOA: QUẢN TRỊ LỚP: 107 – QTL44A.2 MÔN HỌC: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

ĐỀ TÀI ARBITRATION BETWEEN THE REPUBLIC OF CROATIA AND THE REPUBLIC OF SLOVENIA

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 06 năm 2022

Giáo viên giảng dạy: Ths Lê Minh Nhựt

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến giảng viên hướng dẫn là thầy Lê Minh Nhựt Trong quá trình học tập và thực hiện bài tiểu luận, thầy không chỉ truyền đạt nhiều kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm cuộc sống,

mà còn cố gắng tạo điều kiện giúp em hoàn thành tốt bài tiểu luận của mình

Em xin chân thành cảm ơn thầy và chúc thầy có nhiều sức khỏe, luôn thành đạt trong sự nghiệp giảng dạy.

Trang 3

MỤC LỤC

I TÓM TẮT VỤ VIỆC 1

1.1 Tóm tắt sự kiện 1

1.2 Lập luận của các bên 2

1.2.1 Lập luận của Slovenia 2

1.2.2 Lập luận của Croatia 7

1.3 Lập luận và phán quyết của tòa án 12

1.3.1 Lập luận của tòa án 12

1.3.2 Tòa đưa ra phán quyết đối với vụ tranh chấp như sau 15

II TRÌNH BÀY QUAN ĐIỂM CỦA SINH VIÊN 19

2.1 Quan điểm của các học giả về vụ án 19

2.2 Quan điểm của sinh viên 21

2.3 Bài học kinh nghiệm 24

DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 4

I TÓM TẮT VỤ VIỆC

1.1 Tóm tắt sự kiện

Croatia và Slovenia trước kia thuộc nước Cộng hòa Liên bang Xã hội Chủ nghĩaNam tư ( The Socialist Federal Republic of Yugoslavia - SFRY), khi bắt đầu chiếntranh Nam Tư vào năm 1991, quốc gia này tan rã kéo theo sự ly khai của nhiều vùng.Nhiều nước cộng hòa được thành lập ngay sau đó bao gồm cả Cộng hòa Croatia vàCộng hòa Slovenia

Croatia có chung biên giới trên bộ với Slovenia về phía bắc, kéo dài từ ngã baHungary – Croatia – Slovenia đến điểm cuối ở vịnh Piran1, đây cũng là nơi bắt đầucủa khu vực tranh chấp, Slovenia cho rằng mình có chủ quyền lịch sử đối với toàn bộvịnh này, trong khi Croatia tuyên bố mình sở hữu một nửa vịnh Mục tiêu chính củaSlovenia là muốn đảm bảo quyền tự do cho tàu bè của mình ra khơi; trong khi mốiquan tâm của Croatia là giữ biên giới hàng hải với nước Ý

Ngược về lịch sử, cả Croatia và Slovenia đều tuyên bố độc lập vào ngày 25tháng 6 năm 1991 Vào ngày này, Quốc hội Cộng hòa Croatia đã thông qua Quyếtđịnh Hiến pháp về Chủ quyền và Độc lập của Cộng hòa Croatia và Tuyên bố về việcThành lập Chủ quyền và Cộng hòa độc lập Croatia Cùng ngày đó, Quốc hội nướcCộng hòa Slovenia đã thông qua Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp cơ bản về Chủquyền và Độc lập của Cộng hòa Slovenia Các bên nhấn mạnh, vào thời điểm độc lập,

họ chấp nhận và sử dụng nguyên tắc pháp lý uti possidetis2 để xác định biên giới, cho

rằng “biên giới giữa họ vẫn là biên giới đã tồn tại vào thời điểm độc lập giữa hai

nước cộng hòa hợp thành của SFRY.” Hai nước đã thành lập nhóm các chuyên gia và

Ủy ban ngoại giao để xác định và phân định biên giới, tuy nhiên những nỗ lực nàykhông những không phân định được biên giới, đặc biệt là với vùng vịnh Piran, mà cònđẩy căng thẳng của cả hai nước ngày càng leo thang Sau cùng, nỗ lực nhằm giảiquyết tranh chấp đã không thành công và phải dừng lại sau những cuộc họp kéo dàivào tháng 7 năm 1998

Từ năm 1998 đến năm 1999, các cuộc đàm phán song phương tiếp tục ở cấp Bộtrưởng, một quy trình hòa giải do Tiến sĩ William Perry, cựu Bộ trưởng Quốc phòngHoa Kỳ thực hiện nhưng cuối cùng cũng không đem lại kết quả gì và phải chấm dứtvào năm 1999

1 Theo cách gọi của Slovenia.

2 Nguyên tắc sử dụng các đường ranh giới đã có là nguyên tắc được áp dụng để xác định biên giới quốc gia, theo

đó nếu không có thỏa thuận khác các quốc gia mới giành được độc lập tôn trọng và duy trì các đường phân chia ranh giới hành chính đã tồn tại trước đó như các đường biên giới quốc tế.

1

Trang 5

Đến ngày 20 tháng 7 năm 2001, những cuộc đàm phán ở cấp Thủ tướng đã giúphai nước đạt được thỏa thuận Drnovsek – Racan về Biên giới quốc gia chung Ủy banQuan hệ quốc tế của Quốc hội Slovenia đã thông qua thỏa thuận này chỉ bốn ngày sau

đó, tuy nhiên, văn bản đã bị Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Croatia bác bỏ trước khi

nó được đệ trình lên Quốc hội nước này Những nỗ lực song phương trong những nămtiếp theo để giải quyết tranh chấp ranh giới đã không thể thành công

Năm 2004, Slovenia gia nhập Liên minh Châu Âu (EU) Một năm sau đó,Croatia cũng muốn gia nhập tổ chức này, tuy nhiên, Slovenia đã bảo lưu bảy chươngđàm phán tại Hội nghị Liên chính phủ về việc Gia nhập liên minh của Croatia, trên cơ

sở những chương này có thể ảnh hưởng ít nhiều đến quá trình tranh chấp biên giớigiữa hai quốc gia Hiểu theo cách khác, Slovenia đòi Croatia phải chấp nhận yêu cầucủa họ về chủ quyền lãnh thổ đối với khu vực tranh chấp thì mới ưng thuận cho quốc

gia này gia nhập EU (không sử dụng quyền phủ quyết)3

Đến năm 2009, sau nhiều nỗ lực của Châu Âu, cuối cùng hai bên đã đi đến thỏathuận trọng tài Xét thấy thỏa thuận này phù hợp với hiến pháp của Croatia vàSlovenia, thỏa thuận có hiệu lực vào ngày 29 tháng 11 năm 2010, theo đó, tại Điều 3của thỏa thuận giao cho Tòa trọng tài xác định:

(i) Phân định biên giới trên đất liền và biển giữa Slovenia và Croatia;(ii) Xác định điểm giao nhau của Slovenia với biển cả;

(iii)Quy chế áp dụng trong các khu vực hàng hải có liên quan

Mặc dù có cả tranh chấp trên biển và tranh chấp trên đất liền trong vụ việc này,

em sẽ chỉ phân tích vấn đề về phân định lãnh hải trong vịnh Piran của hai quốc gianày để đạt được hiệu quả cao nhất, tránh lan man, đi đúng trọng tâm bài làm

1.2 Lập luận của các bên

1.2.1 Lập luận của Slovenia

Ngay từ đầu cuộc tranh chấp, phía Slovenia vẫn duy trì quan điểm rằng chínhquyền Croatia phải tôn trọng tình hình biên giới ngày 25 tháng 6 năm 1991 và Hiệpđịnh tránh các cuộc xung đột mà hai bên đã ký vào tháng 6 năm 2005 Lập luận cơbản nhất của Slovenia là họ có chủ quyền đối với toàn bộ vịnh Piran và do đó, biêngiới hàng hải cần được đặt ra theo nguyên tắc công bằng4 liên quan đến các hoàn cảnh

3 Quyền được sử dụng trong phần lớn các quyết định quan trọng của Liên minh Châu Âu, theo đó mỗi quốc gia

sẽ có một phiếu bầu, và bất kỳ sự bất đồng thuận nào cũng dẫn đến nghị quyết không được thông qua Điều này cũng được ghi nhận trong mục 2.5 chương 2 “Quyền và nghĩa vụ của các thành viên Liên minh Châu Âu” của chính phủ Anh trước khi nước này rời bỏ EU.

4 Nguyên tắc được sử dụng như là một trong những nguyên tắc cơ bản và nền tảng của pháp luật quốc tế hiện đại nói chung và luật biển nói riêng Trong lĩnh vực luật biển, nguyên tắc này cho rằng công bằng không nhất thiết là phải bằng nhau về mặt phân định diện tích mà phải phản ánh thực tế các hoàn cảnh đặc thù hiện diện trong khu vực: yếu tố địa lý; hình dạng bờ biển; sự thay đổi xu thế của bờ biển; yếu tố kinh tế; yếu tố chính trị;

2

Trang 6

đặc biệt Các yêu sách pháp lý và chính trị của Cộng hòa Slovenia có thể được tìmthấy trong bản ghi nhớ năm 1993 trên vịnh Piran ngày 7 tháng 8 năm 1993 – đượcthông qua bởi Quốc hội Slovenia – và trong thỏa thuận Drnosek – Racan ngày 20tháng 7 năm 2001, theo đó các cuộc đàm phán dựa trên giả định rằng, giải pháp cầnphải dựa trên đoạn thứ hai của Điều 15 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển(UNCLOS)5.

Các tuyên bố của Slovenia đối với vịnh Piran, như được soạn thảo trong hai tàiliệu pháp lý này và trong các tuyên bố khác nhau của các quan chức và học giả pháp

lý Slovenia có thể được tóm tắt như sau:

Thứ nhất, Slovenia tuyên bố chủ quyền trên toàn vịnh Piran Quốc gia này lậpluận rằng họ đã thực thi quyền tài phán kể từ khi có hiệu lực của Hiệp định Osimo6vào năm 1975 trên toàn bộ vịnh từ điểm kiểm soát số 57 Bằng chứng pháp lý có thểtìm thấy trong Thỏa thuận Pula và Hướng dẫn của Tổng cục cảnh sát Cộng hòaSlovenia trong việc thực thi quyền kiểm soát Điểm quan trọng trong hai văn bản này

là Slovenia có quyền kiểm soát kinh tế và an ninh đối với vịnh Piran, trước và cả saukhi độc lập Thậm chí, việc kiểm soát được mở rộng đến vùng Savudrija Promotory -T48 về phía nam Do đó, Slovenia lập luận rằng họ phải giữ quyền tài phán đối vớitoàn bộ vịnh này

Hình 1: Lãnh thổ đang tranh chấp ở thung lũng sông Dragonja, lối vào của

vịnh Piran.

yếhanu tố an ninh, quốc phòng…

5 “Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau… không quốc gia nào được mở rộng lãnh hải… Tuy nhiên, quy định

này không áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia một cách khác.”

6 Hiệp ước được ký giữa SFRY và Ý nhằm phân định lãnh hải bằng một đường kéo dài 25,7 hải lý và nối năm điểm Hiệp ước này được áp dụng cho Croatia và Slovenia với tư cách là các quốc gia kế thừa của SFRY

7 Xem hình 1.

8 Xem hình 2.

3

Trang 7

Thứ hai, Slovenia tuyên bố rằng phương pháp đường trung tuyến không thể ápdụng trong trường hợp vịnh Piran, và do đó quy tắc hoàn cảnh đặc biệt nên được ápdụng thay thế Slovenia lập luận rằng, thỏa thuận cuối cùng về ranh giới hàng hải cầnđược soạn thảo theo tinh thần của thỏa thuận Drnovsek-Racan hoặc thậm chí, có thểthực hiện tạm thời thỏa thuận này Theo đó, thỏa thuận đã được ký bởi thủ tướng củahai nước vào năm 2001 Chiếu theo luật quốc tế, chữ ký rõ ràng là biểu thị cho sựđồng ý và phải bị ràng buộc một trách nhiệm pháp lý cụ thể9 Theo Công ước Vienna

1969 về Luật Điều ước quốc tế, Điều 18, 24 (4) và 25, một chữ ký thường tạo thànhmột hành vi pháp lý mà mỗi bên phải chấp nhận một số trách nhiệm Việc Croatia kývào Thỏa thuận Drnovsek – Racan cũng cho thấy đại diện của nước này đã đồng ý vớivăn bản, sẵn sàng cho việc chứng thực nó Slovenia cũng đưa ra lập luận về nghĩa vụpháp lý quốc tế của Croatia không được đánh mất đi đối tượng và mục đích của điềuước trước khi nó có hiệu lực, do đó, những gì Slovenia đã tuyên bố, Croatia có nghĩa

vụ phải thực hiện Theo Điều 18 của Công ước Vienna 1969, một quốc gia có nghĩa

vụ tránh tiến hành thực hiện những hành vi làm cho một điều ước mất đi đối tượng vàmục đích khi quốc gia đó đã ký hoặc trao đổi những văn kiện điều ước với bảo lưuviệc phê chuẩn, chấp thuận hoặc phê duyệt điều ước đó, cho đến khi quốc gia đó tỏ rõ

ý định không muốn trở thành một bên của điều ước đó nữa

9Điều 11 Công ước Vienna 1969 quy định:

“Những hình thức biểu thị sự đồng ý chịu sự ràng buộc của một điều ước

Việc một quốc gia đồng ý chịu sự ràng buộc của một điều ước có thể biểu thị bằng việc ký, trao đổi các văn kiện của điều ước phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập hoặc bằng mọi cách khác được thỏa thuận.”

4

Trang 8

Hình 2: Thỏa thuận phân định hàng hải Drnovsek – Racan.

Slovenia cũng cho rằng, cách tiếp cận theo phương pháp đường trung tuyến

không thể áp dụng trong trường hợp này Như trong vụ “Thềm lục địa Biển Bắc”

(giữa Cộng hòa liên bang Đức và Đan Mạch, tức Cộng hòa liên bang Đức và Hà Lanngày nay), Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) cho rằng tập quán yêu cầu phân định thềmlục địa được tiến hành trên cơ sở các nguyên tắc công bằng và tính đến các trường hợp

có liên quan Các nguyên tắc công bằng hoặc cách tiếp cận hoàn cảnh liên quan sau đó

đã được xác nhận bởi ICJ trong các phán quyết10 Điều này cho thấy rằng, các quốcgia không thể áp dụng phương pháp đường trung tuyến mà không đặt trong mối liên

hệ với các hoàn cảnh có liên quan Điều 15 UNCLOS 1982 quy định: “[Đường trungtuyến] không áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc có cáchoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia mộtcách khác” Theo Slovenia, lịch sử của khu vực và một số trường hợp đặc biệt tồn tạitrong tranh chấp biên giới hàng hải ở vịnh Piran

Tương tự, ở phía Croatia cũng khẳng định, phương pháp đường trung tuyếnkhông quá quan trọng Ngoài ra, thỏa thuận Drnovsek – Racan quy định 80% vịnh sẽthuộc về Slovenia như hình ảnh minh họa Biên giới theo đó sẽ bắt đầu ở giữa cửasông Dragonja cách bán đảo Savudrija khoản 270 mét, nằm dưới quyền tài phán củaCroatia Từ đó, biến giới sẽ được vẽ dưới dạng một đường thẳng kéo dài đến điểmnằm cách bờ biển Croatia khoảng 1200 mét và cách bờ biển Slovenia khoảng 3600mét Tại bản thỏa thuận cho phép hai bên hiểu rằng, Chính phủ Croatia sẵn sàng bỏqua nguyên tắc đường trung tuyến khi phân định khu vực hàng hải ở vịnh Piran Tuynhiên, Thỏa thuận Drnovsek – Racan không được thực hiện do sự phản đối rộng rãi ởCroatia, khiến Quốc hội nước này không thông qua thỏa thuận Thủ tướng Croatia thìmuốn một quyết định thích hợp cho quốc gia này, trong khi quốc hội thiên về các yêu

sách dân tộc Nguyên tắc pacta sunt servanda, được quy định trong Công ước Vienna

1969 tại Điều 26: “Mọi điều ước đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia vàphải được các bên thi hành với thiện chí.” Phía Slovenia cũng lưu ý với Croatia rằngmột điều ước cần được giải thích với thiện ý theo nghĩa thông thường được đưa ra chocác điều khoản trong bối cảnh của họ, dựa trên đối tượng và mục đích Từ đó, họ chorằng, đối tượng và mục đích của thỏa thuận được ký trước đó đã bị Quốc hội Croatiaxem thường

Hơn nữa, Slovenia khẳng định rằng biên giới trên biển phải được xác định theođoạn thứ hai của Điều 15, có tính đến danh nghĩa lịch sử và các trường hợp đặc biệt

10 Thềm lục địa (Tunis v Libya), Phán quyết, 1982 I.C.J; Thềm lục địa (Libya v Malta), Phán quyết, 1985 I.C.J

5

Trang 9

khác cũng như nguyên tắc công bằng Tuy nhiên, cần lưu ý rằng để viện dẫn danhnghĩa lịch sử, luật học quốc tế không yêu cầu cả bốn điều kiện11 để nó có hiệu lực Cónhững trường hợp đặc biệt đang bị đe dọa trong đó biện minh cho việc áp dụng danhnghĩa lịch sử đối với vịnh Piran Như tên của nó, vịnh này trong lịch sử thuộc về đôthị Piran Kể từ năm 1893, đô thị này đã sở hữu cả hai bên của vịnh, bao gồm cả Bánđảo Savudrija được Antonio Caccia để lại vào năm 1893 Chỉ sau Thế chiến II, năm

1945, những người cầm quyền cộng sản Croatia và Slovenia, trong một hoàn cảnhchưa thể giải thích được, dường như đã đồng ý chuyển Savudrija cho Croatia tiếpquản Tuy nhiên, bản đồ tiếng Slovenia trong sách địa lý của những năm 1950 vẫn chothấy Bán đảo Savudrija là của Slovenia, với biên giới được vẽ nhiều hơn về phía nam

từ biên giới hiện tại trên sông Dragonja Hơn nữa, các tài liệu lịch sử của Giáo hộiCông giáo chứng minh không thể chối cãi rằng các giáo xứ trên bán đảo Savudrija –

từ thế kỷ thứ 11 đến năm 1954 - luôn thuộc về tòa giám mục Piran, chính xác hơn làtòa giám mục Koper hiện đang ở Slovenia Điều này đủ chứng minh rằng vịnh Pirannên được coi là một vịnh lịch sử (Slovenia đã chiếm hữu, khai thác, sử dụng lâu đời

mà không nước nào phản đối) Ngoài ra, các hoàn cảnh địa lý, kinh tế, văn hóa vàchính trị tồn tại ở đây hỗ trợ mối liên hệ lịch sử của Slovenia với vịnh

Thứ ba, phía Slovenia cho rằng họ có quyền duy trì việc tiếp cận trực tiếp vớibiển quốc tế, ít nhất cũng phải có một hành lang đặc biệt để ra khơi như cách mô tảtrong bản đồ, rộng 3600 mét và diện tích chiếm khoảng 46 km212

Thứ tư, mật độ dân số Slovenia ở vịnh Piran cho thấy yêu cầu kiểm soát toàn bộvịnh của họ là hợp lý do khu vực này và toàn bộ bờ biển Slovenia có rất đông dân cư.Vùng ven biển có diện tích 44 km2 với gần 80.000 người (232 người/km2), điều đó cónghĩa mật độ dân số của nơi này cao gấp hai lần mật độ trung bình của quốc gia Hầuhết dân số (80%) sinh sống dọc theo bờ biển dài 46km Điều này tạo ra lợi thế rõ ràngcho sự kiểm soát toàn bộ vịnh của Slovenia Sự tập trung cư dân và các hoạt động baogồm: giao thông, công nghiệp, thương mại, du lịch và nghề cá, đại diện cho một mốiquan tâm lớn trong khu vực ven biển Bên cạnh đó, bờ biển Slovenia có cơ sở hạ tầng

du lịch phát triển tốt với 21.000 cơ sở lưu trú du lịch (bằng 27% số lượng hiện có của

cả nước), nhận khoảng 400.000 khách mỗi năm

Thứ năm, Slovenia bác bỏ các tuyên bố mang tính phân loại thứ bậc giữa cácnguồn cơ bản luật quốc tế của các quan chức Croatia, đặc biệt là các học giả Slovenia

11

- Là vùng biển có cấu tạo địa lý đặc biệt, ăn sâu vào đất liền hoặc là một bộ phận gắn liền với lục địa;

- Ở cách xa đường hàng hải quốc tế;

- Có ý nghĩa quan trọng đặc biệt về chiến lược, quốc phòng, an ninh, kinh tế,… đối với quốc gia ven biển;

- Về mặt lịch sử, quốc gia ven biển đã chiếm hữu, khai thác, sử dụng từ lâu đời mà không có nước nào phản đối.

12 Xem hình 2.

6

Trang 10

cho rằng Điều 2 của UNCLOS sẽ ngăn cản việc giải quyết tranh chấp theo cách mà nó

mô tả13 Phía Croatia thì cho rằng, Điều 2 nằm trong các tiêu chuẩn bắt buộc của luật

quốc tế hay các quy phạm có tính chất jus cogens, tuy nhiên, lập luận này không dựa

trên bất kỳ quy phạm pháp luật hoặc án lệ từ tòa án quốc tế Nếu như coi Điều 2 của

UNCLOS là một quy phạm jus cogens sẽ làm suy yếu đi khái niệm về quy phạm này.

Jus cogens là chuẩn mực bắt nguồn từ tầm quan trọng của các nội dung mà nó quy

định liên quan chặt chẽ đến nhân phẩm, nhân quyền và nhân đạo vốn được coi lànhững giá trị cơ bản của cộng đồng quốc tế Diệt chủng, tra tấn, phân biệt chủng tộc,

nô lệ và lao động cưỡng bức, tội ác chiến tranh, tội ác chống lại loài người, quyền tựquyết… là một số ví dụ về quy phạm này Rất khó để Điều 2 của UNCLOS luôn đạt

được các yêu cầu của một quy phạm jus cogens Vi phạm các quy phạm jus cogens là

một hành vi bị cấm trong luật quốc tế do tầm quan trọng của các giá trị mà chúng bảo

vệ, những nguyên tắc đó (lệnh cấm) đã phát triển trong suốt nhiều thập kỷ để trở thànhmột quy phạm mang tính bắt buộc, do đó, các quy phạm này được ưu tiên áp dụnghơn trong hệ thống thứ bậc các quy phạm của luật quốc tế, cao hơn cả điều ước và tậpquán được công nhận Vì vậy, nếu cho rằng Điều 2 của UNCLOS là một quy phạmmang tính bắt buộc sẽ là vượt xa khỏi những nguyên tắc này, làm suy yếu toàn bộkhái niệm mà mục đích chính là bảo vệ cho các quyền cơ bản nhất của con người. 

1.2.2 Lập luận của Croatia

Các yêu sách chính trị và pháp lý của Cộng hòa Croatia lần đầu tiên được nêu ra

ở “Position of the Republic of Croatia in the Delimitation of the Piran”Bay and the

Connected Issue of the Dragonja River Area” (Vị thế của Cộng hòa Croatia trong

việc phân định vịnh Piran và vấn đề được kết nối của khu vực sông Dragonja) và

trong Tuyên bố Liên bang Quan hệ giữa Cộng hòa Croatia và Cộng hòa Slovenia doQuốc hội Croatia ban hành năm 199914 Ở tuyên bố liên bang, Quốc hội Croatia tuyên

bố chính phủ nước này và các nhà đàm phán nên tuân theo Điều 15 của UNCLOS vàyêu cầu biên giới hàng hải ở vịnh Piran nên được phân chia theo nguyên tắc bìnhđẳng, nghĩa là ở giữa vịnh

13 ĐIỀU 2 Chế độ pháp lý của lãnh hải và vùng trời ở trên lãnh hải cũng như đáy và lòng đất dưới đáy

của lãnh hải

Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình, và trong trường hợp một quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng nước quần đảo, đến một vùng biển tiếp liền, gọi là lãnh hải (merterritoriale)

Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên lãnh hải, cũng như đến đáy và lòng đất của biển này.

Chủ quyền của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế trù định.

14 Xem “Deklaracija o stanju međudržavnih odnosa Republike Hrvatske i Republike Slovenije”, Narodne

Novine (Official Joarnal of Croatia), ngày 26 tháng 3 năm 1999, https://narodne-novine.nn.hr/clanci/sluzbeni/1999_04_32_636.html

7

Trang 11

Các tuyên bố của Croatia liên quan đến vịnh Piran, như được trình bày trong haitài liệu này, trong các tuyên bố của các quan chức Croatia, và trong các tuyên bố củacác học giả có thể được tóm tắt như sau:

Đầu tiên, những tuyên bố về chủ quyền của Slovenia đối với toàn bộ vịnh Piran

là không có cơ sở và trái với luật pháp quốc tế vịnh Piran nên được phân định theonguyên tắc bình đẳng, có nghĩa là một nửa trong số đó sẽ thuộc về Croatia và một nửatrong số đó dưới sự kiểm soát có chủ quyền của Slovenia Thứ hai, các tuyên bố củaSlovenia về việc tiếp xúc trực tiếp với các vùng biển quốc tế, ngay cả dưới dạng mộthành lang đặc biệt, là không có cơ sở và một lần nữa trái với luật pháp quốc tế vềbiển Thứ ba, Croatia phải giữ biên giới hàng hải với Ý

Cộng hòa Croatia đưa các yêu sách chính trị của mình dựa trên Điều 15UNCLOS Đoạn sau của điều này quy định rằng, biên giới hàng hải nên được chiatheo đường trung bình (đoạn đầu tiên) trừ khi có thể viện dẫn một danh nghĩa lịch sửhoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của haiquốc gia theo một cách khác Tuy nhiên, có nhiều cách hiểu khác nhau về Điều 15 và

về mối quan hệ giữa đoạn đầu tiên và thứ hai của nó, nhưng trước khi đi vào vấn đềnày, cần phải nhấn mạnh rằng một thỏa thuận về việc phân định vịnh Piran và trongthung lũng sông Dragonja liên quan trên thực tế đã đạt được nếu dựa trên nguyên tắcnày

Theo thỏa thuận được gọi là Thỏa thuận Drnovsek-Racan, được đặt theo tên củacác thủ tướng người Slovenia và Croatia, khoảng 80% vịnh Piran sẽ thuộc về Slovenia

và phần còn lại của Croatia Theo thỏa thuận này, như hình ảnh số 2 cho thấy, biêngiới ở vịnh Piran sẽ bắt đầu ở giữa cửa sông Dragonja cách khoảng 270 mét từ bánđảo Savudrija sẽ thuộc về Croatia Từ đó, biên giới sẽ được vẽ theo một đường thẳngcho đến điểm nằm cách bờ biển Croatia khoảng 1200 mét và 3600 từ bờ biểnSlovenia Tính từ điểm này, biên giới sẽ được chia theo nguyên tắc đường trung tuyếncho đến khi nó đến biên giới với Ý được xác định bởi thỏa thuận Osimo

Biên giới Osimo xác lập giới hạn cuối cùng cho biển Slovenia Phần sau sẽ đượckết nối với biển quốc tế bằng một hành lang đặc biệt rộng 3600 mét và chiếm diệntích khoảng 46 km2 Trong hành lang này sẽ có một chế độ pháp lý của biển quốc tế

và các quốc gia đã quy định rằng cả hai đều không được phép tuyên bố đặc quyềnkinh tế Giữa biên giới Osimo với Ý và hành lang sẽ vẫn là một hình tam giác củavùng lãnh thổ Croatia, cho phép Croatia duy trì biên giới hàng hải với Ý

Trong thỏa thuận tại phần trên đất liền cũng xác định biên giới lãnh thổ giữaCroatia và Slovenia ở thung lũng sông Dragonja Biên giới ở khu vực này nên phân

8

Trang 12

định ở trên sông vì điều này đã được xác định trong các tài liệu về quản lý đất đai củanhững thành phố địa phương Croatia và Slovenia Tuy nhiên, dọc theo hạ lưu của consông là bốn ngôi làng15 có tình trạng gây tranh cãi những năm qua Cả Croatia vàSlovenia đều tuyên bố chủ quyền đối với những ngôi làng này do tài liệu lưu trữ củacác cơ quan đăng ký đất đai tại khu vực này chồng chéo nhau16 (phân định hành chínhcủa SFRY trước khi chúng tách ra thành hai quốc gia độc lập) Theo thỏa thuận,những ngôi làng này nên để cho Croatia quản lý, do đó biên giới rõ ràng sẽ ở giữasông Dragonja mà không vi phạm thỏa thuận Tuy nhiên, phần lớn dân cư ở nhữngngôi làng này là công dân Slovenia nên động thái này của Chính phủ Slovenia đượccoi là một sự thỏa hiệp, là một yếu tố mang tính thiện chí để trao đổi phần lớn vịnhPiran.

Thỏa thuận nhượng lại các ngôi làng cho Croatia đã được các Thủ tướng ký kết,được chính phủ của cả hai quốc gia tán thành, và được quốc hội Slovenia phê chuẩntheo quy định của hiến pháp Tuy nhiên, Quốc hội Croatia đã không phê chuẩn thỏathuận Đồng nghĩa với việc, thỏa thuận không ràng buộc đối với hai bên Trong nhữngnăm tiếp theo, Chính phủ Slovenia đã nhấn mạnh vào việc chấp nhận đề nghị Chínhphủ Croatia đã bác bỏ thỏa thuận nhiều lần cho đến khi việc phân định hàng hải đượcxem xét, nhưng họ lại chấp nhận thỏa thuận về phần đất liền bằng cách khẳng địnhrằng bốn ngôi làng trong phần tranh chấp của Thung lũng sông Dragonja vẫn là mộtphần của Croatia

Vì thỏa thuận không được cả hai quốc gia phê chuẩn và do đó đã không bị ràngbuộc với họ, phía Croatia, như đã đề cập ở trên, trông cậy vào Điều 15 của UNCLOS.Tuy nhiên, có nhiều cách hiểu khác nhau về quy định này Một số người cho rằngnguyên tắc bình đẳng trong việc phân định lãnh hải, được nêu ra trong đoạn đầu tiêncủa Điều 15, là một nguyên tắc chung, phải luôn được áp dụng trừ khi bị thay thế bởimột thỏa thuận khác Đoạn thứ hai, yêu cầu về danh nghĩa lịch sử và hoàn cảnh đặcbiệt, theo đó được hiểu đơn giản chỉ là một ngoại lệ đối với quy tắc chung Ngoại lệnày, giống như tất cả các trường hợp ngoại lệ khác, phải được hiểu một cách nghiêmngặt và cặn kẽ, hơn nữa, quy định này cần phải chứng minh là có mang danh nghĩalịch sử hoặc đang trong một hoàn cảnh đặc biệt

Ở khía cạnh khác, một cách giải thích cũng mang tính hợp lý không kém cạnh,đoạn thứ hai của điều này phải được hiểu như là một quy tắc độc lập, tức tách biệt vớiđoạn đầu, không xem như là một ngoại lệ so với quy tắc chung Ví dụ điển hình của

15 Đó là: Škrile, Škudelin, Bužin in Mlini Xem hình 1.

16 Dĩ nhiên những ngôi làng này luôn được đăng ký đất đai tại cơ quan quản lý hành chính của Slovenia Người

ta cho rằng, Croatia chỉ thay đổi các đăng ký của mình để tăng thêm các vị trí tranh chấp và làm bóp méo hiện trạng ngày 25 tháng 6 năm 1991.

9

Trang 13

cách giải thích này đã được đưa ra bởi Tòa án Trọng tài trong vụ kiện Eo biển Vươngquốc Anh17, trong đó người ta nhấn mạnh rằng, sự tồn tại của các trường hợp đặc biệt

là một câu hỏi pháp lý mà Tòa án hoặc Hội đồng trọng tài phải giải quyết

Từ những hành động của chính quyền Croatia, và từ các bài báo học thuật đượcviết về vấn đề này, rõ ràng Croatia đã chọn cách giải thích đầu tiên Do đó, phần lớnphát biểu mang tính học thuật ở Croatia cho rằng biên giới ở vịnh Piran phải đượcphân chia ở giữa vịnh Chủ yếu, họ nhấn mạnh rằng, biên giới trong vịnh chưa bao giờđược xác định và vịnh chưa bao giờ chỉ được kiểm soát bởi một quốc gia (Sloveniahoặc Croatia) mà là mỗi quốc gia đã thực thi quyền tài phán ở những phần tương ứng.Như các lập luận chính trị và pháp lý của Slovenia được trình bày trong phần trên đãcho thấy, tồn tại một tranh chấp thực tế liên quan đến sự kiểm soát lịch sử của vịnhPiran Phía Slovenia tuyên bố rằng vịnh trong quá khứ là một phần của đô thị địaphương Piran và cảnh sát Slovenia đã kiểm soát toàn bộ vịnh ngay khi còn là mộtbang của Cộng hòa Liên bang Nam Tư cho đến nay Phía Croatia thì mâu thuẫn vớiviệc đề cập đến quyền cảnh sát và quân sự trong vịnh vì cho rằng, các nhà chức tráchcủa nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa cũ đã chia vịnh cho mỗi bên quản lý một nửa.Ngoài ra, Croatia cũng viện dẫn danh nghĩa và quyền lịch sử của ngư dân Istria,những người được cho là đã đánh bắt hải sản tại vịnh này và sử dụng các tài nguyêncủa vịnh từ trước đến nay Người ta nói rằng có nhiều bằng chứng về các cơ quan

hành chính và tư pháp Croatia thực hiện quyền kiểm soát trong “phần phân nửa của

Croatia” tại vịnh Piran Bằng chứng này bao gồm cả Croatia từ chối sự phụ thuộc của

Slovenia vào nguyên tắc uti possidetis trong vịnh Piran Croatia cho rằng nguyên tắcnày chỉ có thể áp dụng khi một loại biên giới (ví dụ: hành chính) đã tồn tại, và trongtrường hợp này thì không phải như vậy Cuối cùng, không có bằng chứng nào chothấy Slovenia có toàn bộ vịnh Piran dưới sự kiểm soát có chủ quyền của riêng mình.Chế độ Nam Tư cũ có chủ quyền đối với toàn bộ biển Adriatic, bao gồm cả vịnh Piran

và do đó, chính phủ liên bang đã thực thi chủ quyền tại nơi này mà không phân địnhcho các nước cộng hòa Vì vậy, có thể kết luận rằng chủ quyền trong vịnh Piran đãđược thực hiện cùng nhau và đồng thời bởi Croatia và Slovenia

Tuy nhiên, lập luận pháp lý mạnh nhất của Croatia là dựa trên Điều 2 củaUNCLOS18, cho phép chủ quyền của quốc gia được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nộithủy của mình (có chủ quyền đối với lãnh hải) Lập luận này, bản thân nó không gâytranh cãi và được hỗ trợ rộng rãi bởi luật học quốc tế, kết luận rằng lãnh hải có chế độpháp lý như chủ quyền đối với đất liền Trong bối cảnh của vịnh Piran, theo các cuộc

17 English Channel Arbitration (France v UK 1979).

18 Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình, và trong trường hợp một quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng nước quần đảo, đến một vùng biển tiếp liền, gọi là lãnh hải

(merterritoriale)

10

Trang 14

tranh luận của Croatia, cách tiếp cận này có nghĩa là vịnh Piran không thể là một vịnhlịch sử19 và mọi yêu sách của Slovenia để vạch ra ranh giới theo cách để thực thiquyền tài phán đối với toàn bộ vịnh trái ngược với luật quốc tế và tập quán quốc tếcũng như các nguyên tắc của nó Phía Croatia không dừng lại ở đây, họ lập luận thêm

rằng Điều 2 là một quy định jus cogens Các quy tắc pháp lý quốc tế về nghĩa vụ trong

điều ước giữa các quốc gia và kết luận của các thỏa thuận quốc tế ngụ ý rằng, mọithỏa thuận giữa Croatia và Slovenia, nơi một bên nhượng lại một số vùng lãnh thổ của

nó cho bên còn lại hoặc nhượng lại vùng nước dưới chế độ pháp lý biển quốc tế (kéodài trước bờ biển Croatia như một hành lang tiếp cận biển quốc tế), trong khu vực sẽđược định nghĩa là vùng lãnh thổ của Croatia, nhưng đối với thỏa thuận, nó vi phạm

quy tắc jus cogens tại Điều 2 của UNCLOS và do đó sẽ bị vô hiệu20

Yêu cầu này là lập luận mạnh mẽ nhất của Croatia đối với hành lang tiềm năngcủa Slovenia và do đó, chống lại tuyên bố của Slovenia với sự tiếp xúc trực tiếp củavùng nước lãnh thổ với biển quốc tế Phía Croatia cũng tuyên bố, ngay cả khi Điều 2

không có tính chất jus cogens, Croatia không có nghĩa vụ quốc tế để cấp cho Slovenia

một con đường để đi ra biển quốc tế Họ cho rằng, thực tiễn về các hành lang biển rấthiếm khi xảy ra Ngay cả trong những vụ thực tế, chẳng hạn như thỏa thuận giữa Pháp

và Monaco21 và Hành lang Pháp ở Đại Tây Dương22 rất khác nhau cả trên thực tế vàbối cảnh tổng thể đến nỗi, chúng không thể được áp dụng cho trường hợp của vịnhPiran Đầu tiên, những con tàu Slovenia sẽ có quyền đi qua các vùng lãnh thổ Croatiađến biển quốc tế, và do đó không cần hành lang đặc biệt này Hơn nữa, ngay cả khiSlovenia được Croatia chấp thuận để mở rộng vùng nước của mình để tiếp cận vớibiển quốc tế, lúc này vùng lãnh thổ của Slovenia có thể kéo dài thêm 12 hải lý, điều

đó là không thể Một phần mở rộng hơn 14 hải lý, tính từ đường cơ sở tại bờ biểnSlovenia, sẽ trái với Điều 3 của UNCLOS về xác định chiều rộng của lãnh hải23

19

- Là vùng biển có cấu tạo địa lý đặc biệt, ăn sâu vào đất liền hoặc là một bộ phận gắn liền với lục địa;

- Ở cách xa đường hàng hải quốc tế;

- Có ý nghĩa quan trọng đặc biệt về chiến lược, quốc phòng, an ninh, kinh tế,… đối với quốc gia ven biển;

- Về mặt lịch sử, quốc gia ven biển đã chiếm hữu, khai thác, sử dụng từ lâu đời mà không có nước nào phản đối.

20 Công ước Vienna 1969, Điều 53 Các điều ước xung đột với một quy phạm bắt buộc của pháp luật quốc

tế chung

Mọi điều ước mà khi được ký kết xung đột với một quy phạm bắt buộc của pháp luật quốc tế chung đều là vô hiệu Nhằm mục đích của Công ước này, một quy phạm bắt buộc của pháp luật quốc tế chung là một quy phạm được toàn thể cộng đồng các quốc gia chấp thuận và công nhận là một quy phạm không thể vi phạm và chỉ có thể sửa đổi bằng một quy phạm mới khác của pháp luật quốc tế chung có cùng tính chất.

21 Xem Công ước về phân định hàng hải giữa Chính phủ của Hoàng thân Monaco và Chính phủ Cộng hòa

Pháp,

https://www.un.org/depts/los/LEGISLATIONANDTREATIES/PDFFILES/TREATIES/MCO-FRA1984MD.PDF , ngày 16 tháng 2 năm 1984

22 Xem Báo cáo quốc tế về phán quyết Phân định các vùng biển giữa Canada và Pháp,

https://legal.un.org/riaa/cases/vol_XXI/265-341.pdf , ngày 10 tháng 6 năm 1992

23UNCLOS, ĐIỀU 3 Chiều rộng của lãnh hải

11

Trang 15

Đối với các yêu sách của Slovenia dựa trên danh nghĩa lịch sử và các trường hợpđặc biệt được cho là có mặt trong trường hợp của vịnh Piran, phía Croatia thẳng thắnlập luận rằng ít nhất một trong bốn điều kiện cho tuyên bố của vịnh lịch sử khôngđược thực hiện Cụ thể, một phần bờ biển của vịnh thuộc về Croatia, và không cótrường hợp đặc biệt đáng chú ý nào.

Cuối cùng, phía Croatia kết luận, vì không có trường hợp đặc biệt và không cóphương sách cho một danh nghĩa lịch sử, do đó quy tắc công bằng phải được thôngqua và vịnh nên được chia đều Giải pháp này sẽ là công bằng nhất, và sẽ phù hợpnhất với thực tiễn của các quốc gia khác trong các trường hợp tương tự Phía Croatia

đề xuất rằng việc thất bại trong thỏa thuận phân định, vụ việc nên được chuyển đếnmột Tòa án tư pháp hoặc trọng tài độc lập để giải quyết trong khuôn khổ pháp lý hợp

lệ của luật pháp quốc tế

1.3 Lập luận và phán quyết của tòa án

1.3.1 Lập luận của tòa án

Tòa trọng tài dựa trên Điều 15 UNCLOS và xem xét thêm hai “nguyên tắc cơ

bản” chưa từng có tiền lệ.

Tòa án lập luận theo hướng đồng hóa phương pháp đường trung tuyến của Điều

15 với phương pháp phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa trongcác án lệ24 Đây thường được coi là phương pháp ba bước25:

Bước 1: Vạch ra đường trung tuyến/cách đều tạm thời;

Bước 2: Điều chỉnh đường tại bước 1 theo những hoàn cảnh liên quan trong từng

vụ việc;

Bước 3: Kiểm tra lại tính tương xứng giữa diện tích vùng biển chia cho mỗi bên

và chiều dài đường bờ biển liên quan

Theo đó, Tòa cho rằng “đối với phân định lãnh hải và vùng biển bên ngoài

lãnh hải, luật quốc tế yêu cầu áp dụng đường trung tuyến, trừ trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt hoặc yêu cầu phải sử dụng một đường khác”26 Tòa cho rằng đây làphương pháp phù hợp với thực tiễn của ICJ và ý kiến của các học giả, theo hướngđồng nhất phương pháp phân định lãnh hải và các vùng biển khác Sau đó, tòa đã kết

hợp hai “nguyên tắc cơ bản” được áp dụng trong phán quyết “Thềm lục địa Biển

Mọi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình; chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước.

24 Điều 74 và Điều 83 UNCLOS.

25 Đoạn thứ 999 của phán quyết, https://pcacases.com/web/sendAttach/2172

26 Đoạn thứ 1000 của phán quyết, https://pcacases.com/web/sendAttach/2172

12

Trang 16

Bắc” năm 1969 Mặc dù vụ án này không mấy liên quan đến tranh chấp hiện tại, một

vụ là về lục địa còn một vụ lại liên quan đến lãnh hải, tòa cho rằng có lý do để ápdụng vào lãnh hải Hai nguyên tắc đó cụ thể là (i) sự kéo dài tự nhiên (naturalprolongation) và (ii) nếu có thực thể hay cấu trúc địa lý có tác động lớn đến đườngphân định thì tác động đó cần được giảm thiểu27 Đặc biệt là nguyên tắc thứ hai, là cơ

sở để tòa không áp dụng đường trung tuyến trong việc phân định lãnh hải giữa hainước Theo lập luận của tòa, nếu áp dụng nguyên tắc đường trung tuyến một cáchcứng nhắc, theo cách hiểu đầu tiên đã được phân tích trước đó trong phần 1.2.2, sẽgây ra bất lợi lớn cho Slovenia do đặc thù địa hình tại khu vực Tòa cũng nhấn mạnhrằng mình không cố “thay đổi trạng thái tự nhiên” và cũng không tìm cách “ưu đãi”hơn cho Slovenia để bù đắp những bất lợi tự nhiên của họ Tòa chỉ đang đưa ra mộtgiải pháp phá thế “đóng thùng” (boxing-in) của vùng biển Slovenia theo nguyên tắcthứ hai nêu trên

Đường phân định lãnh hải cuối cùng mà Tòa trọng tài đưa ra đó là đường songsong với đường phân định lãnh hải giữa Slovenia và Ý (đường T2 – T3), ký kết theoHiệp định Osimo Các bước để dẫn đến phán quyết được thực hiện như sau:

27 Đoạn thứ 1008-1010 của phán quyết, https://pcacases.com/web/sendAttach/2172

13

Trang 17

Hình 3: Bản đồ IV: Yêu sách của các bên và xét xử của Tòa án.

Đường trung tuyến tạm thời mà Tòa án vẽ ra như ở bước 1 là đường AO (hình3), xuất phát từ điểm A (từ cửa sông Dragonja đến điểm A là đường phán quyết củaTòa án) tại đường giới hạn của vịnh, nối hai bán đảo Savudrija và Madona

Kế đó, ở bước 2, tòa không coi sự khác biệt lớn về độ dài đường bờ biển của haiquốc gia (Croatia có đường bờ biển dài hơn Slovenia gấp 125 lần) là một trường hợpđặc biệt hay sự tồn tại của danh nghĩa lịch sử là cơ sở để không áp dụng nguyên tắccông bằng Tòa chỉ dựa vào một số đặc điểm cấu hình bờ biển, mà nếu áp dụng cứngnhắc đường trung tuyến sẽ gây bất lợi cho Slovenia, và nó tạo thành một trường hợpđặc biệt Theo bản đồ V (hình 4), đường bờ biển của Croatia quay hẳn về phía nam,hướng về mũi Savudrija, do đó, các điểm cơ sở của Croatia để vẽ đường trung tuyếnnằm trên một bờ biển rất nhỏ (quay về phía bắc), hướng quay khác biệt rõ rệt so vớihướng chung (hướng tây nam) của phần lớn đường bờ biển Croatia (như minh họa) và

14

Ngày đăng: 01/04/2023, 13:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w