Quan điểm của sinh viên

Một phần của tài liệu 1953401020112_Nguyễn Đức Mạnh_Qtl44A2.Docx (Trang 24 - 27)

II. TRÌNH BÀY QUAN ĐIỂM CỦA SINH VIÊN

2.2. Quan điểm của sinh viên

Thứ nhất, việc Slovenia và Croatia cùng thỏa thuận đưa tranh chấp ra tòa trọng tài là một việc làm rất đáng hoan nghênh, giải quyết được mâu thuẫn của hai bên theo đúng các trình tự, thủ tục và quy định của luật quốc tế. Đây cũng được coi là một Thỏa thuận trọng tài có phần đặc biệt vì đó là thỏa thuận nội bộ đầu tiên được soạn thảo dưới sự bảo trợ của EU, mặc dù đây không phải là trường hợp duy nhất có một tổ chức quốc tế tham gia vào một vụ như thế này. Sở dĩ như vậy là vì khi đã vào EU và NATO, hay bất kì một tổ chức nào khác, việc giải quyết tranh chấp không còn được

“thoải mái” như trước mà phải tuân thủ các cam kết và chịu sự tiết chế chung của tổ chức.

Tuy nhiên, Croatia cáo buộc hội đồng đã “đi đêm” với Slovenia, cho rằng Tòa án phải chấm dứt công việc của mình ngay lập tức vì cho rằng quá trình trọng tài đã tổn hại đến mức không thể tiếp tục. Croatia cũng nhấn mạnh rằng, Tòa án không có thẩm quyền bày tỏ bất kỳ quan điểm nào về các yêu cầu chấm dứt Thỏa thuận trọng tài của họ.

Về vấn đề này, như trong vụ Nottebohm năm 1953, ICJ đã khẳng định rằng “tòa có quyền quyết định về thẩm quyền của mình và có quyền giải thích mục đích, công cụ chi phối quyền đó”36. Đây được xem là nguyên tắc Kompetenz – Kompetenz trong tiếng Đức hay la compétence de la competence37 trong tiếng Pháp. Sở dĩ có nguyên tắc này là vì tránh các trường hợp, bất kỳ bên tham gia trọng tài nào nếu phản đối phán quyết của tòa có thể dừng quá trình tố tụng và rời bỏ việc giải quyết bất cứ lúc nào. Nguyên tắc này ghi nhận tại Điều 36.6 của Quy chế Tòa án quốc tế 1945. Như vậy, mặc cho bê bối, Tòa án vẫn có thẩm quyền giải quyết tiếp, miễn là cơ cấu lại thành viên trong Hội đồng trọng tài. Và thật sự thì Tòa án công lý quốc tế hoàn toàn có thẩm quyền bởi nó không nghiễm nhiên được thành lập để giải quyết tranh chấp cho hai bên, mà chính hai bên đã ký một thỏa thuận song phương để thành lập tòa này.

Thứ hai, việc bảo lưu của Slovenia đối với bảy chương đàm phán tại Hội nghị Liên chính phủ về việc Gia nhập liên minh châu Âu của Croatia là đúng với quy định của pháp luật quốc tế: (i) đây là điều ước quốc tế đa phương, (ii) không rơi vào các trường hợp bị cấm bảo lưu, (iii) hình thức thỏa mãn bằng văn bản, (iv) phù hợp với

36 Xem Nottebohm Case, trang 119, https://www.icj-cij.org/public/files/case-related/18/018-19531118-JUD-01- 00-EN.pdf.

37 Thẩm quyền về thẩm quyền, hiểu cơ bản là quyền quyết định xem mình có thẩm quyền hay không.

luật EU (có quyền phủ quyết) và vì thế đương nhiên (v) được các quốc gia tham gia đàm phán chấp nhận. Sau đó bảo lưu này đã được rút lại tại Điều 9 của Thỏa thuận trọng tài giữa các bên, thỏa mãn yêu cầu về mặt hình thức và phía bị bảo lưu cũng biết được việc rút bảo lưu này, do vậy việc rút bảo lưu có hiệu lực và vì thế, cho phép Croatia gia nhập Liên minh châu Âu.

Về nội dung:

Thứ nhất, các bên tính đến nguyên tắc công bằng và các tình huống liên quan trong trường hợp vịnh Piran. Theo em, nguyên tắc công bằng không phải là một phương pháp để phân định trong các cuộc tranh chấp mà nên hiểu nó theo nghĩa là một mục đích mà các bên cần đạt được, tức là kết quả có được không nhất thiết phải chia đều cho nhau mà phải công bằng, tính đến các yếu tố khác có liên quan, theo yêu cầu của luật quốc tế. Và vì thế, Slovenia ủng hộ áp dụng nguyên tắc công bằng theo cách giải thích trên là hợp lý, trong khi Croatia vẫn mong muốn áp dụng phương pháp đường trung tuyến mới thật sự là công bằng thì có phần chưa phù hợp khi xét đến các hoàn cảnh đặc biệt của vùng vịnh này như đã phân tích ở các phần trên.

Thứ hai, để chắc chắn về việc điều chỉnh đường trung tuyến như phán quyết của Tòa án có đạt được kết quả công bằng hay không thì cần xem xét một số vấn đề, Croatia không đồng ý với yêu sách của Slovenia khi nước này tuyên bố chủ quyền với toàn bộ vịnh Piran. Cách tiếp cận của Croatia là ủng hộ việc áp dụng một cách chặt chẽ nguyên tắc công bằng, trong khi Slovenia có một cách tiếp cận linh hoạt hơn, cụ thể là xét đến các hoàn cảnh liên quan khi áp dụng nguyên tắc. Slovenia dựa vào uti possidetis để phân định biên giới, Croatia thì cho rằng nguyên tắc này chỉ được áp dụng khi biên giới giữa hai quốc gia đã tồn tại, cụ thể là biên giới hàng hải, nhưng thực tế, có bằng chứng cho thấy Slovenia đã kiểm soát toàn bộ vịnh này trước đó như đã phân tích ở phần 1.2.1. Do vậy, nếu áp dụng cứng nhắc phương pháp đường trung tuyến sẽ gây ra bất lợi cho Slovenia, về nguyên tắc là bất công cho họ.

Thứ ba, người ta phải thừa nhận rằng, lập luận pháp lý mạnh nhất của Croatia là dựa trên Điều 2 của UNCLOS, cho phép quốc gia có chủ quyền với lãnh hải rộng tối đa 12 hải lý. Tuy nhiên, để đạt được 12 hải lý thì quốc gia đó phải có một vị trí lý tưởng, cơ bản là không tiếp giáp hay đối diện với bất kỳ quốc gia nào mà có thể gây ra mâu thuẫn khi xác lập chủ quyền. Chính nhờ điều luật này, Croatia phủ nhận khái niệm vịnh lịch sử của Slovenia do họ, căn cứ theo điều luật, cũng có quyền tài phán với phần bên kia của vịnh. Việc này có vẻ hợp lý cho đến khi Croatia nâng nó lên thành một quy phạm mang tính mệnh lệnh – jus cogens. Rõ ràng là các quy phạm loại này xuất phát từ tập quán quốc tế chứ không phải có sẵn trong luật điều ước quốc tế.

Việc tạo ra các quy phạm này bắt nguồn từ sự đồng thuận cao của cộng đồng quốc tế,

tạo ra một ý chí chung mang nặng tính đạo đức về nhân quyền. Do đó, nếu chấp nhận lập luận của Croatia sẽ làm bóp méo khái niệm jus cogens và làm suy yếu đi nguyên tắc này.

Thứ tư, yêu sách vịnh lịch sử của Slovenia, về điều này thì luật học quốc tế phân tích bốn điều kiện bao gồm:

- Là vùng biển có cấu tạo địa lý đặc biệt, ăn sâu vào đất liền hoặc là một bộ phận gắn liền với lục địa;

- Ở cách xa đường hàng hải quốc tế;

- Có ý nghĩa quan trọng đặc biệt về chiến lược, quốc phòng, an ninh, kinh tế…

đối với quốc gia ven biển;

- Về mặt lịch sử, quốc gia ven biển đã chiếm hữu, khai thác, sử dụng từ lâu đời mà không có nước nào phản đối.

Tuy nhiên, căn cứ vào tập quán và các phán quyết của Tòa án thì cần thỏa mãn ít nhất hai điều kiện: (i) quốc gia ven biển đó thực hiện một cách thực sự có chủ quyền của mình một cách liên tục, hòa bình và lâu dài; (ii) có sự chấp nhận công khai hoặc im lặng không phản đối của các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia láng giềng cùng có quyền lợi tại vùng này. Và rõ ràng với điều kiện thứ hai Slovenia đã không đạt được, do căn cứ vào Điều 2 của UNCLOS thì Croatia cũng có quyền tài phán đối với phần bên kia của vịnh, dĩ nhiên là họ sẽ phản đối yêu sách này và thực tế đã phản đối từ khi Slovenia công khai tuyên bố yêu sách. Phản đối của Croatia là phù hợp với luật quốc tế, mặc dù có thể thấy một phần bất lợi tự nhiên cho Slovenia, nhưng luật là luật, rõ ràng là Slovenia không đủ điều kiện để tuyên bố một danh nghĩa lịch sử trên vùng vịnh này. Và vì thế, cho dù Croatia không lập luận để Điều 2 của UNCLOS trở thành một quy phạm jus cogens thì Tòa án cũng không công nhận đây là vịnh lịch sử của Slovenia, thực tế thì phán quyết của tòa cũng đã không chấp nhận điều đó.

Thứ năm, thỏa thuận năm 2001 cho thấy Croatia sẵn sàng bỏ quy phương pháp đường trung tuyến trong phân định biên giới hàng hải. Thỏa thuận cũng cho phép mô tả lại vùng biển của Croatia và biển cả, tạo ra một vùng kết nối trực tiếp giữa vùng nước Slovenia và vùng nước quốc tế. Phía Slovenia yêu cầu Croatia tuân thủ thỏa thuận theo nguyên tắc pacta sunt servanda được ghi nhận tại Điều 26 của Công ước Vienna 1969 và viện dẫn các điều 11, 12 để cho rằng Croatia đã đồng ý với thỏa thuận, phải bằng nỗ lực của mình, thực hiện thỏa thuận với thiện chí cao nhất là chưa phù hợp với pháp luật quốc tế. Bởi vì căn cứ theo Điều 30 về hiệu lực của Thỏa thuận Drnovsek – Racan có ghi nhận: “Hiệp ước này phải được phê chuẩn theo luật pháp của các bên. Hiệp ước này có hiệu lực vào ngày nhận được thông báo cuối cùng mà

các bên ký kết thông báo cho nhau thông qua các kênh ngoại giao rằng các điều kiện để có hiệu lực của hiệp ước này theo luật tương ứng của họ đã được thực hiện.”

Vào thời điểm ký kết, hiến pháp đang có hiệu lực tại Croatia là hiến pháp 1990 (sửa đổi tháng 3 năm 2001, trước ngày thỏa thuận Drnovsek – Racan được ký kết 4 tháng). Tại Điều 139 của hiến pháp có quy định:

“1. Quốc hội Croatia xác nhận các thỏa thuận quốc tế yêu cầu thông qua hoặc sửa đổi luật, các thỏa thuận quốc tế có tính chất quân sự và chính trị

[...]

3. Tổng thống nước Cộng hòa Croatia sẽ ký các văn kiện phê chuẩn, gia nhập, phê chuẩn hoặc chấp nhận các điều ước quốc tế đã được Quốc hội Croatia phê chuẩn theo các khoản 1 và 2 của Điều này.”

Như vậy, căn cứ vào thỏa thuận và luật của nước Cộng hòa Croatia có thể thấy, việc Quốc hội nước này không phê chuẩn thỏa thuận của hai bên là đúng với quy định của thỏa thuận, luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Cụ thể hơn. Slovenia căn cứ vào Điều 12 của Công ước Vienna 1969 để yêu cầu Croatia thực hiện thỏa thuận là không đúng, mà phải căn cứ vào Điều 14 của công ước này, việc đồng ý chịu sự ràng buộc của điều ước phải biểu thị bằng việc phê chuẩn, chấp thuận hoặc phê duyệt. Như vậy, Croatia không vi phạm nguyên tắc pacta sunt servanda và do đó không cần thực hiện điều ước kể trên.

Cuối cùng, Croatia phản đối mạnh mẽ đề xuất có một hành lang đi ra biển quốc tế, ngang qua lãnh hải Croatia, của Slovenia. Theo phán quyết của tòa thì đúng theo kiểu “ghét của nào trời trao của ấy”, Croatia phải nhượng bộ một phần biển để cho tàu bè, máy bay có thể đến và đi từ Slovenia. Chắc chắn, về mặt thẩm quyền Tòa án hoàn toàn có thẩm quyền, căn cứ vào thỏa thuận tại điều 3.1.b – c, dù cho điểm b quy định tòa chỉ xác định điểm giao nhau nhưng điểm c áp dụng quy chế sử dụng biển thì chẳng thể nào áp dụng cho một điểm được. Hơn nữa, quyền đi lại trong khu vực này đảm bảo về mặt pháp lý của UNCLOS. Về mặt lý thuyết thì đúng là không nên có bất kỳ cản trở nào cho các tàu bè, máy bay đi từ cảng Slovenia hướng tới biển Adriatic đi ra biển quốc tế và ngược lại, theo nguyên tắc tàu bè đi qua không gây hại, tuy nhiên, ở trong lãnh hải của Croatia thì đó lại là một câu chuyện khác, nhất là khi hai quốc gia này luôn trong tình trạng căng thẳng trong khu vực tranh chấp.

Một phần của tài liệu 1953401020112_Nguyễn Đức Mạnh_Qtl44A2.Docx (Trang 24 - 27)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(34 trang)
w