kinh tế phát triển
Trang 21
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH TẠI VIỆT NAM
(Restructuring economic sector in VietNam)
TÓM TẮT Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một nội dung quan trọng trong quá trình CNH,
HĐH đất nước đồng thời nó là một tiêu chí để đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế Kể từ
khi tiến hành công nghiệp hoá theo cơ chế thị trường (năm 1986) đến nay, cơ cấu ngành kinh
tế ở nước ta đã có những biến đổi nhất định Bài viết phân tích tổng quan chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế ở Việt Nam từ năm 2001 đến 2010, qua đó đề xuất một số gợi ý nhằm thúc đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH
I Đặt vấn đề
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm đưa đất nước về cơ
bản thành một nước công nghiệp vào năm 2020 Nội dung, bản chất của quá trình CNH được
thế hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò
quan trọng nhất Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là chỉ tiêu đánh giá mức độ hội nhập
quốc tế của mỗi quốc gia về kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu Việc đánh giá
thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay là hết sức
cần thiết trong bối cảnh chúng ta hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế thế giới như
hiện nay, qua đó đề xuất những giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo
hướng CNH, HĐH
II Nội dung
1 Khái niệm
1.1 Cơ cấu ngành kinh tế
Là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ
và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữa các ngành với nhau Các mối quan hệ này
được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và
hướng vào những mục tiêu cụ thể Như vậy, cần phải hiểu cơ cấu ngành kinhh tế theo những
nội dung sau:
Trước hết, đó là số lượng các ngành kinh tế được hình thành Số lượng ngành
kinh tế không ổn định, nó luôn được hoàn thiện theo sự phát triển của phân công lao động xã
hội Từ đầu thế kỷ 19, nhà kinh tế học Collin Class căn cứ vào tính chất chuyên môn hóa của
sản xuất đã chia thành 3 nhóm ngành: khai thác tài nguyên thiên nhiên (gồm nông nghiệp và
khai thác khoáng sản), công nghiệp chế biến (sản xuất sản phẩm vô hình) Liên hiệp quốc
(UN) sao này, căn cứ vào tính chất hoạt động sản xuất đã chuyển hoạt động khai thác khoáng
sản sang ngành công nghiệp và gọi sản phẩm vô hình là dịch vụ
Nguyên tắc phân ngành xuất phát từ tính chất phân công lao động xã hội, biểu
hiện cụ thể qua sự khác nhau về quy trình công nghệ của các ngành trong quá trình tạo ra sản
phẩm vật chất và dịch vụ Các ngành kinh tế được phân thành 3 khu vực hay gọi là 3 ngành
Trang 3Chuyển dịch cơ cấu ngành tại Việt Nam | Nhóm 2
2
gồm:
- Khu vực I bao gồm các ngành nông – lâm – ngư nghiệp;
- Khu vực II là các ngành công nghiệp và xây dựng;
- Khu vực III gồm các ngành dịch vụ
Thứ đến, cơ cấu ngành kinh tế thể hiện ở mối quan hệ tương hỗ giữa các ngành
với nhau Mối quan hệ này bao gồm cả mặt số và chất lượng Mặt số lượng thể hiện ở tỷ
trọng (tính theo GDP, lao động, vốn…) của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân,
còn khía cạnh chất lượng phản ánh vị trí, tầm quan trọng của từng ngành và tính chất của sự
tác động qua lại giữa các ngành với nhau Sự tác động qua lại giữa các ngành có thể là trực
tiếp hoặc gián tiếp Tác động trực tiếp bao gồm tác động cùng chiều và ngược chiều, còn mối
quan hệ gián tiếp được thể hiện theo các cấp 1,2, 3 v.v Nói chung mối quan hệ của các
ngành cả số và chất lượng đều thường xuyên biến đổi và ngày càng trở nên phức tạp hơn theo
sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế
1.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế theo thời gian từ trạng
thái và trình độ này tới một trạng thái và trình độ khác phù hợp với sự phát triển kinh tế xã
hội và các điều kiện vốn có nhưng không lặp lại trạng thái cũ Chính điều này mà cơ cấu kinh
tế phản ánh sự thay đổi về chất và là cơ sở để so sánh các giai đoạn phát triển Trong quá
trình tăng trưởng, cơ cấu kinh tế (đặc biệt là cơ cấu ngành) luôn chuyển dịch theo một xu
hướng và thể hiện trình độ nào đó qua đó thay đổi trình độ phát triển Quy luật tiêu dùng của
E Engel (1821-1896) đã chỉ ra cơ sở cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đó là nhu cầu và xu
hướng tiêu dùng của thị trường Trong điều kiện kinh tế hội nhập và mở cửa thì nhu cầu thị
trường thế giới là rất quan trọng, không chỉ dừng ở đó mà mức độ tham gia vào phân công
lao động quốc tế của mỗi quốc gia cũng quan trọng Cơ cấu kinh tế còn chịu ảnh hưởng của
nhiều nhân tố như điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực, vốn, công nghệ, thị trường, và chính
sách
Cơ cấu ngành kinh tế là một phạm trù động, nó luôn luôn thay đổi theo từng thời kỳ
phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định Quá trình thay đổi của cơ cấu
ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi
trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế không chỉ là thay đổi vế số lượng các ngành, tỷ trọng mỗi ngành mà còn
bao gồm sự thay đổi về vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành Việc chuyển
dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là
cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và
bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn
2 Đánh giá chung
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những chủ trương lớn của Đảng và nhà
nước ta trong thời kỳ đổi mới cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta đã có những bước thay đổi tích
Trang 43
cực
Trong văn kiện Đại hội X của Đảng về phát triển kinh tế đã chỉ rõ: “tổng sản phẩm
tron nước (GDP) năm 2010 theo giá so sánh gấp hơn 2, 1 lần năm 2000 Trong 5 năm
2006-2010, tốc độ tăng trưởng GDP 7,5-8%/năm, phấn đấu đạt trên 8%/năm GDP bình quân đầu
người năm 2010 theo giá hiện hành đạt khoảng 950-1000 USD
Từ năm 1990 đến 2008, khu vực I giảm tỉ trọng trong GDP và cả trong cơ cấu lao
động (từ 38,7% còn 22,1% trong GDP và từ 73% còn 52.6% trong lao động) Trong nội bộ
ngành thì nông nghiệp giảm nhưng thủy sản tăng trong cơ cấu GDP (từ 3,1% lên 4%) cũng
như trong cơ cấu lao động (1% lên 3,8%) Sự gia tăng của ngành thủy sản góp phần duy trì
lực lượng lao động trong khu vực I, nó cũng đóng góp đáng kể cho tăng trưởng công nghiệp
và xuất khẩu của các tỉnh ven biển, các tỉnh ĐBSCL
Tỉ trọng khu vực II tăng lên trong cơ cấu của GDP và trong lao động Trong đó
công nghiệp chế biến từ 12,3% (năm 1990) tăng lên 21,1% (năm 2008) trong GDP và tương
ứng trong lao động từ 9,4% lên 14% Xây dựng cũng có sự thay đổi, đóng góp đáng kể trong
cùng thời gian trên
Khu vực III từ 1990-2008 hầu như không thay đổi trong cơ cấu GDP nhưng lại
tăng khá nhiều trong cơ cấu lao động (từ 15,7% lên 26,6%) Trong đó các ngành thương mại,
bán lẻ hàng hóa đóng góp lớn nhất (cơ cấu lao động của ngành thương mại, bán lẻ từ 4,7%
năm 1990 tăng lên 12% năm 2008)
Sự thay đổi cơ cấu ngành và cơ cấu lao động từ 1990-2008 (%)
- Tỉ trọng của khu vực I giảm trong GDP và trong lao động Mức giảm của năm
2008 so với năm 1990 của lao động lớn hơn so trong GDP
- Tỉ trọng của khu vực II trong GDP tăng gần gấp đôi so với tăng trong cơ cấu
lao động (17,1 và 9,6%) Khu vực II tăng nhanh nhưng giải quyết công ăn việc làm thì không
nhiều nhưng ừ 2000-2008 đã cải thiện hơn so với trước
- Khu vực III giảm rất ít trong cơ cấu GDP (-0,4%) nhưng tăng nhiều trong cơ
Trang 5Chuyển dịch cơ cấu ngành tại Việt Nam | Nhóm 2
4
cấu lao động (10,8%) Đây là khu vực giải quyết nhiều hơn công ăn việc làm so với khu vực
II
- Tăng trưởng khu vực I giữ ở mức 3,5-4%, nhưng lao động đang giảm Điều
này có thể cải thiện năng suất lao động vốn quá thấp ở đây, nhưng về lâu dài cần xem xét các
hệ quả khi dòng lao động từ đây chuyển đi mang theo lực lượng trai tráng, trẻ khỏe , chỉ còn
người già, học vấn thấp ở lại
3 Sự chuyển dịch bên trong của các ngành kinh tế
3.1 Nông nghiệp
3.1.1 Xu thế chuyển dịch
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có nhiều lợi thế và tiềm năng về đất đai, lao động
và điều kiện sinh thái, cho phép phát triển một nền nông nghiệp sinh thái bền vững đa canh
và có nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn
Sau hơn 10 năm thực hiện đổi mới của Đảng và Nhà nước, kinh tế nông nghiệp và
nông thôn đã có những bước phát triển đáng kể Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng liên tục
với nhịp độ khá cao và khá ổn định (bình quân tăng 4 - 4,5%) Trên cơ sở phát huy lợi thế so
sánh của các vùng sinh thái và các địa phương trong cả nước, đã hình thành được nhiều vùng
chuyên canh sản xuất xuất khẩu như: Lúa gạo vùng ĐBSCL, ĐBSH; cà phê vùng Tây
Nguyên; cao su vùng ĐNB; Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng đã
có sự chuyển dịch ngày càng tích cực hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ
trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn đã tăng từ 17,3% năm 2001 lên 19,3%
năm 2007 Trên cơ sở đó, đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông
thôn mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn theo hướng
ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ làm
nông nghiệp thuần tuý giảm dần Tỷ lệ hộ nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp)
đã giảm 9,87%; tỷ lệ hộ công nghiệp tăng lên 8,78% Năm 2007, số hộ công nghiệp và dịch
vụ trên địa bàn nông thôn có 3,6 triệu hộ, tăng 62% so với năm 2000 Nhiều khu công
nghiệp, cụm công nghiệp, các làng nghề đang phát triển nhanh ở nông thôn Ngành công
nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản tăng trưởng giai đoạn 2001 đến 2006 ở mức 14,8%/năm,
nâng giá trị chế biến nông, lâm sản năm 2007 lên 28% cơ cấu giá trị sản xuất và 14% giá trị
xuất khẩu của ngành công nghiệp Đặc biệt nâng cao được khối lượng hàng hoá và kim
ngạch nông - lâm - thuỷ sản xuất khẩu (bình quân tăng 20%/năm); đã góp phần đáng kể trong
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, theo hướng CNH và HĐH,
tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ từ nền kinh tế thuần nông, tự cung tự cấp sang nền kinh tế
hàng hoá với tỷ suất hàng hoá ngày càng cao, khẳng định vị thế của nền kinh tế nông nghiệp
Việt Nam trên thị trường quốc tế
Tuy vậy, sản xuất nông nghiệp hiện nay vẫn còn nhiều bất cập cần phải tập trung
nghiên cứu và giải quyết, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển CNH và HĐH, tạo
thế và lực mới cho sự nghiệp phát triển của nền Nông Nghiệp Việt Nam trong thời gian tới
Trước xu thế hội nhập, đặc biệt sau khi Việt Nam trở thành thành viên của hiệp
Trang 65
hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1996 và đang trong quá trình gia nhập tổ chức
thương mại quốc tế WTO Tuy rằng xu thế hội nhập sẽ tạo ra nhiều cơ hội để trao đổi hàng
hoá, dịch vụ, thông tin tạo cơ sở và động lực cho tăng trưởng kinh tế Nhưng nông nghiệp
Việt Nam cũng đang phải đối mặt trước những thách thức lớn về sự cạnh tranh trong sản xuất
và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp trong môi trường tự do thương mại, mà trên thực tế
Việt Nam chưa có mấy lợi thế, nhiều mặt còn yếu kém: về chất lượng, cơ cấu sản phẩm
không phù hợp với thị trường thế giới kinh nghiệm và uy tín trên thị trường Bên cạnh đó
năng suất lao động xã hội và nông nghiệp còn thấp Lao động trong nông nghiệp, nông thôn
dư thừa nhiều, thu nhập thấp, sức ép về dân số, việc làm đang trở nên những vấn đề lớn có
tính bức xúc của xã hội
Với 80% dân số sống trong khu vực nông nghiệp và trên 70% lao động xã hội
đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông - lâm - nghiệp Nên vấn đề phát huy các lợi thế
và tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp và đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, không chỉ là
yêu cầu đối với sự nghiệp phát triển của nền kinh tế nông nghiệp, mà còn là vấn đền có tính
chiến lược, nhằm giải quyết có tính tổng thể về các quan hệ kinh tế - xã hội trong nông
thôn và nông nghiệp
Tiếp tục đổi mới cơ cấu nông nghiệp và thể chế, chính sách, nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh và hiệu quả hàng hoá nông nghiệp trên thị trường trong nước và thị trường thế
giới là nội dung có tính cơ bản để Việt Nam hội nhập một cách có hiệu quả vào nền kinh tế
thế giới và khu vực
3.1.2 Mức độ chuyển dịch
3.1.2.1 Tỷ trọng
Cơ cấu sản xuất nông, lâm, thuỷ sản chuyển dịch tích cực theo hướng nâng cao
năng suất, chất lượng, hiệu quả gắn với nhu cầu thị trường Tỷ trọng nông nghiệp (bao gồm
cả nông, lâm, diêm nghiệp và thuỷ sản) trong tổng GDP cả nước giảm từ 24,5% năm 2000
xuống còn 20,3% năm 2007 và tăng trở lại 22,1% năm 2008 Trong nội bộ ngành đang có xu
hướng tăng nhanh tỷ trọng thuỷ sản, giảm tỷ trọng trồng trọt trong giá trị sản lượng Trong
giai đoạn 2000 - 2008, tỷ trọng thuỷ sản tăng từ 16% lên 23% trong khi trồng trọt giảm từ
65% xuống còn 57%
Năm 2010, mặc dù có được thuận lợi về giá nhưng tốc độ tăng trưởng sản lượng
ngành nông nghiệp, tuy có hồi phục so với năm 2009, vẫn chỉ đạt mức thấp của thời kỳ
2001-2008 Nguyên nhân chính có lẽ là do hai ngành chăn nuôi tăng trưởng kém hơn so với năm
2009 và nuôi trồng thủy sản đã qua thời kỳ phát triển nhanh Ngành chăn nuôi vẫn diễn biến
khá thất thường kể cả trong giai đoạn kinh tế phát triển thuận lợi do diễn biến dịch bệnh phức
tạp Hình thức chăn nuôi trang trại, gia trại đang thay thế dần mô hình chăn nuôi tận dụng
nhỏ lẻ ở gia đình Rõ ràng, cần phải chuyển hướng ngành chăn nuôi theo hướng sản xuất lớn,
tập trung mới có thể kiểm soát hiệu quả dịch bệnh giúp ngành chăn nuôi có bước phát triển
bền vững
Trang 7Chuyển dịch cơ cấu ngành tại Việt Nam | Nhóm 2
6
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng số 4.7 6.5 5.5 5.6 4.9 4.9 5.4 6.8 3.9 4.7
phần chậm lại sau thời kỳ phát triển nhanh 2001-2007 Một phần lý do có thể là do qui mô
sản xuất trong nước đã tăng tới hạn, khó có thể tăng cao thêm Một lý do khác bắt nguồn từ
việc thị trường đối với ngành thủy sản của Việt Nam đã có dấu hiệu bão hòa Theo TCTK
(2011d), tình hình nuôi cá tra trong năm 2010 gặp khó khăn do giá cá nguyên liệu và thị
trường tiêu thụ không ổn định, diện tích nuôi thả ước tính giảm 5% so với năm trước Sản
lượng cá tra thu hoạch năm 2010 ước tính giảm 1,8% so với năm 2009, đạt 1 triệu tấn Trong
thời gian tới, một mặt cần phải hỗ trợ ngành thủy sản phát triển các thị trường mới, nhưng
phần rất quan trọng nữa là cần phải có chiến lược đầu tư cho ngành chế biến, nghiên cứu thị
trường nhằm gia tăng giá trị thặng dư cho ngành thủy sản của Việt Nam Đến nay, tổng số
tầu thuyền có 130.963 chiếc với tổng công suất 5.400.000 CV Trong đó tầu thuyền có công
suất 90 CV trở lên có 14.500 chiếc, chiếm tỷ trọng 11% Hoạt động khai thác đang có xu
hướng chuyển dần ra xa bờ, sử dụng các phương tiện, máy móc hiện đại như máy tầm ngư,
định vị nhằm tăng hiệu quả sản xuất Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng rất nhanh, từ năm
2000 đến 2008 tăng 408.100 ha Nuôi trồng Thủy sản tiếp tục đa loài, đa loại hình, đa
phương thức hướng thân thiện với môi trường Sản phẩm nuôi trồng, khai thác thủy sản ngày
càng gia tăng không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn cung cấp nguyên liệu
cho chế biến xuất khẩu
Trong trồng trọt, giai đoạn 2000 - 2008 diện tích gieo trồng lúa giảm hơn 250.000
ha, trong khi diện tích các cây công nghiệp, rau màu và cây ăn quả tiếp tục mở rộng Trong
lâm nghiệp, việc trồng rừng sản xuất được đẩy mạnh với chương trình trồng mới 5 triệu ha
Tỷ lệ che phủ rừng năm 2008 đạt 38,7% Nhiều nơi đã tiến hành khai thác kinh doanh tổng
hợp, phát triển chế biến lâm sản Đồ gỗ sau chế biến đã trở thành một mặt hàng xuất khẩu
quan trọng
Cơ cấu kinh tế nông thôn cũng chuyển biến tích cực Từ một nền kinh tế thuần
nông, đến năm 2007, trong khu vực nông thôn, công nghiệp và dịch vụ đã chiếm khoảng
Trang 87
60% cơ cấu kinh tế Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp ở nông thôn đã tăng từ 17,3% năm
2001 lên 19,3% năm 2007 Nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các làng nghề đang
phát triển nhanh ở nông thôn Ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản tăng trưởng
giai đoạn 2001 đến 2006 ở mức 14,8%/năm, nâng giá trị chế biến nông, lâm sản năm 2007
lên 28% cơ cấu giá trị sản xuất và 14% giá trị xuất khẩu của ngành công nghiệp
3.1.2.2 Lao động
Phần lớn dân số Việt Nam hiện nay vẫn tập trung ở khu vực nông thôn (hơn 60
triệu dân) Sau gần 20 năm, tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn của Việt Nam vẫn chiếm
hơn 70% Điều này cũng đồng nghĩa với việc, Việt Nam đã không đạt được các mục tiêu dân
số đề ra cho giai đoạn 2001-2010 Quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa vẫn đang tiếp tục
được thực hiện, tuy vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động tương đối chậm
Lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn hiện vẫn chiếm tỷ lệ lớn, chiếm
tới 71,1% lực lượng lao động cả nước Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động chậm,
trong khi gia tăng dân số tự nhiên vẫn tiếp tục, cùng với những rủi ro của nền kinh tế trong
bối cảnh khủng hoảng đã và đang tạo ra những thách thức đối với vấn đề việc làm của khu
vực này
Theo kết quả đánh giá của Cục Việc làm, Bộ LĐTB-XH, 10 năm qua
(2001-2010), đã có 15 triệu lao động nông thôn có việc làm thì khoảng 50% trong lĩnh vực nông
nghiệp Tuy nhóm đối tượng này có việc nhưng năng suất lao động rất thấp (năng suất trong
ngành nông nghiệp chỉ bằng 1/4 ngành công nghiệp và bằng 1/3 ngành dịch vụ) Cũng
trong 10 năm, có khoảng 65% DN là DN nhỏ hoặc siêu nhỏ có năng suất thấp, sức cạnh tranh
yếu, hoạt động thiếu hiệu quả và sản xuất các sản phẩm thiếu giá trị gia tăng
Kết quả cũng cho thấy, phần lớn lao động nông thôn dễ gặp phải rủi ro khi không
được bảo vệ bởi hệ thống bảo trợ xã hội vì họ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc khu
vực phi chính thức Trong khi nhận thức cũng như việc tuân thủ quy định đóng bảo hiểm xã
hội của các DN, đặc biệt là các DNTN trong nước còn kém Nông thôn đang dư thừa lao
động phổ thông, thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật khá phổ biến, nhiều DN
ngày càng gặp khó khăn trong tuyển dụng, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và chế xuất
phía Nam
Có mặt tại Hội thảo quốc gia về Chiến lược việc làm Việt Nam giai đoạn 2011 –
2020 do Bộ LĐTB-XH tổ chức mới đây, Tiến sĩ Papola, chuyên gia của Tổ chức Lao động
quốc tế (ILO) bổ sung: khi tiến hành khảo sát nhu cầu lao động tại Việt Nam thì thấy rằng,
tuy việc làm đã tăng, số người có việc làm được ước tính tăng từ khoảng 35,60 triệu người
năm 1997 lên 48,02 triệu người năm 2009 Nhưng điều đó cũng không làm giảm thất nghiệp:
số người thất nghiệp đã tăng từ 1,05 triệu người năm 1997 lên 1,29 triệu người năm 2009 Tỷ
lệ thất nghiệp đã giảm từ 2,9% năm 1997 xuống 2,3% năm 2000, nhưng đến năm 2009 lại
tăng lên 2,6%
Số người thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp tăng lên đáng kể trong năm 2008 và
Trang 9Chuyển dịch cơ cấu ngành tại Việt Nam | Nhóm 2
8
2009 do tác động kinh tế của khủng hoảng tài chính toàn cầu Hay như Đề án 1956 đặt mục
tiêu đào tạo mỗi năm 1 triệu lao động nông thôn, trong đó số lao động nông thôn được đào
tạo nghề nông nghiệp chiếm khoảng 1/3 Tuy nhiên, do năng suất lao động trong nông nghiệp
thấp nên nông nghiệp đang ngày càng không thu hút được những lao động trẻ Xu hướng già
hóa lao động nông nghiệp chính là một thực trang thấy rõ
Cũng trong lần khảo sát này, nhóm chuyên gia của ILO nhận thấy, khoảng 3/4
trong tổng số việc làm được đánh giá là “dễ bị tổn thương”, như việc làm gia đình không
được trả lương hoặc tự làm; thu nhập không ổn định và dao động Dự báo, 10 năm nữa, lao
động trong ngành nông nghiệp sẽ giảm xuống cả về tỷ trọng và số lượng, trong khi đó số lao
động trong ngành thương mại và dịch vụ sẽ tăng lên cả về tỷ trọng và số lượng
Lực lượng lao động khu vực nông thôn hiện nay khá trẻ do có tỷ lệ các nhóm tuổi
15-29 chiếm tới 1/3 tổng dân số trong độ tuổi lao động Trong tương lai không xa, lực lượng
này sẽ là động lực chính cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội nếu như chúng ta có những
chiến lược tốt trong việc đào tạo, nâng cao chất lượng lao động, giải quyết việc làm… ngay
từ bây giờ
3.1.2.3 Vốn đầu tư
Cơ cấu đầu tư thể hiện sự mất cân đối lớn giữa nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản
và tình trạng đầu tư tràn lan ở các địa phương
Từ năm 2003 đến nay tỷ trọng đầu tư vào ngành kinh tế thay đổi không nhiều Tỷ
trọng đầu tư vào ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ tương đối nhỏ Nông nghiệp có mức tăng
trưởng vốn thấp và giảm dần (giai đoạn 1996-2000 là 2,2/1, 2001-2008 là 1,3/1) Điều này lại
một lần nữa cho thấy đầu tư suy giảm trong nông nghiệp sẽ có hậu quả làm cho ngành này
khó duy trì tốc độ tăng trưởng 3-4% năm Và nông nghiệp thật sự không thể đối phó nổi với
những thay đổi do thay đổi hành vi tiêu dùng, các chuẩn mực mới khi gia nhập WTO Danh
sách những ngành tăng trưởng ngành và tăng trưởng đầu tư tương đương nhau chỉ xảy ra với
các ngành trong khu vực I và với khoa học công nghệ
Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp vào 20% GDP nhưng tỷ lệ đầu tư
hàng năm vào ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ chỉ có 6.5% đến 8.5% và đang giảm dần Mặc
dù, một số mặt hàng nông nghiệp của Việt nam nằm trong nhóm xuất khẩu đứng đầu thế giới
như gạo, cà phê, tiêu, điều, một số mặt hàng thủy hải sản… nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn
đang ở trình độ lạc hậu Ruộng đất manh mún chưa hình thành được vùng chuyên canh sản
xuất theo quy mô lớn phục vụ xuất khẩu Tăng trưởng trong ngành nông nghiệp ở mức thấp
và khó có những bước tăng đột biến do giới hạn về tài nguyên và kỹ thuật
Sự sụt giảm mạnh về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào nông
nghiệp trong tổng cơ cấu nguồn vốn FDI những năm gần đây cho thấy, nông nghiệp vẫn chưa
thật sự hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Trong khi đó, một số lĩnh vực chủ lực trong
ngành Nông nghiệp đang rơi vào tay các doanh nghiệp (DN) FDI
Phân tích của các chuyên gia kinh tế cho thấy, 10 năm (từ năm 2001 - 2010) thu
hút FDI vào lĩnh vực nông - lâm - thủy sản đã tụt dốc đáng báo động Năm 2001, FDI vào
Trang 109
lĩnh vực này chiếm 8% trong tổng cơ cấu nguồn vốn FDI, nhưng đến năm 2010 chỉ còn
chiếm 1% Năm 2011, có 478 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký trên 3 tỷ USD, vốn điều lệ
khoảng 1,5 tỷ USD, chiếm 3,8% số dự án và 2,3% vốn điều lệ của DN FDI vào Việt Nam
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhận xét: "Lâu nay, chính chúng ta cũng chưa có sự quan
tâm thích đáng cho nông nghiệp Bản thân các DN trong nước còn chưa mặn mà, làm sao thu
hút được nhiều FDI Quy mô các dự án ở lĩnh vực này chỉ dừng lại ở mức vài chục triệu
USD"
Câu chuyện các nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu nông nghiệp Việt Nam rồi ra
đi không trở lại hoặc chuyển hướng sang đầu tư những lĩnh vực khác đã không còn hiếm
Một chuyên gia kinh tế đã không giấu nổi sự chua chát kể: "Tháng 9/2010, chúng ta hồ hởi
thông tin về việc đoàn DN Hàn Quốc sang Việt Nam tìm hiểu môi trường đầu tư vào nông
nghiệp Việt Nam, nhưng mãi đến nay chưa có DN Hàn Quốc nào triển khai việc đầu tư
Khoan nói tới những rủi ro từ thiên tai, chính những chính sách của chúng ta cũng khiến
nhiều nhà đầu tư nản lòng"
Nhìn nhận ở một góc độ khác, tuy không thu hút được nhiều vốn FDI, nhưng
lĩnh vực nông - lâm - thủy sản cũng đã chứng tỏ sức phát triển khá mạnh, có nhiều mặt hàng
xuất khẩu chủ lực mang về nhiều tỷ USD Việt Nam đang đứng trong top những nước xuất
khẩu gạo lớn nhất thế giới Tại Hội nghị thường niên Vietnam CEO Summit 2011, cũng có
một số ý kiến tỏ ra lạc quan nhận định: Khi cuộc khủng hoảng lương thực thế giới đang trở
nên đáng báo động, Việt Nam sẽ trở thành một nơi thu hút mạnh FDI vào nông nghiệp
TS Alan Phan khẳng định: "Nông nghiệp trong tương lai gần sẽ tăng trưởng
mạnh và nó thực sự đáng được quan tâm hơn nữa" Thực tế, nhiều quốc gia trên thế giới đang
thu hẹp dần diện tích đất dành cho nông nghiệp, trong khi nhu cầu lương thực không ngừng
tăng cao do dân số đang gia tăng nhanh chóng Trong khủng hoảng người ta lại càng nhận ra
vai trò của nông nghiệp
Lãnh đạo một DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp của tỉnh Thái Bình kể, ông đã rất
ngạc nhiên hỏi một doanh nhân nước ngoài, vì sao chủ động tìm đến DN của ông đề nghị hợp
tác và doanh nhân ấy đáp: "Lương thực đang là mối quan tâm nóng của toàn cầu nên chúng
tôi muốn nhanh chóng nắm lấy cơ hội này"
Có một vài minh chứng cho thấy, các DN nước ngoài đang có những cam kết
đầu tư lâu dài trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam Mới đây, Nestle đã công bố đầu tư
thêm 270 triệu USD xây dựng nhà máy mới với mô hình trực tiếp thu mua sữa Cty
Greenfeed, cũng tăng vốn đầu tư lên 80 triệu USD nhằm phát triển thêm một số lĩnh vực như
sản xuất con giống thủy sản bên cạnh những sản phẩm truyền thống là thức ăn chăn nuôi
Tuy nhiên, khi thu hút FDI vào nông nghiệp, cũng cần lưu ý những bài học nhãn
tiền của các ngành Thủy sản, thức ăn chăn nuôi Trong các ngành này, DN nước ngoài gần
như bao sân; nếu không có sự liên kết chặt chẽ, các DN trong nước sẽ bị đẩy đến bờ vực phá
sản Hơn lúc nào hết, bên cạnh việc Nhà nước cần hoàn thiện sớm chính sách thu hút FDI,
các DN trong nước cần nhanh chóng hợp lực, đẩy mạnh đầu tư, tìm kiếm nguồn vốn để tạo
thế đứng trên sân nhà
Trang 11Chuyển dịch cơ cấu ngành tại Việt Nam | Nhóm 2
10
3.2 Công nghiệp
3.2.1 Xu thế chuyển dịch
Cơ cấu ngành kinh tế nước ta tương đối đa dạng với khá đầy đủ các ngành quan trọng
thuộc 3 nhóm chinhs; công nghiệp khai thac, công nghiệp chế biến, công nghiệp sx, phân
phối điện khí
Hiện nay đang nổi lên một số ngành công nghiệp trọng điểm, là những ngành có
thế mạnh lâu dài, mang lại hiệu quả kinh tế cao, và có tác động mạnh mẽ đến các ngành kinh
tế khác
Cơ cấu ngành công nghiệp nước ta có sự chuyển dịch rõ rệt nhằm thích nghi với
hoàn cảnh mới:
- Tăng tỉ trọng nhóm ngành công nghiệp chế biến
- Tăng dần các ngành có hàm lượng KH-CN cao
- Giảm tỷ trọng nhóm ngành khai thác và sản xuất, công nghiệp, điện, khí đốt,
3.2.2 Mức độ chuyển dịch
3.2.2.1 Tỷ trọng
Nhìn chung chuyển dịch cơ cấu nghành CN ở VN gian đoạn này đang đi đúng
hướng Cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP, cơ cấu ngành CN của VN
giai doạn này đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực.Tỷ trọng công nghiệp trong
GDP đã tăng nhanh,năm 2000: 36,7%; năm 2005 tăng lên 41% và đến năm 2008 tăng đến
41,6%
Nếu loại trừ hai tháng đầu năm ngành công nghiệp đã tăng trưởng khá ổn định
trong năm 2010 Mức tăng trưởng sản lượng công nghiệp so với năm 2009 đã tăng nhẹ từ
mức 13,6% hai tháng đầu năm lến đến 14% cả năm
Trang 1211
Nguồn: Báo cáo hàng tháng, TCTK (2011a)
Tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế nhà nước thấp nhất trong cả 3 khu
vực (xem Bảng 4) với mức tăng trưởng năm 2010 chỉ ở mức 7,4%, trong đó khu vực kinh tế
nhà nước ở địa phương chỉ tăng có 1,2% Điều đặc biệt là trước đó tốc độ tăng trưởng của
ngành công nghiệp ở khu vực kinh tế nhà nước địa phương đã giảm hoặc âm liên tục trong
giai đoạn 2003 – 2009 Cũng trong thời gian này, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp
ở khu vực kinh tế nhà nước trung ương cũng giảm mạnh so với thời kỳ trước đó Trong khi
đó, ngành công nghiệp ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước lại có bước tăng trưởng vượt bậc
trong giai đoạn này
Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng giảm sút tốc độ tăng trưởng ở khu
vực kinh tế nhà nước có thể là do quá trình cổ phần hóa đã làm cho khu vực nhà nước bị thu
hẹp, năng lực sản xuất đã chuyển dần sang khu vực ngoài nhà nước
Tuy nhiên, cổ phần hóa cũng không phải là nguyên nhân duy nhất khiến sản xuất
công nghiệp ở khu vực kinh tế nhà nước tăng trưởng chậm lại Quá trình cổ phần hóa đã
chậm lại đáng kể kể từ sau khi thị trường chứng khoán giảm sút năm 2008 Rõ ràng sự giảm
sút trong tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp còn có
một nguyên nhân nữa là do đầu tư kém hiệu quả, mặc dù tỷ trọng đầu tư khu vực nhà nước
đã tăng lên tương đối mạnh trong 3 năm trở lại đây (xem Bảng 9) Tình hình khó khăn
nghiêm trọng của Vinashin trong năm 2010 là một bài học đau đớn cho việc đầu tư kém hiệu
quả này Đầu tư quá lớn, chất lượng quản lý kém, và đặc biệt là đầu tư tràn lan, thiếu trách
nhiệm ra ngoài ngành sản xuất chính (với độ rủi ro cao do không phải thế mạnh), trong khi
đầu ra gặp khó khăn do thị trường gần như sụp đổ vì khủng hoảng toàn cầu, đã khiến
Vinashin rơi vào tình trạng gần như hoàn toàn phá sản, và buộc Chính phủ phải xử lý theo
những tình huống đặc biệt Trường hợp Vinashin không chỉ là hồi chuông báo động cho khu
vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay, mà còn là bằng chứng để xem xét lại chiến lược phát
triển kinh tế dựa trên khu vực doanh nghiệp nhà nước
TỔNG SỐ
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
14,6 14,8 16,8 16,6 17,1 16,8 16,8 13,9 7,9 14.0 Kinh tế Nhà nước 12,7 12,5 11,9 11,9 7,2 5,6 5,2 2,5 2,1 7,0 Trung ương 13,0 12,1 16,2 14,8 12,4 9,0 6,9 4,8 4,4 8,4 Địa phương 12,1 13,3 3,5 5,6 -5,2 -3,8 -0,3 -5,4 -7,0 1,0 Kinh tế ngoài Nhà nước 21,5 18,3 23,3 22,3 25,5 25,7 24,6 19,8 10,2 14,8
Trang 13Chuyển dịch cơ cấu ngành tại Việt Nam | Nhóm 2
12
Trong năm 2010, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã hồi phục rất mạnh, lần đầu
tiên trong giai đoạn 2001-2010 dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng công nghiệp cả nước
Xét về cơ cấu ngành, giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến (chiếm 89,5%
giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp) tăng 14,9%, Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và
nước (chiếm 5,6% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp) tăng xấp xỉ 14,1%, trong khi đó,
ngành công nghiệp khai thác mỏ (chiếm 4,9% giá trị sản lượng ngành công nghiệp) lại tăng
trưởng âm 0,5%, trái ngược lại với tình hình của năm 2009 Rõ ràng, xuất khẩu dầu thô sụt
giảm mạnh (chỉ đạt 59,7% về khối lượng so với năm 2009) là nguyên nhân khiến tốc độ tăng
trưởng ngành khai khoáng sụt giảm Tốc độ tăng trưởng giá trị sản lượng ngành khai khoáng
đã sụt giảm trong nhiều năm (ngoại trừ năm 2009, xem thêm Bảng 1), đặc biệt sự sụt giảm
này diễn ra trong bối cảnh giá cả các mặt hàng nguyên, nhiên, vật liệu tăng mạnh có lý do là
do giới hạn kỹ thuật của các mỏ dầu và do chủ trương hạn chế khai thác than xuất khẩu để sử
dụng trong nước trong những năm tới (Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2011a) Diễn biến này cho
thấy vai trò của ngàng khai khoáng có thể sẽ tiếp tục tăng trưởng thấp trong tương lai
Diễn biến giá trị sản xuất công nghiệp theo ngành, 1995-2010 (%)
Toàn ngành công nghiệp Công nghiệp khai thác
Công nghiệp chế biến Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước
Nguồn: TCTK (2011c), TCTK (2011e).
Trang 1413
3.2.2.2 Lao động
Cơ cấu lao động từng ngành trong KV II (%)
Chuyển dịch cơ cấu nghành CN đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ
ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi
Tỉ lệ tăng GDP /tỉ lệ tăng lao động (%)
Nguồn: NGTK Bảng này giải thích tăng bao nhiêu % GDP thì tăng được 1% lao động và cho thấy càng
về sau càng cần tốc độ tăng GDP cao hơn để giải quyết được 1% tăng thêm của lao động Nếu mỗi phần
trăm tăng của lao động trong các năm 1996-2000 tương ứng với 350 nghìn lao động thì 2001-2005 là
395 nghìn lao động
Số liệu từ bảng trên cho thấy phải tăng trung bình từ 3 đến 3,5% GDP mới tăng
thêm được 1% lao động và với xu hướng tăng dần từ thấp đến cao Càng về sau này để tăng
1% lao động đòi hỏi tốc độ tăng trưởng kinh tế phải cao hơn trước
Công nghiệp chế biến các năm về sau này chuyển sang các ngành thâm dụng lao
động nên tỉ số tăng trưởng lao động /tăng trưởng kinh tế trong các năm 2001-2008 cũng cao
hơn so các năm 1991-2000 Sự căng thẳng nguồn cung lao động đã xuất hiện trong năm 2007
và đầu năm 2008 cho thấy không thể đơn giản quan niệm phát triển công nghiệp với các
Cn chế biến Khai thác mỏ