1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Đề cương môn kinh tế phát triển có đáp án ( Dành cho sinh viên học viên cao học )

23 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 223 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng môi trường vĩ mô thuận lợi tức là giữ ổn định về chính trị, tăng cường sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, xây dựngchính sách kinh tế

Trang 1

( Dành cho sinh viên và học viên cao học ) Câu 1: Những điều kiện cần thiết thực hiện mô hình phát triển rút ngắn:

a Huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả: mô hình phát triển rút ngắn đòi hỏi có

nhiều vốn trong nước và ngoài nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật ngày

1 hiện đại

Nguồn vốn bên trong: vốn tích lũy từ ngân sách, các doanh nghiệp và từ các cá nhân Conđường cơ bản để giải quyết vấn đề tích lũy vốn trong nước là tăng năng suất lao động xãhội trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, khai thác và

sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, thực hiện tiết kiệm

Nguồn vốn bên: vốn viện trợ của các nước, các tổ chức kinh tế - xã hội; vốn vay ngắnhạn, dài hạn với các mức lãi suất khác nhau của các nước và các tổ chức kinh tế; vốn đầu

tư của nước ngoài vào hoạt động sản xuất kinh doanh, liên doanh liên kết Biện pháp cơbản để tận dụng, thu hút vốn bên ngoài là đẩy mạnh, mở rộng các hình thức hợp tác quốc

tế, tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà sản xuất kinh doanh nước ngoài, tranh thủmọi sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, vay vốn ở các nước

Với việc huy động nguồn lực lớn cho đầu tư sẽ tạo ra sự phát triển kinh tế với tốc độ khácao, tạo cơ sở cho việc cải thiện điều kiện sống và giải quyết nhiều vấn đề xã hội

Để thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích luỹ thấp; tích luỹ thấp thì tăngtrưởng kinh tế chậm và khó thoát khỏi đói nghèo; cần phải tận dụng mọi khả năng để thuhút các nguồn vốn từ bên ngoài Đây là nguồn vốn có vai trò rất quan trọng, không nhữnggiúp các nước nghèo khắc phục một phần khó khăn về vốn trong thời kỳ đầu mà còn gópphần nâng cao trình độ quản lý và công nghệ, tạo việc làm cho người lao động Vì thế,tranh thủ nguồn vốn bên ngoài là một nhân tố đẩy nhanh thành công của sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Tuy nhiên, mặt trái của nguồn vốn nước ngoài cũng không nhỏ Sử dụng nguồn vốn nướcngoài phải chấp nhận bị bóc lột, tài nguyên bị khai thác, nợ nước ngoài tăng lên Do vậy,không thể kỳ vọng quá lớn vào nguồn vốn bên ngoài Sử dụng nguồn vốn nước ngoài là rấtcần thiết nhưng rất cần cân nhắc, lựa chọn

Để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, xây dựng và phát triển thị trường vốn

là giải pháp có ý nghĩa rất quan trọng Nhờ có thị trường vốn, người sở hữu vốn nếunhượng quyền sử dụng vốn cho người khác sẽ có thu nhập Đồng thời, khi có thị trườngvốn, đồng vốn sẽ dễ dàng chuyển dịch từ nơi hiệu quả thấp đến nơi có hiệu quả cao Do đó,

để đáp ứng nhu cầu vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và phát triển thịtrường vốn ở nước ta là rất cần thiết

Quy mô huy động và hiệu quả sử dụng vốn còn tuỳ thuộc vào môi trường vĩ mô Môitrường vĩ mô càng thuận lợi thì quy mô huy động và hiệu quả sử dụng vốn càng cao Do

đó, tạo môi trường vĩ mô thuận lợi cho các hoạt động đầu tư cũng là giải pháp kinh tế quantrọng Xây dựng môi trường vĩ mô thuận lợi tức là giữ ổn định về chính trị, tăng cường sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, xây dựngchính sách kinh tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, xây dựng môitrường pháp lý thông thoáng, bảo vệ được lợi ích chính đáng của các chủ thể kinh tế Vấn đề đặt ra cho đất nước ta hiện nay là phải nỗ lực vượt bậc, phấn đấu làm ăn có hiệuquả, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, ý chí tự lực tự cường, ra sức cần kiệm trong sản

Trang 2

xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, khắc phục những yếu kém và tiêu cực gây thất thoát, lãngphí tiền của của Nhà nước và nhân dân, dồn vốn cho đầu tư phát triển.

b Phát triển khoa học và công nghệ: Công nghệ giữ vai trò quan trọng trong phát

triển rút ngắn Kinh nghiệm của một số quốc gia thực hiện phát triển rút ngắn chothấy, việc xác định một chiến lược phát triển công nghệ hợp lý sẽ cho phép tậndụng được hình thức công nghệ tiên tiến của thế giới kết hợp với công nghệ truyềnthống sẵn có để khai thác phát huy các nguồn lực phát triển

c Đào tạo nguồn nhân lực: Trong mọi thời đại con người luôn là nhân tố cơ bản của

sự tăng trưởng Con người có đức, có tài, ham học hỏi, thông minh, sáng tạo, làmviệc quên mình, có sức khỏe, có trình độ sẽ đưa lại năng suất lao động cao Năngsuất chính là cái quyết định sự thắng lợi của loại hình tổ chức kinh tế - xã hội mới.Trong nền kinh tế thị trường cùng với đội ngũ lao động có sức khỏe nhiệt tình, cần

có đội ngũ những chuyên gia kinh doanh giỏi Để có nền kỹ thuật công nghệ tiêntiến cần có đầu tư nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật giỏi Chính họ làngười tiếp thu, ứng dụng thành tựu của thế giới vào quốc gia mình, và cũng chính

họ sẽ đề xuất, xây dựng những quy trình công nghệ mới cho phép tăng nhanh năngsuất, rút ngắn các bước đi trong tiến trình phát triển

Trong nguồn nhân lực mới ấy, việc xây dựng giai cấp công nhân là một nhiệm vụ trọngtâm, bởi vì chỉ với một giai cấp công nhân trưởng thành về chính trị, có trình độ tổchức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có trình độ làm chủ khoa học - kỹ thuật vàcông nghệ mới, trí thức hoá mới có thể là nòng cốt để liên minh với nông dân và độingũ trí thức, tập hợp và đoàn kết với các thành phần khác, phấn đấu đưa sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đến thành công

Để có nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phải coi việcđầu tư cho giáo dục, đào tạo là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển,giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu Phải đào tạo ra một cơcấu nhân lực đồng bộ bao gồm các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, cán bộnghiên cứu và triển khai công nghệ, cán bộ quản lý, nghiệp vụ kinh tế, cán bộ trong cácngành kinh doanh, công nhân kỹ thuật Việc xây dựng nguồn nhân lực phải tiến hànhvới tốc độ, quy mô thích hợp, đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ trong quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá Đi đôi với việc đào tạo, bồi dưỡng, phải bố trí và sử dụng tốtnguồn nhân lực đã được đào tạo, phát huy đầy đủ khả năng, sở trường và nhiệt tình laođộng sáng tạo của họ để sáng tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, đónggóp xứng đáng vào sự nghiệp phát triển của đất nước

d Thị trường: Chúng ta biết rằng, không thể phát triển nền kinh tế hàng hóa khi

thiếu thị trường bởi thị trường là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự sống còncủa quá trình sản xuất lưu thông hàng hóa Đối với các nước đang phát triển, thịtrường không chỉ là nơi tiêu thụ hàng hóa mà còn là nơi tiếp cận nguồn vốn, laođộng và công nghệ… Vì vậy muốn phát triển nhanh không thể không mở rộng thịtrường, tham gia hội nhập quốc tế Ngày nay xu thế toàn cầu hóa đã và đang lôicuốn các nước vào thị trường chung toàn cầu Nói cách khác việc hội nhập quốc tế

là đòi hỏi khách quan, song hội nhập ra sao để tận dụng được các điều kiện do thịtrường mang lại là tùy thuộc nội lực và chiến lược hội nhập của mỗi quốc gia

e Cơ chế, chính sách và năng lực quản lý của bộ máy nhà nước: có được cơ chế,

chính sách và bộ máy nhà nước có năng lực là “nguồn lực” quan trọng thúc đẩyphát triển, hay nói chính xác là cơ sở để nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng các

Trang 3

nguồn lực Một bộ máy nhà nước có năng lực và trình độ cao sẽ xác lập được môhình phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, nhờ đó huy dodogj tối đa nguồn lựcquốc tế (Tài nguyên con người và vật chất, tài chính), đồng thời tận dụng các cơ hộiphát triển thời đại tạo ra trong quá trình phát triển, nhằm đẩy mạnh tốc độ phát triểnkinh tế xã hội Ngược lại, một nhà nước yếu kém cùng các cơ chế chính sách khôngphù hợp sẽ khó tìm được mô hình phát triển ưu việt cho quốc gia, do đó, việc khaithác các nguồn lực sẽ kém hiệu quả.

f Xu thế mở cửa và sự phát triển của nền kinh tế thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa: mô hình phát triển rút ngắn của 1 nước không thể biệt lập với thế giới bên

ngoài, mà ngược lại phải có mối liên hệ với nhau do sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh

tế (thương mại, tài chính, đầu tư, nhân lực ) Kinh tế thị trường phát triển, sự mởcửa của nền kinh tế của mỗi quốc gia là điều kiện quan trọng để các nước đang pháttriển thu hút dòng vốn đầu tư của nước nước Đây là một yếu tố quan trọng đối vớiviệc hình thành mô hình phát triển rút ngắn của 1 nước, nó không chỉ cung cấp vốn,

mà còn là nguồn chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý và kinh doanh

g Vai trò của Nhà nước: Nhà nước có chức năng quản lý kinh tế - xã hội, Nhà nước

có sứ mệnh tổ chức thực hiện đường lối thực hiện mô hình phát triển thông quaviệc thực thi cơ chế, chính sách và điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội nhằmthực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra Có thể nói, thành côngcủa mô hình phát triển rút ngắn trực tiếp phụ thuộc vào vai trò quản lý kinh tế - xãhội của Nhà nước

Câu 3: Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội:

1 Vai trò của nhà nước trong xây dựng cơ sở hạ tầng và ổn định nền kinh tế vĩ mô.

Nền kinh tế của một quốc gia sẽ không thể "cất cánh" trừ phi nó có được nền tảng làmột cơ sở hạ tầng vững chắc Vì thế, nhà nước phải đầu tư cơ sở hạ tầng, ổn định nền kinh

tế vĩ mô của đất nước Đặc điểm của nền kinh tế thị trường là sự bất ổn định do các cuộckhủng hoảng chu kỳ Sự ổn định kinh tế là điều mà mọi nhà nước đều mong muốn vì nó cólợi cho tất cả mọi người Do vậy, nhà nước phải duy trì sự ổn định đó Nhà nước sử dụngcác công cụ, chính sách kinh tế vĩ mô để điều tiết nền kinh tế, sử dụng ngân sách để tiếnhành đầu tư công cho các công trình; xây dựng các dự án cơ sở hạ tầng dựa trên căn cứ vàtiêu chí kinh tế thích hợp nhằm giảm thiểu những gánh nặng chi phí của ngân sách nhànước và của nền kinh tế; tiến hành việc kiểm soát chi tiêu công và tiền vay của các tậpđoàn kinh tế nhà nước để duy trì sự ổn định nền kinh tế Một thực tế hiện nay là các cơquan hoạch định chính sách của nhà nước ta phân quyền quá tản mạn nên khó thực hiệnđược giải pháp đồng bộ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô Vì vậy, để bảođảm việc điều tiết nền kinh tế được hiệu quả, đòi hỏi nhà nước phải thực hiện những cảicách cơ bản để đơn giản hoá bộ máy hành chính và phải tiến hành quản lý, kiểm soát chặtchẽ đầu tư công Với tư cách chủ đầu tư, nhà nước hướng các chương trình đầu tư củamình vào mục tiêu tối đa hoá lợi ích của quốc gia

2 Vai trò của nhà nước đối với việc điều tiết các yếu tố ngoại vi

Yếu tố ngoại vi là ảnh hưởng do các yếu tố bên ngoài gây nên cho hoạt động củacác doanh nghiệp hay cho xã hội Yếu tố ngoại vi xảy ra khi có sự khác biệt về phí tổnhoặc lợi ích giữa cá nhân và xã hội Các chi phí hoặc lợi ích này không được tính đến trong

hệ thống giá cả và thị trường Những chi phí ngoại vi cho sản xuất phải tính đến cả sự tắcnghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường mà nhà máy hoặc xí nghiệp sản xuất tạo ra Những yếu tố này gây nên sự giảm sút về phúc lợi của những người dân sống xung quanhhoặc có thể buộc những nhà máy khác gần đó phải tốn kém thêm chi phí để làm sạchnguồn nước bị ô nhiễm mà mình sử dụng trong sản xuất Ví dụ, trường hợp một doanh

Trang 4

nghiệp có thể làm ra một loại sản phẩm rất rẻ nhưng lại làm ô nhiễm môi trường, gây ra sựgiảm sút về phúc lợi cho những người khác, thì nhà nước với vai trò của mình cần tiếnhành điều chỉnh lại sự bất hợp lý này Bằng sự can thiệp, nhà nước buộc tất cả những aihưởng lợi từ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đều phải trả toàn bộ chi phí sản xuất và tiêu thụsản phẩm ấy.

Nhà nước sử dụng hệ thống thuế, luật pháp, điều lệ, mức hình phạt, thậm chí truy tốtrước pháp luật nhằm giảm thiểu ô nhiễm hoặc tạo điều kiện để các tổ chức xã hội thànhlập các quỹ bảo vệ môi trường, môi sinh nhằm giám sát các hoạt động của các doanhnghiệp trong việc bảo vệ môi trường và khuyến nghị các biện pháp sản xuất bảo đảm yếu

tố bền vững Ngoài ra, nhà nước sử dụng chính sách quyền sở hữu công khai nguồn tàinguyên, bắt buộc các cá nhân, tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên gây ô nhiễm phải chịu chiphí theo giá thị trường Các khoản thuế hay biện pháp trợ cấp đều được coi là phương thức

để nhà nước xử lý những yếu tố ngoại vi Do toàn bộ chi phí xã hội có ý nghĩa quan trọngquyết định sự phân bố tài nguyên một cách hiệu quả, còn những chi phí tư nhân chỉ quyếtđịnh giá hàng hóa, nên vai trò của nhà nước là tạo ra sự cân bằng giữa cá nhân và xã hộithông qua việc điều chỉnh sản xuất thừa hoặc tiêu dùng thừa vào chi phí ngoại vi

Đối với các lợi ích ngoại vi, cần chú ý tới văn hóa, giáo dục bởi đây là lĩnh vực cần

có sự quan tâm và hỗ trợ của nhà nước Nếu một sản phẩm hoặc một hoạt động của cácdoanh nghiệp có thể tạo ra được lợi ích ngoại vi, thì nhà nước cần có chính sách hỗ trợnhằm khuyến khích sản xuất, tiêu dùng loại sản phẩm này sao cho giá trị đích thực các lợiích ngoại vi được tính đến trong hệ thống giá thị trường Ở đây, sự can thiệp của nhà nước

là cần thiết, vì chi phí ngoại vi có thể dẫn đến sản xuất thừa thì ngược lại, lợi ích ngoại vilại có thể dẫn đến sản xuất thiếu

3 Vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm công bằng, trật tự xã hội

Để thực hiện chức năng phân phối, nền kinh tế thị trường đòi hỏi một loạt thể chếphát triển cao, trong đó có hệ thống luật pháp để chống gian lận bao gồm: hệ thống có liênquan tới những quyền sở hữu, những điều luật về phá sản và khả năng thanh toán, hệ thốngtài chính với ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại để giữ cho việc cung cấptiền mặt được thực hiện một cách nghiêm ngặt…

Trong nền kinh tế thị trường cả người mua lẫn người bán đều muốn khi đã đồng ý trao đổithì sự thoả thuận phải được thực hiện Trong các quan hệ lao động, mối quan hệ giữa ngườichủ và người làm công, thì người lao động dù với tư cách cá nhân hay tập thể trong các tổchức hiệp hội cũng đều có sự thoả thuận nhất định về điều kiện làm việc, tiền lương vớichủ sử dụng lao động Nếu không có luật pháp thì các giao dịch trên thị trường trở nên khó

có thể thực hiện được

Nhà nước phải thiết lập và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân và quyền được hưởng cáclợi ích kinh tế xuất phát từ việc sử dụng quyền sở hữu đó Nếu không có sự bảo đảm ấy,một số người sẽ gặp những rủi ro nếu đầu tư thời gian và tiền vốn của mình vào lĩnh vựckinh doanh mà rốt cuộc lợi nhuận lại là của người khác Nhà nước trong vai trò bảo đảmtính công bằng trong các hoạt động xã hội thông qua sự bảo hộ của mình đối với sở hữu tưnhân như nhà máy, công xưởng, kho chứa và các sản phẩm hữu hình khác đồng thời ápdụng đối với cả các sở hữu liên quan tới trí tuệ, chẳng hạn như sách, bài viết, phim ảnh, hộihọa, phát minh, sáng chế, nhãn hiệu, thương hiệu, thiết kế, bào chế thuốc hay chương trìnhphần mềm Đây là những can thiệp quan trọng của nhà nước trong việc bảo vệ bản quyềntác giả và qua đó, khuyến khích những hoạt động sáng tạo, khả năng trí tuệ của các nhàkhoa học, các nghệ sĩ

4 Vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm cạnh tranh và chống độc quyền

Vai trò này của nhà nước thể hiện ở những biện pháp kiểm soát thông qua điều tiếtđối với những hãng có khả năng chi phối, kiểm soát các vụ việc sáp nhập công ty nhằmngăn ngừa khả năng độc quyền hoá các ngành công nghiệp, kiểm soát các hành vi chống

Trang 5

cạnh tranh, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà cung ứng, đồng thời bảo vệngười tiêu dùng chống lại tình trạng độc quyền.

Độc quyền gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới thị trường, gây ra những thiệt hại to lớn chonền kinh tế Thông thường, trong nền kinh tế thị trường, tình hình sẽ trở nên nan giải khimột ngành công nghiệp bị chi phối bởi một số rất ít các công ty lớn Các công ty này có thểcấu kết với nhau thành một tập đoàn hùng mạnh, áp đảo thị trường với mức giá cao, nhằmthu nhiều lợi nhuận, đồng thời khống chế việc thâm nhập vào thị trường của các công tynhỏ hơn đang cạnh tranh với họ Để ngăn chặn tình trạng cấu kết, độc quyền và để duy trìcạnh tranh lành mạnh một cách có hiệu quả, hầu hết các nền kinh tế thị trường đều thôngqua đạo luật chống độc quyền

Nhưng, nếu như không xem xét cẩn thận các chính sách của mình, thì nhiều khi sự kiểmsoát của chính phủ và chính sách chống độc quyền trên thực tế lại dẫn đến giảm cạnh tranhchứ không phải là khuyến khích cạnh tranh Các chính sách này bao gồm: giấy phép độcquyền sản xuất một loại hàng hoá và dịch vụ nào đó, thuế, hạn ngạch hay việc bảo hộ sảnxuất trong nước đã dẫn đến hạn chế việc nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài Dovậy, chính sách của nhà nước về vấn đề cạnh tranh không phải không có những bất cập.Tuy nhiên, thực tế cái giá tiềm tàng cho phép các tập đoàn (hoặc một nhóm các doanhnghiệp cấu kết với nhau) giành được vị trí độc quyền trong các ngành công nghiệp chủchốt là rất cao Cái giá này đủ lớn để thừa nhận vai trò nhất định của nhà nước trong việcđiều tiết, duy trì cạnh tranh thông qua các đạo luật

Để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cũng như để duy trì được tốc độtăng trưởng, nhà nước phải tính tới tốc độ tăng trưởng nhanh của các ngành công nghiệp cótính cạnh tranh Các tập đoàn kinh tế của nhà nước sẽ không thể tăng trưởng nhanh nếukhông cạnh tranh được với các đối thủ trên thị trường nội địa và quan trọng hơn, trên thịtrường quốc tế Nếu các tập đoàn này chỉ dựa vào vị thế độc quyền trên thị trường nội địanhờ sự hỗ trợ của nhà nước và không phải chịu áp lực cạnh tranh sẽ không nỗ lực hoặckhông chấp nhận rủi ro để tìm kiếm thị trường mới hay cải tiến sản phẩm và quá trình sảnxuất; dẫn đến việc lãng phí những nguồn lực khổng lồ và quý báu, trong khi đó lại tạo ranhững doanh nghiệp ỷ lại, thụ động và kém cạnh tranh, đặc biệt là trong khu vực nhà nước

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thương mại quốc tế không chỉ tạo

ra sức ép cạnh tranh mà còn là thước đo năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa

Để bảo đảm năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, nhà nước phải tạo lập "sân chơi"bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế, không thiên vị với bất cứmột loại hình doanh nghiệp nào, tránh tình trạng bảo hộ cho các doanh nghiệp nhà nước

5 Vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm phúc lợi lợi xã hội

Trong nền kinh tế thị trường, có một số người thu nhập còn hạn chế, trong khi đó, sốkhác lại có nguồn thu nhập cao Do vậy, vai trò của nhà nước trong việc phân phối lại thunhập là rất quan trọng để thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo trong xã hội Trên thực tế, chínhphủ của nhiều quốc gia thực hiện điều này thông qua chính sách thuế, đặc biệt là thuế thunhập nhằm tạo sự công bằng hơn trong phân phối

Hiện nay đang tồn tại hai khuynh hướng đối lập nhau Một là, ủng hộ vai trò củanhà nước trong việc hạn chế tập trung tài sản và duy trì sự lan toả các năng lực kinh tế giữacác chủ sở hữu (ý kiến này dành được nhiều sự ủng hộ của xã hội) Hai là, chương trìnhphân phối lại của nhà nước thông qua thuế thu nhập sẽ làm cho một số người có thu nhậpcao giảm động cơ làm việc để tăng thu nhập, giảm tiết kiệm, giảm đầu tư và do đó sẽ gâytổn hại tới tăng trưởng kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc nâng caophúc lợi công cộng, xoá đói, giảm nghèo Các vấn đề như việc làm, sức khoẻ, bảo hiểm y

tế, lương hưu, trợ cấp khó khăn… luôn là những vấn đề cần đến sự quan tâm của nhà nước,

Trang 6

để khích lệ được mọi thành phần lao động trong việc tạo ra của cải và tiết kiệm chi dùngnhững của cải ấy.

Ở nước ta, dù đạt mức thu nhập trung bình thấp (theo tiêu chuẩn quốc tế) nhưngmột bộ phận lớn dân cư vẫn đang ở cận ngưỡng nghèo Những người này có thể rơi xuốngdưới ngưỡng nghèo bất kỳ lúc nào khi mà giá lương thực, thực phẩm tăng cao hoặc khi giađình của họ có người ốm, khi tiền học phí, tiền thuê nhà… đột nhiên tăng cao Vì vậy, nhànước cần nỗ lực để bảo đảm rằng những dân cư nghèo cũng được chia sẻ những thành quảcủa sự phát triển, bằng cách quan tâm tới ba lĩnh vực trọng yếu: giáo dục, y tế và an sinh

xã hội Thực tế, người dân vẫn đang phải gánh chịu một tỷ lệ chi phí y tế cao Trong khi

đó, hệ thống y tế ở tuyến cơ sở nhìn chung còn nhiều yếu kém Cung cấp lưới an sinh xãhội cho người nghèo là điều kiện cần thiết để bảo đảm mọi người dân được chia sẻ thànhquả của phát triển, đồng thời cũng giúp cho sự phát triển trở nên hài hòa và bền vững Sựkết hợp giữa lưới an sinh xã hội tốt được tài trợ bằng thuế đánh vào các nguồn tài sản mới

và các chính sách giúp người dân bảo đảm được sự ổn định và công bằng trong xã hội Sựcông bằng này trở thành điều kiện tiên quyết để có thể duy trì tăng trưởng

6 Vai trò của nhà nước đối với chính sách tài chính và tiền tệ

Nhà nước trong nền kinh tế thị trường đóng vai trò rất lớn trong việc ổn định nềnkinh tế vĩ mô Một trong những chính sách quan trọng trong việc bình ổn giá cả, giảm lạmphát chính là chính sách tài chính và chính sách tiền tệ Các chính sách này đúng sẽ tạo ramột thị trường tiền tệ ổn định, được chấp nhận rộng rãi, có khả năng loại bỏ hệ thống giaodịch cồng kềnh, kém hiệu quả và hạn chế được lạm phát Trong nền kinh tế thị trường, tiền

tệ là một loại hàng hóa đặc biệt Do vậy, mỗi động thái của chính phủ đều tác động trựctiếp đến hệ thống tài chính của thị trường Chức năng cơ bản của hệ thống tài chính là làmcầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư Trong đó, thị trường là công cụ để khuyến khích tiết kiệm,sau đó dẫn truyền các khoản tiết kiệm này tới các hoạt động đầu tư mang lại suất sinh lờicao Thị trường tài chính (bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ), phụ thuộc rấtnhiều vào niềm tin của các tác nhân tham gia thị trường, vào sự minh bạch và đầy đủ vềthông tin và vào khả năng thực thi các quy định pháp luật về điều tiết và quản lý thị trườngcủa nhà nước Hơn thế, đầu tư là một hoạt động rủi ro và phụ thuộc rất nhiều vào các điềukiện thực tế Chính vì những lý do này mà nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc điềutiết thị trường để giảm thiểu những rủi ro có tính hệ thống

Nếu hoạt động quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước thông qua các chính sách tàichính và tiền tệ mà yếu kém, tất yếu sẽ dẫn tới lạm phát Lạm phát không chỉ là một tháchthức về kinh tế, mà còn là một thách thức về chính trị bởi nó tác động trực tiếp tới đời sốngcủa người dân và các doanh nghiệp Sự ổn định về kinh tế vĩ mô giúp cải thiện hình ảnh vàtính chính trực của nhà nước trong con mắt của doanh nghiệp và người dân Nếu tình trạnglạm phát vẫn tiếp diễn hoặc trở nên xấu đi thì chắc chắn sẽ gây bất lợi cho hoạt động điềuhành và uy tín của chính phủ Vì vậy, trong hoạt động của mình, chính phủ cần phải tái lập

sự kiểm soát các chính sách kinh tế vĩ mô

Nhà nước là công cụ có thể làm dịu đi phần lớn những tác động tiêu cực của hệthống thị trường Tuy nhiên, điều này không có nghĩa nhà nước có thể bao biện, đứng ralàm thay tất cả các hoạt động thị trường, mà chỉ nên chú trọng tới những lĩnh vực thịtrường không thể làm được, hoặc mức độ làm được không thể hoàn hảo bằng sự can thiệpcủa nhà nước Làm được như vậy thì mới duy trì được sự tăng trưởng và phát triển ổn định,bảo đảm được tính bền vững của thị trường./

B Giải pháp nhà nước đóng góp nhiều hơn:

- Thường xuyên chú trọng đến việc củng cố cơ cấu tổ chức của từng bộ máy từTrung ương đến cấp huyện để thống nhất nhất quán về quan điểm, thông suốt và nâng cao

về chuyên môn

Trang 7

- Tăng cường công tác chỉ đạo điều hành Điều này đòi hỏi quyết tâm chính trị caocủa các cấp uỷ Đảng Trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính phải tổchức điều hành quyết liệt, bám sát thực tế, bám sát các Nghị định đã ban hành để triển khainhanh, thống nhất và triệt để

- Thực hiện cải cách tổ chức bộ máy hành chính phải gắn với đổi mới hệ thốngchính trị Điều này thể hiện sự nhất quán, Đảng là người lãnh đạo toàn bộ hoạt động của bộmáy hành chính, bộ máy hành chính là công cụ quan trọng thực hiện đường lối, chính sáchcủa Đảng từ Trung ương đến địa phương

- Thực hiện cải cách tổ chức bộ máy hành chính không được dừng lại mà phảithường xuyên kiện toàn, củng cố và hoàn thiện theo hướng nâng cao chất lượng, khắc phục

sự thụ động trong công việc, phải chủ động, sáng tạo, vận dụng linh hoạt đúng những quyđịnh của các Nghị định đã ban hành sao cho phù hợp với từng đặc điểm, hoàn cảnh Xácđịnh rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước

- Tăng cường tính công khai, minh bạch những việc mà tiến trình cải cách tổ chức

bộ máy hành chính đang tiến hành thực hiện để nhận được ủng hộ của đội ngũ cán bộ,công chức và các tầng lớp nhân dân trên phạm vi cả nước và cả bạn bè quốc tế

- Bố trí đủ nguồn tài chính và nhân lực để thực hiện tốt những phần việc còn lại củaquá trình hoàn thiện tổ chức bộ máy hành chính hiện nay phấn đấu đến năm 2009 là xongnội dung này

- Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về nhữngkết quả đã đạt được của công cuộc cải cách hành chính Phải coi cải cách hành chính không chỉ

là công việc riêng của hệ thống hành chính, mà là yêu cầu chung của toàn xã hội Đặc biệt làbước cải cách tổ chức bộ máy hành chính mới đang được hoàn thiện từ Trung ương đến địaphương Vì vậy, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin để mọi cán bộ, côngchức, người dân nhận thức đúng đắn về cải cách bộ máy nhà nước và cải cách hành chính đangđược tiến hành hiện nay đang mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội đích thực Theo đó, nêu bậtnhững nơi làm tốt, những vướng mắc chưa thể tháo gỡ được ngay đối với tính đặc thù của từng

bộ, ngành, địa phương, báo cáo lên cấp trên để có hướng giải quyết kịp thời Tích cực nhân điểnhình tiên tiến, những nơi làm tốt, thực hiện nghiêm, phê phán kịp thời tình trạng làm không triệt

để Cần có những biện pháp thiết thực để thực hiện quyền giám sát của cán bộ công chức vànhân dân đối với hoạt động của bộ máy hành chính ngay chính tại các bộ ngành và địa phương

Câu 4: Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển kinh tế- xã hội của của một quốc gia.

 Diện tích lãnh thổ là yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, quốc phòng, diện tíchcàng lớn thì nhìn chung càng có điều kiện để phát triển kinh tế, thực hiện các giải pháp

Trang 8

đa dạng trong quốc phòng Đương nhiên diện tích lãnh thổ phải tính đến các điều kiện

về khí hậu, tài nguyên thiên nhiên

 Địa hình, địa mạo cũng tạo thuận lợi hay gây khó khăn cho phát triển kinh tế hoặc

tổ chức quốc phòng (địa hình đồi núi hay bình nguyên, sa mạc, có biển hay không cóbiển ).Nước nào kiểm soát được biển thì nước đó sẽ kiểm soát được tất cả

Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng trọng yếu và lâu dài đối với sự phát triển kinh tế - xãhội của một quốc gia, nó bao gồm đất đai, khoáng sản, rừng, biển, nguồn nước, nguồnnăng lượng tự nhiên Tài nguyên thiên nhiên đã và đang là trung tâm của những cuộc tranhgiành, thậm chí xung đột giữa các quốc gia đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt; khoáng sản kimloại; nước và những nguyên tố hiếm phục vụ kỹ thuật, quốc phòng Do tầm quan trọng củatài nguyên thiên nhiên vốn đang bị cạn kiệt mà nhiều lãnh thổ trước đây vốn ít được quantâm như Bắc Cực, Nam Cực gần đây đã trở thành trung tâm chú ý của các quốc gia

Kinh tế

Thực lực kinh tế được coi là yếu tố cơ bản ảnh hướng đến sự phát triển kinh tế - xã hội củamột quốc gia Ảnh hưởng của kinh tế được xem xét trên hai yếu tố chính là quy mô kinh tế(GDP) và cơ cấu kinh tế

 Kinh tế hậu thuẫn cho xây dựng nền quốc phòng: quyết định quy mô và trang bị kỹthuật, khí tài chiến tranh của quân đội Chi tiêu cho quốc phòng của các quốc gia hầuhết đều rất tốn kém cả về quy mô lẫn tỷ trọng so với GDP Chiến tranh hiện đại có sứcphá hoại cũng như mức tiêu hao ngày càng lớn do vậy chỉ có thực lực kinh tế hùngmạnh mới đảm bảo cho tiến hành chiến tranh đạt kết quả

 Bản thân thực lực kinh tế là nhân tố đảm bảo vị trí quốc tế của một quốc gia Tronglịch sử, đặc biệt là lịch sử cận đại và hiện đại, các cường quốc có vai trò chi phối chínhtrị quốc tế đều là những nước có tiềm lực kinh tế hùng mạnh Thực lực kinh tế cũng là

Trang 9

biểu hiện đồng thời cũng là một nhân tố của năng lực cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh

toàn cầu hóa hiện nay

Giao thông, thông tin liên lạc

Giao thông vận tải và thông tin liên lạc vừa là hạ tầng của nền kinh tế trong hòa bình vừa là

hạ tầng để tiến hành chiến tranh trong thời chiến Nó đảm bảo cho con người, hàng hóa vàtin tức lưu thông thông suốt trong nền kinh tế, quân đội, khí tài chiến tranh, đảm bảo hậucần trong chiến tranh cũng như thu thập các thông tin một cách đầy đủ, kịp thời để ra quyếtđịnh Trong điều kiện hiện nay, vai trò của thông tin ngày càng trở nên quan trọng và nhiềukhi quyết định thành bại trong cả kinh tế lẫn tiến hành chiến tranh

Chất lượng của chính phủ

 Bản chất chính trị của chính phủ: chính phủ đại diện cho giai cấp, tầng lớp nàotrong xã hội, có đại diện cho đông đảo người dân của quốc gia hay không Bản chấtchính trị của chính phủ cũng được xem xét trên hai mặt đối nội và đối ngoại, một chínhphủ có hợp lòng dân, hợp với các giá trị, xu thế của thế giới hay không ảnh hưởng đến

vị thế quốc gia và thành bại trong chiến tranh vì chiến tranh là một sự tiếp nối củachính trị

 Trình độ luật hóa, dân chủ hóa của chính phủ: yếu tố này thể hiện ở mức độ hoànthiện của hệ thống luật pháp trên các mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp, mức độ côngkhai, dân chủ và quyền lợi chính trị của người dân trong các cuộc bầu cử

 Cơ cấu và hiệu quả điều hành của chính phủ: thể hiện ở việc sắp xếp tổ chức bộmáy chính phủ, cơ chế vận hành, hoạt động của chỉnh phủ Bộ máy chính phủ quanliêu, cồng kềnh hay gọn nhẹ, nhạy bén, có hiệu quả quyết định hiệu lực quản lý củachính phủ

Sức mạnh quân sự

Sức mạnh quân sự luôn là yếu tố cơ bản được tính đến trong chính sách quan hệ quốc tế vàchính trị quốc tế Sức mạnh quân sự là yếu tố then chốt trong chiến tranh và là yếu tố cótính chất răn đe khi không có chiến tranh Sức mạnh quân sự thể hiện ở các mặt: số lượng

và chất lượng quân đội; năng lực chi huy; trình độ lý luận quân sự và trang thiết bị, khí tàiquân sự đặc biệt là những vũ khí có sức hủy diệt lớn

Quan hệ đối ngoại

Quan hệ đối ngoại bao gồm nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, ngoại giao, quốc phòng, vănhóa Những nguyên tắc và kết quả của chính sách đối ngoại ảnh hưởng đến tương quan, vịthế của quốc gia đặc biệt là ngoại giao quốc phòng, nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sựphát triển kt-xh của 1 quốc gia

Khoa học công nghệ

Khoa học công nghệ thể hiện ở các khám phá, phát minh, sáng chế; trình độ ứng dụng Nó

là nhân tố có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển nhờ tăng năng suất lao động đồng thời

Trang 10

ảnh hưởng đến việc chế tạo, sử dụng các vũ khí, khí tài chiến tranh công nghệ cao, hiệusuất lớn.

5/ Anh (chị) hãy đánh giá những thành tựu và hạn chế chủ yếu của mô hình phát triển ở Việt Nam những năm qua Theo anh (chị) Việt Nam cần thực hiện những giải pháp chủ yếu nào trong thời gian tới?

Thành tựu: 1 Về phát triển kinh tế

Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh

Giai đoạn 1986 - 1990: Đây là giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới Chủ trương phát triểnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, nền kinh tế dần dần khắc phục được những yếu kém và có những bước phát triển.Kết thúc kế hoạch 5 năm (1986 - 1990), công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựubước đầu rất quan trọng: GDP tăng 4,4%/năm; tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bìnhquân 3,8 - 4%/năm; công nghiệp tăng bình quân 7,4%/năm, trong đó sản xuất hàng tiêudùng tăng 13 -14%/năm; giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 28%/năm (1) Việc thực hiện tốt

ba chương trình mục tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàngxuất khẩu đã phục hồi được sản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát,… Đây đượcđánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của công nghiệp hóa XHCN trongchặng đường đầu tiên Điều quan trọng nhất, đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chếquản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế

- xã hội và bước đầu giải phóng được lực lượng sản xuất, tạo ra động lực phát triển mới

Giai đoạn 1991 - 1995: Đất nước dần dần ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái Nền kinh tếtiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng: đã khắc phục được tình trạng trì trệ, suythoái, tốc độ tăng trưởng đạt tương đối cao, liên tục và toàn diện, hầu hết các chỉ tiêu chủyếu đều vượt mức: GDP bình quân tăng 8,2%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp tăng13,3%/năm; nông nghiệp tăng 4,5%/năm; lĩnh vực dịch vụ tăng 12%/năm; tổng sản lượnglương thực 5 năm (1991 - 1995) đạt 125,4 triệu tấn, tăng 27% so với giai đoạn 1986 - 1990(2) Hầu hết các lĩnh vực kinh tế đều đạt nhịp độ tăng trưởng tương đối khá “Nước ta đã rakhỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một

số mặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang một thời kỳ pháttriển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (3)

Giai đoạn 1996 - 2000: Đây là giai đoạn đánh dấu bước phát triển quan trọng của kinh tếthời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặc dù cùng chịu tác độngcủa khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực (giai đoạn 1997 - 1999) và thiên tai nghiêmtrọng xảy ra liên tiếp, đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách khốc liệt, tuy nhiên,Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá GDP bình quân của cả giai đoạn 1996 -

2000 đạt 7%; trong đó, nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,1%; công nghiệp và xây dựng tăng10,5%; các ngành dịch vụ tăng 5,2% (4) “Nếu tính cả giai đoạn 1991 - 2000 thì nhịp độtăng trưởng GDP bình quân là 7,5% So với năm 1990, GDP năm 2000 tăng hơn hai lần”(5)

Giai đoạn 2001 - 2005: Sự nghiệp đổi mới ở giai đoạn này đi vào chiều sâu, việc triển khaiChiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 và Kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 mà Đạihội IX của Đảng thông qua đã đạt được những kết quả nhất định Nền kinh tế đạt tốc độ

Trang 11

tăng trưởng khá cao, theo hướng tích cực, năm sau cao hơn năm trước GDP tăng bìnhquân 7,5%/năm, riêng năm 2005 đạt 8,4%; trong đó, nông nghiệp tăng 3,8%; công nghiệp

và xây dựng tăng 10,2%; các ngành dịch vụ tăng 7% Riêng quy mô tổng sản phẩm trongnước của nền kinh tế năm 2005 đạt 837,8 nghìn tỷ đồng, tăng gấp đôi so với năm 1995.GDP bình quân đầu người khoảng 10 triệu đồng (tương đương 640 USD), vượt mức bìnhquân của các nước đang phát triển có thu nhập thấp (500 USD) (6) Từ một nước thiếu ăn,mỗi năm phải nhập khẩu từ 50 vạn đến 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nướcxuất khẩu gạo lớn trên thế giới Năm 2005, Việt Nam đứng thứ nhất thế giới về xuất khẩuhạt tiêu; đứng thứ hai về các mặt hàng gạo, cà phê, hạt điều; thứ 4 về cao su;…

Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, bảo đảm sự ổn địnhchính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh, bước đầu phát huy được nhiều lợi thế của đấtnước, của từng vùng và từng ngành; cải cách thể chế kinh tế, từng bước hoàn thiện các cơchế chính sách quản lý và hệ thống điều hành; cải cách và nâng cao hiệu quả hoạt động của

hệ thống tài chính, tiền tệ; phát triển nguồn và chất lượng lao động, khoa học và côngnghệ;…

Giai đoạn 2006 - 2010: Nền kinh tế vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mônền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, từ nhóm nước thu thậpthấp đã trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp) GDP bình quân 5 năm đạt 7% Mặc

dù bị tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (từ cuối năm 2008),nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn đạt cao Tổng vốn FDI thực hiệnđạt gần 45 tỷ USD, vượt 77% so với kế hoạch đề ra Tổng số vốn đăng ký mới và tăngthêm ước đạt 150 tỷ USD, gấp hơn 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn

2001 - 2005 Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỷ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu

đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỷ USD, vượt 16% GDP năm 2010 tính theo giá thực

tế đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000

Trong năm 2011, mặc dù sự phục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu còn rấtchậm, song mức tăng trưởng kinh tế bình quân vẫn đạt 7%/năm, tuy thấp hơn kế hoạch(7,5% - 8%), nhưng vẫn được đánh giá cao hơn bình quân các nước trong khu vực

Như vậy, trong vòng 20 năm (1991 - 2011), tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt7,34%/năm, thuộc loại cao ở khu vực Đông Nam Á nói riêng, ở châu Á và trên thế giới nóichung; quy mô kinh tế năm 2011 gấp trên 4,4 lần năm 1990, gấp trên 2,1 lần năm 2000(thời kỳ 2001 - 2011 bình quân đạt 7,14%/năm)

Năm 2012, GDP tăng 5,03% so với năm 2011 Mức tăng trưởng tuy thấp hơn mức tăng5,89% của năm 2011, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn thì đây là mứctăng trưởng hợp lý Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tính tăng 3,4% so vớinăm 2011; công nghiệp tăng 4,8% so với năm 2011 Chỉ số giá tiêu dùng năm 2012 tăng6,81% Đầu tư phát triển tăng 7% so với năm trước và bằng 33,5% GDP Xuất, nhập khẩuhàng hóa tăng 18,3% (10) Kim ngạch xuất khẩu có thể vượt qua mốc 100 tỷ USD, tỷ lệkim ngạch xuất, nhập khẩu so với GDP năm 2011 đã đạt xấp xỉ 170%, đứng thứ 5 thế giới.Vốn FDI tính từ 1988 đến tháng 7-2012 đăng ký đạt trên 236 tỷ USD, thực hiện đạt trên96,6 tỷ USD Vốn ODA từ 1993 đến nay cam kết đạt gần 80 tỷ USD, giải ngân đạt trên 35

tỷ USD

Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá, trong đó sựphát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã bảo đảm an

Ngày đăng: 16/01/2016, 13:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w