Đánh giá nguồn Tài chính tài trợ cho phát triển kinh tế của Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện huy động nguồn lực Tài chính để tài trợ phát triển kinh tế
Trang 1DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM LÀM TIỂU LUẬN:
1 Nguyễn Thị Hằng 11143081
2 Huỳnh Thị Trúc Ly 11242851
3 Huỳnh Thị Ngân 11232761
4 Lê Thị Hồng Ngọc 11050021
5 Nguyễn Thị Như Ngọc 11243101
6 Trần Thị Nhạn 11174871
7 Phan Thị Thanh Thúy 11059711
8 Lương Thị Thúy 11202271
9 Mai Văn Trúc 11244991
10 Ngô Thị Bích Yên 11269631
LỜI CAM ĐOAN Nhóm chúng em xin cam đoan Tiểu luận này là công trình nghiên cứu của riêng chúng em, không sao chép của bất cứ ai
Nhóm trưởng: Mai Văn Trúc LỜI CẢM ƠN
Nhóm thực hiện đề tài xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Th.s
Vũ Cẩm Nhung và thư viện trường Đại học Công Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhóm đã hết sức cố gắng nhưng vẫn không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH 6
1.1 KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA TÀI CHÍNH: 6
1.1.1 Khái niệm Tài chính: 6
1.1.2 Bản chất của Tài chính: 6
1.2 CHỨC NĂNG CỦA TÀI CHÍNH: 10
1.2.1 Chức năng phân phối: 10
1.2.2 Chức năng giám sát Tài chính: 12
1.2.3 Chức năng huy động, tạo lập vốn: 12
1.3 VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH: 13
1.4 NGUỒN TÀI CHÍNH TÀI TRỢ CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM: 13
1.4.1 Nguồn Tài chính trong nước: 13
1.4.2 Nguồn Tài chính nước ngoài: 13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH TÀI TRỢ CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 16
2.1 Nguồn Tài chính trong nước: 16
2.1.1 Ngân sách nhà nước: 16
2.1.2 Tài chính doanh nghiệp: 22
2.1.3 Nguồn Tài chính trung gian( ngân hàng, bảo hiểm…) 28
2.2 Nguồn Tài chính nước ngoài: 33
2.2.1 Nguồn vốn ODA: 33
2.2.2 Nguồn vốn FDI: 40
2.2.3 Vay nợ thế giới (vay của ngân hàng thế giới WB) và kiều hối: 46
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH 47
3.1 Giải pháp huy động vốn trong nước: 47
Trang 33.1.1 Giải pháp hoàn thiện huy động nguồn vốn từ ngân sách nhà nước: 47
3.1.2 Giải pháp hoàn thiện huy động nguồn vốn tín dụng: 48
3.1.3 Giải pháp hoàn thiện huy động đầu tư trong dân và doanh nghiệp: 48
3.2 Giải pháp hoàn thiện huy động vốn nước ngoài: 48
3.2.1 Định hướng giải pháp: 48
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện huy động nguồn vốn ODA: 51
3.2.3 Đối với nguồn vốn FDI: 53
PHẦN 3: KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 58
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do và mục đích nguyên cứu đề tài:
Hiện nay, nước ta đã hội nhập với thế giới, điều này giúp chúng ta có thêm nghiều cơ hội phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế đất nước phụ thuộc rất nhiều đến nguồn lực kinh tế tài trợ Chính
vì lý do ấy, nhóm chúng em đã thực hiện đề tài : “ Đánh giá nguồn Tài chính tài trợ cho phát triển kinh tế của Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện huy động nguồn lực Tài chính để tài trợ phát triển kinh tế”
2 Nội dung nghiên cứu đề tài:
Phần nội dung tiểu luận gồm ba chương:
Chương 1: cơ sở lý luận về Tài chính và một số nguồn lực Tài chính, gồm 4 phần:
Phần 1: Khái niệm và bản chất của Tài chính
Phần 2: Chức năng của Tài chính
Phần 3: Vai trò của Tài chính
Phần 4: Nguồn Tài chính và một số khái niệm liên quan
Chương 2: Thực trạng và đánh giá các nguồn Tài chính tài trợ cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, gồm 2 phần:
Phần 1: Nêu ra thực trạng và đưa ra đánh giá các nguồn Tài chính trong
nước tài trợ cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
Phần 2: Nêu ra thực trạng và đưa ra đánh giá các nguồn Tài chính nước
ngoài tài trợ cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện huy động nguồn lực Tài chính
Trang 53 Kết quả nghiên cứu:
Thông qua việc nghiên cứu và hoàn thành tiểu luận, mỗi thành viên nhóm em
đã có được rất nhiều kiến thức về Tài chính, đăc biệt là về các nguồn Tài chính tài trợ cho phát triển kinh tế của Việt Nam Từ đó chúng em đã hiểu rõ hơn vai trò của bản thân trong thời đại này đối với đất nước
Trang 6NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH
Tiền đề ra đời, tồn tại và phát triển của Tài chính:
Tài chính chỉ ra đời và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi
mà ở đó có những hiện tượng kinh tế xã hội khách quan nhất định xuất hiện và tồn tại Những hiện tượng kinh tế xã hội khách quan đó như tiền đề khách quan quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của Tài chính
Tiền đề chủ quan – Nền kinh tế sản xuất hàng hóa-tiền tệ:
Lịch sử xã hội loài người cho thấy rằng cuối thời kì công xã nguyên thủy, phân công lao động xã hội bắt đầu phát triển, sản xuất và trao đổi hàng hóa được hình thành, kéo theo đó tiền tệ xuất hiện như một đòi hỏi khách quan của sự phát triển xã hội Sự xuất hiện của nền kinh tế hàng hóa cùng với việc sử sụng tiền tệ đã làm nẩy sinh phạm trù Tài chính
1.1 KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA TÀI CHÍNH:
1.1.1 Khái niệm Tài chính:
Là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định
1.1.2 Bản chất của Tài chính:
Việc xác định đúng bản chất của Tài chính có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở cho việc phân biệt phạm trù Tài chính với các phạm trù liên quan, nâng cao hiệu quả sử dụng Tài chính trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Trang 71.1.2.1 Biểu hiện bên ngoài của Tài chính:
Quan sát thực tiễn các quá trình vận động kinh tế - xã hội có thể nhận thấy các biểu hiện bên ngoài của Tài chính thẻ hiện ra dưới dạng các hiện tượng thu vào bằng tiền và các hiện tượng chi ra bằng tiền ở các chủ thể kinh tế - xã hội Có thể ví
dụ như: Dân cư, doanh nghiệp nộp thuế bằng tiền cho nhà nước; các doanh nghiệp
sử dụng vốn điều lệ để mua sắm thiết bị vật tư, thiết bị kinh doanh; dân cư mua cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu của các doanh nghiệp, ngân hàng, kho bạc nhà nước; các ngân hàng cho các doanh nghiệp vay tiền; dân cư nộp tiền vào quỹ bảo hiểm xa hội, bảo hiểm kinh doanh (nộp phí bảo hiểm); các cơ quan bảo hiểm trả tiền (bồi thường thiệt hại) cho dân cư khi họ bị mất sức lao động tạm thời hay vĩnh viễn (từ quỹ bảo hiểm xã hội) hay khi họ bị tai nạn rủi ro (từ quỹ bảo hiểm kinh doanh); nhà nước cấp phat tiền từ ngân sách nhà nước tài trợ cho việc xây dựng đường giao thông, trường học, bệnh viện công…
Từ vô số các hiện tượng Tài chính kể trên cho nhận xét: hình thức biểu hiện
bên ngoài của Tài chính thể hiện giống như sự vận động của vốn tiền tệ Ở
những hiện tượng trên, có thể thấy tiền tệ xuất hiện trước hết với chức năng phương tiện thanh toán (ở người chi ra) và chức năng phương tiện cất trữ (ở người thu vào)
Ở đây, tiền tệ đại diện cho một lượng giá trị, một thế năng về sức mua nhất định và
được gọi là nguồn Tài chính (hay nguồn lực Tài chính)
Trong thực tế, nguồn Tài chính được nói đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như: tiền vốn, vốn tiền tệ, vốn bằng tiền vốn kinh doanh, vốn tín dụng, vốn ngân sách, vốn trong dân… ở mỗi chủ thể kinh tế - xã hội, khi nguồn Tài chính được tập trung lại (thu vào) là khi các quỹ tiền tệ được hình thành (tạo lập) và khi nguồn Tài chính được phân tán ra (chia ra) là lúc các quỹ tiền tệ được sử dụng Quá trình vận động của các nguồn Tài chính cũng chính là quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ
Trang 8tiền tệ Đó quá trình các chủ thể kinh tế - xã hội tham gia phân phối các nguồn Tài chính thông qua hoạt động thu, chi bằng tiền
1.1.2.2 Nội dung bên trong (nội dung kinh tế - xã hội) của Tài chính:
Qua việc nghiên cứu các biểu hiện bên ngoài của Tài chính ở trên, có thể xác định nội dung kinh tế - xã hội của phạm trù Tài chính như sau: Tài chính được đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ của quá trình tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ đại diện cho những sức mua nhất định ở các chủ thể kinh tế - xã hội Nói cách khác Tài chính là tổng thể các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực Tài chính thông qua tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu của các chủ thể trong xã hội
Nguồn Tài chính là khả năng Tài chính mà các chủ thể trong xã hội có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình Nguồn Tài chính có thể tồn tại dưới dạng tiền tệ hoặc tài sản vật chất và phi vật chất Sự vận động của các nguồn Tài chính phản ánh sự vận động của những bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị (tiền tệ) Nguồn Tài chính luôn thể hiện một khả năng về sức mua nhất định Trong nền kinh tế thị trường mỗi chủ thể trong xã hội khi đã nắm trong tay những nguồn Tài chính nhất định là đã nắm trong tay một sức mua để có thể nắm được những nguồn lực hay sử dụng được những nguồn nhân lực nhất định phục vụ cho mục đích tích lũy hay tiêu dùng của mình
Các hiện tượng – biểu hiện bên ngoài của Tài chính là sự thể hiện và phản ánh các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong quá trình phân phối các nguồn lực Tài chính, quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Các quan hệ kinh tế như thế đươc gọi là quan hệ Tài chính Các quan hệ Tài chính biểu hiện mặt bản chất bên trong của Tài chính ẩn dấu sau các biểu hiện bên ngoài của Tài chính Như vậy có thể xác định bản chất của Tài chính trên các khía cạnh sau:
Trang 9 Tài chính là những quan hệ kinh tế nhưng không phải mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều thuộc phạm trù quan hệ Tài chính Tài chính chỉ bao gồm những quan hệ phân phối dưới hình thái giá trị
Tài chính là những quan hệ phân phối phát sinh trong quá trình hình thành và
Bản chất của Tài chính: Là sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ trong
quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế - xã hội
Tài chính là phạm trù phân phối dưới hình thức giá trị - tiền tệ nhưng Tài chính không phải tiền tệ Tiền tệ chỉ là phương tiện biểu hiện của các quan hệ Tài chính, là đối tượng phân phối của Tài chính Thông qua việc làm rõ bản chất của Tài chính ta cũng dễ dàng phân biệt phạm trù Tài chính với các phạm trù phân phối khác đó là: Tiền tệ, giá cả, tiền lương
Phạm trù Tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với phạm trù tiền tệ và giá cả:
Tiền tệ và giá cả quyết định quy mô Tài chính của chủ thể:
Lượng tiền tích luỹ
Giá cả hàng hóa
Trang 10 Tài chính góp phần:
Ổn định tiền tệ
Ổn định giá cả
Tăng thu nhập tiền tệ cho nhà đầu tư
1.2 CHỨC NĂNG CỦA TÀI CHÍNH:
1.2.1 Chức năng phân phối:
1.2.1.1 Khái niệm phân phối (phân bổ nguồn lực Tài chính):
Là chức năng mà nhờ đó, các nguồn tài lực từ những bộ phận của cải xã hội được các chủ thể sử dụng, đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau để sử dụng cho những mục đích khác nhau, đảm bảo những lợi ích, nhu cầu khác nhau của chủ thể
1.2.1.2 Đối tượng phân phối:
Là của cải xã hội dưới hình thức giá trị, xét về mặt nội dung, là tổng thể các
nguồn Tài chính có trong xã hội bao gồm: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP); Bộ
phận của cải xã hội được chuyển từ nước ngoài vào và bộ phận của cải từ trong nước chuyển ra nước ngoài; Bộ phận tài sản, tài nguyên quốc gia có thể cho thuê hoặc nhượng bán có thời hạn Nguồn Tài chính có 2 hình thức tồn tại là:
Nguồn Tài chính hữu hình – tồn tại dưới hình thái giá trị và hình thái hiện
vật:
Dưới hình thái giá trị, nguồn Tài chính có thể tồn tại dưới hình thức tiền
của nước đó (nội tệ), tiền lịch sử - vàng và ngoại tệ Nguồn Tài chính tồn tại dưới dạng tiền tệ đang vận động thực tế trong chu trình tuần hoàn của nền kinh tế, nên
được gọi là nguồn Tài chính thực tế Chính nhờ vào sự vận động của các nguồn
Trang 11Tài chính này mà các quỹ tiền tệ khác nhau có thể được tạo lập hoặc sử dụng cho
các mục đích khác nhau đã định trước
Dưới hình thái hiện vật, nguồn Tài chính có thể tồn tại dưới dạng bất động
sản, tài nguyên, công sản, đất đai…(gọi chung là tài sản) Nguồn Tài chính dưới
dạng hiện vật được gọi là nguồn Tài chính tiềm năng vì chúng được coi như có
một khả năng Tài chính Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ hàng hóa – tiền tệ, khả năng chuyển hóa tài sản thành tiền sẽ được thực hiện dễ dàng và nhanh chóng Khi tài sản thực hiện chức năng đo lường giá trị, chúng sẽ biến thành các khối tiền tệ hòa vào các luồng tiền tệ của chu
trình tuần hoàn kinh tế và khi đó nguồn Tài chính tiềm năng chuyển hóa thành
nguồn Tài chính thực tế
Nguồn Tài chính vô hình là nguồn Tài chính tồn tại dưới dạng các sản phẩm
không có hình thái vật chất như: phần mềm, dữ liệu, thông tin, hình ảnh, kí hiệu, phát minh, bí quyết kỹ thuật… Những sản phẩm kể trên bản thân chúng có giá trị
và trong điều kiện nền kinh tế thị trường, chúng có thể chuyển thành tiền qua mua bán Do đó chúng được xem là một bộ phận cấu thành của tổng thể các nguồn Tài
chính trong xã hội
1.2.1.3 Chủ thể phân phối:
Là Nhà nước (các cơ quan, tổ chức Nhà nước), các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, các hộ gia đình hay cá nhân dân cư Các chủ thể phân phối xuất hiện với các tư
cách: Chủ thể có quyền sở hữu nguồn Tài chính; chủ thể có thể sử dụng các nguồn
Tài chính; chủ thể có quyền lực về chính trị; chủ thể có quyền tổ chức mối quan hệ của các nhóm thành viên trong xã hội
1.2.1.4 Kết quả phân phối:
Trang 121.2.1.5 Đặt điểm của phân phối Tài chính:
Phân phối của Tài chính là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, nó không bao hàm sự thay đổi của hình thái giá trị
Phân phối của Tài chính là phân phối luôn gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định
1.2.2 Chức năng giám sát Tài chính:
Là chức năng kiểm tra quá trình vận động của các nguồn Tài chính, quá trình
tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ có hợp lý, hiệu quả theo đúng mục đích của chủ
thể hay không
Giám sát Tài chính có đặc điểm:
Giám sát Tài chính là giám sát bằng đồng tiền
Giám sát Tài chính là loại giám sát rất toàn diện, thường xuyên, liên tục và rộng rãi
1.2.3 Chức năng huy động, tạo lập vốn:
Là chức năng phản ánh quá trình tạo lập nguồn Tài chính của các chủ thể, thể hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn Tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế
Việc huy động và tạo lập vốn Tài chính gồm có các khâu:
Khâu Ngân sách nhà nước:Thông qua thuế, phí, lệ phí hoăc phát hành Trái phiếu Chính phủ (Khi thiếu hụt ngân sách nhà nước)
Khâu Tài chính doanh nghiệp:Huy động từ vốn chủ sở hữu, vay ngân hàng, vay trong dân chúng (bằng trái phiếu doanh nghiệp)
Trang 13 Các khâu Tài chính khác: Là Tài chính hộ gia đình và tổ chức xã hội, trung
gian Tài chính (Tín dụng, bảo hiểm), tạo lập thành các quỹ chuyển vốn từ người cung ứng sang người sử dụng
1.3 VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH:
Là công cụ phân phối tổng sản phẩm quốc dân
Công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Giữ vai trò kiểm tra giám sát bằng đồng tiền đối với mọi hoạt động trong nền kinh tế quốc dân
1.4 NGUỒN TÀI CHÍNH TÀI TRỢ CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM: 1.4.1 Nguồn Tài chính trong nước:
Ngân sách quốc gia: là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự
toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
Tài chính doanh nghiệp: bao gồm Tài chính của tất cả doanh nghiệp và các
tổ chức kinh tế có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa hay cung cấp dịch vụ
Nguồn Tài chính hộ gia đình và các tổ chức xã hội: bao gồm nguồn Tài
chính của các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp và nguồn Tài chính của các hộ gia đình, cá nhân
Nguồn Tài chính trung gian (Bảo hiểm, tín dụng…): bao gồm các tổ chức
nhận tiền gửi (ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng), các tổ chức nhận gửi tiết kiệm theo hợp đồng (các công ty bảo hiểm) và các trung gian đầu tư
1.4.2 Nguồn Tài chính nước ngoài:
Trang 14Xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ Tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi
là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"
Đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Portfolio Investment: FPI hay Foreign Indirect Investment: FII):
Là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới Nó chỉ các hoạt động mua tài sản Tài chính nước ngoài nhằm kiếm lời Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp giống như trong hình thức Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ Official
Development Assistance):
Là một hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư
này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay
dài Đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư Gọi
là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay
Vay nợ nước ngoài và kiều hối
Thực tế Việt Nam cho thấy, nguồn Tài chính từ các tổ chức xã hội tài trợ
cho nền kinh tế Việt Nam thật sự là không nhiều Ngoài ra, các cá nhân và hộ gia đình Việt Nam tham gia tài trợ cho nền kinh tế đều thông qua ngân hàng và các tổ chức tín dụng Vì vậy, trong phạm vi đề tài, nhóm chỉ tiến hành đánh giá
Trang 15nguồn Tài chính trong nước tài trợ cho nền kinh tế bao gồm: Ngân sách nhà
nước , Tài chính doanh nghiệp và nguồn Tài chính trung gian Cũng với lý do về
quy mô lượng vốn Tài chính tài trợ cho nền kinh tế, nhóm chúng em chỉ tiến
hành đánh giá nguồn vốn ODA, FDI, vay nợ nước ngoài và kiều hối
Trang 16CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN
TÀI CHÍNH TÀI TRỢ CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
2.1 NGUỒN TÀI CHÍNH TRONG NƯỚC:
Tổng chi ngân sách NN
Bội chi ngân sách
Trang 17Tình hình chi ngân sách nhà nước: Dự toán Quốc hội quyết định là 398.980
tỷ đồng, ước thực hiện cả năm đạt 548.529 tỷ đồng, vượt 37,98% so với dự toán, tăng 27,25% so với thực hiện năm 2007
Cân đối ngân sách nhà nước: Bội chi NSNN năm 2008 Quốc hội quyết định
là 66.900 tỷ đồng, ước cả năm bội chi NSNN thực hiện là 66.200 tỷ đồng, bằng 4,95% GDP khi xây dựng dự toán Đến 31/12/2008, dư nợ Chính phủ (bao gồm cả
nợ Trái phiếu Chính phủ) bằng 33,5% GDP, dư nợ ngoài nước của Quốc gia bằng 27,2% GDP, trong giới hạn đảm bảo an ninh Tài chính quốc gia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
Tình hình ngân sách nhà nước năm 2009:
Tình hình thu NSNN năm 2009 ước đạt 629.187 tỷ đồng, vượt 19,06% so với
dự toán; mức động viên thuế và phí đạt 33%GDP Thu ngân sách nhà nước tích cực do:
Tình hình thực hiện nhiệm vụ chi NSNN: Chi NSNN năm 2009 ước thực hiện 715.216 tỷ đồng, tăng 23,24% so với dự toán đầu năm
Về cân đối ngân sách nhà nước:
Dự toán bội chi NSNN năm 2009 là 4,82% GDP Bước vào năm 2009, căn
cứ tình hình kinh tế thế giới và trong nước đang gặp rất nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế toàn cầu lan rộng, diễn biến phức tạp, khó lường và theo chiều hướng xấu, nguồn thu NSNN gặp khó khăn, yêu cầu tăng chi là rất lớn để thực hiện các giải pháp kích thích kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội, do vậy kết quả thực hiện bội chi NSNN năm 2009 ở mức 6,9% GDP
Tình hình ngân sách nhà nước năm 2010:
Trang 18Về thu NSNN, đã xây dựng tích cực tăng 18,1%, trong đó thu nội địa tăng 23% so dự toán 2009, tỷ lệ động viên NSNN đạt 23,9% GDP, trong đó thu từ thuế, phí đạt 22,4% GDP Cơ cấu thu được cải thiện, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN tăng từ 59,8% của dự toán năm 2009 lên 63,9% năm 2010, góp phần tăng tính chủ động, ổn định và bền vững cho NSNN
Dự toán chi đầu tư phát triển tăng 11,3% so với dự toán năm 2009, cao hơn tốc độ tăng chi thường xuyên Tính cả nguồn trái phiếu Chính phủ (dự kiến 56.000
tỷ đồng) và xổ số kiến thiết (khoảng 7.000 tỷ đồng), thì chi đầu tư phát triển năm
2010 chiếm 29,3% tổng chi NSNN (Định hướng kế hoạch là 29-30%) Cùng với việc đẩy mạnh xã hội hoá, thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, thì đầu tư toàn xã hội năm 2010 bằng khoảng 41% GDP, đáp ứng yêu cầu duy trì phục hồi tăng trưởng kinh tế
Về cân đối NSNN: mức bội chi NSNN năm 2010 bằng 6,2% GDP, thấp hơn
so với mức bội chi năm 2009 (bằng 6,9% GDP), chứng tỏ nhà nước đang có những thành công trong việc quản lý và thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước
Tình hình ngân sách nhà nước năm 2011:
Thu ngân sách nhà nước năm 2011 đạt 674.532 tỷ đồng, tăng 13,37% so với
dự toán của quốc hội
Trang 19Chi cân đối ngân sách nhà nước năm 2011 đạt 796.103 và đã đảm bảo các nguyên tắc:
Thứ nhất, bố trí kinh phí cho các lĩnh vực quan trọng theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội (lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề đạt 20% tổng chi ngân sách nhà nước; lĩnh vực văn hoá thông tin đạt tối thiểu 1,8%; lĩnh vực khoa học và công nghệ đạt tối thiểu 2%; hoạt động sự nghiệp bảo vệ môi trường trên 1%; bố trí tăng chi cho lĩnh vực y tế cao hơn tốc độ tăng chi bình quân chung của ngân sách nhà nước); bố trí đảm bảo chi trả nợ theo đúng cam kết
Thứ hai, tiếp tục thực hiện cơ cấu lại ngân sách nhà nước, tăng chi cả đầu tư
và thường xuyên để thực hiện các chính sách an sinh xã hội, bao gồm cả chi thực hiện điều chỉnh chuẩn nghèo mới Bố trí chi thực hiện điều chỉnh tiền lương và các khoản tăng chi theo tiền lương theo khả năng cân đối ngân sách nhà nước
Thứ ba, điều chỉnh lại mặt bằng phân bổ ngân sách cho các Bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương theo các quy định về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ dự toán chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên năm 2011 Theo đó tăng mức phân bổ cho các địa phương khó khăn, đồng thời tạo điều kiện cho các địa phương trọng điểm kinh tế có nguồn lực tiếp tục phát triển (không giảm quá lớn tỷ
lệ điều tiết ngân sách địa phương được hưởng so với thời kỳ ổn định ngân sách vừa qua)
Thứ tư, bố trí chi dự phòng, dự trữ quốc gia để đảm bảo an ninh lương thực
và chủ động phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, ; bố trí cho các nhiệm vụ chi khác trên tinh thần tiết kiệm
Thứ năm, đối với kinh phí thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011-2015 Dành nguồn bố trí cho các chương trình mục tiêu quốc gia,
Trang 20tương ứng Trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội về danh mục các chương trình mục tiêu quốc gia, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và đầu tư chủ trì, tổng hợp phân bổ kinh phí cho các Bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương, báo cáo Chính phủ và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trước ngày 31/01/2011
Bội chi ngân sách nhà nước: 130,600 tỷ đồng, bằng 4.9% GDP (trong khi dự toán là 5.3%)
Biểu đồ 1: Tỷ lệ bội chi so với tổng GDP
tỷ lệ bội chi so với GDP
Trang 21Bảng 2: Cơ cấu thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2007 đến 2011:
Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu
Thu từ khu vực công, thương
Thuế thu nhập đối với người có
Thu xổ số kiến thiết
Thuế xuất, nhập khẩu, thuế tiêu
thụ đặc biệt hàng nhập khẩu; Thu
chênh lệch giá hàng nhập khẩu
Trang 22Dự toán xây dựng vẫn còn chứa đựng các yếu tố rủi ro, chưa lường hết, trong đó: thu nội địa từ hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc nhiều vào khả năng kiểm soát lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô và phát triển sản xuất kinh doanh, thu dầu thô phụ thuộc vào yếu tố sản lượng và đặc biệt là yếu tố giá đang có biến động khó lường
Hiện nay, nhà máy lọc dầu Dung Quất đã đi vào hoạt động, tuy nhiên tỷ lệ thu ngân sách từ việc bán dầu thô vẫn còn khá cao (năm 2011: 11,13%) Đây chính
là một sự thất thoát, gây lãng phí lớn tài nguyên đất nước và không mang lại hiệu quả kinh tế cao Nhà nước cần có những chính sách, biện pháp tích cực nhằm hạn chế sản lượng dầu thô bán ra và tăng nguồn thu từ việc bán xăng, dầu, các chế phẩm từ dầu thô
2.1.2 Tài chính doanh nghiệp:
Hiện nay nước ta có đến 40 doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu trên 1000 tỷ đồng đã niêm yết trên các sàn chứng khoán
Biểu đồ 2 : 10 doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu lớn nhất trên 3000 tỷ đồng được
niêm yết trên sàn chứng khoán.(tính đến 9/2012)
Nguồn: VNDIRECT Đơn vị: Tỷ đồng
Trang 23Trong đó:
GAS: Tổng công ty Khí Việt Nam
MBB: Ngân hàng cổ phần Quân Đội
HAG: Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai
PVF: Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam
KDC: Công ty Cổ phần Kinh Đô
GMD: Tổng công ty hàng hải Việt Nam
PPC: Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại
Theo số liệu của VNDIRECT, tính tất cả các mã đang niêm yết trên 2 Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Chứng khoán TP HCM (HOSE), GAS (Tổng công ty Khí Việt Nam) là mã có vốn chủ cao nhất với hơn 25.700 tỷ đồng
Ngân hàng cổ phần Quân Đội (mã MBB) và Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (mã HAG) đứng ở 2 vị trí tiếp theo, lần lượt có vốn chủ sở hữu là trên 13.100 tỷ và hơn 9.200 tỷ đồng
Cũng theo số liệu của VNDIRECT, trên HOSE, có 8 đơn vị có vốn chủ sở hữu trên 2.000 tỷ và dưới 3.000 tỷ đồng Trong đó, Công ty cổ phần Phát triển Hạ tầng Kỹ thuật (Becamex) (mã IJC) có vốn chủ sở hữu cao nhất trong nhóm này, với gần 2.940 tỷ đồng
Công ty cổ phần Quốc Cường Gia Lai (mã QCG) đứng thứ 4 trong nhóm với
Trang 24Biểu đồ 3: 8 doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu lớn nhất từ 2000 đến 3000 tỷ
đồng, đã niêm yết trên thị trường chứng khoán (tính đến 9/2012)
Trong đó:
HCM: Công ty Cổ phần Chứng khoán Tp.HCM
ALP: Công ty Cổ phần Alphanam
HVG: Công ty Cổ phần Hùng Vương
PVT: Tổng công ty Cổ phần Vận tải Dầu khí
AGR: Công ty Cổ phần Chứng khoán Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cũng trên HOSE, có 13 mã có vốn chủ sở hữu trên 1.000 tỷ và dưới 2.000 tỷ đồng Trong đó, Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen (mã HSG) đứng đầu nhóm,
Trang 25với vốn chủ là gần 1.970 tỷ đồng Công ty cổ phần Vận tải Xăng dầu VITACO (VTO) có vốn chủ thấp nhất trong nhóm với hơn 1.020 tỷ đồng
Bảng 3 :
Nguồn vốn của tập đoàn Hòa Phát trong năm 2010-2011:
Trang 26Dễ dàng nhận thấy trong cơ cấu nguồn vốn hơn 14,9 nghìn tỷ đồng của tập đoàn Hòa Phát năm 2010 có tới 42,93% là từ vay vốn và các khoản chưa trả Tỷ lệ
nợ trên vốn chủ sở hữu của tập đoàn Hòa Phát năm 2011 cũng tương đương năm
2010 Điều đó cho thấy điểm yếu của tập đoàn này và đó cũng là căn bệnh thập kỷ của các doanh nghiệp Việt Nam
Các nhà kinh tế tỏ ra e ngại về cơ cấu vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay – một cơ cấu lệ thuộc vốn ngân hàng của doanh nghiệp nội địa Các doanh nghiệp nước ngoài thường sử dụng tới 30% lợi nhuận để tái đầu tư, còn doanh nghiệp Việt Nam thì con số này rất thấp; họ chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng
Ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chính sách Công, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, cũng đồng tình với quan điểm này Theo ông, tỉ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu qua cuộc khảo sát 647 doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán trong quý 2/2012 (đã loại trừ các ngân hàng và các công ty Tài chính) là 1,53, cao hơn rất nhiều so với các công ty niêm yết tại Mỹ và Trung Quốc, với tỉ lệ lần lượt là 1,2 và 1,06
Tình trạng vay nợ quá nhiều này đã diễn ra rộn ràng ngay từ đầu những năm
2000 Việc sử dụng đòn bẩy Tài chính cao đã trở thành con dao hai lưỡi đối với các doanh nghiệp Một mặt, nó góp phần gia tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp nếu khoản đầu tư có hiệu quả nhưng cũng sẽ xói mòn lợi nhuận nếu kinh doanh đi xuống Đến khi Việt Nam đối mặt với khủng hoảng, mặt trái của đòn bẩy Tài chính
đã bộc lộ Gánh nặng lãi vay, trong khi sản xuất đình đốn đã khiến một loạt các doanh nghiệp đang trên bờ vực phá sản, hình thành những xác chết lâm sàng, mà tiêu biểu gần đây là Công ty Thủy sản Bình An
Theo thống kê của ông Xuân Thành, những ngành kinh doanh có tỉ lệ nợ/ vốn chủ sở hữu cao là xây dựng và bất động sản, năng lượng, nguyên vật liệu Thấp nhất là ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp và hàng tiêu dùng Đây là minh
Trang 27chứng rõ nét cho chu kỳ kinh tế Việt Nam vừa qua gắn liền với cơn mê muội bất động sản
Không chỉ khối tư nhân, các doanh nghiệp nhà nước cũng nợ đìa với tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu trung bình là 1,71 (theo Bộ Tài chính) Đáng chú ý là những tập đoàn, tổng công ty lớn lại là những doanh nghiệp có tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu khá cao như tập đoàn điện lực Việt Nam (tỉ lệ: 4,26), Sông Đà (8,85), Tập đoàn HUD (6,36), Petrolimex (6,29), Vinalines (4,27)
Biểu đồ 4 : Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp VN phân theo
ngành
Trang 282.1.3 Nguồn Tài chính trung gian( ngân hàng, bảo hiểm…):
Biểu đồ 5: Một số chỉ tiêu Tài chính của các nhóm tổ chức tín dụng tính đến
30/4/2012
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước; Báo cáo Thống đốc gửi đại biểu Quốc hội (đơn vị: tỷ đồng)
Biểu đồ 6: Tổng tài sản của các nhóm tổ chức tín dụng tính đến 30/4/2012
Trang 29Tổng tài sản của nhóm Tài chính tín dụng bao gồm các ngân hàng, các công
ty Tài chính, các quỹ tín dụng trung ương là 4.868.449 tỷ đồng thật sự là một con
số khổng lồ, điều đó cho thấy tiềm lực to lớn của hệ thống tín dụng của nước ta Một nguồn cung cấp Tài chính lớn nhất cho quá trình phát triển đất nước
Tuy vậy, thực tế vốn tự có thực tế của hệ thống tín dụng này chỉ đạt 414.153
tỷ đồng và tỷ lệ nợ xấu lên đến 108.600 tỷ đồng chiếm 26,22 % vốn tự có Đó thật
sự là một mối nguy hiểm tiềm ẩn to lớn cho nên kinh tế Chúng ta đều biết khủng hoảng Tài chính năm 2008 bắt nguồn tại Mĩ có nguyên nhân từ nguồn nợ xấu của các ngân hàng trong lĩnh vực cho vay bất động sản, vì vậy chúng ta cần có những giải pháp tốt nhất để hạn chế tỷ lệ nợ xấu
Tổng dư nợ toàn hệ thống ngân hàng hiện tại vào khoảng 2,7 triệu tỷ đồng, nghĩa là nền kinh tế đang mắc nợ hệ thống ngân hàng 2,7 triệu tỷ đồng Chỉ tính với lãi suất cho vay là 15% một năm thì mỗi tháng nền kinh tế trả cho hệ thống ngân hàng món lãi suất 40.000 tỷ đồng, tương đương 2 tỷ USD
Biểu đồ 7: Vốn tự có của các nhóm tổ chức tín dụng (không bao gồm Ngân hàng
Chính sách xã hội và Công ty Tài chính Tàu thủy) tính đến 30/4/2012