BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM KHOA KINH TẾ TIỂU LUẬN *** ĐỀ TÀI TỘI GIẾT NGƯỜI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN MÔN HỌC PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG MÃ LỚP[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM
KHOA KINH TẾ
TIỂU LUẬN
***
ĐỀ TÀI: TỘI GIẾT NGƯỜI THEO LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
MÔN HỌC: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
MÃ LỚP HỌC: GELA220405
GVHD: TH.S VÕ THỊ MỸ HƯƠNG
THỰC HIỆN: NHÓM 08
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 1 năm 2022
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN
HỌC KỲ I NĂM HỌC 2021 - 2022
Nhóm: 08 ( Lớp thứ 3 – tiết 5-6)
Tên đề tài: Tội giết người theo Luật hình sự Việt Nam Lý luận và thực tiễn
HOÀN THÀNH
1 Trần Thảo Quyên 21126194 100%
2 Nguyễn Ngọc Trâm 21126223 100%
3 Hà Hoàng Minh Khuê 21126303 100%
4 Lê Thị Hoài Thương 21126217 100%
5 Nguyễn Thị Nguyên Hằng 21126296 100%
Ghi chú:
- Tỷ lệ % = 100%: Mức độ phần trăm của từng sinh viên tham gia
- Trưởng nhóm: Lê Thị Hoài Thương SĐT: 0981 361 017
Nhận xét của giáo viên
………
………
………
Ngày 06 tháng 01 năm 2022
Trang 3Mục lục
A.PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Phương pháp nghiên cứu 4
4 Bố cục đề tài 5
B PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI 6
1.1 Khái niệm chung về tội giết người 6
1.2 Phân loại hành vi giết người 6
1.2.1 Căn cứ phân loại 6
1.2.2 Các loại hành vi giết người 6
1.2.2.1 Căn cứ vào khách thể của hành vi giết người 6
1.2.2.2 Căn cứ vào đối tượng tác động của hành vi giết người 7
1.2.2.3 Căn cứ vào chủ thể thực hiện hành vi giết người 7
1.2.2.4 Căn cứ vào mức độ nguy hiểm của hành vi giết người 7
1.2.2.5 Căn cứ vào mục đích, động cơ của hành vi giết người 7
1.3 Trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm có hành vi giết người 8
CHƯƠNG 2: TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8
2.1 Tội giết người tại khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015, chỉnh sửa bổ sung năm 2017 8
2.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội giết người 9
2.2.1 Dấu hiệu khách quan 9
2.2.1.1 Dấu hiệu hành vi khách quan 9
2.2.1.2 Dấu hiệu hậu quả của tội phạm: 10
Trang 42.2.1.3 Dấu hiệu quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu qủa chết người 10
2.2.2 Dấu hiệu chủ quan của tội giết người 11
2.2.2.1 Dấu hiệu lỗi của chủ thể 11
2.2.2.2 Dấu hiệu mục đích, động cơ phạm tội 11
2.2.3 Dấu hiệu khách thể của tội giết người 12
2.2.4 Dấu hiệu chủ thể của tội giết người 12
2.2.5 Ví dụ làm rõ vấn đề 12
2.3 Các khung hình phạt 13
2.3.1 Hình phạt chính đối với Tội giết người 13
2.3.1.1 Hình phạt chính đối với Tội giết người theo quy định tại khoản 1 điều 123 13
2.3.1.1 Hình phạt chính đối với Tội giết người theo quy định tại khoản 2 điều 123 14
2.3.1.3 Hình phạt chính đối với Tội giết người theo quy định tại khoản 3 điều 123 14
2.3.2 Hình phạt bổ sung đối với Tội giết người 15
3.1 Tình hình tội giết người trên địa bàn cả nước 16
3.2 Vụ án điển hình 16
3.3 Nguyên nhân 17
3.4 Giải pháp phòng chống tội phạm giết người 18
3.4.1 Các giải pháp về kinh tế - xã hội - cơ chế quản lý 18
3.4.2 Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục nhân dân tham gia đấu tranh phòng ngừa tội phạm 19
C PHẦN KẾT LUẬN 20
PHỤ LỤC 21
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển cùng với đó là sự phát triển của xã hội, đời sống nhân dân được cải thiện Song vẫn còn tồn tại những mặt tiêu cực, mặt trái của xã hội Đặc biệt trong những năm gần đây tội phạm giết người ngày càng gia tăng, thủ đoạn càng tinh vi, man rợ và xảo quyệt Gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân đặc biệt là những vụ án giết người nghiêm trọng như vụ án thảm sát 6 người ở Bình Phước vì bị ngăn cấm chuyện tình cảm; Chồng sát hại vợ và con gái đúng ngày 8/3 ở Hà Nội hay gần đây là thảm án
ở Thái Bình, con rể giết bố mẹ vợ và vợ;
Tội phạm giết người ra tay ngày càng tàn độc và mất hết tính người Chúng gây
ra những tang thương, mất mát không gì bù đắp được với gia đình người bị hại, gây ra
sự bất bình trong dư luận và gây mất an ninh trật tự xã hội Trước những vấn đề gây sự nguy hiểm đặc biệt đối với xã hội thì việc nghiên cứu về đề tài “Tội phạm giết người theo Luật hình sự Việt Nam Lý luận và thực tiễn” là cấp thiết và quan trọng để từ đó đưa ra những phương pháp hợp lí để góp phần vào công cuộc phòng chống, đấu tranh, trấn áp, giảm thiểu và ngăn chặn tình trạng phạm tội của tội phạm giết người mang lại cuộc sống hạnh phúc, yên bình cho người dân
2 Mục tiêu nghiên cứu
✓ Nắm rõ các vấn đề cơ bản về khái niệm, hành vi, trách nhiệm hình sự của tội phạm giết người
✓ Nắm rõ các dấu hiệu pháp lý và các khung hình phạt của tội giết người
✓ Đưa ra kết luận dẫn tới sự gia tăng, biến động của tội phạm giết người
✓ Giải pháp để phòng chống tội phạm giết người
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tra cứu thông tin, tổng hợp lý thuyết từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá đúng đắn và chính xác
Trang 6Phương pháp phân tích, khái quát và vận dụng các kiến thưc đã tổng hợp để đưa
ra các ví dụ thực tiễn
4 Bố cục đề tài
Bài tiểu luận về đề tài “Tội phạm giết người theo Luật hình sự Việt Nam Lý luận
và thực tiễn” có nội dung gồm 3 phần:
• Chương 1: Những vấn đề chung về tội giết người
• Chương 2: Tội giết người trong luật hình sự việt nam
• Chương 3: Thực trạng và giải pháp
Trang 7B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
1.1 Khái niệm chung về tội giết người
Đầu tiên, chúng ta có thể đến với định nghĩa về hành vi giết người: Theo từ điển tiếng Việt thì giết người là hành vi trái pháp luật cố ý làm chết người ngoài ý muốn của nạn nhân Hành vi làm chết người được hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ Hậu quả của hành vi trái luật này là hậu quả chết người
Đối với tội giết người, để phân biệt với hành vi giết người nói chung chúng ta có thể đưa ra định nghĩa như sau: Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện trong
đó phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do Bộ luật Hình sự quy định (từ đủ 14 tuổi trở lên) Tội danh này được quy định trong Điều 123 Bộ luật hình sự 2015
1.2 Phân loại hành vi giết người
1.2.1 Căn cứ phân loại
Có nhiều căn cứ để có thể phân loại hành vi giết người, tuy nhiên có thể dựa vào những căn cứ sau đây để phân loại:
• Căn cứ vào khách thể của hành vi giết người
• Căn cứ vào đối tượng tác động của hành vi giết người
• Căn cứ vào chủ thể của hành vi giết người
• Căn cứ vào mức độ nguy hại của hành vi giết người
• Căn cứ vào mục đích, động cơ của hành vi giết người
1.2.2 Các loại hành vi giết người
1.2.2.1 Căn cứ vào khách thể của hành vi giết người
Dựa vào căn cứ này có thể phân loại các loại tội phạm được cấu thành từ hành vi giết người thành hai nhóm:
+ Hành vi giết người xâm hại nhiều quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ + Hành vi giết người xâm hại một khách thể trực tiếp
Trang 81.2.2.2 Căn cứ vào đối tượng tác động của hành vi giết người
Dựa vào căn cứ này có thể phân loại các loại tội phạm được cấu thành từ hành vi giết người thành hai nhóm:
+ Nhóm các đối tượng tác động của hành vi giết người là những đối tượng không
có dấu hiệu đặc biệt
+ Nhóm các đối tượng tác động của hành vi giết người là đối tượng đặc biệt
1.2.2.3 Căn cứ vào chủ thể thực hiện hành vi giết người
Dựa vào căn cứ này có thể phân loại các loại tội phạm được cấu thành từ hành vi giết người thành hai nhóm chủ thể thường và chủ thể đặc biệt:
+ Chủ thể thường: Người thực hiện hành vi giết người là công dân Việt Nam, công dân nước ngoài hay người không có quốc tịch, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt
độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
+ Chủ thể đặc biệt: Người thực hiện hành vi giết người ngoài những đặc điểm của chủ thể thường thì dấu hiệu đặc biệt là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm
1.2.2.4 Căn cứ vào mức độ nguy hiểm của hành vi giết người
Dựa vào căn cứ này có thể phân loại các loại tội phạm được cấu thành từ hành vi giết người thành:
+ Hành vi giết người cấu thành tội phạm ít nghiêm trọng (tội giết con mới đẻ - Điều
1.2.2.5 Căn cứ vào mục đích, động cơ của hành vi giết người
Mục đích và động cơ phạm tội bao gồm hành vi giết người chỉ với mục đích tước
bỏ quyền được sống của con người trái pháp luật và hành vi giết người thực hiện nhằm mục đích khác ngoài mục đích tước bỏ quyền được sống của con người
Trang 9Cũng dựa vào tiêu chí này, có thể chia thành: Nhóm tội phạm có mục đích, động
cơ thực hiện hành vi giết người là bắt buộc và nhóm tội phạm mà dấu hiệu mục đích, động cơ thực hiện hành vi giết người không phải là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm
1.3 Trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm có hành vi giết người
Hình phạt cao nhất đối với tội phạm liên quan đến hành vi giết người là tử hình
và thấp nhất là cảnh cáo
Theo đó, tại điều 12 của Bộ luật Hình sự quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình
sự như sau:
1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Quy định tại khoản 3 Điều 8 với quy định tại Điều 93 của Bộ luật Hình sự cho thấy loại tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 93 là tội đặc biệt nghiêm trọng, loại tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 93 là tội rất nghiêm trọng; lỗi của người thực hiện tội phạm giết người là lỗi cố ý Do vậy, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi, thực hiện hành vi giết người thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong mọi trường hợp
CHƯƠNG 2: TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1 Tội giết người tại khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015, chỉnh sửa bổ sung năm
2017
Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
Trang 10g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn
2.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội giết người
2.2.1 Dấu hiệu khách quan
2.2.1.1 Dấu hiệu hành vi khách quan
Dấu hiệu khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác Hành vi đó có khả năng gây ra cái chết cho nạn nhân, dẫn đến chấm dứt sự sống của họ
Điều kiện cần là hành vi có sự kiểm soát và điều khiển của ý thức Điều kiện đủ
là hành vi có kết quả làm chết người được thực hiện bằng hành động hoặc không Cụ thể:
+ Hành vi là hành động: Trực tiếp dùng hành động tác động đến nạn nhân, làm nạn nhân mất mạng (đâm, chém, bóp cổ, đầu độc, đốt nhà, đánh, …)
Ví dụ: Để trả thù người có thai đến thời kỳ sinh nở, không thể sinh bình thường mà phải
mổ, bác sĩ phụ sản trực tiếp xử lý ca mổ đã cố ý trì hoãn không cho mổ với mục đích giết hại người đó và dẫn đến người đó chết
+ Hành vi không là hành động: Thấy rõ nạn nhân có nguy cơ tử vong, bản thân lại
có thể cứu sống họ nhưng không làm
Ví dụ: Bác sĩ cố tình không cho người bệnh uống thuốc
Tội giết người sẽ cấu thành nếu hành vi giết người là nguyên nhân trực tiếp khiến nạn nhân tử vong hoặc là hành vi trái pháp luật (có một số hành vi giết người không được xem là trái pháp luật như: thi án tử hình, phòng vệ chính đáng, …)
Trang 11Đối tượng tác động của hành vi tước đoạt tính mạng là người khác và người đó phải đang trong tình trạng còn sống
2.2.1.2 Dấu hiệu hậu quả của tội phạm:
Hậu quả: Làm chấm dứt sự sống của người khác, tuy nhiên có thể hậu quả chết người không xảy ra nhưng người phạm tội có hành vi tước đoạt tính mạng của người khác và đã thực hiện mục đích đó thì cũng coi là cấu thành tội giết người Nếu dùng vũ lực mà không gây hậu quả trực tiếp mà nạn nhân chết đồng thời không có mục đích giết người thì không thể coi là tội giết người
Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc khi tội giết người được coi là hoàn thành Nếu hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan thì hành vi phạm tội
bị coi là tội giết người chưa đạt (khi lỗi của chủ thể là lỗi cố ý trực tiếp) hoặc là tội cố ý gây thương tích (khi lỗi của chủ thể là lỗi cố ý gián tiếp và hậu quả thương tích xảy ra
đủ cấu thành tội phạm này)
2.2.1.3 Dấu hiệu quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu qủa chết người
Người có hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả chết người nếu hành vi họ đã thực hiện là nguyên nhân của hậu quả chết người đã xảy ra đó Như vậy, việc xác định mối quan hệ nhân quả là điều kiện cần thiết để có thể buộc người có hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác phải chịu trách nhiệm về hậu quả chết người đã xảy ra
Đối với Tội Giết người, hành vi khách quan là nguyên nhân gây ra hậu quả chết người và thỏa mãn các điều kiện sau:
1) Hành vi xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian;
2) Hành vi độc lập hoặc trong mối liên hệ tổng hợp với một hay nhiều hiện tượng khác phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả chết người khác
3) Hậu quả chết người khác đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi khách quan
Ngoài các khía cạnh trên cũng cần xem xét đến công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội
Trang 122.2.2 Dấu hiệu chủ quan của tội giết người
2.2.2.1 Dấu hiệu lỗi của chủ thể
Mặt chủ quan của tội giết người là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp làm nạn nhân chết Điều 10 Bộ luật hình sự 2015 có quy định:
+ Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội thấy rõ hành vi của mình có thể gây nguy hiểm cho xã hội, thấy được hậu quả chết người nhưng vẫn thực hiện và mong muốn cho hậu quả xảy ra
+ Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội thấy rõ hành vi của mình có thể gây nguy hiểm cho xã hội, thấy được hậu quả chết người nhưng vẫn để hậu quả xảy ra mặc dù không mong muốn nó sẽ xảy ra
Lưu ý: chỉ có thể có lỗi cố ý gián tiếp nếu người phạm tội thấy trước được hậu quả chết
người có thể xảy ra Nếu đã thấy trước hậu quả chết người tất nhiên xảy ra thì chỉ có thể
là lỗi cố ý trực tiếp
Trong trường hợp hậu quả chết người đã xảy ra, thì việc xác định lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp không có ý nghĩa trong việc định tội nhưng việc xác định này sẽ có ý nghĩa quan trọng nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra Cụ thể:
+ Hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt
+ Hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý gián tiếp thì người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích Nếu thương tích xảy ra thỏa mãn đòi hỏi của cấu thành tội phạm tội này
2.2.2.2 Dấu hiệu mục đích, động cơ phạm tội
Trong mặt chủ quan của Tội giết người động cơ và mục đích phạm tội, tuy nhiên trong một số trường hợp việc xác định đúng động cơ, mục đích phạm tội sẽ giúp định đúng tội danh, xác định đúng khung hình phạt và phân biệt được Tội giết người với một
số tội phạm khác
Mục đích, động cơ phạm tội không được mô tả trong cấu thành tội phạm (cơ bản) của tội giết người Trong thực tế, hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác có thể được thực hiện với các mục đích, động cơ khác nhau (như giết