1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

các vấn đề về chuyển giá

91 468 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển giá tại các công ty đa quốc gia
Tác giả Nguyễn Hồng Anh, Trần Long Châu, Phạm Thị Ngọc Hà, Trần Hồng Hạnh, Trương Thúy Hằng, Trần Thị Thiên Hương, Bùi Thị Bích Loan, La Mỹ Phụng, Bùi Thị Bích Phương, Nguyễn Thị Thanh Thảo, Phạm Thị Ngọc Trang, Hồ Bích Trâm, Ngô Thị Vân Tuyền, Phạm Thị Kim Xinh
Người hướng dẫn Lê Thị Hồng Minh
Trường học Trường đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính quốc tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các vấn đề về chuyển giá

Trang 1

KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

BỘ MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

- 

-GVHD: Lê Thị Hồng Minh Nhóm thực hiện – TCDN2 - K33:

13.Ngô Thị Vân Tuyền 14.Phạm Thị Kim Xinh

TP Hồ Chí Minh, 9/2010

Đề tài

Trang 2

MỤC LỤC

I/ Nhận thức về chuyển giá dưới gốc độ nhà đầu tư và chính phủ 2

1 Nhà đầu tư (MNCs) 2

2 Chính phủ 4

2.1 Quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư 4

2.2 Quốc gia xuất khẩu đầu tư 6

II/ Nguyên tắc giá thị trường (ALP) 7

III/ Một số vấn đề về chuyển giá tài chính 17

1 Dự báo lãi suất cho khoản vay giữa các công ty liên kết 17

2 Hướng dẫn định giá chuyển giao cho các khoản vay giữa các bên liên kết 20

3 Lãi suất trên khoản vay trả chậm (Interest on certain deferred payments) 21

4 Định giá bảo lãnh (Pricing Guarantees) 21

IV/ Xu hướng chuyển giá tại các lĩnh vực và các nước 22

1 Xu hướng chuyển giá thông qua một nghiên 22

2 Chuyển giá trong ngành dược 24

3 Case study – Chuyển giá ở một số công ty 28

3.1 Công ty Alpha 28

3.2 Công ty Delta 36

3.3 Công ty Bravo 47

V/ Chuyển giá ở Việt Nam 62

1 Một số trường hợp chuyển giá 62

2 Khảo sát việc tuân thủ các quy định về định giá chuyển nhượng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 66

2 Phương thức trốn thuế qua chuyển giá -Việt Nam nhận diện và xử lý vấn đề này 85

I/ Nhận thức chuyển giá dưới góc độ nhà đầu tư và chính phủ

1 Nhà đầu tư (MNCs)

Trang 3

Hoạt động chuyển giá mang đến thuận lợi cho MNC trong thực hiện kế hoạch và mục tiêu kinh doanh tuy nhiên chuyển giá cũng chứa đựng những nguy cơ khi MNC phải gánh chịu những hình phạt nặng nề của quốc gia sở tại và các quốc gia có liên quan.

Thuận lợi:

 Dựa vào các lợi thế về tiềm lực tài chính, những ưu đãi mà các quốc gia đặt cách cho các MNC khi kêu gọi thu hút đầu tư như thuế suất, hạn ngạch, lĩnh vực đầu tư… thì các MNC có thể thực hiện việc chuyển giá nhằm giảm thiểu việc thực hiện nghĩa vụ về thuế đối với quốc gia mà mình đặt trụ sở

 Đối với các quốc gia có chính sách tiền tệ thắt chặt thì thực hiện việc chuyển giá sẽ giúp cho MNC dễ dàng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và thực hiện những kế hoạch kinh doanh một cách nhanh chóng, không bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh

 Khi tiến vào một thị trường mới, MNC thông qua hoạt động chuyển giá và dựa vào nguồn lực tài chính dồi dào để nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, đánh bật và thâu tóm các công ty nhỏ lẻ trong nước Các chi phí phát sinh trong quá trình này sẽ được chia sẻ cho các công ty con khác và cả công ty mẹ Vì vậy đứng trên phương diện tài chính thì MNC sẽ không bị áp lực nhiều về tình trạng thua lỗ

 Các MNC sẽ xây dựng một kế hoạch về thuế trên qui mô tổng thể sao cho có lợi nhất và từ đó dựa vào sự chênh lệch về mức lãi suất giữa các quốc gia để thực hiện việc mua bán nội bộ, chuyển giá nếu cần thiết nhằm đạt mục tiêu về thuế

 Thông qua việc bán các tài sản, thiết bị lỗi thời với giá cao thì một mặt giúp các công ty tại chính quốc thay đổi được công nghệ với chi phí thấp, một mặt lại thu hồi vốn đầu tư nhanh tại các quốc gia tiếp nhận đầu tư

 Thông qua việc mua bán qua lại thì các MNC có thể tránh được các rủi ro trong hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm vì các hoạt động này thường tốn nhiều chi phí và khả năng thành công cũng không cao MNC sẽ giảm được một số các rủi ro về tỷ giá, rủi ro về thị trường tiêu thụ sản phẩm, rủi ro về tính ổn định của nhà cung cấp nguyên vật liệu và chất lượng nguyên vật liệu và một số rủi ro khác

Chuyển giá không chỉ giúp công ty về vấn đề thuế mà còn:

1 Điều phối nhu cầu lương nhân viên bằng cách giảm lợi nhuận công bố

Trang 4

2 Giảm khoản chia lợi nhuận cho các cổ đông thiểu số giảm lợi nhuận cho các cổ đông thiểu số

3 Chống lại việc kiểm soát giá của chính phủ bằng cách tăng chi phí

4 Tránh chi phí chống chuyển giá bằng cách giảm chi phí cơ bản

5 Giảm tác động của hải quan khi nhập khẩu

Những động lực để công ty chuyển giá trên và dưới giá

Trang 5

2.1 Quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư

Về lâu dài, tình trạng chuyển giá có thể gây hậu quả nghiêm trọng đối với nền sản xuất trong nước cũng như vị thế quốc gia trên thị trường thế giới

 Thông qua hoạt động chuyển giá, các MNC định giá cao các yếu

tố đầu vào từ đó các MNC này rút ngắn thời gian thu hồi vốn, vì vậy mà các luồng vốn

có xu hướng chảy ngược ra khỏi quốc gia tiếp nhận đầu tư Các hành động chuyển giá nhằm thu hồi vốn nhanh hơn so với kế hoạch đầu tư ban đầu sẽ làm cho thay đổi cơ cấu

Trang 6

vốn của nền kinh tế quốc gia tiếp nhận đầu tư Hậu quả là tạo ra sự phản ánh sai lệch kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, tạo ra một bức tranh kinh tế không trung thực

Trong một số trường hợp, quốc gia tiếp nhận đầu tư có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn nên trở thành người được hưởng lợi từ hoạt động chuyển giá của các MNC Vì vậy mà các quốc gia này cố ý làm lơ để các MNC tha hồ thực hiện hành vi chuyển giá và các quốc gia này không sẵn lòng hợp tác với chính quốc để ngăn chặn hành vi chuyển giá Về lâu dài, khi mà có sự chuyển biến của môi trường kinh doanh quốc tế thì các quốc gia này từng được xem là “thiên đường về thuế” sẽ đến lượt gánh chịu những hậu quả do việc thả lỏng và thờ ơ trong công tác quản lý trước đây gây ra Lúc này các quốc gia này sẽ phải đương đầu với khó khăn về tài chính do các nguồn thu không bền vững đã phản ánh không chính xác sức mạnh của nền kinh tế và khủng hoảng kinh tế sẽ xảy ra

 Thông qua hoạt động chuyển giá nhằm xâm chiếm thị phần khi mới tham gia vào thị trường, các MNC sẽ tiến hành các chiêu thức quảng cáo và khuyến mãi quá mức, và hậu quả là lũng đoạn thị trường Các doanh nghiệp trong nước không

đủ tiềm lực tài chính để cạnh tranh vì vậy mà dần dần sẽ bị phá sản hoặc buộc phải chuyển sang kinh doanh trong các ngành khác Các MNC sẽ dần trở nên độc quyền và thao túng thị trường trong nước, kiểm soát giá cả và mất dần tính tự do cạnh tranh của thị trường tự do Chính phủ của quốc gia này sẽ gặp khó khăn trong quá trình hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô và không thể thúc đẩy ngành sản xuất trong nước phát triển

 Thông qua hoạt động chuyển giá, các MNC sẽ thực hiện kế hoạch thôn tính các doanh nghiệp trong nước Với tiềm lực tài chính mạnh, các MNC sẽ tiến hành liên doanh với các doanh nghiệp trong nước với tỷ lệ vốn góp cao để nắm quyền quản lý Khi đã nắm được quyền quản lý các MNC sẽ thực hiện hành vi chuyển giá nhằm làm cho kết quả kinh doanh thua lỗ kéo dài Khi kết quả hoạt động kinh doanh bị thua lỗ thì bắt buộc phải tăng vốn góp lên, nếu các đối tác trong nước không đủ tiềm lực tài chính sẽ phải bán lại phần vốn góp của mình và như vậy là từ công ty liên doanh

Trang 7

chuyển thành công ty 100% vốn nước ngoài Kế hoạch thôn tính doanh nghiệp trong nước đã thành công.

 Chuyển giá sẽ tạo ra bất công trong cạnh tranh giữa MNC với doanh nghiệp nội địa Chẳng hạn, một MNC sử dụng công cụ chuyển giá để tối ưu hóa lợi nhuận về công ty mẹ ở nước ngoài trong khi đó báo cáo thua lỗ tại quốc gia đang kinh doanh để khỏi đóng thuế và nhiều trường hợp được hoàn thuế, như vậy MNC sẽ có nhiều nguồn lực về tài chính hơn để đầu tư vào các hoạt động tiếp thị, quảng bá Trong khi đó, doanh nghiệp nội địa phải thực hiện nghĩa vụ thuế nghiêm túc hơn nên ít nhiều

sẽ thua thiệt với các MNC

 Các hoạt động chuyển giá sẽ làm phá sản kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân của các quốc gia tiếp nhận đầu tư Nếu không bị ngăn chặn kịp thời thì

về lâu dài các quốc gia tiếp nhận đầu tư sẽ phải phụ thuộc về mặt kinh tế và tiếp theo sau

đó là sự chi phối về mặt chính trị Hoạt động chuyển giá sẽ gây ra tình trạng mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế của quốc giá đó

2.2 Quốc gia xuất khẩu đầu tư

 Xem xét toàn bộ quá trình thực hiện hành vi chuyển giá thì chúng ta có thể nhận

ra là các MNC là người được hưởng lợi nhiều nhất vì tối thiểu được khoản thuế phải nộp Quốc gia nào có thuế suất thấp hơn sẽ được hưởng lợi, trong ví dụ trên chính quốc

là quốc gia bị thiệt thòi nhất và chính quốc cũng chính là quốc gia xuất khẩu đầu tư Chuyển giá làm thất thu thuế của quốc gia xuất khẩu đầu tư nếu thuế suất ở quốc gia này cao hơn thuế suất của quốc gia tiếp nhận đầu tư, làm mất cân đối trong kế hoạch thuế của quốc gia này Trong một số trường hợp nghiệm trọng hơn thì các quốc gia này còn

bị các MNC “móc túi” tiền thuế thu được từ các công ty làm ăn lương thiện khác đã nộp

 Hoạt động chuyển giá sẽ làm cho dòng vốn đầu tư dịch chuyển không theo ý muốn quản lý của chính phủ của quốc gia xuất khẩu đầu tư, vì vậy mục tiêu quản lý kinh

tế vĩ mô sẽ gặp nhiều khó khăn

Tuy hành vi chuyển giá của MNC mang lại những tác động không tốt cả cho nước tiếp nhận đầu tư và nước xuất khẩu đầu tư nhưng có một số quốc gia vì lợi ích riêng của mình và tạo điều kiện thuận lợi cho các MNC thực hiện hành vi chuyển giá nhằm chuyển lợi nhuận của MNC tại các quốc gia khác về Các quốc gia này xây dựng các mức thuế suất thật thấp, thậm

Trang 8

chí bằng không và tạo thành các “thiên đường về thuế” để các MNC thực hiện việc chuyển giá thông qua việc thành lập chi nhánh tại những quốc gia này và mang những tài sản có giá trị như

bí quyết công nghệ, bằng phát minh sáng chế, nghiên cứu phát minh sản phẩm mới, chi phí quảng cáo và khai lợi nhuận phát sinh tại đây là cao nhất Các quốc gia này với các mục tiêu khác nhau như kêu gọi đầu tư, tạo công ăn việc làm cho dân cư trong nước… Các quốc gia với việc thực hiện những chính sách này đã thu hút được các MNC đóng trụ sở chính tại các quốc gia này và chuyển tài sản, lợi nhuận, các luồng vốn từ chính quốc về đã gây khó khăn trong công tác quản lý các nguồn vốn, quản lý vĩ mô về kinh tế tại chính quốc

II/ Nguyên tắc giá trị thị trường

Nguyên tắc giá thị trường (ALP) là nguyên tắc xác định giá chuyển nhượng giữa các bên liên kết tuân thủ theo điều kiện khách quan của thị trường cạnh tranh, như thể các giao dịch này được thực hiện giữa các đơn vị độc lập

Về nguyên tắc chung, hai công ty có quan hệ liên kết với nhau khi một công ty có thể kiểm soát hay có ảnh hưởng trọng yếu lên những quyết định kinh doanh, và việc điều hành hoạt động của công ty kia hoặc cả hai công ty đều dưới quyền kiểm soát của một công ty khác Thông thường, hai công ty được coi là có quan hệ liên kết với nhau khi công ty này nắm giữ trực tiếp hay gián tiếp tối thiểu 20% quyền biểu quyết của công

ty kia

Trong một số trường hợp, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc định giá chuyển nhượng do không thống nhất được với cơ quan thuế về giá chuyển nhượng phù hợp Vì vậy, cơ quan thuế và doanh nghiệp sẽ thỏa thuận với nhau nhằm giải quyết những bất đồng nêu trên Sự thỏa thuận đó tạm dịch là “thỏa thuận xác định giá trước” (“Advance Pricing Arrangements”) Theo định nghĩa của OECD về Hướng dẫn định giá chuyển nhượng, thỏa thuận xác định giá trước là một thỏa thuận giữa bên nộp thuế, gồm một hay một số doanh nghiệp liên kết, với một hay một số cơ quan thuế nhằm xác định trước một loạt những tiêu chuẩn như phương pháp định giá, các giả định kinh tế, các dự báo của các giao dịch về định giá chuyển nhượng trong một khoảng thời gian cố định

Trang 9

Khi xác định giá chuyển giao theo ALP, phải xem xét 5 nhân tố so sánh được:

Đặc điểm tài sản và dịch vụ (Characteristics of properties or services)

Sự khác nhau trong đặc điểm của tài sản và dịch vụ có thể dẫn đến những sai biệt trong giá trị thị trường Vì vậy, so sánh những đặc điểm này sẽ hữu ích trong việc quyết định tính so sánh được giữa những giao dịch kiểm soát được và những giao dịch không kiểm soát được Những đặc điểm cần quan tâm là tính sẵn có và số lượng cung cấp, hình thức giao dịch, loại hình tài sản và những đặc điểm kỹ thuật, lợi ích khi sử dụng sản phẩm

Phân tích chức năng (Funtional analysis)

Phân tích chức năng sẽ thể hiện chức năng của các bên tham gia vào giao dịch, tài sản nào được trao đổi và rủi ro có thể có Nó nhận diện và so sánh những hoạt động kinh

tế và trách nhiệm của các công ty độc lập và các công ty liên kết

Các điều khoản hợp đồng (Contractual term)

Các điều khoản hợp đồng xác định trách nhiệm, rủi ro và những lợi ích rõ ràng và tiềm ẩn giữa các bên tham gia giao dịch

Môi trường kinh tế (Economic circumstances)

Việc xác định giá trị thị trường có thể rất khác nhau giữa các thị trường Ngay cả khi các giao dịch là có thể so sánh được, liên quan đến cùng loại tài sản hoặc dịch vụ, vẫn có thể xảy ra những tình huống mà những điều kiện của thị trường có thể ảnh hưởng đến giá cả Những nhân tố cần xem xét khi quyết định tính so sánh được giữa các thị trường là: Vị trí địa lý, quy mô thị trường, sự cạnh tranh, tính sẵn có, sức mua, cung cầu

Chiến lược kinh doanh (Business strategy)

Nhân tố cuối cùng là chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh xem xét đến quan điểm của công ty như sự đổi mới, phát triển sản phẩm, sự ngại rủi ro, mức độ đa dạng hóa Ví dụ một công ty đang muốn mở rộng thị phần có thể có xu hướng định giá chuyển giao thấp

Những phương pháp xác định giá chuyển giao:

1 Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập

Trang 10

Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập dựa vào đơn giá sản phẩm trong giao dịch độc lập để xác định đơn giá sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao dịch này

có điều kiện giao dịch tương đương nhau

Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập được áp dụng với điều kiện:

a) Không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giao dịch độc lập và giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến giá sản phẩm; hoặc

b) Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến giá sản phẩm nhưng các khác biệt này đã được loại trừ

Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập thường được áp dụng cho các trường hợp:a) Các giao dịch riêng lẻ về từng chủng loại hàng hóa lưu thông trên thị trường;

b) Các giao dịch riêng lẻ về từng loại hình dịch vụ, bản quyền, khế ước vay nợ;

c) Cơ sở kinh doanh thực hiện cả giao dịch độc lập và giao dịch liên kết về cùng một chủng loại sản phẩm

2 Phương pháp giá bán lại

Phương pháp xác định giá bán lại dựa vào giá bán lại (hay giá bán ra) của sản phẩm do cơ sở kinh doanh bán cho bên độc lập để xác định giá (chi phí) mua vào của sản phẩm đó từ bên liên kết

Giá mua vào của sản phẩm từ bên liên kết được xác định trên cơ sở giá của sản phẩm được bán ra trong các giao dịch độc lập trừ (-) lợi nhuận gộp trừ (-) các chi phí khác được tính trong giá sản phẩm mua vào (nếu có) (ví dụ: thuế nhập khẩu, phí hải quan, chi phí bảo hiểm, vận chuyển quốc tế)

Phương pháp giá bán lại được áp dụng với điều kiện:

Trang 11

a) Không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giao dịch độc lập và giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần); hoặc

b) Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) nhưng các khác biệt này đã được loại trừ

Phương pháp giá bán lại thường được áp dụng cho các trường hợp giao dịch đối với các sản phẩm thuộc khâu cung cấp dịch vụ đơn giản và thương mại phân phối có thời gian quay vòng từ khi mua vào đến khi bán ra ngắn, ít chịu biến động về tính thời vụ Đồng thời, sản phẩm trước khi được bán ra không qua khâu gia công, chế biến, lắp ráp, thay đổi tính chất sản phẩm hoặc gắn với nhãn hiệu thương mại để làm gia tăng đáng kể giá trị sản phẩm

Những hoạt động, cam kết của người bán có thể ảnh hưởng rất lớn đến chi phí bán hàng

và chi phí hoạt động Trong khi một số người bán chỉ thực hiện những dịch vụ rất giới hạn, những người bán khác phải gánh chịu hầu hết rủi ro và trách nhiệm Những nhân tố khác ảnh hưởng đến lợi nhuận là sự thay đổi của thị trường, tỷ giá hối đoái và chi phí

3 Phương pháp giá vốn cộng lãi

Phương pháp giá vốn cộng lãi dựa vào giá vốn (hoặc giá thành) của sản phẩm để xác định giá bán ra của sản phẩm đó cho bên liên kết

Giá bán ra của sản phẩm cho bên liên kết được xác định trên cơ sở lấy giá vốn (hoặc giá thành) của sản phẩm cộng (+) lợi nhuận gộp

Phương pháp giá vốn cộng lãi thường được áp dụng cho các trường hợp:

a) Giao dịch thuộc khâu sản xuất, lắp ráp, chế tạo, chế biến sản phẩm để bán cho các bên liên kết;

Trang 12

b) Giao dịch giữa các bên liên kết thực hiện hợp đồng liên danh, hợp đồng hợp tác kinh doanh để sản xuất, lắp ráp, chế tạo, chế biến sản phẩm, hoặc thực hiện các thỏa thuận về cung cấp các yếu tố sản xuất đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra;

c) Giao dịch về cung cấp dịch vụ cho các bên liên kết

So với 2 phương pháp trước, phương pháp giá vốn cộng lãi có một số khó khăn khi xác định chi phí Trong một số trường hợp không thể xác định mối liên hệ giữa chi phí và giá thị trường Thị trường thường trả giá cao cho những sản phẩm có kiểu dáng hay thương hiệu riêng Trong nhiều trường hợp công ty có thể tạo ra những sản phẩm rất có giá trị chỉ với chi phí rất thấp hoặc ngược lại, mặt khác, do áp lực từ phía đối thủ cạnh tranh, các công ty có xu hướng hạ thấp giá bán Và cũng giống như phương pháp giá bán lại, một số thay đổi có thể ảnh hưởng đến chi phí của bên cung ứng

4 Phương pháp so sánh lợi nhuận

Phương pháp so sánh lợi nhuận dựa vào tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong các giao dịch độc lập được chọn để so sánh làm cơ sở xác định tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao dịch này có điều kiện giao dịch tương đương nhau

Các tỷ suất sinh lời thường được sử dụng bao gồm

• Tỷ suất thu nhập thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất, kinh doanh

• Tỷ suất thu nhập thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp trên tổng chi phí từ hoạt động sản xuất, kinh doanh

• Tỷ suất thu nhập thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp trên tài sản của hoạt động sản xuất kinh doanh Tỷ suất này được sử dụng trong trường hợp cơ sở kinh doanh có tài sản cố định chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư (ví dụ: các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp sản xuất, ngành khai thác mỏ)

Trang 13

Giá trị tài sản là giá trị trung bình của số dư đầu kỳ cộng (+) cuối kỳ, bao gồm tài sản cố định và lưu động, không bao gồm các tài sản được sử dụng cho hoạt động đầu tư, góp vốn liên doanh liên kết khác (ví dụ: mua công trái, mua cổ phần).

5 Phương pháp tách lợi nhuận

Phương pháp tách lợi nhuận dựa vào lợi nhuận thu được từ một giao dịch liên kết tổng hợp do nhiều cơ sở kinh doanh (hoặc bên) liên kết thực hiện để xác định lợi nhuận thích hợp cho từng cơ sở kinh doanh (hoặc bên) liên kết đó theo cách các bên độc lập thực hiện phân chia lợi nhuận trong các giao dịch độc lập tương đương

Giao dịch liên kết tổng hợp do nhiều cơ sở kinh doanh (hoặc bên) liên kết tham gia là giao dịch mang tính chất đặc thù, duy nhất bao gồm nhiều giao dịch liên kết có liên quan chặt chẽ với nhau về các sản phẩm độc quyền hoặc các giao dịch liên kết khép kín giữa các bên liên kết có liên quan

Phương pháp tách lợi nhuận có 2 cách tính:

 Cách tính thứ nhất : phân bổ lợi nhuận cho từng bên liên kết trên cơ sở đóng góp vốn (chi phí); theo đó lợi nhuận của mỗi cơ sở kinh doanh (hoặc bên) tham gia trong giao dịch được xác định trên cơ sở phân bổ tổng lợi nhuận thu được từ giao dịch liên kết tổng hợp theo tỷ lệ vốn (chi phí) sử dụng trong giao dịch liên kết của

cơ sở kinh doanh đó trong tổng vốn đầu tư để tạo ra sản phẩm cuối cùng

 Cách tính thứ hai: phân chia lợi nhuận theo 2 bước như sau:

• Bước thứ nhất: phân chia lợi nhuận cơ bản : mỗi cơ sở kinh doanh (hoặc bên) tham gia giao dịch liên kết được nhận phần lợi nhuận cơ bản tương ứng với các chức năng hoạt động của mình

• Bước thứ hai: phân chia lợi nhuận phụ trội : mỗi cơ sở kinh doanh (hoặc bên) tham gia giao dịch liên kết được nhận tiếp phần lợi nhuận phụ trội tương ứng với tỷ lệ đóng góp liên quan đến tổng lợi nhuận phụ trội (tức là tổng lợi nhuận thu được trừ (-) tổng lợi nhuận cơ bản đã phân chia ở bước thứ nhất) của giao dịch liên kết tổng hợp Phần lợi nhuận phụ trội này

Trang 14

phản ánh lợi nhuận của giao dịch liên kết tổng hợp mà cơ sở kinh doanh thu được ngoài phần lợi nhuận cơ bản nhờ các yếu tố đặc thù và duy nhất.

Phần lợi nhuận phụ trội của mỗi cơ sở kinh doanh được tính bằng tổng lợi nhuận phụ trội thu được từ giao dịch liên kết tổng hợp nhân với (x) tỷ lệ đóng góp các chi phí hoặc tài sản dưới đây của mỗi cơ sở kinh doanh:

a) chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm; hoặc

b) giá trị (sau khi đã trừ khấu hao) của tài sản vô hình hoặc quyền sở hữu trí tuệ được

sử dụng để sản xuất, kinh doanh sản phẩm

Các nhân tố tác động đến chuyển giá nội bộ:

Các quy định pháp lý:

Đây là nhân tố quan trọng nhất đối với các công ty đa quốc gia khi ra quyết định

về chuyển giá Các MNC sẽ điều chỉnh chiến lược của mình sao cho tối đa hóa lợi ích chung của toàn tập đoàn và tối thiểu hóa những thách thức từ cơ quan thuế Những MNC xem đây là nhân tố quan trọng khi định giá chuyển giao thường có xu hướng tuân theo nguyên tắc giá thị trường (ALP) và định giá chuyển giao dựa trên thị trường

Môi trường kinh tế bên ngoài

Đây là nhân tố quan trọng thứ 2 tác động đến chuyển giá Những khác biệt trong thuế suất và hàng rào thuế quan có thể xem như những ví dụ của môi trường kinh tế Các MNC sẽ định giá thấp hơn để chuyển lợi nhuận sang những quốc gia có thuế suất thuế TNDN thấp cũng như giảm thuế phải nộp nếu quốc gia có thuế nhập khẩu cao Ngược lại, MNC sẽ định giá cao trong các giao dịch mua để chuyển lợi nhuận ra khỏi 1 quốc gia để tránh rủi ro tỷ giá hoặc lạm phát cao

Môi trường nội bộ

Môi trường bên trong bao gồm những chiến lược và mục đích trong nội bộ công ty

Ví dụ nếu mục tiêu của MNC là gia tăng sức mạnh cạnh tranh của công ty con hoặc để chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, MNC có thể định giá chuyển giao thấp để hạ giá bán

Trang 15

lại những chiến lược như thế sẽ làm giảm xu hướng sử dụng chuyển giao dựa trên giá thị trường

Vấn đề chính trị và những mối quan tâm xã hội:

Những rủi ro chính trị có thể bao gồm sự thay đổi trong bộ máy nhà nước hoặc những xung đột chính trị khác như những vấn đề về kinh tế và những lo âu về chính trị, những quy định trì hoãn hoặc nghiêm cấm các giao dịch thanh toán qua biên giới Những mối quan tâm xã hội bao gồm nhân quyền, lao động trẻ em, xung đột tôn giáo…

Để giảm bớt những rủi ro về chính trị và những vấn đề xã hội, các công ty con có thể chuyển lợi nhuận ra khỏi quốc gia bằng cách định giá cao cho những giao dịch mua từ công ty mẹ

Vào 8/1/2009, the State Administration of Taxation ("SAT") ban hành Implementation Rules for Special Tax Luật hướng dẫn về định gía chuyển giao

Những loại giao dịch mà luật chi phối:

• Mua, bán, chuyển nhượng và sử dụng tài sản hữu hình

• Chuyển nhượng và sử dụng tài sản vô hình

• Các hoạt động tài chính : Nợ, bảo lãnh, và tất cả khoản trả chịu lãi suất và trả chậm (loans, guarantees, and all types of interest-bearing advance payments and deferred payments)

• Cung ứng dịch vụ

Các phương thức định giá chuyển giao (đã được đề cập đến trong ALP) Dưới đây là ký hiệu và áp dụng phương pháp cho từng trường hợp

• The Comparable Uncontrolled Price Method ("CUP")

• The Resale Price Method ("RPM")

• The Cost Plus Method ("CPLM")

• The Transactional Net Margin Method ("TNMM")

• The Profit Split Method ("PSM")

Trang 16

Phương pháp

Mua, bán, chuyển giao tài sản hữu hình

Sử dụng tài sản hữu hình

Chuyển giao hoặc sử dụng tài sản vô hình

PSM Được áp dụng khi có giao dịch hợp nhất lớn khó phân biệt đánh giá riêng

kết quả mỗi bên

* RPM được áp dụng khi người bán lại không có quá trình tăng thêm giá trị cho sản phẩm như thay đổi hình dạng, tăng thêm tính năng, thương hiệu

Thanh tra chuyển giá và điều chỉnh

• Doanh nghiệp có thị phần lớn và nhiều giao dịch có liên quan

• Doanh nghiệp báo cáo lỗ, lợi nhuận biên hoặc biến động lợi nhuận lớn trong 1 thời kỳ

• Doanh nghiệp mà lợi nhuận thấp hơn doanh nghiệp khác cùng ngành

• Doanh nghiệp mà lợi nhuận nó không tương xứng với chức năng và rủi ro của nó

• Doanh nghiệp giao dịch với các bên thành lập ở nơi ưu đãi thuế (tax havens)

• Doanh nghiệp chưa tuân thủ các báo cáo hiện hành

• Doanh nghiệp rõ ràng không tuân theo nguyên tắc giá thị trường

Lập 1 database theo dõi tình hình các công ty trong nhiều năm.

III/ Một số vấn đề về chuyển giá tài chính.

1 Dự báo lãi suất cho khoản vay giữa các công ty liên kết

Bài nghiên cứu của Oscar MONTERO C., 2009

Tóm lược

Bài nghiên cứu về cách định lãi suất cho khoản vay giữa các công ty có liên kết dựa trên ALP

Trang 17

Phân tích chuyển giá khoản vay giữa các công ty liên kết thường dùng

Comparable Uncontrolled Price Method (CUP method) CUP so sánh lãi suất khoản vay giữa các công ty liên kết với số liệu thống kê trên các giao dịch so sánh thị trường Interquartile Range (IQR) là chuỗi số liệu thông thường cho việc so sánh này Theo

CUP, Plunkett và Mimura cho rằng“Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là nguồn dữ liệu dồi dào cho việc nhận diện lãi suất và cung cấp dữ liệu đầy đủ cho việc so sánh”

(Plunkett & Mimura, 2005)

Plunkett and Powell đề nghị dùng dữ liệu lãi suất trái phiếu doanh nghiệp theo mức tín nhiệm

Phân tích định giá chuyển giao thông qua công cụ nợ doanh nghiệp Corporate Debt Instruments (CDIs) với điều kiện thị trường và rủi ro của khoản vay giữa các công

ty liên kết Những điều kiện thị trường liên quan đến tiền tệ, ngành, thời gian và kỳ hạn hợp đồng, rủi ro liên quan đến mức tín nhiệm Để có kế hoạch về lãi suất tương lai cho

khoản vay giữa các công ty liên kết cần quan tâm công cụ nợ dài hạn của công ty, trái

phiếu công ty, công cụ nợ trung hạn, thương phiếu ngắn hạn

Phương pháp thực hành (A Practical Approach)

Công thức đề nghị (Proposed formula)

Plunkett và Mimura cho rằng “người nộp thuế có thể dùng dữ liệu trái phiếu doanh nghiệp để định giá cho các khoản vay và bảo lãnh”

Ví dụ minh họa (Practical example)

Có 2 CDIs được chọn; trái phiếu 3 năm phát hành bởi 3M Company và trái phiếu

5 năm phát hành bởi Deutsche Telekom Int Fin Khoản vay giữa các công ty liên kết có cùng điều kiện và rủi ro thị trường với 3M Company - trái phiếu 3 năm 3M Company là một công ty dựa vào khoa học tạo nhiều sản phẩm công nghệ mới cho thị trường Khoản vay giữa các công ty liên kết có cùng điều kiện và rủi ro thị trường với Deutsche

Trang 18

Telekom IF - trái phiếu 5 năm Deutsche Telekom IF là một công ty con của Deutsche Telekom AG, công ty dịch vụ viễn thông.

Bảng sau thể hiện chi tiết điều kiện thị trường và rủi ro của các CDI được chọn :

Hình 1

Hình 2

Hình 3

Trang 19

2 Hướng dẫn định giá chuyển giao cho các khoản vay giữa các bên liên kết (Singapore)

Áp dụng nguyên tắc thị trường (Application of the Arm’s Length Principle) cho các khoản nợ giữa các bên liên quan

Lãi suất theo ALP tính giữa các bên độc lập trong cùng một môi trường Hiện tại, các tổ chức chưa buộc phải làm các khoản nợ tuân thủ theo ALP Thay vào đó, IRAS

Trang 20

(Inland Revenue Authority of Singapore) sẽ hạn chế tổng chi phí lãi suất bên cho vay đề xuất.

Hướng dẫn xác định lãi suất theo ALP (Guidance on the Determination of the Arm’s Length Interest)

Người nộp thuế sẽ dựa vào khung và phương pháp 3 bước để phân tích và xác định lãi suất theo ALP

Khi phân tích so sánh, tất cả các yếu tố và môi trường liên quan đến nợ được xem xét Gồm:

(i) Bản chất và mục đích của khoản vay;

(ii) Điều kiện thị trường tại thời điểm khoản nợ được cấp;

(iii) Tổng số, kỳ hạn và các điều khoản nợ

(iv) Loại tiền tệ định danh;

(v) Rủi ro ngoại hối giữa người cho vay và đi vay;

(vi) Chứng khoán cung cấp bởi người vay;

(vii) Khoản bảo đảm của nợ;

(viii) Mức tín nhiệm của người vay;

(ix) Lãi suất mà người cho vay hoặc vay với các bên không liên quan

CUP là phương thức được ưu tiên xác định lãi suất trong ALP

Hướng dẫn thực hành, IRAS đề nghị người nộp thuế nên dựa vào lãi suất thích hợp như SIBOR

3 Lãi suất trên khoản vay trả chậm (Interest on certain deferred payments)

Vay trả chậm nghĩa là khoản trả bao gồm tất cả hoặc một phần của giá bán và đã quá hạn 6 tháng từ ngày bán Như vậy các công ty có thể dựa vào việc cho công ty liên kết trả chậm để chuyển giá Như vậy cần định mức lãi suất phù hợp với thị trường như giao dịch độc lập để đảm bảo chuyển giá theo ALP

4 Định giá bảo lãnh (Pricing Guarantees)

Bảo lãnh khoản vay (a loan guarantee) làm cho người đi vay có mức tín nhiệm cao hơn để vay với mức lãi suất thấp hơn

Phương pháp kinh tế để định giá vay bảo lãnh (Economic Approach to Pricing

a Loan Guarantee)

Trang 21

Bước đầu tiên là xác định giới hạn trên mà một ai đó phải trả khi dùng phương pháp khác để vay so với vay thông thường Tỷ lệ đòn bẩy tài chính như nợ/vốn cổ phần,

có thể giúp ước lượng mức tín nhiệm Đường cong lãi suất và dữ liệu khác giúp ta ước lượng lãi suất cho vay không có bảo lãnh Sự khác nhau giữa lãi suất có bảo lãnh và lãi suất công ty vay không bảo lãnh thiết lập giới hạn trên của phí bảo lãnh

Một phương pháp để tính giới hạn thấp hơn của phí bảo lãnh là công ty mẹ có thể thay đổi mức tín nhiệm của công ty con bằng cách thêm vốn cổ phần Ta có thể dùng mô hình định giá tín nhiệm để xác định bao nhiêu vốn cổ phần để làm tương tự tác động của bảo lãnh Nói chung người bảo lãnh tính giá phải đủ cover khoản thua lỗ kỳ vọng cộng với lợi nhuận Bằng việc dùng chênh lệch giữa lãi suất và phương pháp chi phí vốn cổ phần, ta sẽ có một cách để ước lượng một khoảng giá thị trường

Với bảo lãnh khoản vay, điểm bắt đầu của định giá là tính khoản lỗ kỳ vọng của việc bảo lãnh cộng với lợi nhuận

Ví dụ, trong 10 năm tới, công ty mẹ bắt buộc là thay đổi các thiết bị điện tử được sản xuất bởi một chi nhánh Để xác định giá bảo lãnh, đầu tiên chúng ta sẽ dùng lịch sử sản xuất quá khứ để ước lượng xác suất thua lỗ

Guarantee fee = (1 + R) * (probability of operational failure) * (net present cost

of failure)

Tức là:

Phí bảo lãnh=(1+R)*(xác suất thất bại hoạt động)*( hiện giá của chi phí thua lỗ)Định giá thị trường giữa các khoản nợ công ty liên quan đến ước lượng rủi ro tín dụng của người vay

IV/ Xu hướng chuyển giá tại các lĩnh vực và các nước

1 Xu hướng chuyển giá thông qua một nghiên cứu

Current Trends and Corporate Cases inTransfer Pricing của Roger Y W Tang, giáo sư Lorraine Eden, Đại học TEXAS A&M

4 thay đổi của môi trường có thể tác động lên chính sách chuyển giá của công ty:

1 Tốc độ toàn cầu hoá

Trang 22

2 Sự gia tăng những quy định của chính phủ về định giá chuyển giao cả chiều sâu

và sự phức tạp và số nước áp dụng những quy định này

3 Sự thay đổi trong những hình thức tổ chức công ty ưu tiên liên minh chiến lược

Tuy nhiên khi phân tích trong từng phương pháp thì:

Các phương pháp định giá chuyển giao trong nước được dựa trên:

Trong các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến giá chuyển giao, ba lý do hàng đầu về trung bình và tỷ lệ phần trăm của các công ty cho thấy một nhân tố này là rất hay và vô cùng quan trọng là:

1 Định giá chuyển giao của Mỹ và những thuế khác (75%)

2 Tổng lợi nhuận cho công ty (73%)

Trang 23

3 Định giá chuyển giao ngoài nước và các quy định thuế (63%).

Các mục tiêu quan trọng nhất của hệ thống định giá chuyển giao của MNE

1 Tối đa hóa lợi nhuận sau thuế (42%)

2 Thành quả đánh giá phân chia (24%)

3 Giảm thiểu các khoản thuế khác (11%)

Chính sách chuyển giá cũng có xu hướng được đánh giá tập trung cao, 59% các

công ty nói rằng công ty mẹ đặt ra các chính sách sau khi tham vấn với các đơn vị, so với 22% của các công ty nói rằng đơn vị định giá chuyển nhượng Các công ty còn lại nói rằng chính phủ quy định giá cả chuyển giao của họ

2 Chuyển giá trong ngành dược

Nghiên cứu của Alexandre Siciliano Borges, 2002

SO SÁNH TRONG NGÀNH DƯỢC CHO MỤC ĐÍCH CHUYỂN GIÁ

Tóm lược

R&D rất cao và chứa nhiều rủi ro, kết quả của R&D cao là ngành dược có sự cạnh tranh trên quy mô toàn cầu để dễ dàng khấu hao chi phí Do đặc tính riêng của ngành dược phản ánh chuyển giá ở phần lớn các giao dịch giữa các công ty cùng một tập đoàn Những loại thuốc mới là duy nhất và không có giá so sánh trên thị trường Trong trường hợp này rất khó và hầu như không thể so sánh trong và ngoài doanh nghiệp Bất

kể phương pháp nào được áp dụng thì phân tích so sánh vẫn đóng một vai trò quan trọng Trong trường hợp này, sự cạnh tranh về đặc điểm chung của thuốc như một trận đấu giữa các ngành riêng lẻ của dược Đây có thể là công cụ chính trong phân tích so sánh của ngành dược là phân tích chức năng Khi xác định so sánh là tương tự hay là không thì phân tích chức năng cho phép nhận diện những chức năng và rủi ro đối với mỗi công ty Những chức năng này sẽ phản ánh chính xác R&D, chức năng trung tâm, thông tin y học Khi những chức năng và rủi ro là khác nhau, điều chỉnh sẽ được làm để

có thể so sánh được Trong phân tích so sánh nó yêu cầu chú ý vào phần đặc biệt như kiến thức chuyên môn Còn phân tích chức năng thì không cần phải chú ý vào chuyên môn của ngành

Trang 24

Tập đoàn dược có rất nhiều công ty con ở các nước Điều này không chỉ cho phép

nó sử dụng nguồn lực địa phương tốt hơn mà nó còn với tới các thị trường rộng hơn Chỉ

có cách này nó mới có đủ thu nhập để trang trải cho chi phí R&D cao

Yếu tố phức tạp trong ngành dược là nó thâm dụng tài sản vô hình

Đặc thù của công nghiệp dược phẩm

i R&D cao Khi R&D thành công dẫn đến bằng sáng chế, tuỳ theo mức độ bảo

hộ khác nhau tuỳ vào mỗi nước mà công ty có thể được bảo vệ khỏi đối thủ cạnh tranh trong một khoảng thời gian

ii Sau khi bằng sáng chế hết thời hạn, có nhiều công ty cùng sản xuất ra loại thuốc đó Công ty gốc sẽ kinh doanh theo cách khác có thu nhập biên nhỏ hơn, trong khi chi phí R&D cao đã được phân bổ một cách đáng kể

iii Thành công R&D có thể giúp công ty dẫn đầu thị trường trong một thời gian

iv R&D cao, là điều kiện cho những lợi nhuận trong tương lai Nếu công ty chi R&D quá cao thì cổ tức cho các cổ đông thấp, R&D quá ít thì dẫn đến những thu nhập trong tương lai cũng ít

v Thường thì R&D các công ty chiếm khoảng 15% lợi nhuận của công ty Trích

từ lợi nhuận giữ lại cho quỹ đầu tư phát triển là lớn hơn nhiều so với những ngành khác

vi Cùng với R&D, công ty chấp nhận rủi ro cao khi R&D không thành công, có thể là thuốc không đạt kết quả không mong muốn, hay không được bán ra thị trường Nếu R&D thành công, thuốc có thể bán nhưng mức giá có thể cao hơn mức giá mà người tiêu dùng cuối cùng sẵn sàng trả

vii Nguy cơ kiện tụng cao, nguy cơ bồi thường lớn

viii Rủi ro cao và chi phí R&D cao được phản ánh trong giá thuốc cuối cùng Đôi khi giá rất cao so với thành phần của thuốc, có thể được gây ra khi tiếp thị thuốc đã đưa vào một số thành phần làm cho giá thuốc cao hơn nhiều so với thành phần của nó

ix Chính quyền địa phương luôn áp đặt các hạn chế về hoạt động của ngành dược phẩm như giá cả lợi nhuân, không phải đề cập đến nhãn hiệu, bao bì, các

Trang 25

quy định phê duyệt không ảnh hưởng đến giá cuối cùng của sản phẩm dược phẩm.

x Chính phủ cũng quan tâm đến giá cả cuối cùng của thuốc, vì họ cũng là khách hàng lớn của ngành công nghiệp dược phẩm, khi họ trực tiếp mua thuốc hay

là hoàn trả cuối cùng cho bệnh nhân Vì vậy, việc giữ giá cuối cùng thấp thì chính phủ sẽ tiết kiệm được một phần chi phí, để có thêm ngân sách chi tiêu cho các lĩnh vực khác

xi Một công cụ mà chính quyền địa phương sử dụng để kiểm soát, có thể là xác định giới hạn giá cuối cùng của ngành công nghiệp dược phẩm là tập trung vào định giá chuyển giao

Định giá chuyển giao trong ngành công nghiệp dược phẩm

i Chuyển giá nội bộ thường xảy ra ở các tập đoàn dược phẩm, chúng thường

chuyển giao những nguyên liệu thô, bán thành phẩm hay thành phẩm cho những công ty khác trong tập đoàn, vì thế tập đoàn có thể hoạt động hiệu quả hơn Vì thế đây là một vấn đề mà cơ quan thuế rất chú ý

ii Cụ thể trong ngành công nghiệp dược phẩm, chuyển giao những sản phẩm

nội bộ thường kèm theo một gói dịch vụ như là thông tin sản phẩm hay kết quả nghiên cứu R&D Những dịch vụ này không được mua bán một cách

rõ ràng, nhưng nó bao gồm trong giá thuốc cuối cùng

iii Việc kiểm soát giá chuyển giao nội bộ không chỉ là của cơ quan thuế mà

còn là công cụ để cơ quan hải quan đánh giá giá trị hay là để chính phủ có những biện pháp kiểm soát, nhưng cuối cùng là để xác định đúng thu nhập chịu thuế

iv Gía cả để tính thuế là giá so sánh, được xác định theo nguyên tắc giá thị

trường

v Khi hai công ty giao dịch với nhau sẽ bị tác động của những nhân tố thị

trường Nhưng những giao dịch nội bộ tập đoàn không chịu tác động một cách trực tiếp bởi những lực thị trường, vì thế giá cả có thể không theo nguyên tắc giá thị trường Như thế thì thu nhập chịu thuế có thể bị điều chỉnh, bóp méo kết quả là thuế phải nộp ít hơn

Trang 26

vi Chuyển giá là một vấn đề trong hầu hết các lĩnh vực liên quan đến giao dịch

xuyên quốc giá, và đối với công nghiệp dược phẩm là hết sức phức tạp vì hai nguyên nhân: giao dịch nội bộ tập đoàn rất nhiều và sử dụng tài sản vô hình là chủ yếu

Để có thể so sánh phải tiến hành so sánh :

• Đặc điểm sản phẩm hoặc dịch vụ

• Phân tích chức năng

• Điều khoản hợp đồng

• Môi trường kinh tế

Phân tích chức năng (Functional Analysis)

Chức năng cũng như rủi ro nó phản ánh vào thu nhập mỗi hợp đồng Càng phức tạp càng nhiều chức năng thu nhập sẽ cao

Chức năng kinh doanh gồm sản xuất, phân phối, marketing, sales và dịch vụ với rủi ro đặc trưng ở từng khâu Rủi ro kinh doanh gồm rủi ro thị trường, rủi ro ngoại hối, rủi ro tín dụng và rủi ro hàng tồn kho

• Phát triển sản phẩm;

• Mức độ đa dạng hóa;

• Ngại rủi ro;

• Đánh giá thay đổi chính trị;

1961, Geigy-Basle giao cho Ciba-Geigy một giấy phép sản xuất và bán vài hợp chất về diệt cỏ ở Mỹ Tiền bản quyền tính này tính 10% Từ 1958 đến 1969, Ciba-Geigy đã trả trên 55 triệu $ cho Geigy-Basle dựa trên doanh thu thuần với hai thuốc diệt

Trang 27

cỏ triazine ở Mỹ Như vậy mức 10% đã hợp lý, bản quyền này có phải thuộc sở hữu hoàn toàn của công ty mẹ IRS cho rằng mức hợp lý là 6% vì có sự hợp tác của công ty con trong việc nghiên cứu phát triển.

Vấn đề ở trên liên quan đến tài sản vô hình về bản quyền Theo Ciba-Geigy, giao dịch được tiến hành với bên thứ 3, Norddeutsche Affinerie của Đức và Orgachemia của

Hà Lan, có thể được so sánh với giao dịch giữa các bên liên quan để đánh giá mức giá cho mỗi bên Tóm lại, vấn đề ở đây là phải đánh giá lại với mức % sao cho hợp lý có tính đến rủi ro giữa nội bộ công ty với bên không liên quan Vì xét về rủi ro thì bên độc lập có nhiều rủi ro hơn

Du Pont

Trường hợp Du Pont áp dụng phương pháp bán lại (Resale Price method) IRS đã cho rằng công ty dùng phương pháp này là để trốn thuế và cách xử lý trong trường hợp này là dùng phân tích chức năng xem xét đến rủi ro

3 Case study - Chuyển giá ở một số công ty

3.1 Công ty ALPHA

Cái nhìn tổng quan về công ty

Alpha là nhà sản xuất toàn cầu và nhà phân phối hàng tiêu dùng hàng đầu Công

ty bán sản phẩm trên 100 quốc gia và có uy tín về chất lượng, mẫu mã sáng tạo

Doanh số bán hàng trên toàn thế giới của Alpha cho kỳ nghiên cứu là 100tr USD mỗi năm Trong đó, trung bình khoảng 60tỷ USD đến từ Mỹ, 25tỷ USD đến từ Châu

Âu Trong giai đoạn nghiên cứu, doanh thu hợp nhất theo hệ thống kế toán GAAP trung bình hàng năm của Alpha trước thuế thu nhập là 8tỷ USD

Alpha báo cáo doanh thu không miễn giảm thuế của các công ty con ở nước ngoài là trên 35tỷ USD vào cuối của kỳ nghiên cứu Công ty báo cáo rằng mục đích là tái đầu tư lâu dài các khoản lợi nhuận ở nước ngoài hoặc chuyển về nước các khoản lợi nhuận đó chỉ khi mức chi phí thuế phụ trội là thấp nhất

Alpha có nhiều nhân viên trên khắp thế giới Nó có các xưởng chế tạo ở một vài quốc gia, gồm có Mỹ, Mỹ Latin và châu Á Thêm vào đó, các công ty dựa vào đối tác thứ 3 Hầu hết các hoạt động R&D của Alpha đều thực hiện tại Mỹ, với ít hơn 5% nhân viên R&D đóng tại Trung Quốc

Trang 28

Cấu trúc thuế toàn cầu

Alpha và các chi nhánh trong nước (Alpha U.S) sắp xếp một bảng khai thuế hợp nhất

ở Mỹ Alpha điều hành khắp thế giới, thông qua các CFCs, DREs và các chi nhánh ở nước ngoài Alpha đã thay đổi cấu trúc pháp lý và hoạt động một cách thường xuyên, vận hành các công ty thông qua các điều luật khác nhau để tận dụng lợi thế về thuế và lợi nhuận hoạt động Một số công ty chiếm tỷ trọng lớm trong cấu trúc thu nhập từ nước ngoài của Alpha:

- Alpha Asia: là 1 CFC, 99% là thuộc sở hữu của Alpha U.S CFC này quản lý các

hoạt động sản xuất của Alpha thông qua sử dụng các hợp đồng sản xuất - đối tác thứ 3

- Alpha Netherlands: là 1 CFC, 100% thuộc sở hữu của Alpha U.S, Sở hữu một

vài Alpha China

- Alpha China: là 1 DRE Trung Quốc, thuộc sở hữu của Alpha Netherlands, đóng

góp phần lớn vào thu nhập của Alpha Netherlands

Hình 1: Cấu trúc của Alpha toàn cầu

Theo phương pháp check-the-box, Alpha China được xem xét cho mục đích thuế của Alpha U.S, như một chi nhánh của Alpha Netherlands Tuy nhiên thảo luận dưới đây tập trung vào các chức năng thực sự thực hiện bởi mỗi CFC hay DRE

ALPHA ASIA

Chịu trách nhiệm sản xuất và mua sản phẩm các Alpha khác trên toàn cầu cung cấp

Hình 2: Mối quan hệ giữa Alpha U.S và Alpha Asia:

Trang 29

Nhân sự của Alpha Mỹ tiến hành các hoạt động R&D cho Alpha Châu Á Những hoạt động này tiến hành tại Hoa Kỳ, bao gồm phát triển sản phẩm mới, thiết kế công nghiệp, đóng gói, kiểm tra chất lượng, và kỹ thuật phân tích giá trị Alpha Mỹ đồng ý cung cấp cho Alpha Châu Á thông tin kỹ thuật và tài sản vô hình khác và các nhà sản xuất theo hợp đồng các thiết kế, phát triển và sản xuất các sản phẩm theo cách thức hiệu quả nhất

về chi phí và hiệu quả Thông tin kỹ thuật cũng bao gồm bí quyết công nghệ và thiết kế, trong khi tài sản vô hình khác bao gồm các tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng, thủ tục và đào tạo Trong trao đổi về việc sử dụng thông tin kỹ thuật và tài sản vô hình, Alpha Châu Á nộp lệ phí cấp giấy phép bằng 3% của chi phí sản xuất tiêu chuẩn của sản phẩm sản xuất hoặc của giá mua cho các sản phẩm đã mua Việc định giá đã được phát triển bằng cách sử dụng phương pháp so sánh không kiểm soát được giao dịch Alpha Á trả tiền bản quyền bình quân hàng năm 480 tỷ USD cho Alpha Hoa Kỳ

Hình 3: Quá trính bán sản phẩm từ Alpha Asia sang khách hàng chính ở Mỹ và

Alpha U.S

Quyền sử dụng

thông tin kỹ thuật,

sở hữu trí tuệ liên

quan đến sản xuất

sản phẩm

Trang 30

Alpha Asia bán sản phẩm cho Alpha U.S, bán trực tiếp cho một số khách hàng chính

ở Mỹ và các Alpha CFCs khác để phân phối ra thị trường nước ngoài

Alpha Asia có doanh thu là 21tỷ USD trong kỳ nghiên cứu Trong đó:

- 65% doanh thu từ việc bán sang Alpha U.S

- 20% doanh thu từ việc bán cho các CFCs và dres ở nước ngoài

Doanh thu bán cho dối tác liên doanh thì cộng thêm 6% chi phí cho những sản phẩm

mà Alpha Asia mua, và chi phí cộng thêm là 9% đối với sản phẩm tự sản xuất

- 15% doanh thu còn lại được tạo ra trực tiếp từ bán sản phẩm cho các khách hàng chính ở Mỹ Các sản phẩm được bán ở mức chi phí cộng thêm 30% tiền cộng vào giá vốn

Alpha U.S cung cấp bán hàng và tiếp thị, hỗ trợ khách hàng, và dịch vụ hậu mãi cho Alpha Asia Đối với các dịch vụ đó, Alpha Asia trả 2% hoa hồng cho Alpha U.S

Cuối cùng, Alpha Châu Á thu được 5% lợi nhuận trên doanh số bán hàng cho các đối tác liên quan, và khoảng 28 % lợi nhuận trên doanh số bán hàng mà nó trực tiếp bán khách hàng Mỹ

Nó có lợi nhuận trung bình hàng năm trong giai đoạn nghiên cứu là 1,5 tỷ USD Nó không phải trả thuế ở nước sở tại và cũng không đóng thuế ở Hoa Kỳ về những lợi nhuận cho đến khi nó trả

cổ tức cho Alpha Mỹ Vào cuối thời gian nghiên cứu, Alpha Châu Á báo cáo 6tỷ USD của các khoản thu nhập tích lũy và lợi nhuận

Hình 4: Mối quan hệ giữa Alpha Asia và các đối tác, khách hàng.

Trang 31

Bước 1 : Alpha Asia mua sản phẩm X từ đối tác thứ 3- nhà sản xuất theo hợp đồng.

Bước 2a : Alpha Asia bán sản phầm cho Alpha U.S với mức chi phí cộng thêm là 6% hay 9% số tiền cộng vào giá vốn

Bước 2b : Alpha Asia bán sản phẩm X trực tiếp cho các khách hàng chính ở Mỹ với chi phí cộng thêm là 30% số tiền cộng vào giá vốn

Bước 2c : Alpha Asia bán sản phẩm X cho các Alpha CFCs khác tại mức phí cộng thêm là 6% hay 9% số tiền công vào giá vốn để các CFCs này phân phối sản phẩm ra nước ngoài

Bước 3 : quá trình bán lại sản phẩm X từ Alpha U.S cho các khách hàng chính tại

Mỹ và các khách hàng khác, và bán lại sản phẩm từ các Alpha CFCs cho các khách hàng nước ngoài

Trang 32

Mặc dù sản phẩm X được di duyển qua 3 bước: nơi sản xuất-Alpha trung gian-người

sử dụng cuối cùng, tuy nhiên về thực chất thì nó chỉ đi từ nhà sản xuất theo hợp đối tác thứ 3 đến khách hàng Mỹ và khách hàng ở nước ngoài

đồng-Chung quy lại:

- Alpha U.S thừa nhận thu nhập cho mục đích thuế đến từ 3 nguồn:

oTổng doanh thu bán hàng thu được từ việc bán sản phẩm X cho khách hàng Mỹ

oHoa hồng phí nhận được dựa trên doanh số bán bán hàng trực tiếp từ Alpha Asia cho các khách hàng chính ở Mỹ

oDoanh thu nhận được dựa trên phí bản quyền từ Alpha Asia cho quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến sản xuất sản phẩm X

Có 2 khoản chi phí hiện hành có thể trừ bớt mà sẽ làm giảm thuế thu nhập của Alpha U.S: Chi phí cho việc R&D và chi phí bán sản phẩm cùng marketing.Do

đó, Alpha U.S có đủ điều kiện khấu trừ thuế cho một vài hoặc tất cả các chi phí R&D

- Alpha Asia thu được lợi nhuận từ việc bán sản phẩm, đồng thời lợi nhuân bị giảm bởi phí bản quyền và hoa hồng phí phải trả cho Alpha U.S trong suốt kỳ nghiên cứu thì Alpha Asia không đóng thuế thu nhập nước ngoài

ALPHA NETHERLANDS

Không chỉ sử dụng các nhà sản xuất theo hợp đồng-đối tác thứ 3 mà Alpha Netherlands còn tự sản xuất sản phẩm tại một số công ty con ở Mỹ Latin và Trung Quốc Alpha China là một nhà sản xuất và chịu sự quản lý dưới quyền của Alpha Netherlands

Alpha có lịch sử di chuyển cơ sở kinh doanh và thay đổi cấu trúc vốn hợp pháp bởi vì cần thiết để hưởng lợi từ thuế phụ trội và lợi nhuận hoạt động từ các phạm vi quyền hạn

về thuế khác nhau Cấu trúc của Alpha China và các DRE khác dưới quyền kiểm soát

Trang 33

của Alpha Netherlands được phát triển và mở rộng không ngừng Alpha duy chuyển một vài hoạt động sản xuất từ Mỹ sang Trung quốc.

Công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ Alpha Mỹ bán cho Alpha China với giá 3% trên doanh thu Tiền bản quyền trung bình hàng năm phải trả cho Alpha U.S là 115 triệu USD

Hình 5: Mối quan hệ giữa Alpha China và các đối tác, khách hàng.

Bước 1: Alpha China trả tiền bản quyền 3% của doanh thu của nó, song song đó, Alpha U.S cấp quyền sở hữu trí tuệ và kỹ thuật sản xuất cho Alpha China

Bước 2: quá trính bán sản phẩm từ Alpha China cho Alpha U.S và các Alpha CFCs khác

Bước 3: quá trình bán lại sản phẩm từ các Alpha CFCs cho khách hàng nước ngoài và

từ Alpha U.S cho các khách hàng Mỹ

Chung quy lại:

- Alpha U.S: thu nhập cho mục đích thuế đến từ 2 nguồn:

o Tổng doanh thuu bàn hàng thu được dựa trên việc bán sản phẩm cho các khách hàng Mỹ

Trang 34

o Dựa trên tiền bản quyền nhận được từ Alpha Asia cho việc cấp quyền sở hữu tài sản trí tuệ có liên quan đến sản xuất sản phẩm X.

Alpha U.S chịu 2 loại phí có thể giảm trừ thuế thu nhập, đó là: chi phí cho việc R&D và phí bán-marketing sản phẩm đến khách hàng Mỹ Do đó, Alpha U.S có đủ điều kiện để khấu trừ thuế thu nhập

- Alpha China: có doanh thu từ bản sản phẩm và có chi phí từ việc trả phí bản quyền cho Alpha U.S

- Alpha Netherlands: có lợi nhuận trung bình trước thuế là 1tỳ USD và báo cáo trung bình chỉ dưới 50 triệu USD của thu nhập subpart F hàng năm trong lỳ nghiên cứu Thuế nước ngoài trung bình của Alpha Netherlands là 50 triệu USD mỗi năm

số bán hàng trực tiếp cho khách hàng ở Mỹ dựa trên các sản phẩm mà đã được phát triển

và tiếp thị bởi tập đoàn Mỹ

Alpha di chuyển một số hoạt động sản xuất của mình từ Hoa Kỳ sang Trung Quốc để được 1 hưởng lợi từ thuế tính thêm và tiết kiệm tứ các hoạt động Mỹ kiếm được một 3% phí bản quyền dựa trên các sản phẩm sản xuất bởi Alpha Trung Quốc và DREs Phần lớn việc phát triển sản phẩm, marketing, và tài sản vô hình khác thì đặt ở Hoa Kỳ Hoạt động của Alpha Hà Lan có mức thuế suất trung bình chỉ hơn ba phần trăm

Mặc dù gần 60 phần trăm doanh số bán hàng của Alpha là từ khách hàng Mỹ, trung bình ít hơn 30 phần trăm doanh thu trước thuế thu nhập được báo cáo như thu nhập của

Mỹ Vào cuối của giai đoạn nghiên cứu, Alpha báo cáo các khoản thu nhập thường

Trang 35

xuyên tái đầu tư vượt quá USD 35tỷ thu nhập nước ngoài Alpha giúp nó đạt được mức thuế suất trung bình trên thế giới là 19.5% thay vì 35% ở Mỹ.

3.2 Công ty DELTA

Tổng quan về công ty

Tổng công ty Delta ("Delta") là một tập đoàn thương mại công của Mỹ, là công ty đa quốc gia có công nghệ sản xuất dựa trên các sản phẩm tiêu dùng - trong đó có nhiều bằng sáng chế được bảo hộ Trong giai đoạn nghiên cứu, Delta có doanh thu trung bình toàn cầu hàng năm là 100 tỷ $ Hoạt động tại Hoa Kỳ chiếm 45-55 % doanh thu

Trong giai đoạn nghiên cứu, thu nhập trung bình của Delta được hợp nhất dựa vào

Hệ thống kế toán Mỹ (U.S GAAP) (ví dụ, thu nhập báo cáo với các cổ đông) thu nhập trước thuế khoảng 20 tỷ USD, trong đó khoảng $ 2 tỷ (hoặc 10 %) được quy cho hoạt động tại Hoa Kỳ và $ 18 tỷ (hoặc 90 %) được quy cho các hoạt động nước ngoài Tổng

số thuế trung bình trên toàn thế giới mà Hệ thống kế toán Mỹ cung cấp trong giai đoạn này là 3 tỷ USD, bao gồm cả 0,5 tỷ USD chi phí thuế của Hoa Kỳ và 2,5 tỷ USD là kết quả của chi phí thuế nước ngoài trong một thuế suất trung bình trên toàn thế giới từ 10 đến 15 % Thuế suất trung bình trên toàn thế giới bao gồm lợi ích của việc không có dư thuế của Hoa Kỳ được tích luỹ trên các khoản thu nhập nước ngoài đã vượt quá 80 tỷ USD mà công ty đã khẳng định tái đầu tư lâu dài ra nước ngoài

Delta thuê rất nhiều người trên toàn thế giới Các hoạt động điều hành của các nhân viên của Delta bao gồm các hoạt động R&D, cũng như sản xuất, tiếp thị, bán hàng, và phân phối Trong thời gian nghiên cứu, chi phí trung bình R&D toàn cầu của Delta khoảng 15 tỷ USD Về căn bản tất cả các R&D được thực hiện bởi các nhân viên tại Hoa Kỳ Một số công ty thành viên nước ngoài đã hoàn lại cho Delta một số các chi phí

R & D phát sinh trong giai đoạn sau khi phát triển sản phẩm; tuy nhiên, Delta chịu một phần đáng kể các chi phí phát triển tổng thể cho từng sản phẩm

Cấu trúc thuế toàn cầu

Trang 36

Delta và các chi nhánh trong nước của nó (gọi chung là "Delta Mỹ”) sắp đặt bản khai thuế hợp nhất của nó Delta hoạt động trên toàn cầu thông qua một loạt các tập

đoàn kiểm soát nước ngoài CFCs (công ty nước ngoài liên doanh với Delta và bị Delta

Mỹ kiểm soát phần lớn vốn) , DREs (một dạng công ty con _ ban đầu có thể là công ty nước ngoài, sau đó bị Delta kiểm soát và biến thành công ty con của Delta), và các chi

nhánh nước ngoài Bốn công ty có tầm quan trọng chủ yếu cho sự phát sinh phần lớn thu nhập nước ngoài hoãn lại của Delta, bao gồm :

• Delta Hà Lan CV ("Delta Hà Lan"), một công ty hợp danh Hà Lan, được sở hữu toàn bộ bởi CFC được nắm giữ trực tiếp bởi Delta của Mỹ Delta Hà Lan là công

ty chính nắm giữ hoạt động sản xuất ở nước ngoài của Delta

• Delta Delaware LLC ("Delta Delaware"), một công ty trách nhiệm hữu hạn Delaware, là một sự hợp tác vì mục đích thuế Nó là một công ty kinh doanh có giấy phép về tài sản vô hình nhất định của Delta Delta Delaware sản xuất sản phẩm bằng cách sử dụng tài sản vô hình ở Puerto Rico và bán các sản phẩm đã sản xuất cho Delta Mỹ và các chi nhánh nước ngoài để cuối cùng bán cho các bên thứ

• Delta Singapore Pte Ltd ("Delta Singapore"), một công ty trách nhiệm hữu hạn

tư nhân Singapore, là một DRE hoàn toàn thuộc sở hữu của Delta Hà Lan Nó là một công ty kinh doanh có giấy phép về tài sản vô hình nhất định của Delta Delta Singapore sản xuất sản phẩm bằng cách sử dụng tài sản vô hình ở Singapore và bán sản phẩm đã sản xuất cho Delta Mỹ và các chi nhánh nước ngoài để cuối cùng bán cho các bên thứ ba

Trang 37

Delta Ireland và Delta Singapore là DREs, như là kết quả của việc check the-box elections Cơ cấu thuế ngắn gọn này được minh họa trong hình 15 dưới đây

Hình 15

Vì Delta Ireland và Delta Singapore là DREs, cho mục đích thuế của Mỹ, Delta Hà Lan thường được coi là thực hiện tất cả các hoạt động của Delta Ireland và Delta Singapore Tuy nhiên, các cuộc thảo luận tập trung vào các chức năng thực tế được thực hiện bởi mỗi DRE

Quyền sở hữu và khai thác tài sản vô hình

Kể từ khi hình thành, Delta Mỹ đã thừa nhận trách nhiệm chính cho các sản phẩm liên quan đến R&D, bao gồm cả trách nhiệm mang đến và cải tiến sản phẩm mới cho thị trường và nguy cơ R&D có thể không thành công Do đó, Delta Mỹ sở hữu một tài sản

vô hình đáng kể gồm tất cả các sản phẩm liên quan đến tài sản vô hình (bao gồm cả bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật và nhãn hiệu) Tuy nhiên, Delta Mỹ đã ký kết nhiều thỏa thuận cấp phép với Delta Hà Lan , cấp cho nó quyền khai thác tài sản vô hình khắp thế giới Các thỏa thuận cấp phép này bao gồm một tập hợp lớn các sản phẩm, bao gồm nhiều sản phẩm, chúng đã trở thành những thành công thương mại lớn nhất cho Delta

Để đổi lấy quyền cấp giấy phép đối với một sản phẩm cụ thể, Delta Hà Lan đồng ý chi trả tiền bản quyền cho Delta Mỹ dựa trên doanh thu ròng của sản phẩm đó cho bên thứ ba Trong suốt thời gian nghiên cứu, tiền bản quyền phải trả cho Delta Mỹ theo

Trang 38

những giấy phép này trung bình là $ 6 tỷ / năm Tiền bản quyền hiện đang chịu thuế bởi Delta Mỹ tại Hoa Kỳ Ngoài ra, tiền bản quyền hiện đang được khấu trừ bởi bên chi trả trong thẩm quyền địa phương của mình (như mô tả dưới đây, có thể là Hà Lan, Ireland, hoặc Singapore), Vì vậy, bất kỳ lợi ích thuế nào đến từ những khoản khấu trừ được thực hiện theo tỷ giá hiệu quả của địa phương, mà trong mỗi trường hợp là thấp hơn thuế suất của Mỹ Các thỏa thuận cấp phép được minh họa trong hình 16 dưới đây

Nói chung, Delta Mỹ không cấp giấy phép cho bất kỳ sản phẩm nào liên quan đến tài sản vô hình cho đến khi sản phẩm này ít nhất đã phát triển đầy đủ tức là nó đã sẵn sàng, hoặc gần như đã sẵn sàng, để bán cho bên thứ ba Tuy nhiên, một số R&D thêm thường được thực hiện trước khi bắt đầu bán hàng cho bên thứ ba, và R&D vẫn tiếp tục sau khi

đã bắt đầu bán hàng cho bên thứ ba Theo các thỏa thuận cấp phép, Delta Hà Lan đồng ý hoàn trả cho Delta Mỹ đối với bất kỳ chi phí R&D tăng thêm nào (ví dụ, Delta Hà Lan không phải trả bất kỳ số tiền cộng vào giá vốn (cộng kinh phí và lãi)) Bất kỳ sự hoàn trả nào là thu nhập chịu thuế ở Mỹ nhưng lại là bù đắp trực tiếp bởi một khấu trừ cho chi phí phát sinh bởi Delta Mỹ trong việc thực hiện R &D; do đó, không có sự tăng lên thực

số tiền thuế Delta Mỹ phải nộp Sự hoàn trả hiện đang được khấu trừ bởi người thanh toán trong thẩm quyền địa phương của mình (như mô tả bên dưới, có thể là Puerto Rico, Ireland, hoặc Singapore), vì vậy, bất kỳ lợi ích thuế nào đến từ những khoản khấu trừ

Trang 39

được thực hiện tại mức thuế suất thuế địa phương, trong mỗi trường hợp là thấp hơn đáng kể so với thuế suất ở Mỹ Chi phí R&D tăng thêm Delta Hà Lan chịu chỉ đại diện cho một tỷ trọng nhỏ trong tổng thể chi phí R & D của Delta Mỹ Trong một năm gần đây, ví dụ, chi phí R & D của Delta Hà Lan bằng khoảng 1% tổng số chi phí R & D của Delta Mỹ Tuy nhiên, bằng cách cấp giấy phép sản phẩm liên quan đến tài sản vô hình cho Delta Hà Lan trước khi tất cả các R & D được hoàn thành, Delta Mỹ xác định quan điểm rằng mức tiền bản quyền này (R&D chưa hoàn thành ) nên thấp hơn sản phẩm liên quan đến tài sản vô hình được cấp phép khi chi phí R&D đã hoàn thành.

Delta có nhiều đối thủ cạnh tranh khác nhau Trong lịch sử, Delta và mỗi đối thủ cạnh tranh thuộc sở hữu tập đoàn tại Puerto Rico đã đủ điều kiện nhận trợ cấp theo điều khoản 936 Những lợi ích kèm theo điều khoản 936 được mô tả cụ thể hơn ở trên Tiếp theo Quốc hội quyết định loại bỏ lợi ích của điều khoản 936, Delta đã tái cơ cấu hoạt động của Puerto Rico Như một phần của tái cơ cấu đó, Delta Delaware được thành lập

để sở hữu và vận hành sản xuất của Puerto Rico, tài sản được kiểm soát bởi Delta, bao gồm cả những công ty thuộc sở hữu của nó bởi điều khoản 936

Các công ty khác nhau trong và ngoài nước được điều khiển bởi Delta đã chuyển giao các nhà máy sản xuất và trang thiết bị và tài sản vô hình cho Delta Delaware để đổi lấy quyền góp vốn (lợi ích công ty) Delta Hà Lan đóng góp tài sản vô hình cho Delta Delaware Trong việc đưa ra những đóng góp này, Delta Hà Lan nhất trí tiếp tục chịu trách nhiệm cho khoản nợ tiền bản quyền Delta Mỹ theo giấy cấp phép, nhưng không cho biết thêm R&D cần thiết trong tương lai theo các thoả thuận cấp phép Hiện nay, Delta Hà Lan sở hữu hơn 85 % lợi ích tại Delta Delaware Các lợi ích còn lại của Delta Delaware được kiểm soát bởi Delta Mỹ

Tương tự như vậy, Delta Hà Lan đã đóng góp quyền sở hữu tài sản vô hình khác mà

nó được cấp giấy phép từ Delta Mỹ cho Delta Ireland và Delta Singapore Không giống như những đóng góp của Delta Delaware, vì vậy, Delta Hà Lan đã không tiếp tục nhất trí chịu trách nhiệm cho khoản nợ tiền bản quyền Delta Mỹ theo giấy cấp phép Thay vào đó, Delta Ireland và Delta Singapore có trách nhiệm trả tiền bản quyền Tuy nhiên,

Trang 40

vì mục đích thuế của Mỹ, Delta Hà Lan bị buộc phải trả tiền bản quyền khi Delta Ireland

và Delta Singapore là DREs Ngoài ra, trong từng trường hợp, thực hiện theo các hiệp định cấp giấy phép, chi nhánh sản xuất của Delta Hà Lan chịu trách nhiệm hoàn trả bất

kỳ chi phí R&D tăng thêm nào cho Delta Mỹ

Hoạt động Sản xuất của Delta Puerto Rico được hưởng lợi từ các tài trợ khuyến khích, được miễn một phần các hoạt động từ thuế của Puerto Rican Hoạt động sản xuất của Delta Ireland và Singapore hưởng lợi từ mức thuế suất ưu đãi

Chuỗi giá trị

Delta Mỹ sở hữu đáng kể tất cả các sản phẩm dựa trên tài sản vô hình, bao gồm tất

cả các quyền khai thác tài sản trên toàn thế giới Trong một số trường hợp, Delta Mỹ đã cấp giấy phép Mỹ và quyền sở hữu tài sản vô hình nước ngoài cho Delta Hà Lan Delta

Hà Lan đã đóng góp quyền cấp giấy phép cho các chi nhánh sản xuất của mình (Delta Delaware, Delta Ireland, và Delta Singapore) Các chi nhánh sản xuất chế tạo các sản phẩm và bán chúng cho Delta Mỹ và các chi nhánh phân phối nước ngoài

Trong nước

Delta Mỹ chịu trách nhiệm phân phối và bán thành phẩm cho các bên thứ ba ở Hoa

Kỳ Delta Mỹ đáp ứng những trách nhiệm này bằng cách sử dụng các nhân viên của mình Delta Mỹ chịu những rủi ro đáng kể nhất gắn liền với các sản phẩm, bao gồm: (1) rủi ro phát hiện và phát triển, bao gồm cả trách nhiệm mang lại và cải tiến sản phẩm mới

ra thị trường và nguy cơ R&D có thể không được thành công; (2) rủi ro tiếp thị; (3 ) rủi

ro về hiệu suất và lỗi thời của hàng tồn kho, và (4) rủi ro tín dụng đối với doanh số bán hàng của khách hàng Một khu vực, trong đó Delta Mỹ không chịu rủi ro là rủi ro sản xuất trong suốt quá trình sản xuất, bao gồm cả rủi ro liên quan đến thị trường thời gian tới, chất lượng sản phẩm, và độ tin cậy Các chi nhánh sản xuất của Delta Hà Lan chịu nguy cơ này

Ngày đăng: 21/04/2014, 14:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3:  Quá trính bán sản phẩm từ Alpha Asia sang khách hàng chính ở Mỹ và - các vấn đề về chuyển giá
Hình 3 Quá trính bán sản phẩm từ Alpha Asia sang khách hàng chính ở Mỹ và (Trang 29)
Hình 5: Mối quan hệ giữa Alpha China và các đối tác, khách hàng. - các vấn đề về chuyển giá
Hình 5 Mối quan hệ giữa Alpha China và các đối tác, khách hàng (Trang 33)
Bảng 2: Đơn vị đảm trách về giá chuyển nhượng tại Việt Nam - các vấn đề về chuyển giá
Bảng 2 Đơn vị đảm trách về giá chuyển nhượng tại Việt Nam (Trang 68)
Bảng 1 cho thấy, mặc dù Thông tư về giá chuyển nhượng là một trong những nội dung  quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến nghĩa vụ thuế và các khoản phạt thuế của doanh  nghiệp lẫn của cả tập đoàn, nhưng có đến 64% doanh nghiệp được khảo sát cho biết Ban  Giá - các vấn đề về chuyển giá
Bảng 1 cho thấy, mặc dù Thông tư về giá chuyển nhượng là một trong những nội dung quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến nghĩa vụ thuế và các khoản phạt thuế của doanh nghiệp lẫn của cả tập đoàn, nhưng có đến 64% doanh nghiệp được khảo sát cho biết Ban Giá (Trang 68)
Bảng 3: Thời điểm doanh nghiệp quan tâm đến giá chuyển nhượng trong vòng đời dự án - các vấn đề về chuyển giá
Bảng 3 Thời điểm doanh nghiệp quan tâm đến giá chuyển nhượng trong vòng đời dự án (Trang 69)
Bảng 4: Mức độ hiểu biết của doanh nghiệp về các nội dung của Thông tư - các vấn đề về chuyển giá
Bảng 4 Mức độ hiểu biết của doanh nghiệp về các nội dung của Thông tư (Trang 70)
Bảng 5: Những công việc mà doanh nghiệp đã thực hiện để tuân thủ theo thông tư - các vấn đề về chuyển giá
Bảng 5 Những công việc mà doanh nghiệp đã thực hiện để tuân thủ theo thông tư (Trang 71)
Bảng 6: Thời điểm và cách thức chuẩn bị hồ sơ xác định giá thị trường - các vấn đề về chuyển giá
Bảng 6 Thời điểm và cách thức chuẩn bị hồ sơ xác định giá thị trường (Trang 72)
Bảng 7: Đánh giá về chính sách định giá chuyển nhượng - các vấn đề về chuyển giá
Bảng 7 Đánh giá về chính sách định giá chuyển nhượng (Trang 74)
Bảng 8: Một số dịch vụ chính mà công ty tư vấn đã cung cấp 2006 – 2008 - các vấn đề về chuyển giá
Bảng 8 Một số dịch vụ chính mà công ty tư vấn đã cung cấp 2006 – 2008 (Trang 76)
Bảng 9: Quốc gia đầu tư của các dự án có thuê tư vấn về định giá chuyển nhượng - các vấn đề về chuyển giá
Bảng 9 Quốc gia đầu tư của các dự án có thuê tư vấn về định giá chuyển nhượng (Trang 77)
Bảng 10: Tỷ trọng theo ngành đầu tư của các dự án có thuê chuyên gia tư vấn - các vấn đề về chuyển giá
Bảng 10 Tỷ trọng theo ngành đầu tư của các dự án có thuê chuyên gia tư vấn (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w