1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận học phần giao tiếp sư phạm

12 71 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tiểu luận học phần giao tiếp sư phạm
Tác giả Tống Mai Trâm
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Ngọc
Trường học Trường Đại Học Sài Gòn
Chuyên ngành Giao Tiếp Sư Phạm
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HÌNH THỨC LUẬN VĂN THẠC SĨ ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN GIAO TIẾP SƯ PHẠM Họ và tên học viên TỐNG MAI TRÂM Ngày sinh 23/11/1988 GVHD TS NGUYỄN TH[.]

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

BÀI TIỂU LUẬN

HỌC PHẦN GIAO TIẾP SƯ PHẠM

Họ và tên học viên: TỐNG MAI TRÂM Ngày sinh: 23/11/1988

GVHD: TS NGUYỄN THỊ NGỌC Lớp: NVSP KHÓA 81

Thành phố Hồ Chí Minh – 2022

Trang 2

NỘI DUNG BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC

Đề tài: Anh/Chị hãy chọn một trong ba nhóm kỹ năng giao tiếp sư phạm và thực hiện các yêu cầu sau:

1/ Phân tích nội dung kỹ năng đó.

2/ Nêu cách vận dụng kỹ năng để giải quyết tình huống: “Sinh viên thường xuyên

đi học trễ ở môn Anh/Chị dạy”.

Trang 3

BÀI LÀM

1 Giới thiệu chủ đề:

Trong quá trình học tập và trang bị kiến thức nghiệp vụ sư phạm, những người Thầy, người Cô tương lai đã được đào tạo và hoàn thiện nhiều kiến thức

và kỹ năng cần thiết, hữu ích nhằm đảm bảo năng lực cũng như phẩm chất chuẩn mực cần có của một người làm công tác giảng dạy Bởi một người Thầy thành công là người truyền được cảm hứng đến người học, giúp người học tiến

bộ hơn, phát triển hơn mỗi ngày và qua đó công tác giảng dạy sẽ tạo nên giá trị kép trong việc hoàn thiện về kiến thức học thuật cũng như góp phần định hình nên tính cách của người học Để đạt được mục tiêu trên, người dạy học cần được trang bị kỹ năng giao tiếp sư phạm tốt Một trong những kỹ năng quan trọng và

có tính vận dụng cao trong kỹ năng giao tiếp sư phạm đó là kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp sư phạm Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp là kết quả tổng hợp của kỹ năng định vị và kỹ năng định hướng trong quá trình giao tiếp Hiệu quả của quá trình giao tiếp phụ thuộc phần lớn vào kỹ năng điều khiển giao tiếp

Việc phân tích, tìm hiểu kỹ năng giao tiếp sư phạm nói chung và kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp sư phạm nói riêng sẽ phần nào giúp chúng ta hiểu

rõ bản chất cũng như tính vận dụng thiết thực của các kỹ năng này trong công tác giáo dục và đào tạo Ngoài ra, mở rộng hơn chúng ta có thể vận dụng những hiểu biết về các kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp vào thực tiễn công việc

và cuộc sống hàng ngày nhờ vào việc tự kiểm soát, điều chỉnh tình cảm của bản thân đồng thời hiểu rõ hơn về người xung quanh như đồng nghiệp, khách hàng

mà chúng ta có cơ hội tiếp xúc mỗi ngày

2 Phân tích nội dung kỹ năng điều khiển giao tiếp và vận dụng kỹ năng này vào giải quyết tình huống “Sinh viên thường xuyên đi học trễ” 2.1 Phân tích nội dung kỹ năng điều khiển giao tiếp

Trang 4

+ Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp:

Là khả năng biết thu hút đối tượng, tìm ra đề tài giao tiếp, duy trì nó và xác định được nguyện vọng, hứng thú của đối tượng giao tiếp, biết làm chủ trạng thái xúc cảm của bản thân, biết sử dụng phối hợp các phương tiện giao tiếp Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp là khả năng duy trì và phát triển, kết thúc quá trình giao tiếp một cách hợp lý, hiệu quả cao Bao gồm:

- Kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp

- Kỹ năng điều khiển bản thân

- Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp

Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp là kết quả tổng hợp của kỹ năng định vị và kỹ năng định hướng trong quá trình giao tiếp Hiệu quả của quá trình giao tiếp phụ thuộc phần lớn vào kỹ năng điều khiển giao tiếp

+ Kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp:

Là khả năng biết thu hút đối tượng giao tiếp, tìm ra đề tài giao tiếp, biết

“Ám thị” “Thôi miên” đối tượng giao tiếp, biết thúc đẩy và kìm hãm tốc độ giao tiếp khi cần thiết, biết kết thúc giao tiếp đúng lúc Khi hoàn cảnh thay đổi, biết thay đổi thành phần, nội dung giao tiếp cho phù hợp, biết tạo ra xúc cảm tích cực cho đối tượng giao tiếp, nắm được tâm lý đối tượng, hướng đối tượng theo chủ đề giao tiếp

Ví dụ: Sinh viên A không hứng thú với môn Triết học, thậm chí A còn có

nhận định ban đầu về môn Triết đó là đây chỉ là môn phụ của lớp đại cương Tuy nhiên A vẫn đến lớp vì lý do duy nhất là để “tám chuyện” với các bạn Lúc này, giảng viên cần có phương pháp giảng dạy hay, ấn tượng và thu hút được cả lớp nói chung và sinh viên A nói riêng ngay từ tiết học đầu tiên Kết quả sau một thời gian đến lớp học đều đặn, sinh viên A dần quên rằng ban đầu bản thân A không thích việc học môn Triết, giảng viên đã thiết kế bài giảng hay và phù hợp

từ đó đã điều khiển được sinh A từ việc không có hứng thú với môn học sang

Trang 5

tâm thế mỗi ngày đi học là một ngày vui, A chăm học hơn, tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn và đạt được những tiến bộ đáng kể trong môn học này

+ Kỹ năng điều khiển bản thân chủ thể giao tiếp:

Là khả năng làm chủ được trạng thái xúc cảm của bản thân, biết tự kiềm chế, che giấu được tâm trạng, biết tạo ra hứng thú và xúc cảm tích cực để điều khiển diễn biến tâm trạng của bản thân, biết dùng phương pháp, thủ thuật giao tiếp sao cho phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp để đạt mục đích đã đặt ra

Ví dụ: Giảng viên đến lớp giảng bài với tâm trạng vui thì tiết học sẽ trôi

qua sinh động vui vẻ thú vị  Sinh viên sẽ tiếp thu với tâm thế hăng hái vui vẻ

 Phụ huynh sẽ vui khi thấy con mình học hành hứng thú và phụ huynh sẽ lan tỏa tâm trạng tích cực của bản thân vào môi trường làm việc đang công tác  Hiệu suất làm việc cao  Công ty phát triển góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Nhận ra tầm quan trọng của tâm trạng trong việc giảng dạy, giảng viên sẽ điều tiết điều khiển bản thân để xây dựng nên những xúc cảm tích cực bằng cách giảng viên cần mở lòng ra chấp nhận những mặt thiếu sót yếu kém của sinh viên

từ đó giảng viên sẽ bớt những kỳ vọng quá nhiều ở sinh viên Kết quả là tâm trạng của giảng viên sẽ không bị thất vọng, khó chịu và bực mình trong những tình huống sinh viên phạm sai lầm do thiếu sót về mặt kiến thức và kỹ năng Giảng viên cần chấp nhận thực tế rằng sinh viên đang trên đường hoàn thiện những hạn chế để tiến bộ hơn mỗi ngày nên việc sinh viên trả lời sai hoặc không đưa ra được câu trả lời khi giảng viên hỏi cũng là điều bình thường

+ Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp:

Trang 6

Là khả năng lựa chọn từ đắt, thích hợp, cách đặt câu ngắn gọn, dễ hiểu với giọng nói diễn cảm đồng thời biết biểu hiện nét mặt, cử chỉ, điệu bộ… cho phù hợp với nội dung lời nói

- Phương tiện Ngôn ngữ: lời nói và chữ viết

- Phương tiện Phi ngôn ngữ như:

* Ngôn ngữ cơ thể

* Trang phục trang điểm

* Thời gian, không gian

* Quà tặng

* Vị thế xã hội

Ví dụ: Giao tiếp giữa giảng viên và sinh viên trong lớp học diễn sẽ khác

nhau tương ứng với không gian giao tiếp khác nhau Trong phạm vi nhà trường, giảng viên nhận ra sinh viên đang vô lễ với cô lao công, giảng viên có thể nhắc nhở em sinh viên đó Tuy nhiên nếu trên xe buýt, giảng viên nhận ra sinh viên của mình đang không biết nhường ghế cho người già lớn tuổi nhưng lúc này giảng viên không thể dùng vị thế người Thầy để ra lệnh yêu cầu sinh viên nhường ghế được Giảng viên chỉ ghi nhận sự việc và nếu cần thiết khi vào trường giảng viên sẽ nhắc nhở riêng em sinh viên đó sau

2.2 Vận dụng kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp vào giải quyết tình huống “Sinh viên thường xuyên đi học trễ”

Bằng cách trao đổi riêng và trực tiếp với sinh viên về việc thường xuyên đi trễ trong tiết học, với kinh nghiệm và bản lĩnh nghiệp vụ sư phạm giảng viên sẽ quan sát, phân tích thái độ sinh viên và từ đó nắm bắt được lý do thật sự của vấn

đề sinh viên thường xuyên đi trễ Cụ thể, giảng viên phân loại những lý do việc thường xuyên đi trễ của sinh viên có thể phát sinh theo ba trường hợp sau và

Trang 7

tương ứng với mỗi trường hợp, giảng viên sẽ có cách vận dụng kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp để giải quyết cho từng trường hợp khác nhau:

+ Trường hợp 1: Lý do việc đi trễ của sinh viên xuất phát từ phía bản thân

sinh viên đó (lý do chủ quan): sinh viên có tính cách lười học, không có thái độ

cố gắng và cầu tiến trong việc học hoặc sinh viên thể hiện thái độ không cầu thị, không xem trọng môn học này

+ Trường hợp 2: Lý do việc đi trễ của sinh viên xuất phát từ phía giảng

viên đang giảng dạy giờ học đó: giảng viên chưa có phương pháp dạy tạo được hứng thú, thu hút sinh viên đến lớp sớm

+ Trường hợp 3: Lý do việc đi trễ của sinh viên xuất phát từ hoàn cảnh,

điều kiện khách quan (lý do khách quan): đó là những lý do phát sinh từ môi trường sống, hoàn cảnh sống của sinh viên Chẳng hạn như nơi sinh viên đang ở

xa trường học và sinh viên đi học bằng phương tiện xe buýt qua nhiều trạm nhiều chuyến hoặc vì hoàn cảnh gia đình sinh viên phải đảm nhận lo toan nhiều công việc gia đình trước giờ đến lớp hoặc sinh viên có ca đi làm thêm diễn ra cận giờ đến lớp

Chúng ta sẽ phân tích cách vận dụng kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp

để giải quyết từng trường hợp trên như sau:

+ Trường hợp 1: Lý do việc đi trễ của sinh viên xuất phát từ phía bản thân sinh viên đó (lý do chủ quan)

Qua tiếp xúc riêng, trao đổi trực tiếp và quan sát thái độ sinh viên, giảng viên nhận ra sinh viên thường xuyên đi trễ là do bản thân người sinh viên có tính cách lười học, không cố gắng trong việc học hoặc sinh viên có thái độ không cầu thị, không xem trọng đối với môn học này Lúc này, giảng viên có những xúc cảm không vui trước thái độ em sinh viên không thiện chí chịu nhìn nhận ra lỗi

và sửa sai bản thân Tuy nhiên giảng viên đã cố gắng vận dụng kỹ năng điều khiển bản thân để làm chủ cảm xúc của mình đồng thời giảng viên cũng thể hiện

Trang 8

sự cảm thông với em sinh viên bằng lời nói khuyến khích động viên như sau:

“Thật ra cô rất vui vì em đã cố gắng dành thời gian tham gia tiết học thay vì lựa chọn việc ở nhà ngủ cả ngày Các tiết học sau, cô tin em sẽ phát huy sự cố gắng này bẳng cách đến lớp đúng giờ thay vì lựa chọn việc nằm ngủ nướng thêm một

xíu” (giảng viên đã vận dụng kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp kết hợp với kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp là lời nói cảm thông, động viên để tạo ra xúc cảm tích cực cho sinh viên)

Sau khi xác định được lý do sinh viên đến trễ, giảng viên đã nhận biết được tâm lý lười học của sinh viên nên trong tiết học hôm sau giảng viên phổ biến

phương án khuyến khích cộng điểm cho các sinh viên đi học đúng giờ (giảng viên đã vận dụng kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp nhằm thúc đẩy em sinh viên đi trễ có động lực đi học sớm để được cộng điểm) đồng thời giảng viên

cũng thay đổi chữ viết trên bảng với cách thức viết chữ nhỏ hơn sao cho các sinh viên chủ động tập trung ngồi những bàn phía trên để có thể ghi chép bài tốt

(giảng viên đã vận dụng kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp là chữ viết để

em sinh viên đi trễ cố gắng đi học sớm hơn thì mới có thể có được chỗ ngồi phía trên để nhìn rõ chữ viết trên bảng)

+ Trường hợp 2: Lý do việc đi trễ của sinh viên xuất phát từ phía bản thân giảng viên

Qua tiếp xúc riêng, trao đổi trực tiếp và quan sát thái độ sinh viên, giảng viên nhận ra sinh viên thường xuyên đi trễ là do bản thân giảng viên chưa có phương pháp giảng dạy tạo được sự hứng thú, thu hút và tạo cho sinh viên có động lực đến lớp sớm Lúc này, giảng viên có những xúc cảm không vui khi nhận ra bản thân mình chưa làm tốt việc giảng dạy Tuy nhiên giảng viên đã cố gắng vận dụng kỹ năng điều khiển bản thân để làm chủ cảm xúc của mình đồng thời giảng viên cũng thể hiện sự cảm thông với em sinh viên bằng lời nói khuyến khích động viên như sau: “Thật ra cô rất vui vì em đã cố gắng dành thời gian tham gia tiết học của cô Các tiết học sau, cô tin em sẽ phát huy sự cố gắng

Trang 9

này bẳng cách đến lớp đúng giờ hơn” (giảng viên đã vận dụng kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp kết hợp với kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp là lời nói cảm thông, động viên để tạo ra xúc cảm tích cực cho sinh viên)

Sau khi xác định được lý do sinh viên đến trễ, người giảng viên đã nhận ra bản thân cần phải thay đổi phương pháp giảng dạy nhằm thu hút sinh viên hăng hái đến lớp học sớm hơn Trước đây, giảng viên giảng bài với giọng đều đều và theo cách thức truyền tải kiến thức một chiều là giáo viên đọc slide bài giảng và người học bên dưới chỉ ngồi ghi chép thụ động nên khiến cho sinh viên nhàm chán và không hứng thú với tiết học Hiểu rõ bản chất chất của kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp, giảng viên đã vận dụng quy luật này vào quá trình giảng dạy bằng cách giảng viên sẽ thay đổi linh hoạt nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau trong một tiết học như giảng viên có thể sử dụng phương pháp giảng dạy chủ động bằng cách trình chiếu slide bài giảng, lồng ghép nội dung bài học vào các tình huống ví dụ thực tế đồng thời xen kẽ việc trao đổi thảo luận tương tác hai chiều giữa người dạy và người học, bên cạnh đó giảng viên cũng

có thể kết hợp với cách dạy tạo cho người học tâm thế học tập chủ động, người học cần hoạt động nhiều hơn trong tiết học ví dụ như chia nhóm thảo luận sau

đó người học sẽ thuyết trình và chia sẻ kiến thức với giảng viên và cả lớp… Chính nhờ việc giảng viên linh hoạt thay đổi phương pháp giảng dạy khác nhau nên sinh viên cảm thấy mỗi ngày đến lớp là một ngày vui do đó cả lớp nói chung

và em sinh viên thường xuyên đi trễ nói riêng sẽ hăng hái hứng thú đến sớm và

đúng giờ hơn để tham gia tiết học (giảng viên đã vận dụng kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp kết hợp với kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp là lời nói, ngôn ngữ giảng bài sinh động có tiết tấu hơn kế để thu hút sinh viên hứng thú hơn và hăng hái tham gia tiết học đúng giờ)

Bên cạnh đó, giảng viên cũng có thể áp dụng phương án khuyến khích

cộng điểm cho các sinh viên đi học đúng giờ (giảng viên đã vận dụng kỹ năng

Trang 10

điều khiển đối tượng giao tiếp nhằm thúc đẩy em sinh viên đi trễ có động lực đi học sớm để được cộng điểm)

+ Trường hợp 3: Lý do việc đi trễ của sinh viên xuất phát từ hoàn cảnh, điều kiện khách quan (lý do khách quan):

Qua trao đổi với sinh viên, giảng viên nhận ra việc em sinh viên thường xuyên đi trễ là do những lý do khách quan phát sinh từ môi trường sống, hoàn cảnh sống của sinh viên, bản thân em sinh viên hoàn toàn không mong muốn mình sẽ đi học trễ Chẳng hạn như nơi sinh viên đang ở xa trường học và sinh viên đi học bằng phương tiện xe buýt qua nhiều trạm nhiều chuyến hoặc vì hoàn cảnh gia đình sinh viên phải đảm nhận lo toan nhiều công việc gia đình trước giờ đến lớp hoặc sinh viên có ca đi làm thêm diễn ra cận giờ đến lớp Lúc này, giảng viên cần quan tâm lắng nghe cũng như thể hiện sự cảm thông với em sinh viên bằng lời nói khuyến khích động viên như sau: “Thật ra cô rất vui vì em đã

cố gắng dành thời gian tham gia tiết học của cô Cô rất quý em vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng em đã nỗ lực và sắp xếp thời gian để không nghỉ tiết học

nào Em đã cố gắng rất nhiều rồi” (giảng viên đã vận dụng kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp kết hợp với kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp là lời nói cảm thông, động viên để tạo ra xúc cảm tích cực cho sinh viên, với hoàn cảnh khó khăn, bản thân sinh viên có lẽ cũng không mong muốn và rất buồn về việc mình thường xuyên đến lớp trễ vì vậy lúc này em sinh viên rất cần lời động viên thông cảm từ thầy cô từ đó sinh viên sẽ như được tiếp thêm động lực để cố gắng hơn trong việc đi học đúng giờ)

3 Kết luận

Vai trò của giáo dục nhân cách trong nhà trường đã được Albert Einstein khẳng định như sau: “ Nhà trường phải luôn luôn có chủ trương tạo cho học trò một cá tính cân đối chứ không nên biến chúng thành một nhà chuyên môn” Việc giáo dục và đào tạo trong nhà trường hiện nay không chỉ chú trọng đến việc tạo ra những con người giỏi về nghề nghiệp mà còn phải hoàn thiện về nhân

Ngày đăng: 25/03/2023, 14:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w