1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới

326 612 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Tác giả Lê Thị Quý, Nguyễn Thị Kim Hoa, Vũ Tuấn Huy, Đặng Cảnh Khanh, Nguyễn Duy Bắc, Phạm Việt Dũng, Từ Thuý Quỳnh, Nguyễn Thị Tuyết Nga, Vũ Thị Thanh, Nguyễn Trung Hiếu, Đinh Văn Quảng
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Phát triển xã hội
Thể loại Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 326
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số những cụng trỡnh nghiờn cứu về Xó hội học gia đỡnh hiện đại, chỳng ta cũn cú thể kể đến một số tác giả sau đõy: Moynihan Daniel Patrick với cuốn sỏch “Gia đỡnh người da mầu” The

Trang 1

Bộ khoa học và công nghệ CHƯƠNG TRèNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC Quản lý phỏt triển xó hội trong tiến trỡnh đổi mới ở Việt Nam

M∙ số: KX.02/06-10

Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu

Đề tài khoa học cấp nhà nước

VẤN ĐỀ GIA ĐèNH TRONG PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI VÀ QUẢN Lí PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

M∙ số: KX.02.23/06-10

Chủ nhiệm đề tài : GS-TS Lê Thị Quý Cơ quan chủ trì : Trung tâm nghiên cứu Giới và Phát triển

8366

Hà Nội - 2010

Trang 2

Danh sách những người tham gia chính

1 Lê Thị Quý GS, TS , chủ nhiệm đề tài

2 Nguyễn Thị Kim Hoa PGS,TS, Thư ký đề tài

3 Vũ Tuấn Huy PGS, TS, TTNC Giới và Phát triển

4 Đặng Cảnh Khanh GS,TS, Đại học Thăng Long

5 Nguyễn Duy Bắc PGS,TS, Viện CVăn hoá và Phát triển

6 Phạm Việt Dũng T.S, Tạp chí Cộng sản

7 Từ Thuý Quỳnh Th.s, Viện nghiên cứu Dư luận

8 Nguyễn Thị Tuyết Nga th.s, TTNC Giới và Phát triển

9.Vũ Thị Thanh th.s, Viện Ngiên cứu con người

10 Nguyễn Trung Hiếu Th.s, V Truyền thống và pT

11 Đinh Văn Quảng Th.s Vụ gia đình, B.Văn Hoá

Trang 3

Mục lục

Trang

Phần Mở đầu 7

Phần thứ nhất

Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu gia đình

trong phát triển x∙ hội và quản lý phát triển x∙ hội

44

Chương I Gia đình và quan hệ biện chứng giữa gia đình và xã hội 44

I Những vấn đề xung quanh khái niệm gia đình, gia đình trong phát triển xã hội,

quản lý xã hội, quản lý sự phát triển xã hội

44

3 Khái niệm về phát triển xã hội và quản lý xã hội 51

II Vị trí, vai trò, chức năng của gia đình trong sự vận động và phát triển của xã

III Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa những biến đổi kinh tế, chính trị,

văn hoá, xã hội với những biến đổi về gia đình

71

Chương II Những quan điểm của chủ nghĩa Marx- Lê nin, quan điểm của

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta về gia đình và quản lý gia

đình trong phát triển xã hội

91

I Quan điểm về gia đình của chủ nghĩa Marx Lê nin 91

1 Quan điểm của Engels về sự hình thành gia đình 91

2 Quan điểm chung của F Engels và Karl Marx về gia đình 93

II Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt

Nam về hôn nhân, gia đình

99

Phần thứ Hai

Gia đình Việt Nam truyền thống, gia đình Việt Nam hiện đại

trong phát triển x∙ hội và quản lý phát triển x∙ hội

102

Chương III Những đặc trưng cơ bản của gia đình Việt Nam truyền thống 102

Trang 4

và việc quản lý gia đình, quản lý sự phát triển xã hội trong lịch sử Việt

Nam

I Lược sử hình thành và phát triển của gia đình Việt Nam từ truyền thống đến

hiện đại

102

1 Người Việt truyền thống và mối quan hệ cá nhân- gia đình- cộng đồng- tổ

quốc trong lịch sử phát triển đất nước

102

2 ảnh hưởng của Nho giáo tới gia đình Việt Nam 104

3 ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo tới gia đình Việt Nam 112

II Hương ước hay luật và lệ làng- một biện pháp quản lý gia đình từ thời cổ đến

ngày nay

115

2 Một thí dụ Hương ước cổ của tỉnh Bắc Ninh 118

3 Vai trò của cộng đồng, hương ước trong việc củng cố và phát triển gia đình 128

IV Đặc điểm cơ bản của gia đình Việt Nam truyền thống 129

Chương IV Những biến đổi của gia đình Việt Nam trong thời kỳ nửa cuối

thế kỷ 19 đến thời kỳ đổi mới 1986

Chương V Thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay ( 1986-2010 ) và dự

báo xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam

140

I Chính sách chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang thị

trường định hướng XHCN (1986-2010) và tác động của nó tới xã hội

140

II Các vấn đề của gia đình Việt Nam hiện đại 149

1 Thay đổi một số chuẩn mực, giá trị trong gia đình 149

4 Hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam với một số nước Châu á hiện nay, vấn đề gia

Trang 5

7 Bạo lực gia đình 207

III Dự báo xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam 217

Chương VI Những nội dung cơ bản của quản lý gia đình và quản lý phát

triển xã hội và việc thực hiện quản lý gia đình ở nước ta hiện nay

2 Đảm bảo những điều kiện vật chất và tinh thần cơ bản cho gia đình- phát triển

dịch vụ gia đình- tạo điều kiện để gia đình thực hiện tốt các chức năng

225

3 Quản lý gia đình bằng luật pháp và các chuẩn mực đạo đức 227

II Phân tích các chính sách quản lý nhà nước về gia đình ở Việt Nam 230

1 Các văn kiện chính sách của Đảng và Nhà nước về gia đình trong thời kỳ

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

230

2 Một số hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ các cấp và sự phối hợp các

đoàn thể đối với công tác gia đình

Trang 6

UNFPA : Quỹ dân số của Liên hợp quốc

UNICEF : Quỹ nhi đồng của Liên hợp quốc

Trang 7

Phần Mở đầu

1 Đặt vấn đề

Gia đỡnh cú thể được coi là một trong những vấn đề được quan tõm hàng đầu trong lịch sử tư duy của nhõn loại Nhận thức được vị trớ quan trọng của gia đỡnh trong sự phỏt triển và ổn định của xó hội, nờn từ rất lõu, vấn đề gia đỡnh đó nhận được sự quan tõm chỳ ý của cỏc nhà tư tưởng, chớnh trị, cỏc triết gia và những lực lượng tiờn tiến trong xó hội ở cả phương Đông và phương Tây

Gia đỡnh là tế bào của xó hội, là một thiết chế xó hội đặc biệt trong cơ cấu của xó hội Sự ổn định và phỏt triển của gia đỡnh cú vị trớ, vai trũ hết sức quan

trọng đối với sự ổn định và phỏt triển xó hội Bởi vậy, trong sự phỏt triển của

lịch sử xó hội và con người, gia đỡnh bao giờ cũng là một giỏ trị Những giỏ trị

về văn hoỏ gia đỡnh là một bộ phận khụng thể thiếu được làm nờn những giỏ trị văn hoỏ chung của văn minh nhõn loại Việc xõy dựng cơ sở kinh tế xó hội thuận lợi để gia đỡnh thực hiện tốt cỏc chức năng của mỡnh là nhõn tố quan trọng cho sự phỏt triển xó hội

Nhiều cụng trỡnh khảo luận, phõn tớch lý luận và thực tiễn về sinh hoạt gia đỡnh và vị trớ của nú trong xó hội đó được thực hiện Trật tự gia đỡnh là nền tảng của trật tự xó hội Nước khụng thể cú kỷ cương, nếu gia đỡnh khụng cú trật tự Bởi vậy để cho gia đỡnh ổn định và phỏt triển thỡ tổ chức gia đỡnh, cỏc mối quan hệ gia đỡnh cần phải được hết sức tụn trọng Gia đỡnh cần phải cú gia quy, gia phỏp, gia giỏo, gia lễ, gia phong Tất cả làm hỡnh thành một hệ thống những chuẩn mực và giỏ trị về gia đỡnh hết sức chặt chẽ chi phối mọi hoạt động của con người

Trên thế giới, những nghiờn cứu khoa học về gia đỡnh một cỏch thực sự

bài bản và cú hệ thống được bắt đầu từ giữa thế kỷ 19 khi nú cuốn hỳt được sự tham gia của hàng loạt cỏc ngành khoa học khỏc nhau vào những nghiờn cứu chuyờn sõu và liờn ngành như Triết học, Xó hội học, Sử học, Văn hoỏ học,

Trang 8

Nhõn học, Giới Chớnh điều này đẩy tới nhu cầu phải liờn kết cỏc ngành khoa học lại với nhau trong nghiờn cứu gia đỡnh và dẫn đến việc hỡnh thành một

chuyờn ngành khoa học cũn khỏ mới mẻ mà người ta gọi là Gia đỡnh học ( Family Study) Sư ra đời của Gia đỡnh học núi lờn một ý nghĩa khụng thể phủ

nhận : Đú là vấn đề gia đỡnh đang ngày càng trở thành mối quan tõm của toàn

nhõn loại trờn con đường đi tới tương lai

Việt Nam là một nước cú truyền thống tụn trọng gia đỡnh Gia đỡnh vừa

là chỗ dựa về kinh tế, vừa là nơi nương tựa về tinh thần cho con người trong suốt cuộc đời nhiều khú khăn và trắc trở Tư tưởng Nho giỏo về gia đỡnh đó cú ảnh hưởng to lớn đối với sự phỏt triển của văn hoỏ gia đỡnh ở nước ta trong nhiều thế kỷ, đặc biệt là trật tự gia đình, gia quy, gia phỏp, gia lễ, gia giáo, gia phong trong trật tự xã hội Tư tưởng Phật giỏo cũng được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm Phật giỏo cú ảnh hưởng khỏ sõu sắc đến gia đình và gúp phần đỏng kể vào việc hỡnh thành nhõn cỏch của con người Việt Nam, đú là tư tưởng

đề cao lũng yờu thương con người, từ bi hỷ xả, sống giản dị, vị tha, không quá chạy theo dục vọng và đặc biệt là linh hoạt, nhạy bộn, chấp nhận biến đổi chứ khụng cứng nhắc như Nho giỏo Đạo giỏo (Lóo giỏo) vào Việt Nam khụng lõu sau Phật giỏo và nú cũng cú ảnh hưởng khụng nhỏ tới đời sống cũng như gia đỡnh của người Việt Nam Tuy Đạo giỏo khụng cú vị trớ chớnh thống trong hệ thống tư tưởng ở Việt Nam nhưng nú luụn tồn tại trong lối sống của người dõn

và văn hoá dân gian

Bên cạnh đó, Nền văn húa bản địa của Việt Nam được hỡnh thành trong điều kiện sản xuất nụng nghiệp lỳa nước, trong hoàn cảnh con người thường xuyờn phải đấu tranh chống ngoại xõm và thiờn nhiờn khắc nghiệt Nền văn húa bản địa mang nặng tư tưởng cộng đồng, sự cố kết, tinh thần tương thân, tương ái tiờu biểu cho những đặc trưng riờng ở Việt Nam và nú chớnh là nền tảng để người Việt tiếp nhận nhiều luồng văn húa khỏc nhau mà khụng bị đồng húa, thậm chớ cũn cải cách chúng để phự hợp với cốt cỏch, tinh thần của mình Trong tư tưởng bản địa nổi bật là tư tưởng tôn trọng phụ nữ, từ phong tục thờ Mẫu ( Mẹ đất, Mẹ nước ) đến thờ phụ nữ làm Thành hoàng làng, làm bà Chúa

Trang 9

Quân - Âu Cơ đến ca dao, tục ngữ ca ngợi công lao của phụ nữ như : “Công

cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” Hay :

“Thuận vợ thuận chồng, biển Đông tát cạn”, “ Lệnh ông không bằng cồng bà”… đến ngôn ngữ của người Việt là “Vợ chồng” và “ Mẹ cha hoặc “ Cha

mẹ” đều có giá trị như nhau

Các tư tưởng này cần phải được tiếp tục nghiờn cứu và phõn tớch sõu sắc hơn trong sự kết hợp với những tư tưởng mới đã ảnh hưởng tới gia đỡnh và nhõn cỏch của người Việt tuyền thống và hiện đại

Những kiến thức khoa học về gia đỡnh từ lõu đó được cấc tầng lớp xó hội, cỏc nhà quản trị đất nước cũng như cộng đồng xó hội quan tõm Cha ụng chỳng

ta đó khụng chỉ dạy dỗ cho con chỏu những phẩm chất đạo đức vụ giỏ trong cuộc sống xó hội mà cũn cả sự tụn trọng và bảo vệ cỏc giỏ trị gia đỡnh và cỏc kiến thức về tổ chức và quản lý gia đỡnh Điều này thể hiện rất rừ trong cỏc cõu chuyện lịch sử, văn học, cỏc văn bản phỏp luật và phong tục tập quỏn

Chủ tịch Hồ Chớ Minh cũng rất quan tõm đến vấn đề gia đỡnh Trong

nhiều tỏc phẩm của mỡnh, Người đó đề cập rất rừ đến vai trũ của gia đỡnh đối với con người và xó hội Gia đỡnh là cỏi nụi nuụi dưỡng con người, là nơi con người xõy dựng mối quan hệ yờu thương, bỡnh đẳng, hoà thuận

Trong lịch sử phỏt triển của mỡnh, gia đỡnh vừa là một đơn vị kinh tế, vừa

là cỏi nụi đầu tiờn và suốt đời nuụi dưỡng, giỏo dục con người, duy trỡ và phỏt triển ở họ những quan hệ tỡnh cảm đặc biệt từ thế hệ này sang thế hệ khỏc Cựng với thiết chế giỏo dục, gia đỡnh cú vai trũ quan trọng trong việc xó hội húa con người, đưa con người từ con người sinh học sang con người xó hội Sự hỡnh thành những chuẩn mực và định hướng giỏ trị tốt đẹp của gia đỡnh sẽ khụng chỉ củng cố cỏc mối quan hệ gia đỡnh mà cũn kiến tạo một mụi trường

xó hội thuận lợi cho mỗi cỏ nhõn được phỏt triển hài hoà và toàn diện Về phương diện này, gia đỡnh là cơ sở đầu tiờn cho việc tỏi sản xuất ra con người

và xó hội

Mặt khỏc, gia đỡnh cũng là nguồn cung cấp lực lượng lao động, của cải cho xó hội và tham gia vào cỏc quỏ trỡnh kinh tế của xó hội từ sản xuất, phõn

Trang 10

phối, đến trao đổi và tiờu dựng Mọi nhõn tài của đất nước, từ cỏc cỏn bộ cụng quyền đến những người lớnh, từ cỏc tầng lớp cụng nhõn, nụng dõn, trớ thức đều xuất thõn từ gia đỡnh Họ cú mặt trờn tất cả cỏc vị trớ của xó hội, điều tiết và vận hành bộ mỏy của xó hội Trong mối liờn hệ giữa gia đỡnh và chớnh trị, cỏc chớnh sỏch xó hội và luật phỏp đó tỏc động sõu sắc đến phỳc lợi và an sinh của cỏc thành viờn gia đỡnh Ngược lại, gia đỡnh đó gúp phần thực hiện, duy trỡ và bảo vệ thành quả của chớnh sỏch, luật phỏp để ổn định và phỏt triển xó hội Gia đỡnh cũng đúng vai trũ quan trọng trong việc kiểm soỏt xó hội

Do những chức năng xó hội đặc thự của mỡnh, gia đỡnh đó gúp phần quan trọng vào việc duy trỡ sự tồn taị của đời sống xó hội, phỏt triển kinh tế, ổn định xó hội, xõy dựng cỏc chuẩn mực và giỏ trị đạo đức, phong tục tập quỏn, lối sống văn hoỏ, giỏo dục Gia đỡnh cũng là một mắt xớch quan trọng trong mối quan hệ xó hội giữa con người với con người, con người với làng xúm, cộng đồng, đất nước Bởi vậy, việc củng cố gia đỡnh, xõy dựng cỏc quan hệ gia đỡnh lành mạnh bao giờ cũng là cơ sở đầu tiờn cho việc củng cố xó hội , xõy dựng cỏc quan hệ xó hội tốt đẹp Qua cỏc nền văn húa cũng như trong suốt chiều dài của lịch sử, gia đỡnh và cỏc thiết chế cơ bản khỏc của xó hội như đảng chớnh trị, chớnh quyền, các bộ ngành, quõn đội, cỏc đoàn thể, tổ chức xó hội đó

cú mối liờn hệ qua lại chặt chẽ với nhau nhằm duy trỡ sự ổn định của xó hội Đõy chớnh là những nhõn tố phi kinh tế khụng thể thiếu được để thỳc đẩy và dẫn đường cho những phỏt triển về kinh tế

Rõ ràng là “Xó hội” khụng phải là một cơ chế tĩnh tại, “nhất thành bất biến” mà phỏt triển khụng ngừng Trong sự biến đổi của xó hội dưới tỏc động của cỏc yếu tố chớnh trị, kinh tế, văn húa, khoa học cụng nghệ, dõn số, mụi trường thiết chế gia đỡnh cũng luụn biến đổi để thớch nghi với những điều kiện mới Mặc dự sự biến đổi của gia đỡnh xảy ra ở mỗi nước cú khỏc nhau về thời điểm và mức độ, nhưng hầu hết những biến đổi này đó diễn ra theo một số

xu hướng gắn liền với cỏc trào lưu lớn của xó hội Sự thay đổi tiêu cực của cỏc

mối quan hệ giữa con người với con người trong gia đỡnh cũng kộo theo những thay đổi tiêu cực của cỏc mối quan hệ giữa con người với con người trong xó

Trang 11

hội, làm giảm sỳt chất keo kết dớnh trong xó hội Điều đú đó tỏc động nhiều tới sự ổn định và phỏt triển của xó hội Vỡ lẽ đú, cú thể núi chớnh sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ cũng phải chịu sự tỏc động thỳc đẩy hay kỡm hóm từ những nhõn tố tiến bộ hay bảo thủ của gia đỡnh

Gia đỡnh ở nước ta, bờn cạnh những bước phỏt triển mới, tiến bộ,

thuận lợi cũng đó phải đối diện với rất nhiều thỏch thức và bước đầu cũng đó

cú những dấu hiệu của sự khủng hoảng

Nguyờn nhõn của tỡnh hỡnh trờn một phần là do nhận thức của xó hội về

vị trớ, vai trũ của gia đỡnh và cụng tỏc quản lý nhà nước về gia đỡnh chưa theo kịp sự phỏt triển của đất nước Những mặt tớch cực của gia đỡnh trong sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ và hiện đại hoỏ chưa được phỏt huy Nhiều vấn đề bức xỳc về gia đỡnh chưa được xử lý kịp thời Cỏc cấp uỷ đảng, chớnh quyền, đoàn thể chưa quan tõm đỳng mức, thiếu kiến thức và trách nhiệm trong việc nghiờn cứu, lónh đạo, chỉ đạo cụng tỏc gia đỡnh, chẳng hạn như cụng tỏc giỏo dục trước và sau hụn nhõn, xây dựng hạnh phúc gia đình, ứng xử có đạo đức, tình người và trách nhiệm sau ly hôn, việc cung cấp một cách hệ thống cỏc kiến thức làm vợ, làm chồng, làm cha, mẹ, ông, bà, làm con, cháu…, việc giáo dục

kỹ năng ứng xử của cỏc thành viờn trong gia đỡnh, cung cấp dịch vụ gia đình, vận hành Toà án gia đình chưa được coi trọng Nhiều gia đỡnh cũn xem nhẹ việc chăm súc, giỏo dục và bảo vệ cỏc thành viờn, đặc biệt là trẻ em, phụ nữ và

người cao tuổi Trong tỡnh hỡnh trờn, các gia đỡnh nếu khụng được hỗ trợ,

khụng được chuẩn bị đầy đủ về vật chất, tinh thần và nhận thức, sẽ khụng đủ năng lực đối phú với những biến động và thay đổi nhanh chúng về kinh tế xó hội và khụng làm trũn được các chức năng của mỡnh Mặt khỏc, xu hướng thu nhỏ phạm vi của gia đỡnh, tăng cường gia đỡnh hạt nhõn sẽ gõy nhiều sức ộp về việc quản lý gia đỡnh, làm gia tăng cỏc nhu cầu về vật chất, nhà ở và dịch vụ gia đỡnh, đặt việc chăm súc trẻ em và người cao tuổi vào những thỏch thức mới

Chớnh cụng cuộc xõy dựng xó hội Xó hội chủ nghĩa ở nước ta đó và đang đũi hỏi chỳng ta phải cú cỏch nhỡn nhận đỳng đắn và sõu sắc hơn trong vấn đề

Trang 12

gia đỡnh Thông qua Hiến pháp, Luật Pháp và các Chiến lược, Đảng và Nhà nước ta đó luụn khẳng định gia đỡnh cú một vị trớ quan trọng trong sự nghiệp xõy dựng văn hoỏ và phỏt triển về mọi mặt của đất nước Vấn đề đặt ra là phải thực hiện nghiêm túc các chính sách này trong thực tiễn, phải tạo ra một đời sống lành mạnh trong gia đỡnh và xã hội, phải giữ gỡn và phỏt huy những truyền thống, đạo đức tốt đẹp của gia đỡnh, coi trọng xõy dựng gia đỡnh văn hoỏ thực sự, xõy dựng mối quan hệ khăng khớt, lành mạnh giữa gia đỡnh với cỏc thiết chế khỏc của xó hội và chính xã hội

2 Những vấn đề nghiên cứu gia đình đã và đang được đặt ra trên thế giới và Việt Nam

Sẽ là không tưởng nếu chúng tôi làm Tổng quan các nghiên cứu về gia

đình vì theo thống kê chưa đầy đủ thì chỉ riêng tài liệu hiện đang có ở thư viện Viện Gia đình và Giới thì sách (cả tiếng Việt và tiếng Anh) viết về gia đình là

430 cuốn còn bài Tạp chí thì có 1.512 bài Ngay tủ sách cá nhân của gia đình tác giả cũng có tới hơn 500 trăm cuốn sách viết về gia đình bằng tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Bungari, tiếng Pháp, tiếng Việt Vì vậy, chúng tôi chỉ có thể giới thiệu một số tác phẩm nghiên cứu gia đình chủ yếu từ góc độ Triết học, Xã

hội học, Sử học, Chính trị học, Thống kê học, Dân tộc học, Giới… trên thế

giới và Việt Nam

2.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

Nhiều cụng trỡnh khảo luận, phõn tớch lý luận và thực tiễn về sinh hoạt gia đỡnh và vị trớ của nú trong xó hội đó được đề cập đến ngay từ thời kỳ cổ đại Từ thần thoại Hy Lạp cho đến cỏc bản trường ca bất hủ Iliat và Odisse của Homere

và sau này là bi và hài kịch cổ điển Hy Lạp, bi kịch của William Shakespeare (1564 – 1616), hài kịch Moliere (Jean- Baptiste Poquelin, 1622-1673), chủ đề gia đỡnh và tình yêu luụn được quan tõm hàng đầu và có sức hấp dẫn lớn Nhờ

cú cỏc cụng trỡnh này mà chỳng ta cú thể biết được hỡnh ảnh của cỏc gia đỡnh

cổ đại từ quy mụ đến cơ cấu, từ cỏch thức tổ chức gia đỡnh đến việc xử lý cỏc mối quan hệ gia đỡnh Về lịch sử nghiên cứu gia đình, chúng tôi có thể phân chia ra các hướng tiếp cận như sau:

Trang 13

Những tiếp cận gia đình từ góc độ Triết học, ChÝnh trÞ häc

Các nhà triết học nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại ít nhiều đều có trình bày

những quan điểm của mình về gia đình Platon đã nói khá nhiều về gia đình và

cá nhân trong mô hình quản lý của “Nhà nước lý tưởng” mà ông đưa ra Tuy nhiên, chúng ta có thể coi nhà triết học Hy Lạp Aristoteles (384 - 322 trước

Công nguyên) là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về gia đình một cách hệ thống Ông đã dựa vào phương pháp phân tích thực nghiệm để nghiên cứu các hiện tượng xã hội và xác định hệ thống gia đình một cách tổng quát Ông coi gia đình là một phạm trù biến đổi, vừa mang tính lịch sử vừa mang tính đặc thù của các xã hội Tuy nhiên những nghiên cứu của ông còn phần nào mang tính tự phát, dựa vào những nhận thức rất nhạy cảm, thông minh nhưng lại có phần chủ quan và thiên kiến

Nói đến những công trình khoa học đầu tiên về gia đình chúng ta không thể không nhắc tới các nhà kinh điển của Nho giáo Trung Quốc Cho đến nay, khó có một công trình nghiên cứu khoa học nào về gia đình lại có được tính toàn diện và hệ thống có thể sánh được với Nho giáo Nho giáo đặt gia đình

vào mối quan hệ với toàn bộ hệ thống xã hội của con người, coi Nhà là mắt

xích quan trọng nhất nối kết Con người với §ất nước và Thế giới (Thân – Nhà

- Nước – Thiên hạ) Các tác phẩm của Nho giáo với các đại biểu nổi tiếng như

Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử (Nho giáo nguyên thuỷ) và Trình Y Xuyên,

§æng Träng Th− (Hậu Nho) đã đặt nền móng cho toàn bộ các quan điểm nghiên cứu về gia đình ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên lµ nh÷ng nuíc theo Nho gi¸o thêi cæ

Nhiều quan điểm có tính phương pháp luận về nghiên cứu gia đình của Nho giáo cho đến nay vẫn có giá trị tham khảo tốt trong nghiên cứu gia đình Quan điểm phân tích gia đình từ vị trí vai trò và chức năng xã hội của nó là một ví dụ Từ một cơ cấu xã hội được phân tích khá rõ ràng như vậy, Nho giáo cũng đã khẳng định được vị thế của mỗi cá nhân trong gia đình và xã hội Bởi

vậy, con người trước hết cần phải học tập, tu dưỡng (Tu thân), sau đó phải xây dựng và quản lý nhà mình cho thật tốt (Tề gia) rồi sau đó mới có thể nói đến

Trang 14

những vấn đề rộng lớn hơn là trỏch nhiệm với xó hội và tổ quốc, quản lý đất

nước (Trị quốc ) và thậm chớ cũn lớn hơn là cai trị nước khỏc (Bỡnh thiờn hạ)

Quan điểm về nam giới và phụ nữ trong Nho giáo thể hiện rõ bản chất của chế

độ phụ quyền, thống trị toàn diện và đẩy phụ nữ xuống hàng nô lê, thấp kém trong gia đình và ngoài xã hội Nho giáo cũng nhấn mạnh các quan điểm về giáo dục gia đình, các quan điểm về gia giáo, gia quy, gia lễ, gia phong, gia pháp

Từ giữa thế kỷ 19, có sự tham gia của rất nhiều nhà khoa học cú tờn tuổi như cỏc nhà xó hội học người Phỏp là A Comte và E Durkheim, nhà sinh học

xó hội H Spencer, nhà nhõn chủng học Morgan nhưng đỏng kể nhất, chỳng ta khụng thể khụng núi tới cỏc nhà kinh điển của chủ nghĩa Mỏc đã làm cho các nghiên cứu về gia đình trở nên phong phú và sâu sắc (Chúng tôi sẽ trình bày sâu hơn trong chương về Chủ nghĩa Mác- Lê Nin)

Hướng tiếp cận vấn đề gia đỡnh từ gúc độ triết học cũng được quan tõm

nhiều bởi cỏc học giả lớn của triết học phương Tõy như J J Rousseau, Vonter Các ông đều phõn tớch vị trớ, vai trũ quan trọng của gia đỡnh đối với sự

phỏt triển tiến bộ của xó hội Trước cuộc sống phức tạp của xó hội tư bản đang phỏ hoại cỏc chuẩn mực văn hoỏ gia đỡnh truyền thống, J.J Rousseau, khuyờn con người chối bỏ toàn bộ những chuẩn mực và giỏ trị liờn quan đến những quan hệ thị trường hàng húa “xấu xa” để trở về với “trạng thỏi đạo đức tự nhiờn”, với thời kỳ “con người phỏt minh ra lưỡi cõu và cõy gậy để cõu cỏ, cung tờn để săn bắn, làm quần ỏo từ vỏ cõy và da thỳ, dựng lửa để nấu ăn và

sống trong quần thể, trở lại với mụ hỡnh gia đỡnh truyền thống” (J.J Roussau, 1964)

Cỏc nhà triết học hiện sinh thỡ phõn tớch gia đỡnh như là một sự hiện hữu chủ quan của chớnh con người Nhà triết học hiện sinh nổi tiếng người Phỏp

Jan Paul Sarx coi gia đỡnh là một sản phẩm chủ quan của thiết chế xó hội và

con người tự do, biết yờu đương chõn thật khụng nờn bị ràng buộc quỏ nhiều

vào thiết chế vụ nghĩa của xã hội A Camus trong tỏc phẩm “Ngộ nhận”,

Trang 15

trong khi nhấn mạnh tới sự tự do của cỏ nhõn trong “kiếp sống ngắn ngủi” đó coi gia đỡnh như là một sự nhầm lẫn, một bi kịch của chớnh con người

Hướng nghiờn cứu kết hợp giữa triết học với những phõn tớch tõm lý học

về gia đỡnh cũng được quan tõm đặc biệt mà đại biểu nổi tiếng nhất phải kể đến

là bỏc sỹ Z Freud (1856 - 1939) Xu hướng nghiờn cứu này thường được tiến

hành vừa mang tớnh sinh học vừa mang tớnh xó hội, tõm lý học về gia đỡnh gắn liền với việc giải quyết những trường hợp bệnh lý tõm lý trong thực tiễn

Những nghiờn cứu về gia đỡnh cũng được quan tõm nhiều bởi cỏc nhà triết học ở cỏc nước XHCN trước đõy Hầu hết cỏc viện nghiờn cứu triết học ở cỏc nước Đụng Âu và Liờn Xụ đều cú bộ phận nghiờn cứu về gia đỡnh đặt trong cỏc Ban nghiờn cứu về chủ nghĩa duy vật lịch sử hoặc Ban chủ nghĩa xó hội khoa học Những nghiờn cứu về gia đỡnh của cỏc ban này thường mạnh về

lý thuyết và ít lý giải một cỏch sõu sắc những vận động và biến đổi phức tạp của gia đỡnh tại chớnh cỏc nước núi trờn

Hướng tiếp cận gia đình từ góc độ Chính trị học thông qua các luật pháp, chính sách từ lịch sử đến hiện đại đã giúp cho tác giả báo cáo này có cái nhìn toàn diện hơn về quản lý gia đình và chức năng chính trị của gia đình trong xã hội Gia đình là một thiết chế xã hội mang tính chính trị cao So sánh với luật pháp của một số nước về gia đình và ảnh hưởng của các chế độ chính trị khác nhau tới gia đình chúng ta càng khẳng định chính trị là một bộ phận không thể thiếu được trong sinh hoạt của các gia đình và đôi khi nó còn phân hoá, chia rẽ các thành viên gia đình như trường hợp Việt Nam trong lịch sử chiến tranh, đặc biệt là trong kháng chiến chống Pháp, chống Nhật, chống Mỹ và ngay cả hiện nay khi các gia đình có người thân sống với các tư tưởng đối lập nhau

Cỏc hướng tiếp cận đa ngành về gia đỡnh

Trong cỏc hướng tiếp cận đa ngành về gia đỡnh, chỳng ta phải kể đến cỏc

cụng trỡnh nghiờn cứu của cỏc nhà nhõn chủng học, dõn tộc học, sử học mà mở đầu là những cụng trỡnh nghiờn cứu về cỏc gia đỡnh của cỏc thổ dõn vựng Chõu

Úc và cỏc quần đảo phớa nam Thỏi Bỡnh Dương Việc vận dụng cỏc phương phỏp nghiờn cứu liờn ngành dựa trờn cơ sở của khoa nhõn chủng học, cỏc nhà

Trang 16

nghiên cứu muốn dùng phương pháp thử nghiệm để phân tích gia đình các bộ tộc thổ dân để tìm hiểu về nguồn gốc của gia đình và những hình thức sơ khai của gia đình

Điển hình cho những xu hướng nghiên cứu nói trên là các công trình của

Radcliff Brawn, Levi Strauss, Borinislav Malilowski và học trò của họ Borinislav Malilowski một trong những nhà nhân chủng học xã hội nổi tiếng trong công trình khoa học mang tên “Đời sống tình dục của những thổ dân vùng Tây Bắc quần đảo Melanesia” (The Sexual Life of Savages in North- Western Melanesia), n¨m 1929 đã phân tích sâu sắc các mối quan hệ gia đình

của nhóm thổ dân vùng Melanesia trong mối quan hệ với văn hoá và tập tục xã hội Nghiên cứu gia đình trong dạng phôi thai của nó, Malinowski đã phát hiện

ra những chức năng quan trọng gắn liền với sự tồn tại và phát triển của gia đình như chức năng kinh tế, chức năng giáo dục và xã hội hoá cá nhân Những nghiên cứu của Malinowski đã chỉ ra được bản chất sự tồn tại tự nhiên của gia đình và điều đó đã tạo cơ sở để khắc phục sự tha hoá gia đình trong xã hội hiện đại

Gia đình cũng trở thành một trong những mối quan tâm của các nhà giáo

dục học và văn hoá học Giáo sư John Macionis, nhà giáo dục học người Mỹ,

khi nói về các chức năng của gia đình coi giáo dục và xã hội hoá cá nhân là một trong những chức năng quan trọng nhất Ông cho rằng sự coi nhẹ chức năng này là yếu tố làm cho đạo đức xã hội bị suy giảm

Hướng tiếp cận gia đình từ góc độ xã hội học (Socilogy)

Trong số những đóng góp nghiên cứu đáng kể nhất về gia đình , chúng

ta không thể không nói đến sự tham gia tích cực của các nhà Xã hội học Chính

sự tham gia của Xã hội học vào các nghiên cứu gia đình đã khiến cho nhận thức của nhân loại về gia đình tránh được sự tư biện và trở nên toàn diện, sâu sắc hơn

Một trong những nhà nghiên cứu xã hội học đầu tiên về gia đình chính là

August Comte (1798 - 1857), người được coi là nhà sáng lập ra bộ môn Xã hội

học Trong khi phân tích xã hội dưới dạng cơ cấu của nó, A.Comte cố gắng xác

Trang 17

định vị trí và chức năng của gia đình trong sự vận động của tổng thể xã hội

Chia xã hội thành hai phần cấu trúc cơ bản là tĩnh học xã hội (phần cơ cấu chức năng) và động học xã hội (phần lịch sử), A Comte cho r»ng gia đình vừa

nằm trong phần cơ cấu tĩnh của xã hội tức là có vị trí vai trò chức năng quan trọng trong xã hội, lại vừa nằm trong phần động của xã hội (tức là vận động và

biến đổi cùng với các sự kiện lịch sử) Chính vì vậy, ông cũng cho rằng gia

đình là công cụ xã hội hoá cá nhân, chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống xã hội, là trường học đầu tiên của con người trước khi bước vào đời sống

xã hội Gia đình là một thành phần xã hội cơ bản và quan trọng nhất làm nên diện mạo của xã hội Cơ sở gắn bó gia đình trong xã hội là kết quả sự tác động tương hỗ giữa các gia đình với nhau trên cơ sở những sự phân công lao động

Cũng trong giai đoạn này, chúng ta cũng có thể coi nhà xã hội học Pháp

Le Play (1806 - 1882), là một trong những người đầu tiên đề xướng việc

nghiên cứu thực nghiệm về gia đình Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ quan điểm thực chứng luận của A Comte, Le play coi gia đình là một bộ phận của xã hội và do

đó có thể thông qua việc phân tích, mổ xẻ những quan hệ gia đình mà tiến tới phân tích toàn bộ xã hội Ông cũng là người đầu tiên đưa ra chủ trương nghiên cứu gia đình phải phân tích chức năng kinh tế và những quan hệ kinh tế xung quanh nó Ông nhấn mạnh vào việc nghiên cứu ngân sách gia đình và cho rằng

nó sẽ quyết định toàn bộ cuộc sống và các chức năng của gia đình

Đặt gia đình trong bối cảnh chung của một cơ cấu xã hội tổng thể, nhà

xã hội học Pháp E Durkheim coi gia đình là một đơn vị xã hội quan trọng

nhất tạo nên cái mà ông gọi là sự “đoàn kết xã hội” Theo ông nếu xã hội hiện đại đang tiến dần từ sự đoàn kết cơ học sang sự đoàn kết hữu cơ dựa trên tính

tự giác của con người Gia đình cũng vậy, nó cũng vận động, phát triển trên cơ

sở duy trì các vị thế và vai trò của nó Là người đặt nền móng cho quan điểm chức năng luận trong Xã hội học, Durkhem nhấn mạnh tới các chức năng của gia đình trong sự vận hành của hệ thống xã hội Trong tác phẩm nổi tiếng và

mang tính kinh điển xã hội học của mình là “Nạn tự tử” (The Suicide),

Durkheim đã phân tích gia đình trong điều kiện của những sai lệch chuẩn mực

Trang 18

xã hội mà ông gọi chung là hiện tượng “Anomie” Sự khủng hoảng của gia đình theo Durkheim chính là việc không duy trì được các chức năng của chính

gia đình Theo ông, nạn tự tử xuất hiện cũng là biểu hiện của chính sự phá vỡ

chủng tộc như nước Mỹ, vấn đề gia đình luôn trở thành một mối quan tâm lớn

đối với các nhà quản lý xã hội và các nhà khoa học Với Robert Park, người

đặt nền móng cho môn Xã hội học đô thị thì nếu ổn định gia đình là nhân tố quan trọng để ổn định xã hội thì việc quản lý gia đình cũng góp phần quan trọng vào việc quản lý các đô thị lớn Ông đòi hỏi sự tham gia của cộng đồng

xã hội vào việc củng cố các mối quan hệ gia đình thông qua việc mở rộng không ngừng các hình thức dịch vụ gia đình

Ch.H.Cooley, trong cuốn sách “Bản chất con người và trật tự xã hội” thì

lại đưa ra quan điểm coi gia đình như là một thành tố cấu thành của trật tự xã hội Ông chia xã hội thành nhiều nhóm nhỏ và coi gia đình là một trong những nhóm nhỏ có vai trò quan trọng nhất trong quá trình xã hội hoá của các cá nhân Đưa hệ thống phương pháp luận có tính cơ cấu-chức năng vào việc phân tích gia đình, Cooley và những học trò của ông đã có điều kiện để mổ xẻ, phân tích các quan hệ gia đình một cách cụ thể, sát thực Tuy nhiên những nghiên cứu của Cooley đã bị giới phê bình cho là có phần coi nhẹ các nhân tố mang tính chủ thể như nhận thức, tâm lý, tâm trạng, các nhân tố về văn hoá, truyền thống, phong tục tập quán trong sự vận động của các quan hệ gia đình

Trong sự vận động và biến đổi của xã hội hiện đại, nhiều vấn đề mới xuất hiện, làm phức tạp thêm cho việc nghiên cứu Xã hội học về gia đình Trước đây khái niệm gia đình chỉ bao hàm hai người nam nữ khi họ đã cưới nhau và chung sống với con cái Người chồng là người duy nhất trụ cột gia đình và người vợ là người ở nhà chăm sóc công việc gia đình và con cái Vào khoảng

Trang 19

những năm 50, trong giới nghiờn cứu rất thịnh hành một định nghĩa về gia

đỡnh: Là một nhúm xó hội gồm hai hoặc nhiều người gắn bú với nhau bằng

quan hệ hụn nhõn, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nhận con nuụi nhằm thoả món nhu cầu về xó hội về tỏi sản xuất dõn cư theo cả nghĩa thể xỏc và tinh thần Tuy nhiờn thực tế cho thấy, trong xó hội đó tồn tại ngày càng nhiều

số gia đỡnh khụng phự hợp với loại định nghĩa trờn, bởi lẽ cỏc hỡnh thức gia

đỡnh ngày nay càng đa dạng và phức tạp: Gia đình có cặp vợ chồng ( Gia đình

hạt nhân) ; Gia đỡnh chỉ cú một mẹ hoặc một cha; Gia đỡnh tỏi hụn; Nam nữ sống chung khụng hôn thú ; Cha mẹ và con nuụi; Gia đỡnh mở rộng( đa thế hệ); Gia đỡnh đa thờ (hoặc đa phu); Gia đỡnh đồng tớnh luyến ỏi; Gia đỡnh thuê

đẻ con ( đứa con mang ba dòng máu )

Sự thay đổi này đó ảnh hưởng tới việc phõn tớch về gia đỡnh Nú khiến cho việc nghiờn cứu về gia đỡnh ngày càng đũi hỏi tớnh chuyờn mụn hoỏ cao hơn Người ta bắt đầu trở lại với những vấn đề nghiờn cứu rất cơ bản về gia đỡnh, bàn luận với nhau cả về những vấn đề khỏi niệm và bộ cụng cụ nghiờn cứu Ngay cả những định nghĩa gia đỡnh cũng đó cú sự nhận định trở lại Chẳng hạn cỏc nhà Xó hội học thường cho rằng cần phải hiểu một cỏch khỏc nhau khỏi niệm gia đỡnh, cần phân biệt gia đình với khỏi niệm hộ gia đỡnh

Giỏo sư D Newman, nhà Xó hội học Mỹ hiện đại trong cuốn sỏch Xó hội học về gia đỡnh (Sociology of Families, 1999), đó khẳng định đó đến lỳc

những nghiờn cứu về gia đỡnh cần phải được chuyờn mụn hoỏ sõu sắc hơn, cần phải bắt đầu lại từ chớnh khỏi niệm thế nào là gia đỡnh Trong cụng trỡnh nghiờn cứu này, ông đó trỡnh bày lại cỏc định nghĩa khỏc nhau về gia đỡnh, hỡnh thức gia đỡnh, vấn đề quyền cỏ nhõn và trỏch nhiệm của gia đỡnh, ảnh hưởng của vấn đề chủng tộc tới đời sống gia đỡnh… ễng cho rằng gia đỡnh là một nhúm xó hội đặc biệt, khụng thể định nghĩa một cỏch cứng nhắc, càng khụng thể đồng nghĩa nú với một hộ gia đỡnh Bởi vậy theo ụng, khi định nghĩa về gia đỡnh cũng khụng thể chỉ dựa trờn tiờu chớ là họ sống chung một mỏi nhà Vớ dụ như, ở bộ tộc Kispigis thuộc nước Kenya, người mẹ và con cỏi sống chung ở một nhà, cũn người bố thỡ lại sống ở một ngụi nhà khỏc Đối với người Thonga

Trang 20

thuộc Nam Phi thỡ trẻ con ớt nhất cũng phải sống với ụng bà cho đến khi hết thời kỡ bỳ mẹ Sau đú những đứa trẻ này cú thể ở đú trong vài năm rồi mới trở

về với bố mẹ Ở khu định cư truyền thống của người Do Thỏi, trẻ em được nuụi dưỡng ở cỏc nhà trẻ chứ khụng phải ở nhà của bố mẹ đẻ Những gia đỡnh giàu cú ở chõu Âu thường gửi con cỏi đi học ở nước ngoài và trờn thực tế, chỳng sẽ phải trải qua phần lớn thời thơ ấu tại đú

Cũng theo giỏo sư Newman, hiện nay cú hàng triệu gia đỡnh ở Mỹ cũng đang phải sống trong tỡnh cảnh chồng, vợ, con cỏi mỗi người một nơi Những gia đỡnh này cú vợ hoặc chồng đi làm xa nhà lõu ngày Họ thường là những người làm việc trong quõn đội, những thuỷ thủ trờn cỏc chuyến tàu viễn dương, những vận động viờn thể thao chuyờn nghiệp và làm trong ngành giải trớ Cho

dự họ ở đâu và khụng sống bờn nhau nhưng khụng ai phủ nhận rằng họ là một gia đỡnh

Như vậy theo Newman, ở đõy khỏi niệm sống chung với nhau và khỏi niệm cựng chung sống đó bao hàm những nội dung khỏc nhau Cựng chung

sống là sống trực tiếp bên nhau còn sống chung với nhau cú nghĩa là người ta

cú thể xa cỏch nhau về địa lý hiện tại nhưng đã từng sống chung, điều quan trọng là người ta vẫn hướng về nhau, vẫn cú cựng nhau một cuộc sống chung, những lo lắng, niềm vui và nỗi buồn chung, những điều kiện kinh tế, xó hội, tỡnh cảm chung của một gia đỡnh Thiếu những điều này, chỳng ta cũng khụng thể coi họ là một gia đỡnh

Trong chương II của cuốn sỏch cú tiờu đề là “Phạm vi xó hội của đời

sống gia đỡnh”, David M Newman cũng đó trỡnh bày về mối quan hệ giữa đời

sống gia đỡnh với xó hội, vấn đề giới, hụn nhõn và lao động, quyền của cha mẹ

và con cỏi Trong cuốn sỏch, tỏc giả cũng đặt ra và phõn tớch nhiều vấn đề mới

mẻ nảy sinh trong những điều kiện của xó hội hiện đại như mối quan hệ giữa tỡnh yờu và tỡnh dục, bạo lực gia đỡnh, đồng tớnh luyến ỏi…

Trong cuốn “Xó hội học”, phần viết về giỏo dục gia đỡnh, tác giả John Macionis đó chỉ rừ những thiếu hụt đỏng kể trong chức năng giỏo dục ở cỏc gia đỡnh Mỹ Cỏc số liệu phõn tớch của ông cũng cho thấy trẻ em dưới 5 tuổi ở

Trang 21

nước này đó được chăm súc như thế nào khi mẹ của chỳng đi làm: “Đa số trẻ

được chăm súc bởi bố hoặc họ hàng như ụng bà, cụ dỡ, chỳ bỏc, hay bạn bố…

ở tại nhà (32,9%), hoặc tại nhà người khỏc (31,3%) Một số thỡ theo mẹ đến cơ quan (5,5%) Cũn lại là được gửi tại cỏc trung tõm chăm giữ trẻ, nhà trẻ, mẫu giỏo… Số lượng cỏc trung tõm chăm giữ trẻ ở Mỹ đó tăng gấp đụi trong vũng

10 năm trở lại đõy do ngày càng nhiều bậc cha mẹ khụng thể tỡm được ai chăm súc con hộ mỡnh tại nhà” Một vài trung tõm loại này lớn đến nỗi chỳng trở

thành một kiểu như “dõy chuyền cụng nghiệp” chăm súc trẻ em vậy Mặt trỏi của mụ hỡnh này là lũ trẻ khụng nhận được tỡnh yờu thương, sự chăm súc cần thiết của cỏc cụ bảo mẫu do họ liờn tục bị thay thế Tuy nhiờn khụng phải tất cả cỏc trung tõm giữ trẻ đều như vậy; một số trung tõm cú mụi trường an toàn và lành mạnh để chăm súc lũ trẻ Cỏc nghiờn cứu đó cho thấy cỏc trung tõm chăm

súc cú chất lượng sẽ cú những ảnh hưởng tốt đến lũ trẻ và ngược lại

Trong số những tỏc giả nghiờn cứu về gia đỡnh hiện đại, chỳng ta cũn

phải kể đến Norval Glenn với hàng loạt sỏch được coi là bỏn chạy nhất trong những sỏch nghiờn cứu về gia đỡnh Norval Glenn đó dành nhiều cụng sức để

phõn tớch mổ xẻ gia đỡnh Mỹ thụng qua những phõn tớch định tớnh và định lượng khỏ sõu sắc Với cỏc chỉ bỏo và chỉ số xó hội học được đưa ra khá xỏc thực, bà đó mô tả được bộ mặt của gia đỡnh hiện đại xoay quanh sự biến dạng

của những chuẩn mực và giỏ trị gia đỡnh Trong một bài viết nổi tiếng “Hụn nhõn khụng phải là một từ xấu xa” (Marriage is Not a Dirty Word), bà đó

cố gắng phờ phỏn hiện trạng của gia đỡnh Mỹ, đề cao những giỏ trị nhõn văn của gia đỡnh, coi đú là xu hướng phỏt triển cần cú của gia đỡnh hiện đại

Trong số những cụng trỡnh nghiờn cứu về Xó hội học gia đỡnh hiện đại,

chỳng ta cũn cú thể kể đến một số tác giả sau đõy: Moynihan Daniel Patrick với cuốn sỏch “Gia đỡnh người da mầu” (The Negro Family), đó phõn tớch

tớnh đa dạng của cỏc gia đỡnh Mỹ, đặc biệt tập trung vào những sự biến động trong cơ cấu gia đỡnh, chuẩn mực và giỏ trị văn hoỏ gia đỡnh trong cỏc gia đỡnh

người da mầu ở nước Mỹ; Maxine Baca Zinn & D.Stanley Eitze trong “Tớnh

đa dạng của gia đỡnh” (Diversity in Families,1990), đó nhấn mạnh vào cỏc

Trang 22

vấn đề về mối quan hệ giữa cụng nghiệp hoỏ và hiện đại hoỏ với gia đỡnh, cỏc vấn đề về giai cấp, giới và chủng tộc, tỏi định hỡnh xó hội và gia đỡnh, cấu trỳc

chuyển đổi của nền kinh tế và gia đỡnh; Cheryl M Albers, trong “ Xó hội học

về gia đỡnh” (Sociology of Families – Readings, 1999) đó trỡnh bày cỏc vấn đề

về tỡnh dục vị thành niờn, sự hợp tỏc và hụn nhõn, vấn đề con cỏi, vấn đề lao động trong gia đỡnh, gia đỡnh và sự nghốo khổ, bạo lực gia đỡnh, ly dị và tỏi hụn, sự thay đổi xó hội và cỏc chớnh sỏch gia đỡnh

Hướng tiếp cận Gia đỡnh của các nghiờn cứu liờn ngành về Giới (Gender) và phụ nữ học (Feminism)

Do sự gần gũi về đối tượng nghiờn cứu mà vấn đề gia đỡnh luụn xuất

hiện song hành cựng với những nghiờn cứu đầu tiờn dưới gúc độ giới, ngay từ

cỏc giai đoạn mà cỏc nhà phụ nữ học gọi là “Làn súng Nữ quyền thứ nhất” (The First Wave of Feminism), “Làn súng Nữ quyền thứ hai” (The Second

Wave of Feminism) và hiện nay là “Làn súng Nữ quyền thứ ba” (The Third

Wave of Feminism) Trong giai đoạn đầu, chỳng ta khụng thể khụng nhắc đến

những quan điểm về bỡnh đẳng giới trong gia đỡnh được nhắc đến bởi một

trong những nhà nghiờn cứu Nữ quyền cú tờn tuổi nhất, đú là Mary Wollstonecraft trong cuốn sỏch “Một biện minh cho quyền phụ nữ”, nguyên bản là “A Vindication of the Right of Women” (xuất bản năm 1872) Chớnh Mary Wollstonecraft đó đưa ra quan điểm rằng cỏc quyền của phụ nữ cần phải

được thực hiện trước hết và ngay tại gia đỡnh Các tranh luận của thuyết Nữ quyền đã xoay quanh hai lĩnh vực hoạt động của phụ nữ là lĩnh vực “công cộng” và “riêng tư” được đặt ra theo các mức độ khác nhau

Sự đa dạng của cỏc học thuyết về nữ quyền như: nữ quyền Xó hội chủ

nghĩa của Michele Barrett, nữ quyền Cấp tiến của Sylvia Walby, nữ quyền Tự

do của Betty Friedan (bà là nhà khoa học đó cú những tranh luận nổi tiếng với

Tallcon Parsons trờn bỡnh diện quan điểm của thuyết Cấu trỳc chức năng) đó mang đến cho những nghiờn cứu về gia đỡnh một làn giú mới khụng chỉ về nội dung nghiờn cứu mà cũn cả một hướng tiếp cận đặc biệt Với tác phẩm “Sự

huyền bí của nữ tính”, 1963 (Feminine Mystique) - Betty Friedan đã đưa ra

Trang 23

một bức tranh về sự phân công lao động bất bình đẳng theo giới trong gia đình

đã đưa đến cho phụ nữ tương lai mờ mịt và sự coi thường của nam giới

Sự phối hợp giữa cỏc nghiờn cứu đa ngành về Gia đỡnh với cỏc lý thuyết

về Giới đó mở ra những chủ đề nghiờn cứu mới và chuyờn sõu hơn về gia đỡnh

Nú cũng làm xuất hiện những khỏi niệm mới trong nghiờn cứu gia đỡnh Chẳng

hạn như “Domestic Violence” (bạo lực gia đỡnh), “Traficking in Women”

(buụn bỏn phụ nữ) Bạo lực gia đỡnh là một trong 8 vấn đề được quan tõm nhiều nhất trong những nghiờn cứu về gia đỡnh trong khoảng 30 năm trở lại đõy Từ bạo lực gia đỡnh, nơi đó hành hạ về thể xỏc và tỡnh dục người tỡnh của mỡnh, cỏc nhà nghiờn cứu đó mở rộng đến những quan hệ khỏc trong gia đỡnh, đến những đối tượng như những đứa trẻ bị phụ thuộc hoặc những người già trong gia đỡnh và cỏc chớnh sỏch phũng chống cỏc sai lệch giỏ trị và chuẩn mực

gia đỡnh (Xem Dobash và Dobash, 1992) Trong cựng một thời kỳ, cỏc nhà nghiờn cứu khỏc đã khai thỏc về cỏc cụng việc nội trợ (Oakley 1974, Sullivan 1997) và rất nhiều khớa cạnh gia đỡnh như hụn nhõn, ly dị, tỏi hụn cú liờn quan

đến cỏc vấn đề về thực phẩm, tiền, dịch vụ gia đỡnh và lao động việc nhà

Trong số những nghiờn cứu đa ngành về gia đỡnh dưới gúc độ Giới và Phụ nữ học chỳng ta cú thể kể ra rất nhều cụng trỡnh như cuốn sỏch được coi là cẩm nang những kiến thức về Xó hội học gia đỡnh, được giảng dạy nhiều trong

cỏc trường đại học ở Mỹ là cuốn Xó hội học về hụn nhõn và gia đỡnh – Giới, tỡnh yờu và của cải của hai tỏc giả Scott Coltrane – Randall Collins,

(Sociology of Marriage & Family- Gender, Love and Property; Wadsworth- Thomson Learning, 2001) Cũng giống như D Newman, trong cụng trỡnh

nghiờn cứu của mỡnh, cỏc tỏc giả Scott Coltrane – Randall Collins đó cố gắng

quay trở lại với những vấn đề lý luận cơ bản của Xó hội học gia đỡnh, trỡnh bày cỏc lý thuyết về gia đỡnh, làm rừ cỏc khỏi niệm từ gia đỡnh cho đến cỏc vấn đề

về giới, tỡnh yờu và của cải Cỏc tỏc giả cũng tập trung phõn tớch lịch sử của gia đỡnh: từ hệ thống thõn tộc đến hộ gia đỡnh gia trưởng, từ cuộc cỏch mạng tỡnh yờu đến chủ nghĩa nữ quyền và dự bỏo về khuynh hướng của gia đỡnh trong tương lai…Vốn là những nhà xó hội học chuyờn nghiệp được đào tạo bài bản

Trang 24

nên trong cuốn sách của mình, tác giả Scott Coltrane – Randall Collins cũng

đưa vào hàng loạt các số liệu khảo sát điều tra về gia đình, tạo cho cuốn sách một sức cuốn hút mạnh mẽ từ cuộc sống hiện thực của xã hội Mỹ hiện đại

Dee L.R Graham và các tác giả khác, trong “Tình yêu với những người sống sót” (Loving to Survive) l¹i ®i theo mét h−íng kh¸c Đây là một

công trình nghiên cứu ®−a ra những hiện tượng thời sự của xã hội hiện tại như hiện tượng khủng bố về tình dục, bạo lực của đàn ông với đàn bà (Sexual terror, Men’s Violence and Women’s Lives), các dạng thức cuả đời sống hôn nhân quan hệ tình dục v.v… Tất cả theo các tác giả đã là những lời cảnh tỉnh

về sự suy giảm về đạo lý trong quan hệ gia đình Cũng thông qua những phân tích về sự bất bình đẳng giới trong gia đình và thân phận của người phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình và bạo lực xã hội các tác giả đòi hỏi phải có thay đổi trong cách nhìn nhận để cùng nhau góp sức củng cố và phát triển các quan

hệ gia đình tốt đẹp hơn

Kumiko Fujimura – Fanswlow vµ Atsuko Kameda, lµ c¸c t¸c gi¶ cña t¸c phÈm “Phụ nữ Nhật Bản” (Japanese Women, 1995) Trong phần 3 “Hôn

nhân, gia đình và tình dục: Sự thay đổi các giá trị và thực tiễn”, các tác giả đã

trình bày về vấn đề hôn nhân và gia đình ở Nhật Bản, huyền thoại về vai trò

người mẹ, các trường hợp về người già, sự thay đổi chân dung của nam giới

Nhật Bản, các vấn đề về văn hoá gia đình, bạo lực gia đình Laura K

Egendorf, trong “Các quan điểm trái ngược về vai trò nam và nữ”, chương 4

“Cải thiện mối quan hệ giữa nam giới và phụ nữ như thế nào?”, tác giả đã trình

bày về mối quan hệ giữa vợ và chồng trong gia đình và các biện pháp cải thiện

môí quan hệ đó Đồng thời tác giả cũng phân tích sự quay trở lại của các vai

trò giới truyền thống trong xã hội hiện nay Yayori Matsui, tác giả “Phụ nữ

châu Á” (Women ‘s Asia, 1991), đã mô tả và phân tích hoàn cảnh sống của

phụ nữ một số nước châu Á trong gia đình và ảnh hưởng của các phong tục, tập quán, văn hoá đặc trưng của các nước phương Đông như Bangladet, Japanese, Miến Điện, Philippine tới đời sống của người phụ nữ trong gia đình

và xã hội

Trang 25

Chỳng ta cú thể thấy cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu kể trờn đó phõn tớch khỏ sõu sắc thực trạng của những vấn đề gia đỡnh trong mọi xó hội Nú phản ỏnh những lo lắng băn khoăn chung của nhõn loại trước những biến đổi mạnh mẽ của gia đỡnh dưới tỏc động của những điều kiện kinh tế-xó hội, khoa học và cụng nghệ mới

2.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam

Ngay từ thời phong kiến, nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ đã chú ý tới gia đình nhưng phải đến sau năm 1975, các nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam mới được phát triển một cách có hệ thống mặc dù vấn đề gia đình còn rất mới

mẻ đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam Cỏc nghiờn cứu gia đỡnh đó được đề cập tới từ nhiều gúc độ Triết học, Sử học, Dõn tộc học, Văn học, Tõm lý học, Giỏo dục học, Dõn số học, Phụ nữ học, Giới đặc biệt là sự phỏt triển của cỏc nghiờn cứu và điều tra xó hội học đó tạo cho hướng tiếp cận vấn đề gia đỡnh cú thờm sức sống mới Sau Đổi mới (1986), vấn đề Phụ nữ, Giới cũng được mở rộng nghiên cứu đã làm tăng thêm các nghiên cứu về gia đình và đưa các nghiên cứu về lĩnh vực này vào một hệ thống rõ ràng và khoa học hơn

Có thể tạm chia ra ba mảng nghiên cứu lớn :

1 Các vấn đề về gia đình truyền thống ( Giai đoạn trước năm 1945 )

Bao gồm các vấn đề liên quan đến gia đình trong quá khứ, dòng họ và các tục lệ, tập quán ở làng xã trong thời kỳ phong kiến Các nghiên cứu này phần lớn từ góc độ Sử học, Dân tộc học, Khảo cổ, Văn hoá học, Văn học Ngoài những tác phẩm của các nhà khoa học có tên tuổi là các đề tài cấp nhà nước về gia đình, hàng trăm các nghiên cứu của của sinh viên dưới dạng luận án, luận văn, khoá luận ở các bậc học Điều này chứng tỏ rằng vấn đề gia đình đang

được rất nhiều người quan tâm, đặc biệt là thế hệ trẻ

Các tác phẩm tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là :

“Gia huấn ca" của Nguyễn Trãi gồm 6 bài ca truyền dạy đạo lý làm người

cho con cháu trong gia đình Trong tác phẩm này, ông đưa ra nhiều nguyên tắc xây dựng gia đình và giáo dục gia đình vừa theo quan điểm của Nho giáo kết hợp với những giá trị truyền thống của dân tộc Nguyễn Trãi mong muốn mọi

Trang 26

người đều tôn trọng gia đình, tôn trọng phép tắc Nho giáo, cha ra cha, con ra con, chồng ra chồng, vợ ra vợ để gia đình được ổn định, làm nền tảng cho chế

độ phong kiến.Nguyễn Trãi đã dành nhiều câu để nhấn mạnh việc phải dạy dỗ

về trách nhiệm và bổn phận cho trẻ nhỏ :

Mùa đông tháng hạ thích thường; Đừng ôm ấp quá đừng suồng sã con; Dạy từ thuở hãy còn trứng nước; Yêu cho đòn bắt chước lấy người; Trình thưa vâng dạ đứng ngồi; Gái trong kim chỉ trai ngoài bút nghiên

Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của hai tác giả Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm đã tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã chia rẽ hạnh phúc gia đình, bắt người dân phải đi lính để phục vụ quyền lợi của vua chúa mà không đếm xỉa

đến tính mạng và gia đình họ Tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” của tác giả Nguyễn Gia Thiều đã tố cáo chế độ phong kiến dùng quyền lực bắt hàng triệu người phụ nữ làm cung nữ cho vua chúa, đẩy họ vào cuộc sống ngục tù trong các lồng son, tước đoạt quyền được yêu đương, xây dựng hạnh phúc gia đình của họ Tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du đã chia sẻ nỗi đau của những người phụ nữ bị buôn bán thành gái mại dâm và không được biết đến hạnh phúc gia đình Các bài thơ nôm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã phê phán chế độ phụ quyền đã chà đạp lên người phụ nữ và khát vọng được giải phóng của họ trong gia đình và xã hội

Tác phẩm “Khổng học đăng" của Phan Bội Châu cũng đã phân tích rất rõ

về vị trí và vai trò của gia đình Ông coi Nho giáo như ngọn đèn hải đăng soi

sáng cho cho nhân dân Ông cho rằng: "Tề, trị chỉ có một lẽ, gia, quốc chung

nhau một gốc" Nhà tức là cái nước nhỏ, nước tức là cái nhà to, nước phải có phép tắc, nhà phải có gia phong và chính cái gia phong nay cũng ràng buộc con người không kém gì phép nước

Các sách hiện đại nói về truyền thống có thể kể đến “Nho giáo và văn hoá

gia đình” của các tác giả Vũ Khiêu, Lê Thị Quý, Đặng Nhứ đã trích dẫn nhiều

quan điểm của Nho giáo về gia đình và phân tích nó trong khung cảnh Việt Nam Các tác giả đã chọn lọc những quan điểm quý giá của Nho giáo cho việc xây dựng văn hoá gia đình truyền thống Đây cũng là những bài học kinh

Trang 27

Cuốn “Gia đình và sự kế thừa các giá trị truyền thống” của tác giả Đặng

Cảnh Khanh đã trình bày về giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống cho trẻ

em trong gia đình hiện nay, các phương thức giáo dục và ảnh hưởng của nó tới nhân cách của trẻ em Từ đó tác giả rút ra các bài học về truyền thống dạy con của ông cha cho các bậc cha mẹ hiện đại

Trong các nghiên cứu về dòng họ và sự phục hồi dòng họ có những tác

phẩm của tác giả Phan Đại Doãn “Cơ sở kinh tế và thể chế tông pháp của dòng

họ nguời Việt” ( Tạp chí Dân tộc học, số 3, 1999 ); Vũ Ngọc Khánh “Dòng họ Việt Nam từ nguồn gốc đến vận mệnh” ( Tạp chí Dân tộc học, số 3, 1996 );

Đặng Nghiêm Vạn “Dòng họ, gia đình các dân tộc ít người trước sự phát triển

hiện nay” (Tạp chí Dân tộc học, số 2, 1991 ); Nguyễn Văn Minh “Các nguyên tắc và hình thức kết hôn ở nông thôn Việt Nam hiện nay” (Qua nghiên cứu

điểm ở xã Cát Thịnh, Phú Đa và Phước Thạnh) đã phân tích rõ những quy tắc

về Nội hôn tộc người; Ngoại hôn và những kiêng kị loạn luân; Hôn nhân khác biệt; Hôn nhân anh em chồng và chị em vợ Các bài viết của Vũ Thị Phụng về luật Hồng Đức và luật Gia Long trong lịch sử và ảnh hưởng của nó tới gia đình

và người phụ nữ, tác giả Phạm Việt Long trong “Tìm hiểu quan hệ vợ chồng của người Việt qua tục ngữ xưa” đã giúp vẽ nên bức tranh về các gia đình thời phong kiến ở Việt Nam

2 Các vấn đề về gia đình hiện đại (Từ 1945 đến nay) :

Phần lớn các nghiên cứu ở mảng này dựa trên các kết quả điều tra xã hội học để phân tích các khía cạnh đa dạng và phong phú của gia đình Việt Nam trước những biến đổi to lớn của đất nước Các nghiên cứu được tiến hành ở cả thành thị, nông thôn, miền núi, miền biển và nêu rõ những đặc trưng của gia

đình ở từng miền và dự báo xu hướng biến đổi của gia đình trong tương lai Gần

đây nổi lên vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là hôn nhân giữa Việt Nam với các nước châu á khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và vấn đề gia đình đa văn hóa (Về vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày một bài riêng ở phần sau)

Trang 28

Các tác phẩm tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: “Gia đình học” của

hai tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý Tác phẩm này đã tổng kết các vấn đề cơ bản của gia đình Việt Nam dưới góc độ Văn hoá học, Xã hội học Các tác giả đã phân tích cơ cấu, chức năng của gia đình; Vị trí và vai trò của gia

đình vừa là một đơn vị kinh tế, vừa là cái nôi đầu tiên và suốt đời nuôi dưỡng, giáo dục con người, duy trì và phát triển những quan hệ tình cảm đặc biệt từ thế

hệ này sang thế hệ khác Cùng với thiết chế giáo dục, gia đình có vai trò quan trọng trong việc xã hội hóa con người, đưa con người từ con người sinh vật sang con người xã hội; Sự hình thành những chuẩn mực và định hướng giá trị tốt đẹp của gia đình sẽ không chỉ củng cố các mối quan hệ gia đình mà còn kiến tạo một môi trường xã hội thuận lợi cho mỗi cá nhân được phát triển hài hoà và toàn diện Về phương diện này, gia đình là cơ sở đầu tiên cho việc tái sản xuất

ra con người và xã hội

Tác giả Đặng Thị Linh đã hướng vào việc hệ thống lại những quan điểm

của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx – Lê Nin trong bài viết “Những

quan điểm lý luận và phương pháp luận cơ bản của triết học Marx-Lênin về gia

đình” (Trong sách “ Quản lý nhà nước về gia đình- Lý luận và thực tiễn”,

2010) trong đó khẳng định những luận điểm tiến bộ về giải phóng con người, xây dựng gia đình dựa trên tình yêu và trách nhiệm của xã hội XHCN đối với gia đình Giáo sư Phạm Tất Dong đã phân tích về vai trò của gia đình và cộng

đồng trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Các nghiên cứu về gia

đình và biến đổi gia đình ở nông thôn của Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Từ Chi

“Những nghiên cứu Xã hội học về gia đình Việt Nam”,“Gia đình trong tấm

gương xã hội học” Mai Quỳnh Nam chủ biên, đã tập hợp nhiều nghiên cứu của

các nhà Xã hội học trên nhiều góc độ khác nhau về gia đình

Giáo sư Nguyễn Đình Tấn trong “Sự thay đổi vai trò của người chồng,

người cha trong gia đình từ truyền thống đến hiện đại” đã đặt một vấn đề rất

mới về người đàn ông trong xã hội bình đẳng giới Đây cũng là một nghiên cứu khẳng định sự thay đổi từ thời đại gia trưởng sang thời đại bình đẳng giới khi

mà quyền lợi chính đáng của người phụ nữ trong gia đình và xã hội đang được Nhà nước và xã hội bảo vệ Các nghiên cứu khác của Nguyễn Đình Tấn và

Trang 29

cộng sự về vấn đề giới trong các gia đình làm nghề đánh cá vùng biển đã phân

tích phân công lao động về giới theo sức khoẻ, nghề nghiệp, giới tính trong các việc làm đặc thù phải dựa nhiều vào giới tính như đánh cá Từ đó, các tác giả đã

đưa ra nhiều kết luận thú vị

Tác giả Lê Văn Quang lại nêu ra những vấn đề có tính đặc thù của gia

đình quân nhân trong bài viết “Quân đội nhân dân Việt Nam với vấn đề gia

đình trong sự phát triển và quản lý xã hội hiện nay” (Trong sách “ Quản lý nhà

nước về gia đình- Lý luận và thực tiễn”, 2010) Điểm mạnh của gia đình quân nhân là tính bền vững cao, ít đổ vỡ bởi sự tôn trọng các giá trị gia đình của quân nhân cũng giống như tôn trọng quân đội

Tác giả Vũ Mạnh Lợi đã có bài viết “Quan niệm về gia đình của người

Việt Nam, nghiên cứu trường hợp tại Yên Bái, Tiền Giang và Thừa Thiên Huế”

và “Chủ hộ ở gia đình Việt Nam là ai ?” Những nghiên cứu này đã đi vào

những góc cạnh rất sâu của gia đình chứng tỏ một xu hướng nghiên cứu mới và toàn diện về vấn đề gia đình Việt Nam đang phát triển Trong xu hướng này có

nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Minh với bài viết “Khuôn mẫu tuổi kết

hôn lần đầu ở ba địa bàn khảo sát và các yếu tố tác động” đã so sánh tuổi kết

hôn của người vợ và người chồng cho thấy tính trung bình người chồng cao hơn người vợ gần 3 tuổi Họ chịu tác động của nhiều yếu tố như nghề nghiệp, học vấn, địa bàn, dân tộc, chính sách, mức sống

Tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề về vị thanh

niên trong tác phẩm “Một số vấn đề từ những khảo sát Xã hội học về vị thành

niên trong môi trường gia đình” và người cao tuổi trong tác phẩm “Người cao tuổi và các mô hình dịch vụ chăm sốc người cao tuổi ở Việt Nam” Thông qua

hai cuốn sách này, tác giả đã phân tích hai thế hệ khác biệt về tuổi tác, lối sống,

điều kiện sống, nhu cầu, sở thích Nghiên cứu vấn đề thế hệ trong gia đình, tác giả đã đưa ra những khuyến nghị cho Nhà nước và thông điệp cho xã hội cần phải có các chính sách khác biệt cho mỗi thế hệ trong gia đình

Tác giả Lê Thị Quý lại đặt một vấn đề rất hiện đại là phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài trong bài viết “Hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam với một số nước châu A hiện nay - vấn đề gia đình đa văn hoá” Tác giả đã phân tích hiện

Trang 30

tượng lấy chồng ồ ạt của phụ nữ Việt Nam trong những năm gần đây với hệ quả của nó và việc cần thiết phải xây dựng những gia đình đa văn hoá để hạn chế tiêu cực, phát huy tính tích cực trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay

Tác giả Nguyễn Thanh Tâm với tác phẩm “Ly hôn- Trường hợp Hà Nội”

đã đưa ra nhiều quan điểm mới về ly hôn khá tích cực Những quan điểm này

góp phần tạo ra một cái nhìn mới không quá bi quan về ly hôn bởi vì ly hôn chỉ

kết thúc một cuộc hôn nhân mà không kết thúc gia đình Tác giả Lê Trung Trấn

đã đi sâu vào nghiên cứu công tác và bộ máy quản lý nhà nước về gia đình trong một loạt bài viết thể hiện thực trạng, những thuận lợi, những thách thức

trên vấn đề quản lý gia đình ở nước ta hiện nay Trong tác phẩm “Xu hướng gia

đình ngày nay” (Vũ Tuấn Huy chủ biên), các tác giả đã phân tích sự chuyển đổi

của hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và đưa ra các chỉ báo thú vị về gia đình trong hiện tại và tương lai

Chương trình hợp tác nghiên cứu Việt Nam – Thuỵ Điển 2004-2007 với

dự án nghiên cứu liên ngành “Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi”

(VS- RDE-05) của Viện Xã hội học đã đưa đến nhiều phát hiện Chẳng hạn, nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi: Người Việt Nam hiểu gia đình gồm những ai? Các tác giả đã phân tích một số yếu tố dân số, kinh tế, xã hội được coi là có tác

động đến quan niệm của người được hỏi về gia đình Các bài viết được in trong tập Kỷ yếu khoa học của Viện, nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, năm 2007

Điều tra về số liệu gia đình của Viện Gia đình và Giới năm 2006 với sự

hỗ trợ của Quỹ nhi đồng LHQ và Bộ văn hoá thể thao và Du lịch đã đưa ra những số liệu về nhân khẩu và xã hội của hộ gia đình; Phạm vi cấu trúc, trình

độ học vấn, thu nhập, nghề nghiệp, vấn đề hôn nhân, vấn đề vị thành niên, người cao tuổi, bạo lực gia đình, điều kiện sống của các gia đình

Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương đã công bố kết quả cơ bản về phân bố dân số và nhà ở của thành thị, nông thôn và tỷ lệ tăng dân số theo vùng kinh tế – xã hội,

tỷ lệ giới tính Đây là các số liệu rất quý cho các nghiên cứu về gia đình

Tổng cục thống kê đã đưa ra kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm

2008 trong đó nêu rõ các kết quả về đặc điểm nhân khẩu học liên quan đến

Trang 31

mức sống; Giáo dục; Y tế và chăm sóc sức khoẻ; Việc làm và thu nhập; Chi tiêu; Nhà ở, phương tiện, tài sản; Giảm nghèo; Đây là một cuộc điều tra toàn diện mức độ quốc gia về gia đình rất có giá trị và đáng tin cậy

3 Các vấn đề về bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ và trẻ em và mô hình phòng chống tại địa phương

Trong những năm gần đây, một hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam được

đặt ra là nghiên cứu hành động Các mô hình được lập ra ở nhiều địa phuơng,

điển hình là các mô hình phòng chống bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ và trẻ em Ngay từ những năm 1990, với các bài nghiên cứu đầu tiên về lĩnh vực này (in trong Tạp chí “Khoa học và Phụ nữ” sau này là Tạp chí Gia đình và Giới), tác giả Lê Thị Quý đã đưa ra những nét khái quát về bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ và trẻ em, các vấn đề về mại dâm… nhằm làm rõ các khái niệm và điều quan trọng hơn đã phá vỡ sự im lặng về một số tội ác trong gia

đình Cuốn “Nỗi đau thời đại” xuất bản năm 1996 cũng của Lê Thị Quý đã tập

hợp các vấn đề sai lệch chuẩn mực xã hội và tệ nạn xã hội có liên quan đến gia

đình như bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ và trẻ em, mại dâm, người lang thang Tiếp đó, năm 2000, cuốn sách “Vấn đề ngăn chặn nạn buôn bán phụ nữ

và trẻ em ở Việt Nam” của Lê Thị Quý đã mô tả các mô hình giúp đỡ phụ nữ bị buôn bán trở về của Viện Nghiên cứu Thanh niên và các địa phương có dự án

Năm 2007, cuốn sách “Bạo lực gia đình ở Việt Nam, một sự sai lệch giá trị”

của các tác giả Lê Thị Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh đã đặt vấn đề về những sai lệch giá trị trong gia đình trong đó có bạo lực gia đình đang tấn công các chức năng của gia đình ở những thời điểm nhất định Bạo lực gia đình là điểm nút cuối cùng của sự phá vỡ gia đình Nó biến tổ ấm gia đình thành một tổ “lạnh”, thậm chí thành nơi nguy hiểm hoặc địa ngục Mọi thành viên trong gia đình

đều có khả năng trở thành nạn nhân hoặc người gây ra bạo lực Bạo lực gia đình

có nhiều dạng mà phổ biến nhất vẫn là của chồng đối với vợ (bạo lực giới), cha

mẹ đối với con cái (bạo lực thế hệ) Các tác giả cũng đa trình bày một số mô hình phòng chống bạo lực gia đình thành công của Trung tâm nghiên cứu Giới

và Phát triển, trường Đại học KHXH và Nhân văn, Tổ chức Hợp tác phát triển (CIDSE), Tổ chức hỗ trợ Bắc Âu cho Việt Nam (NAV) tại Thừa Thiên Huế

Trang 32

Công trình nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” của Vũ Mạnh Lợi, Vũ

Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh năm 1999 đã tiến hành ở ba thành phố Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh Các tác giả đã đi sâu xem xét “Thái độ của cộng đồng và các thể chế xã hội về bạo lực trên cơ sở giới cũng như các phản ứng của cá nhân, luật pháp và các thể chế đối với nạn bạo lực trong gia đình” Nghiên cứu cũng đưa ra nhận xét tình trạng bạo lực có chiều hướng gia tăng,

đặc biệt là trong những gia đình mà ở đó người phụ nữ đang thực hiện và khẳng

định vai trò kinh tế hộ Nghiên cứu đưa ra 8 nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia

đình và chỉ ra 7 kiến nghị nhằm hạn chế, ngăn chặn tình trạng bạo lực trong gia

đình

Năm 2001, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã thực hiện Đề tài “Bạo lực

gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam”, nghiên cứu tại Thái Bình, Lạng Sơn và

Tiền Giang Đề tài đã tìm hiểu nhận thức, thái độ của người dân, các đoàn thể và các cán bộ thi hành pháp luật Ngoài ra, đề tài cũng chỉ ra hậu quả nghiêm trọng của nạn bạo lực gia đình đối với phụ nữ và phản ứng của nạn nhân với hành vi bạo lực

Cùng thời gian này, lần đầu tiên tại Việt Nam, một tiếp cận dịch tễ lâm sàng về sự liên quan của nạn tự tử với bạo lực gia đình được tiến hành dựa vào

358 hồ sơ ngộ độc cấp tại bệnh viện Xuân Trường tỉnh Nam Định Ngoài việc phác hoạ sinh động chân dung những nạn nhân tự sát, các tác giả đã đưa ra những con số đáng kinh ngạc Với dân số 182.213 trong vòng 4 năm (1997- 2000), tại huyện Xuân Trường đã có 102 ca (chiếm 28,5%) nạn nhân chủ tâm tự

đầu độc trong đó lý do bạo lực gia đình chiếm 88.23% (90/102ca) Tính bình quân trong số dân 12 tuổi trở lên thì cứ 1000 người dân có 12.5 có hành vi tự tử (năm1997), và con số này tăng 2 lần vào năm 2000 (Đặng Phương Liệt, Đinh Văn Lượng, 2001) Kết quả nghiên cứu là lời cảnh báo sâu sắc về hậu quả của nạn bạo lực trong gia đình

Gần đây, nghiên cứu của tác giả Vũ Tuấn Huy đã chỉ ra rằng, mâu thuẫn giữa vợ và chồng trong gia đình là một hiện tượng phổ biến Tác giả tìm ra sự khác nhau giữa mâu thuẫn và bạo lực trong gia đình: “Mâu thuẫn và xung đột mang tính bạo lực là khác nhau Không phải mâu thuẫn nào trong hôn nhân

Trang 33

cũng trở thành xung đột mang tính bạo lực Bản thân hành vi bạo lực cũng là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn” (Vũ Tuấn Huy, 2003)

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã phân tích được thực trạng, nguyên nhân của nạn bạo lực trong gia đình và đưa ra các giải pháp khắc phục Điều này phản ánh được những lo lắng, băn khoăn chung của các nhà nghiên cứu trước sự phức tạp của nạn bạo lực gia đình Báo cáo Phát triển Việt

Nam 2004 về Nghèo của các nhà tài trợ tại Hội nghị Tư vấn tháng 12/2003 có

đoạn viết: “ Các đánh giá nghèo không hỏi trực tiếp về tình trạng bạo lực gia

đình Tuy nhiên một số nhóm nghiên cứu báo cáo vấn đề này đã được đề cập

đến trong các thảo luận Bạo lực gia đình thường đi kèm với tình trạng uống nhiều rượu (Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004 - Nghèo, 2003 )

Trẻ em cũng là nạn nhân trực tiếp của nhiều vụ bạo lực gia đình Các nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Thanh niên đã hướng tới vấn đề này Kết quả nghiên cứu thăm dò dư luận trẻ em được tiến hành năm 1998 giáo sư Đặng Cảnh Khanh và Nguyễn Văn Buồm thực hiện đã phỏng vấn các em về các hình thức xử phạt của cha mẹ với con cái Kết quả thật bất ngờ Trong số 1240 em nhỏ được hỏi có tới 90,52% nói rằng chúng thường bị cha mẹ đánh khi có lỗi Cũng theo báo cáo này thì có 45% các em nói rằng mình bị phạt oan ức, 72,08% nói rằng đã rất đau buồn khi bị xử phạt và có 27,92% các em nói rằng các em rất tức giận bố mẹ Những thương tích trên cơ thể dù đau đớn nhưng thời gian sẽ xoá nhoà, còn những thương tích về tinh thần, đời sống tâm lý, trẻ

đâu dễ quên đi Cũng theo tác giả Lê Thị Quý thì bạo lực gia đình đã ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ (Lê Thị Quý, 2002)

Năm 2009- 2010, lần đầu tiên ở Việt Nam có một nghiên cứu khá quy mô tại chín tỉnh của cả ba miền Bắc Trung Nam về phòng chống bạo lực gia đình

từ góc độ cảnh sát và cán bộ tư pháp Nghiên cứu này do ba tổ chức tham gia là Trung tâm nghiên cứu Giới và Phát triển (RCGAD), Tổng cục thống kê và Hội LHPN Việt Nam với sự trợ giúp của Liên Hợp Quốc (UNODC), Bộ Công an và

tổ chức nghiên cứu Phần Lan (HEUNI) Báo cáo kết quả nghiên cứu do tác giả

Lê Thị Quý trình bày đã nêu rõ tình trạng bạo lực gia đình ở Việt Nam và mức

Trang 34

độ phòng chống của các cơ quan chức năng như cảnh sát và pháp lý, những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế của hai lực lượng này trong công tác phòng chống bạo lực gia đình sẽ là các bài học trong tương lai

Khi hai luật Bình đẳng giới (2007) và luật Phòng chống bạo lực gia đình (2008) ra đời, Trung tâm nghiên cứu Giới và Phát triển đã xuất bản hai cuốn

sách nhỏ Luật Bình đẳng giới diễn giải và Luật Phòng chống bạo lực gia đình

diễn giải để góp phần tuyên truyền luật rất được dư luận hoan nghênh

Ngoài những công trình nghiên cứu tiêu biểu về bạo lực gia đình kể trên còn một số bài viết mô tả các vụ bạo lực gia đình, phân tích nguyên nhân, hậu quả và công tác phòng chống bạo lực gi đình đã đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, Tạp chí Xã hội học, Tạp chí Tâm lý học, Tạp chí Khoa học Xã hội, Tạp chí Gia đình và trẻ em, Tạp chí Thanh niên và các báo ra hàng ngày hoặc hàng tuần

Tuy nhiờn, cú thể thấy, cho đến nay, trong những nghiờn cứu về gia

đỡnh, chỳng ta vẫn cũn thiếu hụt một mảng nghiờn cứu hết sức quan trọng cú liờn quan đến lĩnh vực quản lý gia đỡnh và mối quan hệ giữa quản lý gia đỡnh với việc quản lý phỏt triển xó hội

3 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Những định hướng của Đảng đối với cụng tỏc nghiờn cứu về gia đỡnh là cơ

sở quan trọng cho cỏc nghiờn cứu về gia đỡnh trong giai đoạn hiện nay Nhà nước

đã đưa ra nhiều luật pháp, chiến lược về gia đình Chớnh vỡ vậy việc triển khai nghiờn cứu đề tài là cú ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn hiện nay

3.1 Những đóng góp khoa học của đề tài

Về mặt lý luận, những nghiờn cứu về vấn đề gia đỡnh trong phỏt triển

xó hội và quản lý phỏt triển xó hội sẽ là sự tổng kết khoa học cỏc quy luật khỏch quan của mối quan hệ giữa việc xõy dựng gia đỡnh với chiến lược phỏt

triển con người và phỏt triển đất nước núi chung, cụ thể là:

- Cung cấp những quan điểm lý luận, hệ thống, toàn diện, khoa học, hiện đại, quan điểm mới của Việt nam và thế giới, trờn nền tảng lý luận, phương phỏp luận của Chủ nghĩa Mỏc Lờ Nin, tư tưởng Hồ Chớ Minh trong vấn đề

Trang 35

nghiên cứu, quản lý, xây dựng và phát huy vai trò của gia đình Việt Nam phục

vụ sự nghiệp phát triển phát tiển đất nước trong điều kiện mới

- Cung cấp những đánh giá chân thực, khách quan, khoa học về thực trạng gia đình Việt Nam, những nhân tố, quan hệ xã hội tác động đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, dự báo xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam, những thuận lợi, khó khăn và giải pháp khắc phục

- Đề xuất mục tiêu, quan điểm, định hướng và giải pháp có tính đột phá xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2011-2020, kiến nghị với Đảng và nhà nước những nội dung cụ thể về phát huy vai trò của gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới Nó giúp chúng ta nhận thức rõ hơn và sâu sắc hơn những nguyên tắc lý luận và phương pháp luận trong quản lý nhà nước về gia đình, quản lý sự phát triển xã hội, nâng cao vị thế vai trò của các tổ chức chính quyền, đoàn thể, cộng đồng trong việc thực hiện chiến lược phát triển gia đình , đáp ứng được những đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Việc làm sáng tỏ những cơ sở khoa học cho việc quản lý gia đình, quản lý sự phát triển xã hội cũng sẽ là sự bổ sung và làm phong phú thêm tư duy lý luận về đổi mới, làm rõ hơn những định hướng chiến lược phát triển đất nước

Những đóng góp của đề tài sẽ được biểu hiện dưới dạng văn bản kiến nghị, công trình khoa học, các sản phẩm truyền thông góp phần giúp các cơ quan chính phủ thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về gia đình, công tác hoạch định chính sách, xây dựng cơ chế phát huy vai trò của gia đình Việt Nam, tuyên truyền, phổ biến giúp nhân dân và cộng đồng hiểu đúng các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước trong định hướng xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam hiện đại

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu về vấn đề gia đình trong phát triển xã hội

và quản lý phát triển xã hội sẽ giúp chúng ta có được những luận cứ khoa học

để xây dựng các giải pháp chiến lược củng cố gia đình, kế thừa và phát huy các giá trị tốt đẹp của gia đình Việt Nam truyền thống hướng tới sự ổn định và phát triển xã hội bền vững Việc làm rõ về mặt khoa học những nội dung và phương thức quản lý gia đình trong quản lý sự phát triển của xã hội cũng giúp chúng ta

có cơ sở để xây dựng và hoàn thiện các chính sách và cơ chế quản lý gia đình, ngăn chặn các sai lệch chuẩn mực và giá trị gia đình

Trang 36

3.2 Những đóng góp đào tạo của đề tài

- Nõng cao năng lực nghiờn cứu của các tổ chức, cỏ nhõn thụng qua việc tham gia thực hiện đề tài Gúp phần nõng cao tiềm lực nghiờn cứu, năng lực tổ chức và quản lớ nghiờn cứu khoa học, phục vụ tốt hơn chức năng, nhiệm vụ chuyờn mụn đặc thự của cỏc cơ quan chủ trỡ và phối hợp thực hiện đề tài

- Đúng gúp vào việc đào tạo và huấn luyện cỏn bộ thuộc cỏc cơ quan chủ trỡ

và phối hợp thực hiện đề tài, thụng qua việc gợi ý, động viờn, tạo điều kiện, qui hoạch một bộ phận trong cỏc cỏn bộ này Thụng qua quỏ trỡnh thực hiện đề tài, đội ngũ cỏn bộ tham gia nghiờn cứu sẽ được rốn luyện và nõng cao năng lực tư duy, phương phỏp nghiờn cứu

- Bổ sung thêm tài liệu về gia đình và quản lý gia đình vào chương trình giảng dạy cho sinh viên Xã hội học và Công tác xã hội trong các trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn, đại học Công đoàn, đại học Thăng Long và các trường khác

- Biên soạn giáo trình Xã hội học Gia đình cho sinh viên đại học và sau đại học

- Chủ nhiệm đề tài và các hành viên nghiên cứu đã tham gia hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh và học viên cao học xung quanh chủ đề nghiên cứu của đề tài

Trong đó, PGS Lê Thị Quý và TS Nguyễn Thị Kim Hoa, thư ký đề tài đã trực tiếp

hướng dẫn 1 nghiên cứu sinh người Hàn Quốc đã bảo vệ thành công luận án năm

2010, 2 nghiên cứu sinh, 8 thạc sỹ và hàng chục sinh viên

Phương thức chuyển giao kết quả nghiờn cứu

Bỏo cỏo khuyến nghị của đề tài được biờn soạn thành bộ tài liệu gửi trực tiếp đến Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Tuyờn giỏo Trung ương, Học viện Chớnh trị - Hành chớnh quốc gia, Bộ Văn húa Thể thao và Du lịch, Bộ Lao động - Thương Binh - Xó hội, cỏc cơ quan chức năng, cỏc ban ngành đoàn thể, cỏc nhà hoạch định chớnh sỏch, những người làm cụng tỏc quản lý nhà nước về gia đỡnh, tổ chức và thực hiện cụng tỏc phỏt triển gia đỡnh

Kết quả nghiờn cứu lý luận và điều tra khảo sỏt thực tiễn được chuyển giao cho cỏc cơ quan quản lý cú thẩm quyền, cỏc cơ quan khoa học sử dụng phục vụ cho cụng tỏc hoạch định chớnh sỏch, nghiờn cứu và phỏt triển gia đỡnh dưới gúc độ của quản lý xó hội Phục vụ cụng tỏc thụng tin tư liệu, tài liệu tham khảo, giảng dạy cho cỏc trường đại học, viện nghiờn cứu và thư viện

Trang 37

Phục vụ cho đoàn thể, cỏc tổ chức xó hội dõn sự làm cụng tỏc tuyờn truyền, vận động, phỏt triển cộng đồng

3.3 Xuất bản

3.31 Sách

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, PGS.TS Lê Thị Quý, chủ nhiệm đề tài đã xuất bản 01 giáo trình, 01 sách chuyên khảo và tham gia viết 03 cuốn sách (tham khảo và chuyên khảo trong và ngoài nước), cụ thể:

• “Giáo trình Xã hội học Giới”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2009 (Một mình)

• “Nghiên cứu Gia đình và Giới thời kỳ Đổi mới”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2009 (Tham gia)

• “Vietnam- Korean Marital Immigration and Multicultural Family”, Ansan International Multicultural Forum, 2009 (Tham gia)

• “Công ước chống mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” (CEDAW) và hai luật mới của Việt Nam: Luật Bình đẳng giới và Luật phòng chống bạo lực gia đình, Journal of International Culture (South Korea) Vol.2-1, 2/2009 (Một mình)

• International Conference for Changes in Contemporary Asian Women‘s Status and Tasks for the 21C, Sookmyung Women’s University, Seoul, 2010 (Tham gia)

• Ngoài ra, đề tài sẽ xuất bản 1 cuốn sách nhiều tác giả tham gia viết chuyên đề (Đã có giấy phép của nhà xuất bản), 1 cuốn giáo trình Xã hội học gia đình (đã có bản thảo) sẽ xuất bản tại NXB giáo dục Việt Nam

• Dự kiến xuất bản 2 cuốn: 1 báo cáo chính của đề tài (đã có bản thảo)

và 1 cuốn sách nhiều tác giả tham gia viết chuyên đề (đã có bản thảo)

• Quản lý gia đình Việt Nam - Lý luận và thực tiễn – Nhiều tác giả, Lê Thị Quý chủ biên

• Vấn đề gia đình Việt Nam, truyền thống và hiện đại - Lê Thị Quý biên soạn (sắp in)

• Giáo trình X∙ hội học gia đình – Lê Thị Quý ( đang in)

• Gia đình và x∙ hội (Nhiều tác giả )

Trang 38

4 Mục tiêu của đề tài

Đề tài nhằm nghiờn cứu, phõn tớch, làm rừ được những đặc điểm của gia đỡnh Việt Nam truyền thống và thực trạng vấn đề gia đỡnh trong trong phỏt triển xó hội và quản lý phỏt triển xó hội ở nước ta hiện nay Trờn cơ sở đú, dự bỏo xu hướng phỏt triển, đề xuất mục tiờu, quan điểm và giải phỏp phỏt huy vai trũ của gia đỡnh Việt Nam đối với phỏt triển xó hội và quản lý xó hội trong quỏ trỡnh đổi mới.

Cụ thể là:

4.1.Phõn tớch những đặc trưng cơ bản của gia đỡnh Việt Nam truyền thống, vị trớ vai trũ của nú trong quỏ trỡnh phỏt triển xó hội và quản lý xó hội ở Việt Nam Làm rừ được những đặc điểm lịch sử, kinh tế, xó hội, văn hoỏ đó làm hỡnh thành mụ hỡnh gia đỡnh Việt Nam truyền thống

4.2 Nghiờn cứu, phõn tớch những biến đổi của gia đỡnh Việt Nam truyền thống về quy mụ, cơ cấu của gia đỡnh, vị trớ vai trũ và chức năng của gia đỡnh, cỏc yếu tố tỏc động đến sự biến đổi đú để phỏt huy những giỏ trị tốt đẹp, khắc phục những mặt cũn hạn chế, hướng tới việc xõy dựng gia đỡnh Việt nam phự hợp với những đũi hỏi của cụng cuộc đổi mới hiện nay

4.3 Đỏnh giỏ đỳng và khỏch quan thực trạng và những biến đổi của gia đỡnh trong quỏ trỡnh phỏt triển xó hội và quản lý xó hội ở nước ta hiện nay, những tỏc động của quỏ trỡnh cụng nghiệp hoỏ hiện đại hoỏ, kinh tế thị trường,

mở cửa, sự phỏt triển của đụ thị hoỏ, lúi sống đụ thị, sự tăng cường cỏc dịch vụ gia đỡnh, sự thay đổi cỏc giỏ trị và chuẩn mực văn hoỏ…tới những biến đổi của gia đỡnh Đặc biệt là làm rừ hiện trạng vai trũ khỏch quan và chủ quan của cụng

Trang 39

4.4 Nghiờn cứu, phõn tớch những quan điểm cơ bản, những chủ trương chớnh sỏch lớn của Đảng, Nhà nước và của Chủ tịch Hồ Chớ Minh về củng cố

và xõy dựng gia đỡnh trong quỏ trỡnh vận động và phỏt triển của cỏch mạng Việt Nam, tỏc động thực tiễn của cỏc chủ trương, chớnh sỏch này tới việc hỡnh thành và phỏt triển gia đỡnh Việt Nam hiện nay

4.5.Trên cơ sở nghiên cứu, đề tài sẽ dự bỏo xu hướng vận động, biến đổi

và phỏt triển của gia đỡnh Việt Nam, đề xuất mục tiờu, quan điểm, định hướng, những nội dung cụ thể và giải phỏp để phỏt huy vai trũ của gia đỡnh Việt Nam đối với phỏt triển xó hội và quản lý phỏt triển xó hội trong quỏ trỡnh đổi mới

5 Những nội dung nghiên cứu cơ bản của đề tài

Nội dung nghiên cứu bao gồm một hệ thống vấn đề, mỗi vấn đề trong hệ thống đó được xác định là một nhánh của đề tài Mỗi nhánh của đề tài vừa có tính

độc lập tương đối vừa là một bộ phận không thể tách rời khỏi sự định hướng chung

về nội dung và phương pháp của toàn bộ đề tài Nó có thể còn là một sự tập hợp những kết quả nghiên cứu riêng của các chuyên luận nghiên cứu, thông tin khoa học, hội thảo, điều tra khảo sát cụ thể Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, các loại hình gia đình có những đặc trưng riêng của từng vùng, miền, nhóm dân tộc Kinh và các nhóm dân tộc anh em, nhóm nghề nghiệp như trí thức, nông dân, công nhân, doanh nhân Sự phát triển của gia đình Việt Nam đã gắn chặt với sự phát triển của đất nước, đã xuất hiện một số gia đình đặc thù như : gia đình của những nông dân mất đất phải chuyển sang nghề nghiệp mới, gia đình di cư, gia

đình công nhân khu chế xuất…Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu tất cả các loại gia đình mà chỉ có thể nghiên cứu gia đình Việt Nam với các đặc điểm chung Cấu trúc của đề tài gồm ba phần với sáu chương ( Xin xem Mục lục )

6 Những phương pháp đã được vận dụng trong nghiên cứu đề tài

Đề tài đã được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận khoa học tổng hợp liên ngành, tiếp cận theo quan điểm hệ thống, quan điểm lịch sử, quan điểm phát triển, tiếp cận trên quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta

Trang 40

Các kiến thức Lịch sử, Văn hoá học, Dân tộc học, Nhân học được vận dụng

để tập trung nghiên cứu, làm rõ những vấn đề liên quan đến lịch sử gia đình, giá trị văn hoá, bản sắc, truyền thống gia đình, những vấn đề quản lý gia đình trong lịch

sử, sự kế thừa và phát huy truyền thống gia đình của người Việt Nam trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế

Các kiến thức Xã hội học, Tâm lý học, Triết học, Giáo dục học được vận dụng

để làm rõ các vấn đề liên quan đến thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay bao gồm những phẩm chất tốt đẹp, những mặt hạn chế, sai lệch, những vấn đề đặt ra trong quan hệ giữa cá nhân, gia đình và cộng đồng, với các chính sách quản lý gia

đình của Đảng và Nhà nước, tiềm năng và xu hướng phát triển gia đình Việt Nam trong thời đại mới, những giải pháp quản lý và phát triển gia đình Việt Nam hiện nay

Nghiờn cứu gia đỡnh trong phỏt triển xó hội và quản lý phỏt triển xó hội được thực hiện trờn cỏch tiếp cận của cỏc khoa học tổng hợp liờn ngành, tiếp cận vĩ mụ- vi mụ, tiếp cận theo quan điểm hệ thống, quan điểm lịch sử, quan điểm phỏt triển, tiếp cận trờn quan điểm của chủ nghĩa Mỏc Lờ Nin, tư tưởng

Hồ Chớ Minh, đường lối, chủ trương, chớnh sỏch của Đảng và Nhà nước ta

Đề tài đã sử dụng các hướng tiếp cận khác nhau, chẳng hạn tiếp cận vấn

đề gia đỡnh và giải quyết vấn đề gia đỡnh từ quan điểm, chủ trương, chớnh sỏch của Đảng, phỏp luật của nhà nước, tỏc động của những vấn đề cơ chế, chớnh sỏch đến cỏc cộng đồng và cỏc nhúm xó hội Đỏnh giỏ vị trớ vai trũ chức năng

của gia đỡnh trong cỏc giai đoạn phỏt triển xó hội Đề tài cũng nghiờn cứu nội

hàm của vấn đề gia đỡnh như cơ cấu gia đỡnh, sự thực hiện cỏc chức năng, quỏ trỡnh biến đổi cỏc thành tố của gia đỡnh, quan hệ gia đỡnh, thiết chế gia đỡnh…tổng kết và xõy dựng cơ sở cho việc đưa ra những giải phỏp nhằm phỏt

huy vai trũ của gia đỡnh trong quỏ trỡnh phỏt triển xó hội và quản lý xó hội

Định hướng lý luận và phương phỏp luận của đề tài dựa trờn nền tảng quan điểm của chủ nghĩa Mỏc Lờ Nin, tư tưởng Hồ Chớ Minh, đường lối, chủ trương, chớnh sỏch của Đảng và nhà nước ta Ngoài ra đề tài sử dụng hướng

Ngày đăng: 16/04/2014, 00:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các chỉ tiêu về lao động, việc làm năm 2000 và 2005 - Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Bảng 1 Các chỉ tiêu về lao động, việc làm năm 2000 và 2005 (Trang 143)
Bảng 1: Ý kiến của người dân về những công việc cần làm để duy trì - Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Bảng 1 Ý kiến của người dân về những công việc cần làm để duy trì (Trang 176)
Hình thức đa dạng và phong phú chẳng hạn : tuyên truyền giáo dục về pháp luật - Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Hình th ức đa dạng và phong phú chẳng hạn : tuyên truyền giáo dục về pháp luật (Trang 178)
Bảng 3: Đánh giá các hình thức tham gia hỗ trợ của cộng đồng xã hội với  gia đình - Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Bảng 3 Đánh giá các hình thức tham gia hỗ trợ của cộng đồng xã hội với gia đình (Trang 179)
Hình thức hỗ trợ gia đình - Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Hình th ức hỗ trợ gia đình (Trang 180)
Bảng 5 : Các văn bản pháp luật, chương trình hành động được vận - Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Bảng 5 Các văn bản pháp luật, chương trình hành động được vận (Trang 186)
Bảng  6: ý kiến đánh giá của người dân về nội dung các văn bản - Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
ng 6: ý kiến đánh giá của người dân về nội dung các văn bản (Trang 189)
Bảng 8 : Những ý kiến của người dân về xây dựng nội dung quản lý - Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Bảng 8 Những ý kiến của người dân về xây dựng nội dung quản lý (Trang 201)
Bảng 9: Sự quan tâm của người dân đến các hoạt đông - Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Bảng 9 Sự quan tâm của người dân đến các hoạt đông (Trang 203)
Bảng 10 : Mức độ ảnh hưởng phong trào xây   nếp sống văn minh – gia đình văn hóa. - Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
Bảng 10 Mức độ ảnh hưởng phong trào xây nếp sống văn minh – gia đình văn hóa (Trang 205)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w