1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020

324 603 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
Tác giả PGS.TS. Hà Huy Thành, PGS.TS. Lê Cao Đoàn, PGS.TS. Mai Quỳnh Nam, PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh, GS.TS. Tô Duy Hợp, GS.TS. Lê Văn Khoa, PGS.TS. Nguyễn Trí Tiến, PGS.TS. Vũ Tuấn Huy, GS.TS. Vũ Dũng, TS. Trần Ngọc Ngọan, Ths. Nguyễn Song Tùng, Ths. Phạm Thị Trầm, CN. Hà Huy Ngọc, CN. Nguyễn Thị Hòa, CN. Nguyễn Như Quỳnh
Trường học Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Môi trường và Phát triển xã hội
Thể loại Báo cáo tổng hợp đề tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 324
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phát triển của xã hội loài người, đã đi sâu làm rõ các mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường ở Việt Na

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM CẤP

NHÀ NƯỚC KX 02/06-10

BÁO CÁO TỔNG HỢP

ĐỀ TÀI : VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

ĐẾN NĂM 2020

Mã số: KX.02.25/06-10

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS HÀ HUY THÀNH

Cơ quan chủ trì : Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững

8582

Hà Nội tháng 10/ 2010

Trang 2

NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

(Chủ nhiệm đề tài)

Viện NC Môi trường và Phát triển Bền vững

2 PGS.TS.Lê Cao Đoàn Viện Kinh Tế Việt Nam

3 PGS.TS.Mai Quỳnh Nam Viện NC Con người

4 PGS.TS.Nguyễn Thế Chinh Viện Chiến lược chính sách-Bộ TN&MT

5 GS.TS.Tô Duy Hợp Viện Xã hội học

6 GS.TS.Lê Văn Khoa Khoa Môi trường – ĐHTN – Đại học QG HN

7 PGS.TS Nguyễn Trí Tiến Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

8 PGS.TS Vũ Tuấn Huy Viện Phát triển bền vững vùng Bắc Bộ

9 GS.TS Vũ Dũng Viện Tâm lý, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

10 TS Trần ngọc Ngọan Viện NC Môi trường và Phát triển Bền vững

11 Ths Nguyễn Song Tùng Viện NC Môi trường và Phát triển Bền vững

12 Ths.Phạm Thị Trầm Viện NC Môi trường và Phát triển Bền vững

13 CN Hà Huy Ngọc Viện NC Môi trường và Phát triển Bền vững

Những người cùng tham gia :

14 CN.Nguyễn Thị Hòa Viện NC Môi trường và Phát triển Bền vững

15 CN Nguyễn Như Quỳnh Viện NC Môi trường và Phát triển Bền vững

16 Các cán bộ sở tài nguyên môi trường các tỉnh được khảo sát

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GDP: Tổng thu nhập quốc nội

TN- MT: Tài nguyên môi trường

CNH, HĐH: Công nghiệp hóa hiện đại hóa

NN và PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

UBND: Ủy ban nhân dân

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

WTO: Tổ chức thương mại thế giới

GMS: Tiểu vùng sông Mê Kông

DPSIR: Phương pháp dự báo áp lực và tác động, thực trạng và đáp ứng BVMT: Bảo vệ môi trường

BĐKH: Biến đổi khí hậu

DHNTB: Duyên hải Nam trung bộ

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

CTNS 21VN: Chương trình Nghị sự trong thế kỷ 21 của Việt Nam

ĐMC: Đánh giá tác động môi trường chiến lược

ĐTM: Đánh giá tác động môi trường

ĐTX: Đánh giá tác động xã hội

CQK: Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch

OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

KCN: Khu công nghiệp

CCN: Cụm công nghiệp

URENCO: Công ty môi trường đô thị

BVTV: Bảo vệ thực vật

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 9

1 Tính cấp thiết của đề tài 9

2 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài 10

2.1 Nghiên cứu ngoài nước 10

2.2 Nghiên cứu trong nước 13

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 15

3.1 Mục tiêu chung 15

3.2 Mục tiêu cụ thể 15

4 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 16

4.1 Quan điểm tiếp cận 16

4.2 Phương pháp nghiên cứu 16

5 Kết cấu của đề tài 18

CHƯƠNG MỘT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 19

I.1 Những khái niệm then chốt 19

I.1.1 Môi trường 19

I.1.2 Vấn đề môi trường 22

I.1.3 Xã hội 23

I.1.4 Phát triển xã hội 25

I.1.5 Quản lý phát triển xã hội 28

I.2 Mối quan hệ giữa môi trường và Phát triển xã hội 29

I.2.1 Bản chất của mối quan hệ giữa môi trường và con người, xã hội 29

I.2.2 Sự tương tác giữa môi trường và sự phát triển xã hội 32

I.3 Nền tảng của sự tồn tại, phát triển xã hội: Sản xuất, phát triển sản xuất; kinh tế; hệ thống kinh tế của xã hội 36

Trang 5

I.4 Những quan hệ xã hội khác ngoài kinh tế 41

I.5 Mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội – những khả năng xung đột giữa chúng 50

I.5.1 Xã hội nguyên thuỷ 51

I.5.2 Làn sóng văn minh nông nghiệp 52

I.5.3 Cách mạng công nghiệp và làn sóng văn minh công nghiệp 54

I.5.4 Làn sóng văn minh hậu công nghiệp – thời đại phát triển hiện đại và khả năng giải quyết xung đột giữa phát triển kinh tế – xã hội và môi trường xảy ra trong làn sóng công nghiệp 60

I.6 Phát triển bền vững – Phương thức cần thiết cho việc giải quyết những mâu thuẫn, xung đột trong sự phát triển hiện đại 64

I.6.1 Phát triển bền vững 65

I.6.2 Quản lý sự phát triển xã hội trong quan hệ với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững 71

I.7 Kinh nghiệm quản lý sự phát triển kinh tế xã hội trong mối quan hệ với bảo vệ tài nguyên và môi trường của một số nước trên thế giới 84

I.7.1 Một số vấn đề môi trường và quản lý tài nguyên môi trường ở New Zealand 85

I.7.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế xã hội 96

CHƯƠNG HAI THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI MÔI TRƯỜNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VỪA QUA 115

II.1.Một số vấn đề về thực trạng suy thoái tài nguyên ở nước ta hiện nay 117

II.1.1.Thực trạng suy thoái tài nguyên đa dạng sinh học 117

II.1.2 Suy thoái tài nguyên nước 119

II.1.3 Thực trạng suy thoái tài nguyên đất 124

II.2.Tình trạng ô nhiễm môi trường do các quá trình phát triển 128

II.2.1 Đô thị hóa và vấn đề ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay 128

II.2.2 Vấn đề môi trường nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa 141

II.2.3 Những vấn đề biến đổi môi trường ở nông thôn miền núi 149

II.2.4 Vấn đề môi trường do phát triển làng nghề 153

II.2.5 Tình trạng tai biến môi trường 158

Trang 6

II.3 Tác động của những vấn đề môi trường tới phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước

ta trong những năm qua 160

II.3.1.Tác động của những vấn đề môi trường tới phát triển xã hội 160

II.3.2 Vấn đề môi trường và Quản lý phát triển xã hội 184

II.4 Những nguyên nhân của biến đổi môi trường và ảnh hưởng của nó đến phát triển xã hội 191

II.4.1 Mô hình phát triển kinh tế 192

Năm 196

II.4.2 Những bất cập trong việc quản lý sự phát triển xã hội có quan hệ đến phát triển và bảo vệ môi trường 209

CHƯƠNG BA DỰ BÁO CÁC XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI MÔI TRƯỜNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NHỮNG BIẾN ĐỔI ĐÓ ĐẾN PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA ĐẾN NĂM 2020 219

III.1 Dự báo bối cảnh quốc tế, khu vực ảnh hưởng đến phát triển xã hội Việt Nam trong thập niên tới 219

III.1.1 Trên phạm vi toàn cầu 219

III.1.2 Dự báo bối cảnh khu vực Đông Á và vị trí của tiểu vùng sông Mê Công (GMS) trong khu vực 222

III.2 Một số phương pháp dự báo tác động của môi trường đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội 225

III.2.1 Phương pháp DPSIR 225

III.2.2 Phương pháp dự báo theo phép nội - ngoại suy 225

III.2.3 Phương pháp dự báo suy thoái MT hoặc ô nhiễm MT theo "hệ số suy thoái" "hệ số ô nhiễm" 227 III.4 Dự báo xu thế diễn biến một số loại môi trường 230

III.4.1 Dự báo xu thế phát triển rừng 231

III.4.2 Dự báo biến động tài nguyên đất 233

III.4.3 Dự báo biến động tài nguyên nước 234

III.4.4 Dự báo xu thế diễn biến đô thị hóa ở Việt Nam 234

III.4.5 Dự báo chất thải rắn phát sinh đến năm 2020 235

III.4.6 Dự báo xu thế ô nhiễm môi trường đô thị và khu công nghiệp 238

III.4.7 Dự báo những tác động của biến đổi khí hậu đối với phát triển xã hội và quản lý môi trường xã hội ở Việt Nam và những giải pháp ứng phó 239

Trang 7

CHƯƠNG IV QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI SỬ DỤNG HIỆU QUẢ TÀI NGUYÊN VÀ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG SỐNG VÌ

SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA ĐẾN NĂM 2020 267

IV.I Bối cảnh phát triển mới và tác động của nó đến việc giải quyết các vấn đề trong quá trình phát triển xã hội ở Việt Nam từ nay đến năm 2020 267

IV 1.1 Những di sản của thời kỳ phát triển từ khi đổi mới đến nay 268

IV.1.2 Giai đoạn phát triển tới và những yêu cầu mới ảnh hưởng đến việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển và môi trường 273

IV.2 Những quan điểm cơ bản để giải quyết mối quan hệ giữa phát triển và môi trường nhằm đạt được sự phát triển bền vững, phát triển hiện đại với những giá trị môi trường thích ứng 277

IV.2.1 Quan điểm phát triển bền vững trong phát triển xã hội 277

IV.2.2 Quan điểm về phát triển hiện đại trong cách giải quyết mối quan hệ giữa phát triển xã hội và bảo vệ môi trường nhằm vào phát triển bền vững 280

IV.2.3 Quan điểm về xác lập mối quan hệ hài hòa giữa phát triển xã hội và môi trường nhằm vào phát triển bền vững .282

IV.2.4 Quan điểm hệ thống và đồng bộ 283

IV.3 Những giải pháp cần thiết để giải quyết vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội 291

IV.3.1 Nhóm giải pháp nhằm tạo lập những cơ sở và điều kiện cho phát triển bền vững 291

IV.3.2 Nhóm giải pháp cụ thể 308

KẾT LUẬN 316

TÀI LIỆU THAM KHẢO 320

Trang 8

DANH MỤC BIỂU

Biểu II.1 : Diễn biến PM10 trung bình năm tại một số thành phố từ 2003 - 2006 129

Biểu II.2 : Diễn biến hàm lượng TSP trong không khí ven đường tại một số trục giao thông của các đô thị từ 2002-2006 130

Biểu II.3 : Kết quả đo tiếng ồn ở các tuyến đường giao thông tại Tp Hồ Chí Minh 131

Biểu II.4: Tình hình phát triển KCN (thành lập theo Quyết định của Thủ tướng chính phủ) thời gian qua .137

Biểu đồ II.5: Tỷ lệ gia tăng lượng nước thải từ các KCN và tỷ lệ gia tăng tổng lượng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc 138

Biểu III.1 Các giai đoạn phát triển 226

Biểu III.3: Chuẩn sai nhiệt độ toàn cầu so với thời kỳ 1961-1990 (0C) 242

DANH MỤC BẢNG Bảng I.1: Sản lượng hàng công nghiệp chủ yếu của Trung Quốc 101

Bảng II.1 : Sự phong phú về thành phần loài sinh vật ở Việt Nam 117

Bảng II.2 : Hiện trạng đất ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010 124

Bảng II.3 Sự phân bố đất hoang hóa ở Việt Nam 127

Bảng II.4: Quan hệ giữa sự bào mòn đất và năng suất cây trồng 127

Bảng II.5 : Diễn biến quá trình đô thi hóa ở nước ta và dự báo đến năm 2020 128

Bảng II.6: Thải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các khu công nghiệp phía Nam 140

Bảng II.7: Số liệu điều tra tại các tỉnh Bắc Trung Bộ, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở vùng nông thôn 143

Bảng II.8 : Lượng phân bón hàng năm cây trồng chưa sử dụng được 145

Bảng II.9 : Khối lượng các nhóm thuốc BVTV đã sử dụng ở Việt Nam 146

Bảng II.10: Hiện trạng rừng của các tỉnh miền núi tính đến 31/12/2009 151

Bảng II.11 Thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải của một số làng nghề chế biến lương thực thực phẩm 155

Bảng II.12 : Số liệu điều tra sức khỏe của người dân tại các làng nghề 156

Bảng II.13 : Thống kê thiệt hại do thiên tai tới nông nghiệp năm 2009 161

Bảng II.14: Thiệt hại tàu thuyền do bão, áp thấp nhiệt đới gây ra vài năm gần đây 162

Bảng II.15: Ảnh hưởng của thiên tai đến giao thông vận tải năm 2009 164

Bảng II.16 Diện tích các KCN-KCX đến tháng 7/2008 và qui hoạch đến năm 2015 178

Bảng II.17: Đầu tư và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 196

Trang 9

Bảng II.18: Các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng 197

Bảng II.19: Cơ cấu kinh tế 198

Bảng II.20: Tăng trưởng GDP theo ngành, 2001 - 2008 201

Bảng II.21: Tỷ lệ doanh nghiệp của một số nước ASEAN phân theo tiêu chuẩn công nghệ của UNIDO 202 Bảng II.22: Cơ cấu xuất khẩu theo khu vực kinh tế và theo ngành 204

Bảng II.23: Cơ cấu lao động theo ngành (đơn vị: %) 205

Bảng III.1 Dự báo tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt (l/người/ngày) 228

Bảng III.2: Dự báo GDP các ngành kinh tế tính theo giá so sánh 1994, 2011-2020 230

Bảng III.3: Định hướng quy họach diện tích rừng và đất lâm nghiệp (triệu ha) 231

Bảng III.4: Diện tích các KCN-KCX đến tháng 7/2008 và qui hoạch đến năm 2015 233

Bảng III.5 Diễn biến quá trình đô thị hóa ở nước ta trong 25 năm qua và dự báo đến năm 2020 234

Bảng III.6: Dự báo chất thải rắn phát sinh năm 2010, 2015, 2020 theo vùng kinh tế (đơn vị tính: tấn) 235

Bảng III.7: Dự báo thải rắn phát sinh phân theo ngành ở Việt Nam năm 2010, 2015, 2020 236

Bảng III.8: Các kịch bản về tăng nhiệt độ do biến đổi khí hậu so với thời kỳ 1980-1999 của Việt Nam 243

Bảng III.9 Các kịch bản về thay đổi lượng mưa so với thời kỳ 1980-1999 243

Bảng III.10 Các kịch bản về nước biển dâng 244

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển đổi thành công từ mô hình kế hoạch hóa tập trung, phi thị trường sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lý của Nhà nước Nhờ đó tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội ( GDP)

đã đạt mức bình quân 7%/ năm trong thời kỳ 1996-2006, năm 2007 đạt 8,5% năm 2008 dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới GDP vẫn đạt 6,2% Với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh đó, đời sống dân cư được cải thiện đáng kể mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người năm 2008 đạt 1000USD, năm 2010 ước đạt khoảng 1100USD Với mức này, Việt Nam đã chuyển được vị trí từ nhóm nước nghèo nhất sang vị trí của nhóm nước có mức thu nhập trung bình thấp

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh đạt được trong mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động rẻ, thêm vào đó là tốc độ tăng dân số tương đối cao và tốc độ đô thị hóa quá nhanh đã gây sức ép ngày càng tăng đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường và đối với một số mặt của đời sống xã hội

Đến lượt mình, sự tàn phá đến mức hủy diệt tài nguyên rừng; sự khai thác tài nguyên khoáng sản bừa bãi, không cân nhắc giữa lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường; sự

ô nhiễm không khí, nước thải và rác thải ở các đô thị và các khu công nghiệp và cả ở nông thôn không được xử lý tốt đã tác động xấu đến sản xuất và đời sống xã hội

Tất cả những điều đó đã cản trở việc đạt được mục tiêu phát triển bền vững kinh tế

xã hội và môi trường ở nước ta trong trong thời gian qua Hơn thế nữa, chúng có thể tạo ra nguy cơ khủng hoảng về môi trường ở nước ta trong tương lai Trong bối cảnh đó, việc

nghiên cứu “Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở

nước ta đến năm 2020” với các mục tiêu cơ bản là: xem xét, luận giải vai trò của môi

trường ( chủ yếu là môi trường tự nhiên) trong phát triển xã hội và quản lý xã hội; nhận diện thực trạng sự tác động của sự biến đổi môi trường đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta; dự báo các xu hướng biến đổi của môi trường và tác động của những biến đổi đó đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm

Trang 11

2020 và đề xuất các giải pháp thích ứng với những biến đổi của môi trường nhằm mục tiêu đạt được sự phát triển xã hội bền vững ở nước ta là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng

2 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Nghiên cứu ngoài nước

Có thể nói lý luận về mối quan hệ giữa môi trường và sự phát triển xã hội có thể tìm thấy trong tinh hoa của văn minh cổ đại Lý luận đó dựa vào hai cơ sở lớn là mối quan

hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người

Các học giả nổi tiếng cả phương Đông và phương Tây đều nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên với hoạt động của con người, từ đó tìm ra sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên trong các giai đoạn phát triển xã hội khác nhau Nó là tiền đề cho "lý luận phát triển" sau này, có ảnh hưởng sâu sắc đối với việc xây dựng lý luận về môi trường và phát triển, nhân loại và phát triển, hòa bình và phát triển

Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ thứ XX, những tư tưởng lãng mạn về vẻ đẹp của tự nhiên bắt đầu nổi lên, tương phản với các quan điểm chủ lưu trước đó về sự khắc nghiệt và hoang dã của tự nhiên

Arne Naess một triết gia Na Uy đưa ra khái niệm "Sinh thái thâm sâu" (deep ecology) và được phát triển thành một trường phái môi trường ở Hoa Kỳ và châu Âu Hệ phái Hoa Kỳ coi sinh học là trung tâm, coi tự nhiên có giá trị cơ hữu, độc lập với giá trị của nó đối với con người; có xu hướng tập trung vào thế giới hoang dã sơ khai và không bị can thiệp, bảo tồn cực đoan; viện dẫn truyền thống và các hệ thống đức tin của phương Đông để hỗ trợ cho quan điểm sinh học là trung tâm Các quan điểm về sự cần thiết phải bảo tồn thiên nhiên đều cho rằng cần có những "giới hạn đối với tăng trưởng kinh tế", đánh đồng việc bảo vệ môi trường với bảo tồn hoang dã Naess kêu gọi thay đổi lối sống kết hợp với những thay đổi về chính trị Nhiều nhà môi trường châu Âu và Hoa Kỳ giải thích sự tàn phá môi trường chủ yếu trong các bối cảnh xã hội và lịch sử, trên các mặt như bất bình đẳng xã hội, và kêu gọi giảm mức tiêu thụ tài nguyên của các tầng lớp thượng lưu

toàn cầu

Trang 12

Lovelock (1979) trong cuốn: Một cách nhìn mới về cuộc sống trên trái đất “ A new look at life on Earth” đã phát triển giả thuyết Gaia để thử đưa ra tư tưởng Trái đất như một siêu - tổ chức bao gồm "tất cả cơ thể sống trên Trái đất và môi trường của nó", với không khí, các đại dương, tầng sinh quyển và đất đai, tất cả là thành tố của một hệ thống phức hợp Sự rối loạn của một bộ phận sẽ ảnh hưởng đến các bộ phận khác và có thể gây nên

"những dao động giữa hai hoặc nhiều hơn những trạng thái không mong muốn" Lovelock nghiên cứu ảnh hưởng của hành động con người với môi trường toàn cầu, đặc biệt là không khí và sinh quyển Tư tưởng của ông, dựa trên sự phân tích khoa học, dẫn tới kết luận loài người phải hết sức thận trọng, bởi những yếu tố tiềm ẩn luôn có ảnh hưởng đến những hệ thống cục bộ của trái đất: các hệ thống đó quá phức tạp để có thể tiên liệu bất cứ hành động nào Lovelock cho rằng không được phép tác động quá lớn đến hệ thống - Trái đất, bởi những "tình huống dị thường không mong muốn" có thể phương hại đến con người cũng như bất cứ cái gì khác Phải để cho tự nhiên giữ được giá trị cơ hữu của nó, và không thể thay thế bằng bất cứ gì khác Một trong những hệ thống cục bộ quan trọng nhất của "hành tinh trái đất" là khí quyển, và sự nóng lên toàn cầu chỉ là một phần minh chứng rằng con người có lẽ đã đi quá xa trong việc tác động đến tự nhiên

Blaikie và Brookfield năm 1987, xuất bản cuốn "Land Degradation and Society" (

Suy thoái đất và xã hội) một ấn phẩm về sinh thái chính trị Mối quan tâm chính của cuốn sách là đi vào tìm hiểu tại sao đất đai thoái hóa và tại sao trong một số trường hợp không thấy phục hóa Các tác giả của cuốn sách cho rằng đây chủ yếu là vấn đề xã hội Các tác giả nhận xét rằng đất bị thoái hóa là do sự kết hợp của các lực lượng tự nhiên và con người Trong nghiên cứu của mình, Blaikie và Brookfield đã giải thích một nhân tố đơn nhất của sự thoái hóa hay cải thiện tài nguyên thiên nhiên đó là vấn đề dân số Hai ông đã phản bác các lý thuyết giản đơn của Malthus và chủ nghĩa Malthus mới về quan niệm trái đất chỉ có một khả năng dung dưỡng nhất định (để cung cấp cho sản xuất lương thực của con người), và phủ nhận tiềm năng của phát triển công nghệ

Hayward,Tim (1994) viết cuốn "Ecological Thought: an Introduction" ( Tư tưởng sinh thái: dẫn luận ) đã đưa sinh thái chính trị vượt khỏi giới hạn nông thôn và xem xét không chỉ các quá trình thay đổi môi trường liên quan đến đất đai Ông nhận xét rằng các

lý thuết kinh tế chính trị trước đây chưa thỏa mãn hoàn toàn được các hoạt động tái sản

Trang 13

xuất, tức là trách nhiệm duy trì sức khỏe và gia đình mà phần lớn đặt lên vai phụ nữ, cũng như vấn đề tái sản xuất (năng lực sản xuất) giới tự nhiên, đất đai hoặc nguồn lực môi trường Ông cho rằng thông qua trung gian xã hội mà tự nhiên trở thành giá trị, và một lý thuyết sinh thái chính trị cần "mở rộng sự phê phán của Mác đối với việc bóc lột lao động không ăn lương và "lao động" của bản thân tự nhiên

Agarwal, Bina (1998) trong tác phẩm: "The gender and environment debate" (Giới

và tranh luận về môi trường), Agarwal Bina cho rằng các hộ nghèo và phụ nữ là những nạn nhân chủ yếu của sự thay đổi môi trường bởi sự phân công lao động liên quan tới giới

và sự bất bình đẳng về tiếp cận các nguồn lực Tác động của thay đổi môi trường đối với giới biểu hiện trong những áp lực với thời gian, thu nhập, dinh dưỡng và sức khỏe của phụ

nữ, các mạng lưới hỗ trợ họ, và kiến thức bản địa của họ

Rocheleau (1995) trong tác phẩm "Gender and biodiversity: a feminist political ecology perspective" ( Giới và đa dạng sinh học : một tầm nhìn về sinh thái chính trị phụ

nữ ), đưa ra khái niệm về " sinh thái chính trị phụ nữ " nằm trong nhóm khái niệm "giới, môi trường và phát triển (GED)" đã nhấn mạnh đến các quan hệ vật chất và kết cấu của nó dưới tác động của mối quan hệ về giới Mối quan hệ đó đặc biệt được thể hiện trong kiến thức về môi trường, khoa học và công nghệ mang tính chất giới Rocheleau cho rằng kiến thức đó mang tính chất tích lũy và rất năng động, bởi nó được xây dựng trên những kinh nghiệm của quá khứ đồng thời lại vận dụng vào những thay đổi kinh tế - xã hội và công nghệ của hiện tại

Gupta, Avijit and Mukul G.Asher (1998) trong tác phẩm "Environment and the Development World: Principles, Policies and Management" ( Môi trường và thế giới phát triển: nguyên tắc, chính sách và quản lý )cho rằng sự xuống cấp của nước, đất và không khí làm giảm hiệu suất của con người và tài nguyên thiên nhiên, và tiềm ẩn những tiềm năng phản tác dụng đối với an ninh lương thực và cung ứng những nhu yếu phẩm cơ bản khác Các mối liên hệ giữa sinh thái và kinh tế thể hiện ở nhiều mặt và phức hợp, và nhiều quá trình thay đổi môi trường nằm bên ngoài hệ thống thị trường, nhưng không phải bên ngoài nền kinh tế

Đến giữa thập kỷ 70 - 80 của thế kỷ 20, các nghiên cứu về sự phát triển đã trình bày toàn diện sự thống nhất nội tại của hai mối hài hòa lớn trong quan hệ phức tạp giữa tự

Trang 14

nhiên và kinh tế, xã hội Hạt nhân bên trong của lý luận nhân loại và sự phát triển là tìm kiếm sự hài hòa trong quan hệ "người và tự nhiên" Trong cuốn sách "Tương lai chung của chúng ta" đã trình bày toàn diện sự thống nhất nội tại của sự hài hòa giữa con người và tự nhiên, từ đó đưa công tác nghiên cứu về con người với sự phát triển sang một giai đoạn hoàn toàn mới, đó chính là sự ra đời phương thức phát triển mới - Phát triển bền vững

Tuy những công trình nghiên cứu ở nước ngoài có nhiều gợi mở tốt, nhưng những nghiên cứu ấy chưa đủ tính tổng quát về mối quan hệ giữa môi trường sinh thái và sự phát triển xã hội cũng như quản lý sự phát triển xã hội của thời đại nói chung và ở nước ta nói riêng Mảnh đất cho các nhà nghiên cứu đề tài này chính là bổ sung sự khiếm khuyết đó

2.2 Nghiên cứu trong nước

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam đề cập đến vấn đề này ở những góc nhìn khác nhau Trước hết có thể kể đến Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) của Việt Nam - VIE/01/021, "Phát triển bền vững ở Việt Nam" Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam đã trình bày rõ những tiến bộ về phát triển kinh tế, xã hội và những vấn đề về môi trường sinh thái trong quá trình phát triển đó ở Việt Nam Trên cơ sở

đó đưa ra những định hướng cơ bản, mang tính chiến lược trong việc xây dựng và quản lý quá trình phát triển kinh tế, xã hội ở Việt Nam tương thích với sự biến đổi của hệ môi trường sinh thái trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội trong thế kỷ 21; cuốn "Vấn đề môi trường trong quá trình CNH, HĐH của GS.TSKH Vũ Huy Chương Trong tác phẩm này, tác giả đã phân tích khá rõ mối quan hệ hữu cơ, ràng buộc và thúc đẩy lẫn nhau giữa kinh tế xã hội và môi trường Theo tác giả mối quan hệ tác động của môi trường tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội là mối quan hệ liên kết chặt chẽ với nhau theo nguyên tắc

"cân bằng vật chất" Trong mối quan hệ với kinh tế, môi trường đóng vai trò là nguồn cung cấp đầu vào cho quá trình sản xuất vật chất phát triển Trong mối quan hệ với các hiện tượng xã hội, mối trường lại chịu sự chi phối, sự tác động của các hiện tượng này: sự tác động dân số, nạn nghèo đói, thất nghiệp, dân trí thấp, mô hình tiêu dùng lãng phí là những đe dọa tiềm ẩn đối với môi trường; cuốn "Một số vấn đề xã hội và nhân văn trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam" của PGS.TS Hà Huy Thành Sau khi giải trình mối quan hệ tổng quát giữa xã hội và môi trường trong quá trình

Trang 15

phát triển của xã hội loài người, đã đi sâu làm rõ các mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam, từ đó đã đưa ra một số giải pháp về kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên vì sự phát triển bền vững đất nước trong hiện tại và trong tương lai; Cuốn “ Con người và phát triển bền vững” của PGS.TS Nguyễn Đức Khiển, cuốn sách đã đề cập một cách tổng quát các vấn đề về tài nguyên, môi trường nói chung và những vấn đề môi trường nẩy sinh trong quá trình phát triển và quản lý môi trường ở Việt Nam để đạt được sự phát triển bền vững trong thế kỷ XXI Tuy nhiên tác giả chưa bàn nhiều đến các vấn đề xã hội và quản lý phát triển xã hội trong mối quan hệ với việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Cuốn "Phát triển bền vững ở Việt Nam, Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng" của GS.TSKH Nguyễn Quang Thái và PGS.TS Ngô Thắng Lợi; cuốn "Sinh thái nhân văn (con người và môi trường)" của Nguyễn Hoàng Trí; cuốn "Con người và Môi trường" của TS Hoàng Hưng; cuốn "Quản

lý sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng" của GS.TS Phạm Xuân Nam; cuốn "Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội" của Hồ Sĩ Quý; cuốn "Môi trường sinh thái: Vấn đề và giải pháp" của PGS.TS Phạm Thị Ngọc Trầm; cuốn "Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam" chủ biên GS.TSKH Nguyễn Hữu Tăng, GS.TSKH.Đăng Trung Thuận, TS.Nguyễn Hữu Ninh, TS.Hồ Ngọc Luật

Những công trình nghiên cứu kể trên và nhiều cuốn sách và bài tạp chí khác, ở các góc nhìn nhận, đánh giá toàn diện, hay từng mặt, mức độ sâu hay nông, về cơ bản đã phác họa được bức tranh toàn cảnh với những đường đậm nhạt khác nhau về những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Tuy nhiên, vấn còn thiếu những nghiên cứu chuyên sâu nhằm nhận diện thực trạng

và dự báo các xu hướng biến đổi của môi trường tác động tới sự phát triển xã hội và quản

lý phát triển xã hội ở nước ta trong vòng 10 - 20 năm tới

Trang 16

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục tiêu chung

- Luận giải vai trò của môi trường và quan hệ giữa môi trường đối với sự phát triển

xã hội và quản lý phát triển xã hội;

- Nhận diện thực trạng tác động của sự biến đổi môi trường đối với phát triển xã hội

và quản lý phát triển xã hội ở nước ta;

- Dự báo các xu hướng biến đổi của môi trường và tác động của những biến đổi đó đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta;

- Đề xuất giải pháp thích ứng và đối phó với biến đổi của môi trường đến năm 2020 nhằm phục vụ các mục tiêu phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Dựa trên lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, những thành tựu lý luận hiện đại nghiên cứu về phát triển xã hội và khoa học tự nhiên cụ thể là khoa học về môi trường và sinh thái, đề tài luận giải vai trò của môi trường và quan hệ giữa môi trường đối với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội;

- Trên cơ sở phân tích tư liệu điều tra khảo sát, những nghiên cứu thực tiễn và đặc biệt nghiên cứu phân tích mô thức phát triển hiện tại và xu hướng phát triển, đề tài sẽ đưa

ra những dự báo các xu hướng biến đổi của môi trường ở ta đến năm 2020;

- Trên cơ sở nghiên cứu những dự báo các xu hướng biến đổi của môi trường ở ta đến năm 2020, đề tài sẽ đưa ra những phân tích về nguyên nhân của những biến đổi và suy thoái môi trường ở nước ta;

- Cung cấp các luận cứ khoa học dưới góc độ lý luận về phát triển bền vững, đề xuất giải pháp thích ứng hình thành mô thức phát triển phù hợp và nâng cao năng lực quản

lý sự phát triển xã hội, nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững với chất lượng cao

- Làm cơ sở cho việc nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc giải quyết mối quan hệ giữa môi trường và các vấn đề trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

Trang 17

4 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

4.1 Quan điểm tiếp cận

- Đề tài đặt ra là nhằm giải quyết thỏa đáng mối quan hệ tương tác giữa phát triển

xã hội và môi trường trong mục tiêu đạt tới sự phát triển hài hòa, bền vững, vì thế, cách

tiếp cận phát triển bền vững trở nên cần thiết Có thể nói, phát triển bền vững là cái chỉnh

thể trong đó mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và môi trường được thiết lập Bởi vậy, chỉ xuất phát từ khía cạnh phát triển bền vững mới có thể hiểu và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa phát triển xã hội và môi trường

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài không phải là môi trường, cũng không phải là phát triển xã hội, mà là mối quan hệ tương tác biện chứng giữa phát triển xã hội và môi

trường trong mục tiêu đạt tới sự phát triển hài hòa, bền vững Vì thế, cách tiếp cận hệ

thống, liên ngành là cần thiết và thích hợp Ở đây, một mặt, các cách tiếp cận môi trường,

tiếp cận kinh tế, xã hội, nhân văn đều hội tụ, hay nhằm vào việc xây dựng mối quan hệ hài

hòa giữa phát triển xã hội và môi trường, cũng như tìm kiếm một phương thức quản lý xã

hội thích ứng trong việc giải quyết thỏa đáng mối quan hệ này Mặt khác, môi trường và

phát triển xã hội có quan hệ biện chứng hợp thành một hệ thống của sự phát triển hiện đại, phát triển bền vững, vì thế, cách tiếp cận liên ngành tổng thể là cần thiết Chỉ với cách tiếp cận tổng thể mới cho phép tri thức đạt tới bản chất của mối quan hệ giữa phát triển xã hội

và môi trường, và do đó hiểu được những quy luật trong sự tương tác này để đạt tới sự phát triển hài hòa, phát triển bền vững, trong đó môi trường được bảo vệ, được tái tạo với những giá trị thích ứng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng những phương pháp chủ yếu sau đây:

- Phương pháp thu thập tài liệu: nguồn tài liệu là cơ sở để tiến hành triển khai đề tài, vì vậy đề tài đã tiến hành thu thập, khai thác, phân tích, các nguồn tài liệu, số liệu đã

có từ các Viện nghiên cứu chuyên ngành của Viện KHXH Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, từ các Bộ như Bộ tài nguyên và môi trường; Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ lao động thương binh và xã hội cũng như

từ các nguồn tài liệu khác gồm báo chí, các báo cáo khoa học của các hội thảo và các trang

Trang 18

website có liên quan đến vấn đề nghiên cứu…

- Phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp: Trên cơ sở nguồn tài liệu, số liệu và trên các cơ sở lý thuyết đã trình bày sẽ tiến hành các nghiên cứu so sánh để thấy được sự khác nhau giữa các thời kỳ phát triển của xã hội cũng như giữa các vùng… Phân tích các

số liệu để thấy được sự biến động về thực trạng cũng sự biến động của những tác động của chúng đối với các vấn đề của phát triển xã hội và sự quản lý phát triển xã hội

- Phương pháp biểu đồ, đồ thị, bản đồ: Trên cơ sở các tư liệu, số liệu đã có đề tài đã diễn tả sự biến động của vấn đề nghiên cứu bằng các biểu đồ, đồ thị minh họa Bản đồ vừa

là nguồn tri thức phong phú vừa là phương tiện để minh họa, cụ thể hoá các đối tượng nghiên cứu theo không gian

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo những ý kiến, các báo cáo, những bài phát biểu, những nhận định của các chuyên gia quan tâm, nghiên cứu về vấn đề của đề tài để từ

đó có cái nhìn khách quan, khoa học với vấn đề của đề tài nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát xã hội học: Đề tài đã tiến hành một số cuộc điều tra xã hội học 20 tỉnh ở các vùng sinh thái Phương pháp chủ yếu là phỏng vấn cá nhân và thảo luận nhóm Lợi ích của phương pháp phỏng vấn đối với từng người dân là bảo đảm thông tin trực tiếp, câu hỏi được trả lời hoàn chỉnh, theo đúng trật tự, độ chính xác cao Phỏng vấn

cá nhân thường mang lại tỷ lệ trả lời cao hơn Phương pháp này rất hiệu quả đối với việc tìm hiểu ý kiến công chúng về những vấn đề môi trường và tác động của nó đối với sự phát triển xã hội và qản lý phát triển xã hội tại các vùng dân cư Sử dụng phương pháp phỏng vấn cá nhân giúp cho việc đánh giá một cách sâu sắc thái độ của người trả lời thông qua việc đi sâu tìm hiểu những vấn đề liên quan đến mục đích nghiên cứu mà người điều

tra phát hiện ra trong quá trình phỏng vấn đối tượng Phương pháp thảo luận nhóm: được

thực hiện bằng cách lấy ý kiến của công chúng về tác động của những biến đổi môi trường đối với các vấn đề xã hội Phương pháp này rất có hiệu quả khi muốn tìm hiểu ý kiến của công chúng về vấn đề nghiên cứu Ý kiến được nêu ra sẽ được trao đổi thảo luận và cuối cùng là sự đồng thuận tương đối của những người tham gia thảo luận

- Phương pháp phân tích hệ thống: Là một đề tài mang tính liên ngành cao, do đó phương pháp phân tích hệ thống được coi như là một công cụ chủ yếu trong nghiên cứu đề tài

Trang 19

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, báo cáo tổng hợp đề tài được trình bày trong bốn chương

Chương một: Một số vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của môi trường trong mối

quan hệ với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

Chương hai: Nhận diện thực trạng sự biến đổi của môi trường và tác động của

những biến đổi đó đến phát triển xã hội và quản lý phát triển ở nước ta trong thời kỳ đổi mới vừa qua

Chương ba: Dự báo các xu hướng biến đổi của môi trường và khả năng tác động

của những biến đổi đó đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm

2020

Chương bốn: Quan điểm và giải pháp hài hòa hóa mối quan hệ giữa môi trường và

phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, hình thành sự phát triển bền vững ở nước ta đến năm 2020

Trang 20

CHƯƠNG MỘT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ SỰ

PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

I.1 Những khái niệm then chốt

Chủ đề của cuốn sách là đánh giá những tác động của môi trường đến sự phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới vừa qua, trên

cơ sở đó đề xuất các giải pháp quản lý phát triển xã hội trong mối quan hệ với sự biến đổi môi trường ở nước ta đến năm 2020

Để thấu đáo hiểu được những vấn đề đó, thì một cách logic và biện chứng, cần thiết phải xác định rõ nội hàm của các khái niệm hay các phạm trù liên quan Các khái niệm được xác định ở đây gồm:

- Môi trường và vấn đề môi trường;

- Xã hội và phát triển xã hội;

- Quản lý phát triển xã hội;

Đặc biệt, cần thấu hiểu các mối quan hệ tương tác qua lại giữa phát triển xã hội và vấn đề môi trường, giữa quản lý phát triển xã hội và vấn đề môi trường cũng như mối tương quan giữa bộ ba: phát triển xã hội - quản lý phát triển xã hội - vấn đề môi trường

I.1.1 Môi trường

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về môi trường khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu

- Điều 3 luật bảo vệ môi trường 2005 của Việt Nam định nghĩa:” Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người Thành phần môi trường theo định nghĩa này là các yếu tố vật chất tự nhiên tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác”1

1 Luật bảo vệ môi trường năm 2005, tr.1

Trang 21

- Bách khoa toàn thư về môi trường (năm 1994) đưa ra định nghĩa: “ Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội- nhân văn và các điều kiện khác tác động trực tiếp hay gián tiếp lên sự phát triển, lên đời sống và các hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ”2

- Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn

bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình và vô hình (tập quán, niềm tin…) trong đó con người sống và lao động, họ khai thác tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mình 3

- Ở ý nghĩa tổng quát nhất,“Môi trường”(của một đối tượng bất kỳ) là tất cả những

gì ở ngoài phạm vi đối tượng đó hay chính xác hơn là tất cả những gì không thuộc về đối tượng đó” Chẳng hạn như môi trường của cơ thể con người là tất cả những gì bao quanh

cơ thể con người hay là tất cả những gì không thuộc về cơ thể con người, bao gồm: thế giới vật chất vô cơ, vô sinh (môi trường tự nhiên), thế giới vật chất nhân tạo (kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật), thế giới vật chất hữu cơ, hữu sinh tức là thế giới động thực vật (môi trường sinh thái hay sinh quyển), thế giới đời sống xã hội (môi trường xã hội hay xã hội quyển)4…

Sự phân loại môi trường ra thành môi trường tự nhiên và môi trường xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với chủ đề nghiên cứu về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã

hội Mặc dù vậy, ở đây chúng ta sẽ chú trọng các vấn đề môi trường tự nhiên trong tương

quan với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Tuy nhiên, các vấn đề môi trường

xã hội trong những trường hợp cần thiết và hợp logic sẽ không bị bỏ qua Dưới đây chúng

ta sẽ xem xét kỹ hơn những vấn đề của môi trường tự nhiên

Khái niệm môi trường ở đây là thế giới tự nhiên song không phải là thế giới tự nhiên nói chung, bất kỳ, vô hạn, vô tận mà là thế giới tự nhiên đặt trong quan hệ mật thiết với sinh hoạt sống của con người và sự phát triển của xã hội loài người

2 Dẫn theo Lê Văn Khoa và nhiều người khác: Môi trường và phát triển bền vững, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2009, tr.7

3 Sách đã dẫn, tr.8

4 Tô Duy Hợp, chuyên đề: Một số vấn đề lý luận cơ bản trong nghiên cứu đề tài “ Vấn đề môi trường trong phát triển

xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam đến năm 2020”, 6/2010

Trang 22

Nếu xem xét môi trường tự nhiên từ chức năng của nó, trong quan hệ với sinh hoạt sống của con người và sự phát triển xã hội loài người, thì môi trường là một hệ thống có những chức năng sau:

i) Môi trường, trước hết là một hệ sinh quyển, khí quyển, nhiệt quyển, sinh thái làm thành môi trường sống, không gian sống cần thiết cho sự sống tự nhiên của con người

ii) Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên làm thành đối tượng trong việc sản xuất ra của cải vật chất Ở khía cạnh kinh tế, tài nguyên là nguồn lực và là một hình thái tài sản tự nhiên

iii) Môi trường là không gian chứa đựng và phân hủy phế thải của quá trình sản xuất và quá trình sinh hoạt riêng của con người

Từ những chức năng trên, ta có thể xác định những tính chất chủ yếu của môi trường: 1) Môi trường trước hết là môi trường tự nhiên, đó là môi sinh với sinh quyển, sinh thái, và tài nguyên thiên nhiên Đây là những yếu tố thuộc giới tự nhiên, con người không tạo ra được và là những yếu tố hình thành nên nền tảng trên đó hình thành, phát triển sự sống 2) Môi trường tự nhiên có tính chất toàn cầu và tính chất vũ trụ Một mặt, môi trường vừa có tính chất vô hạn của thế giới thiên nhiên và vũ trụ, vừa mang tính hữu hạn của thiên nhiên trái đất nơi sinh thành của con người Mặt khác, đặt trong tương quan với sự sống con người và hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của con người, môi trường

tự nhiên bị chiếm hữu bởi con người Sự chiếm hữu này đã đặt môi trường thiên nhiên vào

hệ thống xã hội và bị chia cắt ra và thuộc quyền chiếm hữu từng người, từng nhóm người, từng cộng đồng, từng quốc gia Tuy nhiên sự chia cắt và chiếm hữu đó không thể làm mất

đi tính toàn cầu , tính vũ trụ của môi trường Có thể nói, tính chất toàn cầu, tính chất vũ

trụ của môi trường đã đem lại cho môi trường tính chất xã hội hoá cao khi môi trường tự nhiên được đặt trong hệ thống xã hội Môi trường không thể là của riêng ai mà là của chung cộng đồng, xã hội Đây là tính chất đặc biệt liên quan đến không chỉ đối với tính

chất tương tác giữa con người, xã hội với môi trường mà còn đến tính chất tương tác, giữa con người với con người 3) Môi trường không chỉ là môi sinh tự nhiên, tức sinh quyển và sinh thái và những tài nguyên thiên nhiên, kết quả của toàn bộ tiến hoá của tự nhiên, mà còn là những yếu tố do quá trình sống của con người, quá trình phát triển của xã hội tạo ra Đây là một trong những tính chất quan trọng nhất Nó cho thấy, đặt trong hệ thống kinh tế

Trang 23

- xã hội và tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, môi trường không hoàn toàn là môi trường

tự nhiên nữa, do đó sự tồn tại của môi trường tự nhiên mất đi tính ổn định tương đối và môi trường trở thành môi trường tự nhiên - xã hội Giờ đây môi trường tự nhiên chịu sự tác động của quá trình sinh hoạt sống của con người và của quá trình phát triển kinh tế –

xã hội Đương nhiên, đặt trong sự tương tác của quá trình sống của con người và quá trình

phát triển kinh tế - xã hội, môi trường có một đời sống kinh tế - xã hội và một đời sống vận

động trong quá trình tái sản xuất của kinh tế xã hội Nói khác đi, trong quan hệ với sự phát triển kinh tế- xã hội, môi trường được tái sản xuất bởi quá trình tái sản xuất kinh tế

xã hội

I.1.2 Vấn đề môi trường

“Vấn đề” theo ý nghĩa nhận thức luận và phương pháp luận là những câu hỏi cần được giải đáp cho sáng tỏ; còn theo ý nghĩa thực tiễn luận và bản thể luận thì “có vấn đề” có nghĩa là có những rắc rối, mâu thuẫn, căng thẳng, xung đột cần phải được giải quyết để đưa tới trạng thái bình thường, ổn định của sự vật, hiện tượng

“Các vấn đề môi trường” là những rắc rối, mâu thuẫn, căng thẳng, xung đột môi

trường cần được giải quyết Những vấn đề môi trường được quan tâm ở đây là:

i) Tình trạng suy thoái tài nguyên (đất, nước, rừng, đa dạng sinh học…);

ii) Tình trạng ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí, rác thải…);

iii) Tình trạng tai biến môi trường (thiên tai, bão lụt, biến đổi khí hậu…)

Những vấn đề môi trường tự nhiên này cần phải được đối phó và giải quyết thật hiệu quả, nếu không thì các chức năng của môi trường tự nhiên như đã nói ở trên đối với

sự sống của con người và loài người sẽ không được phát huy

Cần phân biệt các loại vấn đề môi trường: Tai biến (thảm họa) môi trường là những diễn biến nội tại trong môi trường tự nhiên, do bản thân những biến đổi của tự

nhiên gây ra, vì vậy tai biến môi trường là vấn đề môi trường khác với ô nhiễm môi trường

hoặc suy thoái tài nguyên với tư cách là vấn đề môi trường tự nhiên do con người tác động

mà nảy sinh Giải pháp khắc phục 2 loại vấn đề môi trường này khác hẳn nhau: đối với loại thứ nhất thì giải pháp là phòng và chống, tức là ứng phó với các tai biến môi trường nhằm giảm thiểu những tác hại của nó đối với con người, đối với phát triển xã hội; còn đối

Trang 24

với loại thứ hai thì cơ bản là phải xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội BỀN VỮNG Đương nhiên, có những tai biến môi trường tự nhiên, xét về sâu xa là do sự phát triển kinh tế xã hội gây nên, chẳng hạn như lũ quét, lũ ống, hay quá trình sa mạc hóa, lở đất, động đất cục bộ có nguồn gốc ở việc phá rừng, gây mất cân bằng trong sinh quyển, sinh thái, hoặc do khai thác nước ngầm quá mức, hay xây dựng những hồ nước quá lớn trên vùng núi cao, tạo ra những áp lực trong lòng đất, gây động đất cục bộ

I.1.3 Xã hội

Khái niệm “Xã hội” được hiểu ở đây là “Xã hội loài người” “Xã hội loài người”

là một hệ thống đặc thù do những con người liên kết với nhau mà thành Hệ thống xã hội

phân biệt với các hệ thống đặc thù khác trong thế giới tự nhiên như “hệ thống sinh thái”(bao gồm các quần thể động vật và thực vật tạo thành sinh quyển) và các hệ thống tự nhiên khác (như “hệ thống vật lý”, “hệ thống địa lý”, “hệ thống địa chất”) Như vậy, cả loài người làm thành một Xã hội, phân biệt với toàn bộ giới Tự nhiên còn lại

Trong cái xã hội loài người đó lại có nhiều xã hội hợp thành; mà mỗi một xã hội hợp thành như thế là một tập hợp dân cư cùng định cư trên một lãnh thổ nhất định, cùng

chia sẻ một nền văn hóa, một hệ thống chính trị và một nền kinh tế đặc trưng Xã hội với

tư cách là hệ thống đặc thù như thế không quy giản về Tự nhiên vì nó có những đặc trưng

“phi tự nhiên”, đó là đặc trưng văn hóa và văn minh; cũng không quy giản về tổng số giản đơn của các cá nhân – thành viên của Xã hội; vì Xã hội là một hệ thống mà hệ thống thì có

tính chỉnh thể, nghĩa là nó là cái gì đó “lớn hơn” tổng số giản đơn của các yếu tố hợp thành (tính “trồi” hay “hợp trội” của hệ thống) đồng thời lại là cái gì đó “nhỏ hơn” tổng số

giản đơn của các yếu tố hợp thành (tính kiềm chế độ tự do của các yếu tố, bộ phận hợp thành hệ thống)

Khoa học xã hội nói chung thường phân tách hệ thống xã hội ra thành nhiều lĩnh

vực (tiểu hệ thống) xã hội; trong đó, có 4 lĩnh vực (tiểu hệ thống) quan trọng là: (1)- kinh

tế, (2)- chính trị, (3)- văn hoá và (4)- xã hội Ở đây nảy sinh một rắc rối về thuật ngữ: cùng một cụm từ “xã hội” mà lại có hai ý nghĩa khác nhau, đó là chúng ta cần phân biệt “Xã hội” theo nghĩa rộng và “xã hội” theo nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng thì cụm từ “Xã hội” có

Trang 25

ý nghĩa là Xã hội tổng thể bao gồm các lĩnh vực chủ yếu nói trên (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội); còn theo nghĩa hẹp thì cụm từ “xã hội” chỉ có ý nghĩa là lĩnh vực (tiểu hệ

thống) xã hội của Xã hội tổng thể

Xã hội theo nghĩa hẹp là các tiểu hệ thống xã hội ngoài hệ thống kinh tế Theo cách hiểu của K.Marx, hệ thống kinh tế, hợp thành nền tảng kinh tế của xã hội hay cơ sở hạ tầng, của các tiểu hệ thống xã hội ngoài kinh tế, kiến trúc thượng tầng

Tiểu hệ thống xã hội như đã xác định như vậy phân biệt một cách tương đối so với các lĩnh vực (tiểu hệ thống) kinh tế, chính trị và văn hóa của Xã hội tổng thể Do đó, các

bộ phận hợp thành lĩnh vực (tiểu hệ thống) xã hội sẽ bao gồm 2 loại: i) Là những bộ phận

hỗn hợp, tổng hợp chiều cạnh (khía cạnh) xã hội vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa tạo thành các cấu trúc kép như kinh tế - xã hội (thí dụ: lao động và việc làm, tình trạng

thiếu việc làm và thất nghiệp, tình trạng đói nghèo, tình trạng làm giàu bất chính, phi

pháp, phân tầng xã hội, an toàn lương thực, thực phẩm, …); chính trị - xã hội (thí dụ: tự

do và dân chủ, tình trạng vi phạm pháp luật, tội phạm, tình trạng bất bình đẳng trước pháp

luật, tham nhũng, …); văn hóa - xã hội (thí dụ: giáo dục và đào tạo, y tế và chăm sóc sức

khỏe, thể dục và thể thao, tình trạng lệch chuẩn văn hóa, suy đồi đạo đức, mê tín dị đoan,

tệ nạn xã hội, bất bình đẳng xã hội, thiếu văn minh môi trường, …); ii) Là những bộ phận

tích hợp (nhất thể hóa) các chiều cạnh kinh tế, chính trị, văn hóa, tình cảm, tư tưởng, niềm tin, v.v… tạo thành tính cộng đồng xã hội đặc trưng, có thể liệt kê ra như cộng đồng dân

cư (dân số), gia đình, dòng họ (cộng đồng thân tộc), tổ chức dân sự, an sinh xã hội (bảo hiểm và bảo đảm xã hội), lối sống, thế giới đời sống,…

Trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ngày nay có nhiều vấn đề xã hội

nảy sinh, bức xúc, nan giải đòi hỏi sự nỗ lực chung của tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới Đối với Việt Nam, báo cáo của chính phủ Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh các quốc gia bàn về phát triển xã hội tại Đan Mạch (Copenhagen, 6-12/3/1995) đã đề cập 10 vấn đề xã hội trong phát triển Đó là: (1)- Giải quyết việc làm; (2)- Xóa đói giảm nghèo; (3)- Hòa nhập xã hội (của các nhóm xã hội bị thiệt thòi như phụ nữ, trẻ em, thanh niên, dân tộc thiểu số, người tàn tật, người cao tuổi, đồng bào vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa); (4)- Gia đình; (5)- Giáo dục và Đào tạo; (6)- Dân số, kế hoạch hóa gia đình; (7)- Y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; (8)- Bảo trợ xã hội (bảo hiểm và trợ giúp); (9)- Bảo vệ môi

Trang 26

trường sống; (10)- Tệ nạn xã hội và tội phạm Ngoài ra một số nhà khoa học còn thêm vào

10 vấn đề xã hội như chính phủ vừa nêu, 10 vấn đề xã hội khác có tính đặc thù của Việt Nam 5đó là: 1 Giải quyết hậu quả xã hội của chiến tranh; 2 Hiện tượng di dân và nhập cư;

3 Người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài; 4 Người nước ngoài làm ăn sinh sống tại Việt Nam; 5 Vấn đề nhà ở và giải quyết nhà ở cho người nghèo( học sinh, sinh viên, công nhân trong các khu công nghiệp); 6 Giao thông đô thị và trật tự an toàn giao thông, giải quyết vấn đề tai nạn giao thông hiện nay; 7 An toàn lương thực thực phẩm trong điều kiện nền nông nghiệp bẩn; 8 Mê tín dị đoan, một biến thái tiêu cực của đời sống tâm linh;

9 Các bệnh xã hội trong xã hội công nghiệp và trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường; 10 Hiện tượng lệch lạc về cơ cấu xã hội (cơ cấu lao động, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu giới tính, lứa tuổi)

I.1.4 Phát triển xã hội

Phát triển là một quá trình biến đổi, thay đổi về chất của sự vật và hiện tượng, là sự tiến hóa và nhảy vọt theo xu hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ không hoàn thiện đến hoàn thiện Phát triển là sự biến đổi Tuy nhiên không phải mọi sự biến đổi đều là phát triển Quá trình tăng trưởng không đồng nhất với sự phát triển, bởi vì đó chỉ là

sự thay đổi về số lượng, tức là chỉ một mặt của phát triển

Sự tồn tại của thế giới là trong mối quan hệ tương tác và vận động không ngừng K.Marx trong khi hoàn thiện lý luận về phát triển đã đưa ra ba quy luật về sự phát triển, quy luật mâu thuẫn, tức đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập Quy luật này cắt nghĩa về nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển Quy luật lượng biến dần, tới chất biến, cắt nghĩa về hình thái hay cách thức diễn ra sự phát triển: phát triển là sự tích hợp, thay đổi về chất, về chỉnh thể, về cấu trúc và toàn bộ hệ thống; quy luật phủ định của phủ định, quy luật về xu thế của sự phát triển: phát triển là cái mới, cái tiến bộ, thay thế cái cũ, cái lạc hậu, cái yếu kém

5 GS.TS Hoàng Chí Bảo “ Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới”, tham luận tại hội thảo khoa học của chương trình KX02/06-10

Trang 27

Phát triển xã hội là một dạng phát triển đặc thù của xã hội K.Marx cũng là người giải thoát quan niệm duy tâm về lịch sử, thực sự là giải thoát quan niệm duy tâm về sự vận động và phát triển của xã hội Nhờ phát hiện ra phương thức sản xuất, K.Marx đã hiểu về tồn tại xã hội, và hiểu về nhân tố quyết định của sự vận động phát triển của xã hội K.Marx viết: “về đại thể, có thể coi các phương thức sản xuất Châu Á, cổ đại, phong kiến

và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của các hình thái kinh tế – xã hội Theo K.Marx, phương thức sản xuất là cái chỉnh thể, xác định trình độ phát triển và bản chất của một xã hội, và sự phát triển của xã hội là sự thay đổi trong phương thức sản xuất, thay phương thức sản xuất có sức sản xuất kém hơn, hiệu quả kém hơn, bằng một phương thức sản xuất tiến bộ hơn, có sức sản xuất và hiệu quả cao hơn

Ở đây, sự thay đổi trong phương thức sản xuất, là sự thay đổi trong lực lượng sản xuất và trong quan hệ sản xuất, do đó là sự thay đổi trong cấu trúc kinh tế, trong hạ tầng kinh tế của xã hội Đây là sự thay đổi về chỉnh thể, về chất và về hệ thống các quan hệ xã hội của con người trong quá trình sản xuất và đời sống vật chất của mình Đây là sự thay đổi toàn bộ xã hội, chuyển từ xã hội này sang xã hội khác, với phương thức sản xuất cao hơn, có sức sản xuất cao hơn, hiệu quả cao hơn và văn minh hơn Vậy phát triển xã hội, không phải quy về phát triển kinh tế, song chính phát triển kinh tế làm thay đổi gốc rễ, cấu trúc kinh tế, xã hội, thay đổi chỉnh thể, bản chất xã hội của quan hệ, giữa con người với nhau Do vậy nếu xét về phát triển tổng thể, thì, đó là sự thay đổi trong phương thức sản xuất, trong cấu trúc kinh tế, bản chất kinh tế Đến lượt mình, sự thay đổi này làm thay đổi toàn bộ các quan hệ xã hội của con người tức làm thay đổi các kiểu cấu trúc: cấu trúc xã hội, chính trị và văn hóa

Còn một cách tiếp cận khác về sự biến đổi, phát triển xã hội Đó là cách tiếp cận làn sóng phát triển, hay tiếp cận văn minh Cách tiếp cận này chia tiến trình lịch sử theo ba làn sóng: làn sóng nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp Cách tiếp cận này căn cứ vào cấu trúc kinh tế và trình độ văn minh mà xã hội đạt được Cách tiếp cận này lấy cách mạng công nghiệp làm cơ sở để chia tiến trình lịch sử thành những làn sóng phát triển khác nhau Thực sự thì lịch sử loài người văn minh đã có hàng chục triệu năm, còn cách mạng công nghiệp diễn ra cách hiện tại mới chỉ có chưa đầy 300 năm Tuy nhiên, cách mạng công nghiệp đã vạch ra một thời đại hoàn toàn mới về chất trong phương thức sản

Trang 28

xuất, trong kết cấu kinh tế và trong chỉnh thể, xác lập chỉnh thể công nghiệp của sự phát triển Và trong khoảng 2/3 thế kỷ trở lại đây, trong tiến trình xã hội loài người lại diễn ra một sự thay đổi sâu sắc và căn bản trong phương thức sản xuất, trong kết cấu kinh tế xã

hội và vạch ra một thời đại mới, thời đại phát triển hiện đại, với chỉnh thể kinh tế tri thức

Như vậy, phát triển xã hội là một sự phát triển đặc thù, một sự chuyển biến của lịch sử, đó

là quá trình chuyển xã hội từ làn sóng nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, và chuyển xã hội công nghiệp sang xã hội hậu công nghiệp, xã hội với kinh tế tri thức

Đương nhiên, sự chuyển biến trong tầng sâu nhất của tồn tại xã hội là phương thức sản xuất và kết cấu kinh tế sẽ cấu trúc lại toàn bộ xã hội, trong đó có các tiểu hệ thống của

xã hội tổng thể: tiểu hệ thống xã hội, tiểu hệ thống chính trị, tiểu hệ thống văn hóa Sự thay đổi các tiểu hệ thống này, một mặt chịu sự chi phối của sự thay đổi trong phương thức sản xuất, trong kết cấu kinh tế, nhưng mặt khác, sự chuyển biến thay đổi của các tiểu

hệ thống của xã hội có những tất yếu và quy luật đặc thù của mình, và đương nhiên sự biến đổi của các tiểu hệ thống lại có tác dụng ngược lại đối với sự chuyển biến của hệ thống kinh tế, và hệ thống tổng thể Đã có một thời gian dài trước đây, quyết định luận chi phối tư duy về phát triển, trong đó nhấn quá mạnh, thậm chí tuyệt đối, một chiều vai trò quyết định của kinh tế Nhưng trong điều kiện phát triển hiện đại, sự phát triển đã làm lộ

ra vai trò quan trọng đặc biệt của yếu tố chính trị, xã hội, văn hóa, tức của các tiểu hệ thống của xã hội tổng thể đối với sự phát triển Phát triển không còn là một đường tuyết tính, mà là một hệ thống đa chiều, một sự tích hợp của các quá trình, phần lớn sự thất bại của sự phát triển lại bắt nguồn từ sự bất cập của hệ thống chính trị, xã hội, văn hóa của trạng thái lạc hậu của những quan hệ, thiết chế chính trị, xã hội, văn hóa gây nên

Sự phát triển xã hội hay chuyển biến về chất của xã hội trong công trình này là sự

phát triển xã hội tổng thể, có tính đến những sự biến đổi, phát triển của các tiểu hệ thống của xã hội tổng thể, những biến đổi và những vấn đề trong sự chuyển biến của các tiểu hệ thống, là những biến đổi, những vấn đề liên quan trực tiếp đến sự phát triển xã hội tổng thể, nhất là, có sự quan hệ mật thiết với sự biến đổi môi trường Công trình này tập trung vào những vấn đề xã hội sau:

i) Vấn đề dân số Trong thời kỳ phát triển kinh tế, chuyển xã hội từ xã hội nông nghiệp, nông thôn thành xã hội công nghiệp, xã hội đô thị là thời kỳ diễn ra sự bùng nổ

Trang 29

dân số Đây là một yếu tố xã hội có tác động mạnh đặc biệt đến môi trường Trong vấn đề dân số, đề tài chú ý đặc biệt đến vấn đề bùng nổ dân số, vấn đề dân cư, phân bố lại dân cư, vấn đề cơ cấu và chất lượng dân số

ii) Vấn đề phân tầng xã hội và vấn đề giàu nghèo, vấn đề bất bình đẳng, công bằng iii) Vấn đề đô thị hóa Đây là vấn đề biến đổi xã hội sâu sắc nhất trong quá trình phát triển, đồng thời cũng là quá trình thể hiện sự thay đổi lớn mối quan hệ giữa con người, xã hội và môi trường tự nhiên, và thiết lập trên môi trường tổng thể: môi trường tự nhiên – xã hội

iv) Sự hình thành xã hội dân sự trong nền sản xuất xã hội thị trường – công nghiệp v) Vấn đề thể chế, pháp luật và hiệu lực của thể chế, pháp luật

vi) Vấn đề văn hóa và phát triển, bảo vệ môi trường: trong vấn đề văn hóa, nhấn mạnh các khía cạnh giáo dục, xây dựng lối sống thân thiện với môi trường, truyền thống

về các giá trị môi trường và về trách nhiệm của xã hội, và của người dân trong việc bảo vệ môi trường; kế thừa và phát huy các văn hóa truyền thống trong việc bảo vệ môi trường

I.1.5 Quản lý phát triển xã hội

Một cách tổng quát nhất Quản lý là việc chủ thể quản lý dùng các công cụ pháp

luật, chính sách, kinh tế, hành chính, văn hóa, tác động lên hệ thống bị quản lý hay khách thể quản lý nhằm hướng các hoạt động của khách thể đạt tới những mục tiêu nhất định do chủ thể đặt ra Ở đây chủ thể quản lý sự phát triển xã hội là Nhà nước và khách thể quản lý là sự phát triển xã hội tổng thể với các quá trình phát triển kinh tế, xã hội, văn

hóa và chính trị

Theo nghĩa rộng, “Quản lý phát triển xã hội” là quản lý sự phát triển xã hội tổng

thể, bao gồm quản lý phát triển kinh tế, quản phát triển hệ thống chính trị, quản lý phát

triển văn hoá, quản lý phát triển xã hội, quản lý phát triển con người và cả quản lý sự phát triển của nguồn lực vật chất nhân tạo, đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Quản lý phát triển xã hội nếu hiểu theo nghĩa rộng của khái niệm “xã hội” là những “hoạt động có

ý thức và có cơ sở khoa học của chủ thể quản lý tác động vào xã hội nhằm tạo lập một cơ cấu xã hội phù hợp với cơ cấu kinh tế, thực hiện sự kết hợp hài hòa giữa cái kinh tế và cái

xã hội, phát huy những nhân tố tích cực, kịp thời khắc phục các mâu thuẫn nảy sinh trong

Trang 30

quá trình xây dựng các cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội nhằm đạt tới sự đồng thuận xã hội và phát triển bền vững, tạo điều kiện cho con người phát huy hết tiềm năng lao động sáng tạo trong một xã hội nhân văn hướng tới mục tiêu cao nhất là vì hạnh phúc con người”6

Theo nghĩa hẹp, quản lý phát triển xã hội là quản lý phát triển lĩnh vực (tiểu hệ

thống) xã hội của Xã hội tổng thể, như quản lý phát triển hệ thống giáo dục – đào tạo,

quản lý phát triển hệ thống y tế – chăm sóc sức khỏe con người và cộng đồng, quản lý phát triển hệ thống an sinh xã hội, quản lý phát triển thiết chế gia đình, quản lý phát triển dân số, quản lý phát triển các tổ chức xã hội dân sự

Quản lý sự phát triển xã hội được đề cập ở đây là: a) Quản lý sự phát triển xã hội trong mục tiêu bảo vệ môi trường, là quản lý mối quan hệ tương tác giữa phát triển xã hội

và việc duy trì, tái sản xuất các giá trị môi trường, và suy cho cùng, là quản lý một quá

trình tổng thể: phát triển bền vững, phát triển kinh tế xã hội đạt được năng suất hiệu quả cao với những tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, duy trì phát triển được các giá trị môi trường b) Quản lý các quá trình xã hội của các tiểu hệ thống của xã hội tổng thể: tiểu hệ thống xã hội, tiểu hệ thống chính trị, tiểu hệ thống văn hóa trong quan hệ với việc chăm sóc, bảo vệ môi trường tự nhiên

I.2 Mối quan hệ giữa môi trường và Phát triển xã hội

I.2.1 Bản chất của mối quan hệ giữa môi trường và con người, xã hội

Những khái niệm then chốt nêu trên đây cho ta ý niệm về mối quan hệ giữa môi

trường và xã hội Đó là mối quan hệ giữa hai hệ thống: môi trường tự nhiên thuộc hệ

thống tự nhiên, tồn tại và vận động theo những quy luật tự nhiên; và hệ thống xã hội tồn

tại và vận động theo các quy luật xã hội Để hiểu được mối quan hệ tương tác giữa môi

trường và phát triển xã hội, đương nhiên cần phải hiểu từng hệ thống một, cũng như nắm được quy luật vận động đặc thù của từng hệ thống, và điều hệ trọng trước hết là giữa chúng có quan hệ nội tại nào và quan hệ này dựa trên cơ sở nào, do đó chúng có một sự

6 Xem thêm, Những nội dung và yêu cầu quan trọng nhất trong quản lý sự phát triển xã hội Phạm Xuân Nam chủ biên, 2001.Quản lý sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội

Trang 31

thống nhất nào? Vả lại, để thực sự đặt sự phát triển xã hội vào phát triển bền vững tức phát triển với việc bảo vệ môi trường duy trì được những giá trị thích ứng, thì cần phải làm gì

và làm như thế nào?

Khi con người bước vào lịch sử của mình, tức lịch sử tiến hóa và phát triển xã hội,

thì: một mặt, sự tiến hóa của tự nhiên đã đạt tới trình độ tạo ra một hệ thống chuyển hóa

năng lượng, chuyển hóa vật chất với một năng suất đủ để cho con người xác lập, phát triển

hệ thống xã hội của mình Mặt khác, con người là kết quả của sự tiến hóa của tự nhiên,

sinh ra và phát triển trong cái nôi của tự nhiên, con người đã sớm cảm nhận được tự nhiên

là người mẹ đã nuôi dưỡng và cung cấp, ban phát cho họ tất cả những điều kiện cần thiết cho sự sống của mình Ở đây môi trường được đồng nhất với giới tự nhiên bao quanh con người, chứa đựng tất cả cơ sở và điều kiện để con người tồn tại và phát triển Bởi vậy trong các hình thái tín ngưỡng và tôn giáo, ở đâu cũng vậy, khắp trên trái đất, con người ở các vùng khác nhau dù khác biệt thế nào cũng thần thánh hóa thiên nhiên, thờ cúng thiên nhiên với các nghi thức thích ứng Sự thần thánh hóa thiên nhiên như vậy không chỉ vì, và

cơ bản vì những lực lượng thiên nhiên hiện ra với những lực lượng siêu việt, đầy bí hiểm

và hùng mạnh thống trị, chi phối con người bé nhỏ và yếu ớt, mà chủ yếu ở chỗ, chính thiên nhiên đem lại cho con người những nguồn lợi, những cơ sở và điều kiện sống, và cũng chính thiên nhiên là người bảo trợ, bảo hộ cho con người Đây là cách nhìn còn đơn giản, mang tính huyền thoại và sùng bái nhưng đầy tính nhân văn, chứa đựng những hạt nhân hợp lý và rất căn bản về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Tính hợp lý của những quan niệm này về mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội là ở chỗ:

i) Mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội được xác định trực tiếp giữa tự nhiên và con người Ở đây con người được xem trước hết là một sinh thể, và do vậy, con người là một thành phần nội tại của giới tự nhiên, vì thế con người thuộc về giới tự nhiên, hay là của tự nhiên Đương nhiên, là sinh thể tự nhiên thì giới tự nhiên luôn là môi trường tự nhiên của

sự tồn tại và phát triển của sinh thể con người Ở đây môi trường tự nhiên với những giá trị sống của các sinh thể luôn là nội dung vật chất tất yếu vĩnh viễn của cuộc sống con người

ii) Khi coi quan hệ giữa môi trường và xã hội trực tiếp là quan hệ giữa giới tự nhiên

và con người, tức chưa đặt con người trong một xã hội, do đó chưa có quan niệm về một

Trang 32

hệ thống riêng biệt đối lập với tự nhiên Thực sự thì nói theo cách của K.Marx, quá trình sống của con người vẫn là quá trình “trao đổi với tự nhiên” tức kiếm tư liệu sinh hoạt ngay trong môi trường tự nhiên Có thể xem kinh tế săn bắn và hái lượm là lặp lại, hay mô phỏng trực tiếp mô thức sống của giới động vật ở một trình độ cao hơn mà thôi Mặt khác, trong khi tái lập và mô phỏng trực tiếp phương thức sống của giới động vật trong tự nhiên, con người và xã hội chưa tách ra khỏi giới tự nhiên, và do vậy, phương thức sống này đã khiến cho quá trình tách khỏi giới tự nhiên là rất thấp Chính khung khổ của phương thức sống tự nhiên và tuân theo sự chi phối của các quy luật trao đổi, chuyển hóa chất và năng lượng tự nhiên, đã khiến cho xã hội tồn tại, hòa thuận với tự nhiên

iii) Khi bước vào lịch sử của mình, mặc dù trong hình thái cộng đồng, tức con người chưa tách khỏi cộng đồng và trở thành những cá thể, cá nhân đối lập, song lợi ích đã nảy sinh và chi phối sự tồn tại và tiến triển của bản thân con người Do tồn tại trong cộng đồng nên lợi ích của con người được biểu hiện ra ở lợi ích của cộng đồng, của xã hội Ở đây, chính là toàn bộ giới tự nhiên tạo thành những điều kiện tự nhiên cần thiết cho sự sinh tồn của con người và xã hội Đến lượt mình, những lợi ích này của con người trở thành cái chi phối hành vi, chi phối cách thức hoạt động của con người và xã hội Lúc này quan hệ của con người với giới tự nhiên đã ở một hình thái và trình độ khác là con người

chiếm hữu giới tự nhiên trong quan hệ với sự sinh tồn của mình Chiếm hữu giới tự nhiên,

có thể xem là quan hệ xã hội đầu tiên, và lợi ích sinh tồn gắn liền với sự chiếm hữu đó là vấn đề kinh tế đầu tiên và cơ bản khi con người bước vào tiến trình lịch sử của mình

Nhưng ba yếu tố sau đây là ba tiền đề để tiên quyết tách con người và xã hội ra khỏi tự nhiên và xác lập xã hội với tính cách là một hệ thống đặc thù vận động, tiến hóa, phát triển theo những quy luật riêng của mình, hợp thành những nền tảng quyết định xác lập mối quan hệ giữa con người, xã hội, cũng như sự phát triển xã hội và môi trường:

a) Con người có bản chất tự nhiên của mình: là một sinh thể, con người là một sản

phẩm nội tại của tự nhiên, được sinh ra, tồn tại và phát triển trong giới tự nhiên, hay môi trường tự nhiên Bởi vậy với tính cách là một sinh thể của tự nhiên, nếu tách ra khỏi môi trường tự nhiên, sự sống con người sẽ chấm dứt, con người sẽ chết Điều này hàm nghĩa,

tự nhiên là một nền tảng của sự sống con người, , do vậy nói đến phát triển xã hội, thì

Trang 33

trước hết phải nói đến việc duy trì bảo vệ môi trường tự nhiên, tức bảo vệ duy trì môi trường sống, xét cho cùng là bảo vệ chính ngay sự sống của con người

b) Con người có bản chất xã hội Trong sự tồn tại của mình nó dần tách khỏi giới

tự nhiên và xác lập nên xã hội Sự phát triển của xã hội đã dần tạo lập thành một hệ thống, với các quy luật vận động thích ứng của mình Trong hệ thống này, con người là hạt nhân,

là tế bào của xã hội, bởi vậy sự phát triển của con người là trên nền tảng phát triển của xã

hội, và sự phát triển của xã hội là nhằm vào phát triển con người Như vậy, con người tồn

tại và phát triển chịu sự chi phối của hai hệ thống: hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội; Nếu tách khỏi môi trường tự nhiên, con người sinh thể sẽ chết; nếu tách khỏi xã hội, con người xã hội cũng sẽ chết Nói khác đi, phát triển xã hội là trên cơ sở duy trì môi trường sống của con người, do đó, phát triển xã hội là phải hòa hợp với môi trường tự nhiên, thích hợp với tự nhiên

c) Con người bước vào lịch sử của mình với những lợi ích và theo đuổi những lợi

ích, đó là những lợi ích kinh tế và xã hội Sự phát triển của xã hội chính là nhằm tăng lợi ích kinh tế, tăng lợi ích xã hội lên Nhưng xét cho cùng trong tổng thể những lợi ích của con người không có lợi ích kinh tế, xã hội nào lớn hơn lợi ích được hưởng dụng những giá trị từ môi trường sống hay môi trường sinh tồn Điều này hàm nghĩa, mọi sự phát triển xã hội trước hết và cơ bản đều được đặt dưới lợi ích sinh tồn, lợi ích sống, lợi ích môi trường Bởi vậy, mọi sự vi phạm quy luật tự nhiên, làm tổn thương đến môi trường, làm sụp đổ nền tảng sống của con người, thì xét cho cùng, dù các lợi ích kinh tế, xã hội lớn tới đâu, rốt cuộc đều sẽ sụp đổ và do đó, đều trở nên vô nghĩa

I.2.2 Sự tương tác giữa môi trường và sự phát triển xã hội

Những điều vừa trình bày trên đây là rút ra từ việc xem xét con người với tính cách

là một sinh thể, một thành tố nội tại của tự nhiên, nhưng khi con người tách khỏi tự nhiên, trở thành hạt nhân, thành tế bào của một hệ thống đặc thù – hệ thống xã hội, thì con người

đã được chuyển hóa thành một sinh thể xã hội Ở đây con người có bản chất xã hội Xã hội

là một kiểu tổ chức, là một hình thái quan hệ của con người Chính sự quan hệ này quyết định bản chất xã hội của con người và là nền tảng trên đó con người tồn tại và phát triển

Từ đây việc xem xét mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, môi trường tự nhiên là xét

Trang 34

mối quan hệ giữa hai hệ thống, hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội - hệ thống được thiết lập bởi con người với những quan hệ của nó Việc xem xét quan hệ giữa tự nhiên và con người từ hai hệ thống, sẽ làm rõ bản chất sâu sắc, quyết định của mối quan hệ tương tác giữa con người và tự nhiên, trong sự vận động tiến hóa và phát triển của xã hội

Để hiểu được quan hệ tương tác giữa hệ thống tự nhiên và xã hội, trước hết ta cần hiểu về quy luật tổng quát của từng hệ thống một

I.2.2.1 Giới tự nhiên, sự sống và sinh quyển, môi trường tự nhiên

Sự xuất hiện con người, không chỉ là kết quả của sự tiến hóa về mặt sinh thể, hay sinh vật học, tức đạt tới nấc thang cao nhất của sinh vật, mà còn được chuẩn bị bởi sự tiến

hóa cao nhất của sinh quyển Con người xuất hiện khi sinh quyển đã có những thuộc tính

của một hệ thống sinh quyển ở mức phát triển cao nhất, có khả năng đạt năng suất sinh học lớn nhất và ở độ phát triển ổn định tối đa

Như vậy, con người là con đẻ của tự nhiên, là một dạng tiến hóa của vật chất sống, hơn nữa là kết quả cao nhất của quá trình tiến hóa của thế giới vật chất Môi trường tự nhiên là môi trường sống của con người K.Marx đã từng chỉ ra: “Giới tự nhiên là thân thể

vô cơ của con người”, “Con người sống dựa vào tự nhiên” và “Con người là một bộ phận của tự nhiên” Nói khác đi, con người phải có nguồn gốc tự nhiên và nó cũng như những sinh thể khác, chỉ có thể tồn tại phát triển trong một sinh quyển, trong một môi trường nhất định

Giới tự nhiên mà chúng ta xem xét trong hình thái môi trường, tức trong mối quan

hệ với sự sống nói chung và sự sống con người nói riêng, cũng tức là sự tồn tại phát triển của xã hội loài người - đó là sinh quyển (Biorsphere)

Tiếp cận từ sinh quyển, người ta đã khám phá ra sự sống là gì và sự sống sinh

thành, phát triển trên những cơ sở, điều kiện nào Sinh quyển đó là một hệ thống mở nhiệt

động học bao gồm toàn bộ các cở thể sống, các chất cần cho sự sống, các điều kiện về nhiệt độ, ánh sáng và các chất thải của quá trình trao đổi chất, đồng thời còn gồm cả một phần của khí quyển, thủy quyển và thạch quyển Sinh quyển, đó là một hệ thống vật chất sống có cấu trúc vô cùng phức tạp được tạo nên bởi bốn bộ phận cơ bản:

Trang 35

i) Tập hợp các cơ thể sống từ đơn bào đến đa bào, từ đơn giản đếp phức tạp nhất và

cuối cùng là con người và xã hội loài người Chính bộ phận này tạo nên cái mạng lưới sống phủ khắp hành tinh chúng ta

ii) Các chất cấu trúc của sự sống và cần cho sự sống: Các chất Cacbon (C), hidro (H), Oxy (O2), Nitơ (N), Lưu huỳnh (S), phốt pho (P), CO2, No, v.v… và các nguyên tử vi lượng như Canxi (Ca), Mangan (Mn), Magiê (Mg), sắt (Fe), Coban (Co), Natri (Na), Iốt (I) v.v…

iii) Nước, không khí (dưỡng khí), nhiệt năng (nhiệt độ thích hợp cho sự sống) và các chất hữu cơ cung cấp dinh dưỡng và năng lượng cho quá trình sống

iv) Các sản phẩm của hoạt động sống của tất cả các cơ thể sống, các chất thải của quá trình trao đổi chất và xác chết của chúng

Như vậy, sinh quyển là sự thống nhất hữu cơ giữa các cơ thể sống với những thành phần vô cơ và hữu cơ tham gia vào quá trình sống Cách tiếp cận sinh quyển, cho ta thấy

sự tiến hóa của giới tự nhiên đã hình thành ra sinh quyển, hình thành nên môi trường sống

và do đó hình thành sự sống với những cơ thế sống đơn giản Qua quá trình tiến hóa sự

sống đã phát triển cùng với hệ sinh quyển, sinh thái của nó Đến lượt mình, sự sống chỉ có

thể được duy trì và phát triển trên cơ sở duy trì và phát triển của hệ sinh quyển, sinh thái

Về mặt cấu trúc, tham gia vào hệ sinh thái tự nhiên có những thành phần, với những chức năng sau:

i) Sinh vật sản xuất hay sinh vật tự dưỡng Bộ phận này bao gồm toàn bộ thế giới

thực vật Chức năng chính của sinh vật tự dưỡng là tổng hợp các chất hữu cơ sơ cấp từ nước (H2O), Khí cacbonic (CO) và muối khoáng nhờ chất diệp lục của lá cây và năng lượng mặt trời Đó là sự quang hợp

Thực chất quá trình quang hợp là quá trình tích lũy vật chất, hình thành chất hữu cơ

sơ cấp, quá trình chuyển hóa năng lượng và quá trình chuyển hóa chất, tách Oxy ra khỏi

CO2 Đây là chu trình tạo nên những nền tảng của bản thân sự sống: chất dinh dưỡng, năng lượng cho hoạt động sống và dưỡng khí cho sự sống

ii) Sinh vật tiêu thụ, sinh vật dị dưỡng Đó là quá trình đồng hóa và dị hóa của một

sinh vật: Bao gồm toàn bộ thế giới động vật, chúng sử dụng các dạng chất hữu cơ khác

Trang 36

nhau trong tự nhiên cho hoạt động sống của mình và thải bỏ vào môi trường các chất cặn

bã của quá trình trao đổi chất và xác chết của chúng

iii) Sinh vật phân hủy hay hoại sinh: Đây là loại sinh vật thực hiện quá trình sống

bằng cách phân hủy các chất thải của quá trình trao đổi chất, xác chết động thực vật ra thành nước và các chất hữu cơ, chất khoáng, các chất này đi vào chu trình sinh học, được thực vật, sinh vật sản xuất, sử dụng trong quá trình quang hợp để tạo ra các chất hữu cơ sơ cấp, tích lũy năng lượng cho một quá trình sống mới

iv) Toàn bộ các chất vô cơ (nước, ánh sáng, không khí, đá, các đá vũ trụ, sóng điện

từ, v.v…) và các chất hữu cơ cần cho sự sống của sinh vật Những chất này có thể đi vào chu trình sinh học bằng con đường trao đổi chất của các sinh thể

Cũng nhận thấy rằng, một mặt hệ sinh thái, trong quá trình tiến hóa của mình, đã tạo ra một sự đa dạng sinh học đáng kinh ngạc Sự đa dạng này thể hiện sức sống và khả năng to lớn của hệ sinh thái trong việc chuyển hóa năng lượng, trong việc chuyển hóa chất

và các cách phong phú sản xuất ra sản vật tự nhiên Sự tiến hóa như vừa nêu ở trên đã tạo

ra sự đa dạng sinh học, đến lượt mình, chính sự đa dạng đó tiềm ẩn sự sống, sức sản xuất của hệ sinh thái Mặt khác, hệ sinh thái trong quá trình tiến hóa của mình đã cấu trúc lại vỏ trái đất: i) Tham gia hình thành đất cho chính hệ thực vật phát triển; ii) hình thành thảm thực vật che chở cho vỏ trái đất, bảo tồn tự nhiên cho đất và làm giàu độ phì nhiêu cho đất, iii) giữ nước và tạo độ ẩm cho đất và không khí Nói khác đi, hệ sinh thái tham gia vào nhiều mặt, nhiều quá trình của việc tạo lập một môi trường tự nhiên cho chính hệ sinh thái phát triển trong quan hệ với việc tăng năng lực chuyển hóa, tích lũy năng lượng và cân bằng các quá trình trong hệ thống sinh quyển

Như vậy, sinh quyển, khí quyển, sinh thái tạo thành môi trường sống cho con người tồn tại và vận động theo những quy luật nội tại của mình

I.2.2.2 Hệ thống xã hội và quy luật phát triển xã hội

Như đã nói ở trên, dù là hệ thống tự nhiên hay hệ thống xã hội, chúng đều là các dạng khác nhau của vật chất, vì thế hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội đều thống nhất ở vật chất, đều tuân theo quy luật chuyển hóa, trao đổi vật chất và năng lượng Chỉ có điều quy luật cơ bản đặc thù của sự chuyển hóa, trao đổi là khác nhau mà thôi Để thấy được

Trang 37

mối quan hệ giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội trước hết chúng ta cần làm rõ quy luật đặc thù của hệ thống xã hội

Xã hội là một dạng tồn tại vận động đặc thù của vật chất Nó được kiến tạo bởi con người với những quan hệ và quy luật vận động thích ứng Đặc trưng cơ bản của sự tồn tại

xã hội là con người tiến hành sản xuất ra của cải vật chất và trên cơ sở sản xuất ra của cải vật chất con người đã sản xuất ra đời sống vật chất của mình, đồng thời trên nền tảng của việc sản xuất ra của cải vật chất, con người tổ chức toàn bộ sinh hoạt xã hội của mình

Từ đấy có thể xem xã hội gồm hai phần: hoạt động sản xuất tạo ra nền tảng kinh tế của sự tồn tại xã hội và các hoạt động xã hội ngoài kinh tế Có thể xem đây là hai tiểu hệ thống, tiểu hệ thống kinh tế và tiểu hệ thống xã hội của toàn bộ xã hội Đây là cách chia có tính tương đối để đi sâu tìm hiểu được những quy luật nội tại chi phối sự vận động và phát triển của xã hội mà thôi

I.3 Nền tảng của sự tồn tại, phát triển xã hội: Sản xuất, phát triển sản xuất; kinh tế; hệ thống kinh tế của xã hội

Theo quan điểm của K.Marx “tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và

do đó là tiên đề của mọi lịch sử, đó là người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể

“làm ra lịch sử” Nhưng muốn sống thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy- sản xuất ra bản thân đời sống vật chất Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử (hiện nay cũng như hàng ngàn năm về trước), người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ, chỉ nhằm để duy trì đời sống con người”7 Như vậy, sản xuất ra của cải vật chất, và nói chung hoạt động kinh tế của người ta làm thành nền tảng, trong đó cuộc sống của con người được duy trì và các quan hệ giữa con người, hay tổ chức xã hội của con người phát sinh, phát triển và có thể nói, đó là cái trục xuyên suốt của sự vận động và phát triển của xã hội.Bởi vậy, nghiên cứu xã hội, nghiên cứu sự phát triển của xã hội có nội dung cơ bản của mình là nghiên cứu

sự phát triển của sản xuất, hay đúng ra nghiên cứu mặt xã hội của sản xuất

7 K Marx – F.Anghen tuyển tập , tập 3 trang 40

Trang 38

Trong sản xuất ra của cải thì phương thức sản xuất là chỉnh thể, là cái xuyên suốt

của sản xuất Có thể nói phạm trù phương thức sản xuất là phạm trù cơ bản mà K.Marx dùng để phân tích sự phát triển của xã hội loài người, là điều kiện then chốt trong việc xây dựng về lý luận về phép biện chứng duy vật lịch sử của ông

Phương thức sản xuất là cách thức con người tiến hành sản xuất ra của cải vật chất

Do vậy phương thức sản xuất quyết định trình độ, bản chất của sản xuất, do đó quyết định đến sự thay đổi của sản xuất, K.Marx viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải

ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”8 Chính sự thay đổi trong phương thức sản xuất là cái quyết định sự thay đổi của xã hội, do vậy, lịch sử của xã hội loài người là lịch sử thay đổi của phương thức sản xuất và các thời đại thay nhau trong lịch sử thực chất là sự thay nhau của các phương thức sản xuất Bởi vậy, phân tích phương thức sản xuất và quy luật thay đổi phương thức sản xuất, do đó, quy luật phát triển xã hội, chúng ta sẽ thấy được những cơ sở trên đó xác lập mối quan hệ giữa xã hội và môi trường tự nhiên, cũng như quy luật tương tác giữa sự phát triển xã hội và môi trường tự nhiên

Như đã nói, phương thức sản xuất là cách thức con người tiến hành sản xuất ra của cải vật chất, Nó hợp thành bởi, một mặt, là lực lượng sản xuất, và mặt khác, là quan hệ sản xuất Trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thái sản xuất, hay hình thái kinh tế của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là toàn bộ năng lực sản xuất của con người hay của nền sản xuất xã hội Nó bao gồm sức lao động và toàn bộ tư liệu sản xuất Ở một ý nghĩa nhất định, sức lao động và tư liệu sản xuất là những yếu tố tất yếu của quá trình sản xuất Phân tích về các yếu tố sản xuất và thực chất quá trình sản xuất, chúng ta sẽ thấy vị trí và vai trò của môi trường tự nhiên trong quá trình sản xuất, đồng thời, sẽ thấy sự tác động của sản

8 Trong tác phẩm “Ngày 18 tháng Sương mù của Louis Bonaparte”, K.Marx viết: “Con người làm ra lịch sử của mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tùy tiện của mình, trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà là trong những điều kiện trực tiếp có trước mắt, đã có sẵn và do quá khứ để lại”

Trang 39

xuất đến môi trường như thế nào và khả năng thay đổi của môi trường như thế nào trong quá trình sản xuất:

a) Sản xuất theo nghĩa chung nhất là quá trình trong đó con người bằng lao động và

dùng tư liệu lao động tác động vào tự nhiên theo những cách thức, hay kỹ thuật, công nghệ nhất định làm thay đổi vật thể và các quá trình tự nhiên thành giá trị sử dụng thích hợp với nhu cầu tiêu dùng của con người Theo K.Marx, sản xuất ra của cải vật chất “là một sự tất

yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người và tự nhiên” và lao động (sản xuất) trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên Như

vậy, nói tới nội dung vật chất của sản xuất, tức lực lượng sản xuất, là nói tới mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Từ đây ta thấy, sản xuất chính là khâu tại đó sự tương tác giữa con người, xã hội và tự nhiên, môi trường tự nhiên diễn ra

b) Trong quá trình sản xuất, tài nguyên thiên nhiên là đối tượng của lao động sản

xuất, còn sản phẩm của lao động, hay những giá trị sử dụng cần thiết cho con người, có

nội dung vật chất của mình là tài nguyên, là nguyên liệu lấy từ tự nhiên K.Marx viết:

“Các giá trị sử dụng như áo, vải, v.v…, nói tóm lại là các vật thể hàng hóa, đều là sự kết hợp của hai yếu tố: vật chất của tự nhiên và lao động Nếu ta trừ đi tổng số các loại lao

động có ích chứa đựng trong áo, vải, v.v…, thì bao giờ cũng còn lại một cái nền vật chất

nhất định, do tự nhiên mà có chứ không cần đến sự tác động của con người… Nếu biểu

diễn sản xuất bằng một hàm sản xuất, thì hàm sản xuất có dạng tổng quát: Y = f (R.L), trong đó Y là tổng sản lượng, R là tài nguyên thiên nhiên, hay đối tượng sản xuất, còn L là lao động Nói khác đi, tự nhiên dưới hình thái tài nguyên, với tư cách là đối tượng của sản xuất hợp thành một yếu tố cơ bản tất yếu của quá trình sản xuất, một nguồn lực trong việc sản xuất ra của cải Sản xuất xét cho cùng là con người khai thác và chế biến tài nguyên thiên nhiên Mà tài nguyên thiên nhiên là một cấu phần nội tại của môi trường tự nhiên, do vậy, ở một ý nghĩa nhất định, môi trường không còn đơn giản là cái bên ngoài mà là một

yếu tố nội tại của bản thân quá trình sản xuất, do đó của bản thân hệ thống sản xuất Điều

này hàm nghĩa, một mặt, tự nhiên, môi trường là một yếu tố tham gia quyết định vào sự phát triển của sản xuất, và mặt khác, mọi sự biến đổi của môi trường đều được đặt trong

sự vận động phát triển của sản xuất nói riêng, của xã hội nói chung

Trang 40

c) Sản xuất xét cho cùng là con người khai thác và chế biến tài nguyên, quá trình này có tác động quyết định đến môi trường: i) Nó làm mất đi hay làm thay đổi những cấu phần hợp thành hệ thống môi trường ii) Làm thay đổi diện mạo bố trí không gian của môi trường sống iii) Làm thay đổi các chu trình trao đổi chất, trao đổi năng lượng trong hệ thống tự nhiên và có thể làm thay đổi cân bằng trong quá trình tái tạo lại của hệ thống tự nhiên Đây là một trong những tác động chứa đựng sự nguy hiểm nhất Con người trong khi khai thác rừng, tạo ra những của cải cần cho con người, có ngờ đâu con người đã làm hỏng phần then chốt của hệ thống tự nhiên trong quá trình chuyển hóa năng lượng, chuyển hóa chất, tái tạo, tái sản xuất ra nguồn sống cho con người, dẫn tới rối loạn, khủng hoảng sinh quyển, sinh thái và khí hậu

Như vậy, bằng sự phát triển lực lượng sản xuất, con người đã phát triển nền sản xuất của mình, tạo ra và thúc đẩy văn minh tiến về phía trước, nhưng rõ ràng sản xuất có bản chất của mình là lấy tự nhiên làm đối tượng, và sản xuất thực chất là khai thác, là chế biến thiên nhiên, do vậy, trong khi nó thúc đẩy xã hội phát triển qua hết trình độ văn minh này sang trình độ văn minh khác, thì đồng thời đó là quá trình giới tự nhiên, môi trường tự nhiên chịu sự tác động mạnh mẽ theo những quy luật phát triển của sức sản xuất, và đây là nguồn gốc cơ bản, quyết định của mội sự biến đổi của môi trường tự nhiên

Trong phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất chính là hình thái xã hội của toàn bộ

quá trình sản xuất nói chung và của lực lượng sản xuất nói riêng Chức năng cơ bản của quan hệ sản xuất chính là hình thái kinh tế của sự tồn tại, vận động và phát triển của lực lượng sản xuất Nói khác đi, quan hệ sản xuất là làm cho các yếu tố sản xuất, tức các lực lượng sản xuất, kết hợp với nhau thích ứng tạo thành quá trình sản xuất Quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất với tính cách là hình thái xã hội, là cấu trúc kinh tế, nội tại, quan hệ sản xuất lập thành nền tảng trên đó lực lượng sản xuất vận hành và phát triển Ở đây, trong quan hệ giữa con người và tự nhiên, môi trường tự nhiên, thì chính quan hệ giữa người với người mới thực sự là cơ sở từ đó con người tác động vào tự nhiên Điều này có nghĩa là, xét cho cùng, để hiểu quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên, môi trường tự nhiên thì cần phải hiểu mặt xã hội của sản xuất, của lực lượng sản xuất, tức phải hiểu quan hệ giữa con người và con người, trước tiên ở trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, tức quan hệ sản xuất Nhưng xuyên suốt mọi quá trình sản xuất ra của cải

Ngày đăng: 19/04/2014, 01:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Pearce, David, Anil Markandya, and Edward B.Barbier (1989) "Blueprint for a Green Economy", London: Earthscan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blueprint for a Green Economy
19. Peet, Richard and Michael Watts (eds) (1996), "Liberation Ecologies Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liberation Ecologies
Tác giả: Richard Peet, Michael Watts
Năm: 1996
21. Rahman, M.A. (1990), "Qualitative Dimension of social Development Evaluation: Thematic paper in Evaluating Social Development Projects". Development Guidelines, No. 5 (D.Marsden and P.Oakley eds) (Oxfam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qualitative Dimension of social Development Evaluation: Thematic paper in Evaluating Social Development Projects
Tác giả: Rahman, M.A
Năm: 1990
22. Remenyi, J. (1991), "Where credit is Due: Income Generating Programmes for the Poor in Developing countries", (London: IT) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Where credit is Due: Income Generating Programmes for the Poor in Developing countries
Tác giả: Remenyi, J
Năm: 1991
23. Rocheleau (1995), 'Gender and biodiversity: a feminist political ecology perspective', in Joekes et al (1995) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gender and biodiversity: a feminist political ecology perspective
Tác giả: Rocheleau
Nhà XB: Joekes et al
Năm: 1995
24. "Toàn cầu hoá và tác động của nó đối với đói nghèo"; Trung tâm phát triển nông thôn (CRP), Hà nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá và tác động của nó đối với đói nghèo
25. Thaddeus C.Trzyna, "Thế giới Bền vững - Định nghĩa và trắc lượng phát triển bền vững", Viện NC Chiến lược và Chính sách KH& Công nghệ, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới Bền vững - Định nghĩa và trắc lượng phát triển bền vững
26. T. Palanivel, "Sustainable Development of China, India and Indonesia: Trend and Responses&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable Development of China, India and Indonesia: Trend and Responses
Tác giả: T. Palanivel
1. "Bảo vệ Môi trường và Phát triển bền vững", NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ Môi trường và Phát triển bền vững
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
3. Báo cáo tổng hợp “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Điện Biên thời kỳ 2006 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Điện Biên thời kỳ 2006 2020
4. Báo cáo tổng hợp “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lai Châu thời kỳ 2006- 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lai Châu thời kỳ 2006- 2020
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, "Nghiên cứu tổng kết một số mô hình phát triển bền vững ở Việt Nam", Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổng kết một số mô hình phát triển bền vững ở Việt Nam
8. Báo cáo NC chính sách của WB: "Toàn cầu hóa, Tăng trưởng và nghèo đói", NXB Văn Hóa - Thông tin. HN - 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa, Tăng trưởng và nghèo đói
Nhà XB: NXB Văn Hóa - Thông tin. HN - 2002
10. Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo - Chính phủ Việt Nam, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo
11. Chu Khắc Thuật & Nguyễn Văn Thủ (chủ biên), "Văn hóa lối sống với môi trường", Nxb văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa lối sống với môi trường
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
12. Cục Môi Trường (NEA), Bộ KHCN và MT - "Giới thiệu ngắn ngọn về Chương trình 21 và các văn kiện thỏa thuận khác của Hội nghị Rio&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu ngắn ngọn về Chương trình 21 và các văn kiện thỏa thuận khác của Hội nghị Rio
Tác giả: Cục Môi Trường (NEA), Bộ KHCN và MT
13. Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 xủa Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam
14. Đường Hồng Dật, "Tài nguyên môi trường nông thôn Việt Nam: Sử dụng hợp lý và bảo vệ phát triển bền vững", NXB Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên môi trường nông thôn Việt Nam: Sử dụng hợp lý và bảo vệ phát triển bền vững
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
15. Hà Huy Thành (chủ biên): "Một số vấn đề xã hội và nhân văn trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam"; Nxb CTQG, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xã hội và nhân văn trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
16. Hà Huy Thành, Nguyễn Ngọc Khánh, “Phát triển bền vững- từ quan niệm đến hành động”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển bền vững- từ quan niệm đến hành động”
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng II.1 : Sự phong phú về thành phần loài sinh vật ở Việt Nam - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng II.1 : Sự phong phú về thành phần loài sinh vật ở Việt Nam (Trang 118)
Bảng II.2 : Hiện trạng đất ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010 - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng II.2 : Hiện trạng đất ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010 (Trang 125)
Bảng II.5 : Diễn biến quá trình đô thi hóa ở nước ta và dự báo đến năm 2020 - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng II.5 : Diễn biến quá trình đô thi hóa ở nước ta và dự báo đến năm 2020 (Trang 129)
Bảng II.8 : Lượng phân bón hàng năm cây trồng chưa sử dụng được - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng II.8 : Lượng phân bón hàng năm cây trồng chưa sử dụng được (Trang 146)
Bảng II.9 : Khối lượng các nhóm thuốc BVTV đã sử dụng ở Việt Nam - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng II.9 : Khối lượng các nhóm thuốc BVTV đã sử dụng ở Việt Nam (Trang 147)
Bảng II.10: Hiện trạng rừng của các tỉnh miền núi tính đến 31/12/2009 - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng II.10: Hiện trạng rừng của các tỉnh miền núi tính đến 31/12/2009 (Trang 152)
Bảng II.12 : Số liệu điều tra sức khỏe của người dân tại các làng nghề - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng II.12 : Số liệu điều tra sức khỏe của người dân tại các làng nghề (Trang 157)
Bảng II.16 . Diện tích các KCN-KCX đến tháng 7/2008 và qui hoạch đến năm 2015 - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng II.16 . Diện tích các KCN-KCX đến tháng 7/2008 và qui hoạch đến năm 2015 (Trang 179)
Bảng II.17: Đầu tư và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng II.17: Đầu tư và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam (Trang 197)
Bảng II.18: Các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng II.18: Các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng (Trang 198)
Hình 1. Phương pháp dự báo DPSIR - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
Hình 1. Phương pháp dự báo DPSIR (Trang 226)
Bảng III.2: Dự báo GDP các ngành kinh tế tính theo giá so sánh 1994, 2011-2020 - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng III.2: Dự báo GDP các ngành kinh tế tính theo giá so sánh 1994, 2011-2020 (Trang 231)
Bảng III.5. Diễn biến quá trình đô thị hóa ở nước ta trong 25 năm qua và dự báo đến - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng III.5. Diễn biến quá trình đô thị hóa ở nước ta trong 25 năm qua và dự báo đến (Trang 235)
Bảng III.6: Dự báo chất thải rắn phát sinh năm 2010, 2015, 2020 theo vùng kinh tế - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng III.6: Dự báo chất thải rắn phát sinh năm 2010, 2015, 2020 theo vùng kinh tế (Trang 236)
Bảng III.7: Dự báo thải rắn phát sinh phân theo ngành ở Việt Nam năm 2010, 2015, - Vấn đề môi trường trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta đến năm 2020
ng III.7: Dự báo thải rắn phát sinh phân theo ngành ở Việt Nam năm 2010, 2015, (Trang 237)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w