Chào các bạn, với mong muốn chia sẻ cho tất cả mọi người những tài liệu mình biên soạn cũng như sưu tầm nay tôi chia sẻ lên đây (có phí và không phí) hi vọng giúp ích được phần nào cho công việc cũng như học tập của tất cả mọi người. Chúc thành công Kỷ yếu hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện nghị quyết tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ đổi mớiKỷ yếu hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện nghị quyết tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ đổi mớiKỷ yếu hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện nghị quyết tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới
Trang 1BỘ VĂN HÓ A, T HỂ TH AO VÀ DU LỊCH
KỶ YẾU HỘI NGHỊ
SƠ KẾT 05 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 23 –NQ/TW NGÀY 16/6/2008 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ VIỆC “TIẾP TỤC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT
TRONG THỜI KỲ MỚI”
Hà Nội 4/2013
Trang 2MỤC LỤC
1 Báo cáo sơ kết của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:
Báo cáo sơ kết 05 năm triển khai thực hiện nghị quyết số 23-NQ/TW
ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ chính trị - Ông Hồ Việt Hà, Vụ
trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
01
2 Ban Tuyên giáo Trung ương : Đánh giá kết quả sau 05 năm thực
hiện Nghị quyết 23-NQ/TW- Ông Vũ Công Hội, Phó Vụ trưởng Vụ
Văn hóa, Văn nghệ- Ban Tuyên giáo Trung ương
30
3 UBTQ Liên hiệp các Hội Văn học, Nghệ thuật Việt Nam: Báo cáo
hội thảo 5 năm thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về văn học
nghệ thuật - Nhà văn Đỗ Kim Cuông, Phó Chủ tịch Thường trực Liên
hiệp các Hội VHNT Việt Nam
35
4 Cục Điện ảnh: Điện ảnh Việt Nam sau 5 năm triển khai Nghị quyết
23-NQ/TW của Bộ Chính trị - Bà Ngô Phương Lan, Cục Trưởng Cục
Điện ảnh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
40
5 Cục Nghệ thuật biểu diễn: Nghệ thuật biểu diễn việt Nam sau 05
năm triển khai thực hiện nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị:
những thành tựu, khó khăn, tồn tại và các giải pháp kiến nghị - Nhạc
sỹ Đào Đăng Hoàn, Phó cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn, Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch
47
6 Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm: Ngành mỹ thuật, nhiếp ảnh
và triển lãm sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 23- NQ/TW
ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị: những thành tựu, khó
khăn, tồn tại và các giải pháp kiến nghị- Bà Đoàn Thị thu Hương,
Phó Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm, Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch
56
7 Cục Di sản Văn hóa: Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn
hóa sau 05 năm triển khai Nghị quyết số 23/NQ-TW ngày 16 tháng 6
năm 2008 của Bộ Chính trị
67
8 Vụ Thư viện: Vai trò của thư viện trong việc bảo lưu và phát triển
văn học, nghệ thuật trong đời sống cộng đồng: những thành tựu, tồn
tại và các đề xuất kiến nghị- Bà Vũ Dương Thúy Ngà, Phó Vụ trưởng
Vụ Thư viện- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
72
9 Vụ Đào tạo: Công tác đào tạo văn hóa nghệ thuật sau 5 năm thực
Hùng, Vụ trưởng Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
78
10 Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam: Cơ sở lý luận và thực tiễn
cùng các đề xuất, kiến nghị đối với thực trạng của văn học nghệ thuật
89
2
Trang 3Việt Nam sau 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 23- NQ/TW
ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chinh trị - Ông Bùi Hoài Sơn,
Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam– Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch
11 Bộ Tài chính (Vụ Chính sách thuế): Chính sách ưu đãi thuế đối với
văn học, nghệ thuật sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 23/NQ-TW ngày
16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị- thực trạng và giải pháp- Ông
Tống Công Phi, Trưởng phòng Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính
12 Bộ Tài chính (Vụ Hành chính sự nghiệp): Quản lý tài chính trong
lĩnh vực văn học, nghệ thuật sau 05 năm triển khai thực hiện Nghị
quyết số 23-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị
13 Sở VHTTDL Tuyên Quang: Kết quả 05 năm thực hiện Nghị Quyết
số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn học, nghệ thuật
trong thời kỳ mới trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang: những khó khăn tồn
tại và các giải pháp kiến nghị tiếp tục triển khai thực hiện
14 Sở VHTTDL Bắc Ninh: Tham luận Hội nghị sơ kết 5 năm triển khai
thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị “về việc tiếp tục
xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”
15 Sở VHTTDL Lạng Sơn: Báo cáo tham luận Hội nghị Sơ kết 05 năm
(2008-2012) triển khai thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16
tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục xây dựng và phát
triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới
16 Sở VHTTDL Đà Nẵng: 05 năm thực hiện Nghị quyết Số 23-NQ/TW
của Bộ Chính trị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
17 Sở VHTTDL Thừa Thiên Huế: Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế
tiếp tục phát triển xứng tầm là trung tâm văn hóa du lịch đặc sắc của
3
Trang 4BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
BÁO CÁO
SƠ KẾT 05 NĂM TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT
SỐ 23 NQ/TW NGÀY 16 THÁNG 6 NĂM 2008 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
Hồ Việt Hà
Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân tại Công văn số 918/VPCP-KGVX ngày 29 tháng 01 năm 2013 của Văn phòng Chính phủ về việc đánh giá tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số23-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị “Về việc tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới” (dưới đây gọi tắt là Nghị quyết 23), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch báo cáo sơ kết 05 năm thựchiện Nghị quyết 23 giai đoạn 2008-2013 như sau:
P hầ n thứ n
hấ t ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 05 NĂM TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ
23-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
I ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH:
Văn học nghệ thuật, một bộ phận quan trọng của văn hóa, luôn được Đảng
và Nhà nước quan tâm Hiến pháp năm 1992 (Điều 32) nêu rõ “Nhà nước đầu tư phát triển văn hoá, văn học và nghệ thuật; tạo điều kiện để nhân dân được thưởng thức những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị; bảo trợ để phát triển các tài năng sáng tạo văn hóa nghệ thuật” Từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm
1943, Đảng đã công khai quan điểm rõ ràng về văn hóa, theo đó văn hóa, chính trị, kinh tế là ba yếu tố không thể tách rời Năm 1998, Nghị quyết Trung ương 5
(khóa VIII) đề ra phương hướng, nhiệm vụ với quan điểm chỉ đạo “Vǎn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội”.
Năm 2008, Nghị quyết 23 được ban hành đã thể hiện sự quan tâm của Đảng đối với lĩnh vực văn học, nghệ thuật Nghị quyết đánh giá những thành tựu đã đạt được và những yếu kém, khuyết điểm còn tồn tại qua 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), trên cơ sở đó đề ra mục tiêu, chủ trương giải pháp để tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới Để tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
Trang 5Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt, các cơ quan hữu quan xây dựng các
cơ chế, chính sách, các quy định và thực hiện các nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết về quản lý Nhà nước đối với văn học, nghệ thuật” Việc triển khai thực hiện Nghị quyết 23 trong giai đoạn 2008-2013 có những điều kiện thuận lợi
và khó khăn như sau:
- Đội ngũ văn nghệ sĩ Việt Nam gồm nhiều thế hệ nối tiếp nhau có truyền thống yêu nước, tâm huyết với nghề;
- Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các phương tiện truyền thông là điều kiện thuận lợi để phổ biến, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật;
- Văn học, nghệ thuật Việt Nam có sự giao lưu với các nước thông qua quá trình hội nhập quốc tế
2 Khó khăn:
- Cơ sở pháp lý khuyến khích phát triển văn học, nghệ thuật còn chưa đồng
bộ Các chế độ ưu đãi cho văn nghệ sĩ còn thấp, chưa tương xứng với sức lao động sáng tạo văn học, nghệ thuật của văn nghệ sĩ;
- Công tác quản lý Nhà nước ở nhiều lĩnh vực văn học, nghệ thuật còn nhiều bất cập Nhận thức về vai trò của văn học, nghệ thuật ở nhiều cấp lãnh đạo, quản
lý còn chưa đầy đủ Hiệu quả đầu tư cho văn học, nghệ thuật chưa cao;
- Ngân sách Nhà nước đầu tư cho văn học, nghệ thuật còn hạn chế;
- Nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây chịu ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế toàn cầu Bối cảnh khó khăn đó đã tác động đến tư tưởng, đời sống tinh thần của nhân dân nói chung, đời sống văn học, nghệ thuật nói riêng;
Từ những đặc điểm tình hình trên, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng;
sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; sự nỗ lực, cố gắng của các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến địa phương, công tác triển khai thực hiện Nghị quyết 23 đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai thực hiện và đã đạt được một số kết quả nhất định
II KẾT QUẢ THỰC HIỆN:
1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện Nghị quyết:
Trang 6- Ban Cán sự Đảng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cấp ủy cấp trên và các
tổ chức Đảng trong cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ đã chủ động tích cực triển khai thực hiện kế hoạch tuyên truyền phổ biến Nghị quyết 23 trong hệ thống chính trị, cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động
- Bộ đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 23, phân công nhiệm vụ cụ thể đến các đơn vị thuộc Bộ thực hiện xây dựng/sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật triển khai Nghị quyết 23 (Thông báo số207/TB-VP ngày 12/7/2010 của Văn phòng Bộ thông báo kết luận của Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh về thực hiện Nghị quyết 23) Các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ đã chủ động, tập trung xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản phápluật theo sự phân công nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương và theo yêu cầu công tác quản lý Nhà nước về văn học, nghệ thuật
2 Kết quả thực hiện những nhiệm vụ của Nghị quyết:
2.1 Công tác xây dựng cơ chế chính sách đối với văn học, nghệ thuật:
- Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan như Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam,
Bộ Thông tin và Truyền thông… xây dựng các đề án trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ Bộ đã triển khai xây dựng 05 đề án được phân công tại Công văn số 73-KH/BTGTW ngày 9 tháng 4 năm 2009 của Ban Tuyên giáo Trung ương về “Kế hoạch triển khai thực hiện các đề án Nghị quyết số 23-NQ/TW của
Bộ Chính trị về văn học, nghệ thuật” Đến nay, các đề án này đã hoàn thành và
được thể chế hóa bằng các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ (chi tiết tại Phụ lục 1 đính kèm).
Bên cạnh các đề án cụ thể được Ban Bí thư và Ban Tuyên giáo Trung ương giao xây dựng để triển khai thực hiện Nghị quyết 23, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng các văn bản, đề
án trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về văn học, nghệ thuật Trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2012, có 27 văn bản pháp quy
do Bộ chủ trì xây dựng trình các cấp có thẩm quyền ban hành bao gồm: 03 Luật,
08 Nghị định Chính phủ, 05 Quyết định và 01 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ
và 11 Thông tư và văn bản hướng dẫn Các luật đã được Quốc hội thông qua gồm: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (năm 2009), Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa (năm 2009), Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh (năm 2009) (chi tiết tại Phụ lục 2 đính kèm).
Tiếp đó, trong năm 2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được phân công chủ trì xây dựng 05 đề án triển khai Nghị quyết số 40/NQ-CP của Chính phủ về
“Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công” Nghị quyết 40/NQ-CP góp phần đẩy nhanh việc thể chế hóa Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị thông qua mục tiêu đổi mới các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động dịch
vụ công như: hoạt động tổ chức biểu diễn nghệ thuật của các nhà hát, việc đặt hàng các tác phẩm điện ảnh, hoàn thiện quy hoạch mạng lưới rạp chiếu phim, các
Trang 7thiết chế văn hóa, khu văn hóa vui chơi giải trí phục vụ cộng đồng giai đoạn2011-2020.…Hiện nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang khẩn trương phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng các đề án được phân công để đảm bảo
tiến độ hoàn thành trình Chính phủ trong năm 2013 (chi tiết 05 đề án tại Phụ lục
3 đính kèm).
2.2 Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về văn học, nghệ thuật
2.2.1 Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật:
- Công tác quản lý nhà nước trong việc bảo tồn phát huy di sản văn hóa dân tộc được triển khai quyết liệt, đạt hiệu quả tốt Các văn bản pháp quy do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì xây dựng trình các cấp có thẩm quyền ban hành như Luật sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa, Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia…
- Công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật đã đạt được những thành tựu đáng kể Nhiều di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các địa phương lập hồ sơ đề nghị và được Unesco công nhận đưa vào danh sách là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại và danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp như Quan họ Bắc Ninh (năm 2009), hát Ca trù (năm 2009), hát Xoan ở Phú Thọ (2011)
- Nhiều hoạt động giới thiệu di sản văn học, nghệ thuật của Việt Nam với thế giới được tổ chức hiệu quả như: Triển lãm “Nghệ thuật cổ Việt Nam- từ châu thổ ra biển lớn”, triển lãm Nghề thủ công truyền thống và Văn hóa Việt Nam tại Hàn Quốc…
2.2.2 Bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan:
- Công tác bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan được đẩy mạnh với việc ban hành một loạt các văn bản pháp quy trong lĩnh vực như: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, Nghị định số 47/2009/NĐ-CP quy định
xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, Nghị định số85/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan…
Bên cạnh đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan Từ năm 2008, Bộ đã
tổ chức quán triệt tới các đơn vị, địa phương trên cả nước Chỉ thị số 36/2008/CT- TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan Nhiều hội thảo đã được tổ chức như Hội thảo tập tuấn Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan, Hội thảo “Quyền của người
Trang 8biểu diễn” tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (2010), Hội thảo “Phát triển công nghiệp sáng tạo” (phối hợp với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO tổ chức năm 2010), Hội thảo “Bảo hộ quyền tác giả trong phát triển ngành công nghiệp phần mềm và âm nhạc” (phối hợp với Ủy ban quyền tác giả Hàn Quốc tổ chức năm 2010), Hội thảo “Quản lý tập thể về quyền tác giả, quyền liên quan) (phối hợp với WIPO và chính phủ Nhật bản tổ chức năm 2010)…
Bình quân mỗi năm, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp khoảng 4000Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, xử lý và giải quyết 20-
40 đơn thư khiếu nại tố cáo về quyền tác giả, quyền liên quan
2.2.3 Nghệ thuật biểu diễn:
- Chủ trì xây dựng một số văn bản pháp quy trong lĩnh vực trình các cấp có thẩm quyền ban hành như: Nghị định số 79/2012/NĐ-CP của Chính phủ về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu
- Thực hiện có hiệu quả công tác kiểm duyệt, thẩm định nội dung và kiểm tra các chương trình nghệ thuật ca, múa, nhạc, sân khấu, thời trang , cấp phép cho các đoàn nghệ thuật, ca sĩ đi biểu diễn ở nước ngoài và từ nước ngoài về Việt Nam biểu diễn Riêng trong năm 2011, Bộ đã cấp 6.930.000 tem nhãn, 289 giấy phép công diễn, 10 giấy phép phát hành băng đĩa, duyệt 415 chương trình, băng đĩa, lưu chiểu, cấp phép 533 nghệ sĩ là người nước ngoài và 35 đoàn nghệ thuật,
12 ban nhạc nước ngoài vào Việt Nam biểu diễn, 47 đoàn nghệ thuật Việt Nam và
194 nghệ sĩ Việt Nam ra nước ngoài giao lưu và biểu diễn nghệ thuật Thẩm định, cho phép nhập khẩu 75 chương trình băng đĩa ca nhạc của các nước, cho phép phổ biến tại Việt Nam 300 ca khúc do người Việt Nam sáng tác trước năm 1975 Việc bảo tồn các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống được chú trọng thông qua việc tổ chức các chương trình liên hoan biểu diễn nghệ thuật như “Liên hoan Hợp xướng quốc tế lần thứ I” tại Hội An- Quảng Nam, “Liên hoan sân khấu dân ca kịch Bài chòi toàn quốc”, “Liên hoan múa rối dân gian toàn quốc” “Liên hoan sân khấu chèo về đề tài hiện đại” Các cuộc liên hoan thu hút từ 200-500 nghệ sĩ, diễn viên tham gia, nhiều chương trình, tiết mục tham gia liên hoan đạt chất lượng cao, được dàn dựng công phu, phong phú về đề tài, đa dạng về thể loại
- Các chương trình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị, biểu diễn phục vụ đồng bào, động viên chiến sĩ vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa được tổ chức thực hiện trên cả nước như: chương trình phục vụ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, chương trình nghệ thuật biểu diễn phục vụ động viên
bộ đội Trường Sa và DK1, chương trình phục vụ tuyên truyền bầu cử Quốc hội khóa XIII, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016
- Công tác giao lưu quốc tế được đẩy mạnh, gắn kết chặt chẽ giữa biểu diễn nghệ thuật với chương trình xúc tiến du lịch và quảng bá nghệ thuật Việt Nam ra thế giới Một số chương trình tiêu biểu đã được tổ chức như: chương trình nghệ thuật đón các nguyên thủ sang thăm Việt Nam, chào mừng Hội nghị cấp cao ASEAN, chương trình nghệ thuật các ngày Văn hóa Việt Nam tại các nước trên
Trang 9thế giới và biểu diễn giao lưu văn hóa tại các nước như Pháp, Đức, Cuba, Mexico, Trung quốc, Tây Ban Nha, Nhật bản , “Liên hoan Ca múa nhạc ba nước Việt Nam- Lào- Campuchia”, chương trình hòa nhạc Henessy cổ điển, chương trình nghệ thuật Italia,
- Đối với hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở các địa phương: các đơn vị nghệ thuật địa phương đã khắc phục khó khăn, xây dựng nhiều chương trình mới góp phần tuyên truyền, tôn vinh nghệ thuật truyền thống, định hướng đường lối văn nghệ của Đảng
2.2.4 Lĩnh vực Điện ảnh:
- Một số văn bản pháp quy đã được ban hành như Luật sửa đổi bổ sung một
số điều của Luật Điện ảnh, Nghị định số 54/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Điện ảnh và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh, Thông tư số 08/2010/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định phim của Đài truyền hình, đài phát thanh- truyền hình…
- Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả hoạt động điện ảnh gắn với các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước như: các tuần phim tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị trên phạm vi cả nước, các buổi giao lưu giữa nghệ sĩ với khán giả trong đó Những ngày phim Việt Nam chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội
tổ chức trên 63 tỉnh- thành thu hút hàng chục ngàn lượt khán giả tới thưởng thức
và giao lưu
- Tổ chức chiếu phim và giới thiệu điện ảnh Việt Nam ở nước ngoài đã mang lại hiệu quả thiết thực Nhiều tác phẩm, tác giả, nghệ sĩ điện ảnh Việt Nam được tôn vinh tại các nước có nền điện ảnh phát triển Các Liên hoan phim quốc
tế được tổ chức tại Việt Nam đã tạo cơ hội cho các nghệ sĩ trong nước trao đổi, giao lưu với các nghệ sĩ quốc tế
- Công tác đầu tư đặt hàng sản xuất các tác phẩm điện ảnh được thực hiện hàng năm đã tạo ra một nguồn phim điện ảnh có chất lượng, có tính thẩm mỹ và định hướng chính trị Các bộ phim do Nhà nước đặt hàng chiếm tỉ trọng lớn trong các tác phẩm điện ảnh đạt giải cao tại các Liên hoan phim trong nước Nhiều bộ phim do Nhà nước đầu tư đã đạt được các giải thưởng quốc tế như: phim “Chơi vơi” (đạo diễn Bùi Thạc Chuyên”) đoạt giải khán giả tại Liên hoan phim quốc tế Venice- Italia, phim “Đừng đốt” (đạo diễn Đặng Nhật Minh) đoạt giải tại Liên hoan phim Fukuoka- Nhật Bản, phim “Trăng nơi đáy giếng” đoạt 3 giải thưởng tại Liên hoan phim- Văn hóa Á châu tại Lion- Pháp Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch đang phối hợp với Bộ Tài chính để ban hành Thông tư về đấu thầu, đặt hàng sản xuất phim nhằm nâng cao chất lượng sản xuất phim và tạo “sân chơi” công bằng với mọi thành phần kinh tế
- Hệ thống cụm rạp chiếu phim, cơ sở chiếu bóng có nhiều cố gắng đầu tư theo xu hướng phát triển công nghệ, kỹ thuật Trung tâm Chiếu phim quốc gia khai trương phòng chiếu 4D cảm giác mạnh, Lào cai, Hà Giang đã xây dựng phòng chiếu phim 3D, lồng ghép tuyên truyền bằng tiếng dân tộc…
Trang 10- Hoạt động kiểm tra, kiểm duyệt hoạt động điện ảnh trên toàn quốc được thực hiện nhằm đảm bảo đúng định hướng và quy định của pháp luật.
2.2.5 Lĩnh vực Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm:
- Hoàn thiện dự thảo Nghị định quản lý hoạt động mỹ thuật trình Chính phủ phê duyệt, xây dựng Quy hoạch phát triển ngành mỹ thuật đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Thông tư hướng dẫn hoạt động nhiếp ảnh…
- Thực hiện tốt công tác cấp phép cho các triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh, xây dựng tượng đài Tổ chức thành công các cuộc triển lãm trong phạm vi cả nước và quốc tế như Triễn lãm Mỹ thuật toàn quốc với gần 5000 tác phẩm của các họa sỹ, nhà điêu khắc trong cả nước tham dự, Triển lãm mỹ thuật thiếu nhi toàn quốc tại
Hà Nội và Hải phòng, Triển lãm Festival Mỹ thuật trẻ, Triển lãm ảnh nghệ thuật quốc tế FIAP tại Việt Nam với 42 quốc gia và khu vực lãnh thổ tham gia, Triển lãm tranh sơn mài tại Bắc Kinh và Tân Cương- Trung quốc…
2.2.6 Công tác phát triển văn học, nghệ thuật:
- Tập trung xây dựng và ban hành các văn bản quản lý Nhà nước nhằm thống nhất, đồng bộ về tổ chức, hoạt động và tiêu chí mô hình Trung tâm Văn hóa-Thể thao các cấp như: Thông tư quy định Quy chế về tổ chức và hoạt động của tổ chức sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch quận, huyện, thị xã, thành phối trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thông tư quy định tiêu chí của Trung tâm Văn hóa- Thể thao quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
- Các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị trọng đại của đất nước được tổ chức tốt, tạo không khí vui tươi, phấn khởi, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Hoạt động văn hóa, văn nghệ phát triển rộng khắp ở cơ sở, chất lượng các cuộc thi, hội diễn, liên hoan được nâng lên ngày càng thu hút đông đảo lực lượng công chúng tham gia, đáp ứng tốt nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của mọi tầng lớp dân cư
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các đội tuyên truyền lưu động ở các địa phương, vai trò của Trung tâm Văn hóa cấp tỉnh đối với cơ sở
- Công tác xây dựng phát triển văn hóa (trong đó có văn học nghệ thuật) vùng đồng bào dân tộc thiểu số được chú trọng Nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật được tổ chức đã tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc giao lưu học hỏi lẫn nhau với không khí phấn khởi, tin tưởng vào các chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước, góp phần gìn giữ, phát huy bản sắc dân tộc trong văn học, nghệ thuật như: Tổ chức Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc vùng Đồng Bắc lần thứ VII tại Phú Thọ Tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ văn học, nghệ thuật ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số thông qua tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ văn hóa các xã đặc biệt khó khăn tại các tỉnh Hà Giang, Thanh Hóa, Gia Lai; thực hiện mục tiêu hỗ trợ phát triển văn học nghệ thuật vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số qua việc thực hiện tốt dự án sản xuất
và cung cấp sản phẩm văn hóa thông tin phù hợp cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã thuộc 62 huyện nghèo, xã vùng dân tộc trọng điểm
Trang 112.2.7 Hợp tác giao lưu quốc tế về văn học, nghệ thuật:
- Tăng cường năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực đối ngoại và hợp tác quốc tế về văn học, nghệ thuật Trong năm 2010-2011, đã có 33 văn bản, chương trình hợp tác quốc tế được ký kết
- Công tác hợp tác giao lưu quốc tế về văn học, nghệ thuật đã được đẩy mạnh theo hướng hiệu quả và thực chất, tận dụng cơ hội và đối phó với những thách thức mới nhằm thúc đẩy hoạt động đối ngoại phát triển, góp phần vào thành công chung của hoạt động đối ngoại của Nhà nước Qua các hoạt động ngoại giao văn hóa, văn học, nghệ thuật, từng bước góp phần nâng cao uy tín, vị thế và hình ảnh đất nước, con người, văn hóa nghệ thuật Việt Nam trên thế giới Nhiều hoạt động văn học, nghệ thuật quan trọng được tổ chức như: Tháng Việt Nam tại Pháp, Những ngày văn hóa Việt Nam tại Liên bang Nga, Ukraina, Na Uy và Đan Mạch…
- Nhiều dự án hợp tác tranh thủ sự hỗ trợ từ các nước được triển khai hiệu quả trong đào tạo nhân lực, xúc tiến quảng bá Công tác quảng bá, giới thiệu văn học nghệ thuật Việt Nam được tiếp tục đẩy mạnh thông qua các lễ hội, các hoạt động xúc tiến văn hóa, thể thao và du lịch có quy mô lớn tại nước ngoài, thông qua cơ quan đại diện văn hóa, du lịch tại nước ngoài và trên các phương tiện nghe, nhìn và truyền thông quốc tế
2.2.8 Công tác đào tạo, bồi dưỡng tài năng văn học, nghệ thuật:
- Bộ đã hoàn thành trình Thủ tướng Chính phủ và được phê duyệt các đề án
“Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo các trường văn hóa, nghệ thuật”, “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên trình độ cao trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2010-2020”, “Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển tài năng trẻ lĩnh vực văn hóa nghệ thuật”
- Công tác quản lý nhà nước về đào tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật được chú trọng, đạt hiệu quả, tạo sự chuyển biến mới về phát triển nhân lực theo định hướng của Đảng và Nhà nước Học sinh, sinh viên các trường văn hóa, nghệ thuật sau khi tốt nghiệp ra trường phần lớn phát huy được khả năng tại lĩnh vực công tác Sinh viên năng khiếu tự khẳng định mình trong học tập, giao tiếp, bộc lộ
tư chất và phát huy khả năng
- Trong giai đoạn 2008-2012, một số trường văn hóa nghệ thuật được thành lập như Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và Du lịch Đà Nẵng, Trường Cao đăng Văn hóa nghệ thuật và Du lịch Gia Lai, Trường Đại học Văn hóa- Du lịch Thanh Hóa, trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Hà Tĩnh Một số cơ sở đào tạo được cấp có thẩm quyền cho phép mở ngành mới và tuyển sinh như Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức kỳ thi tuyển sinh bổ sung ngành Sáng tác Văn học, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ An mở thêm 06 chuyên ngành đào tạo
- Hoàn thành việc xây dựng 20 chương trình khung giáo dục đại học, trong
đó có 9 đại học, 11 cao đẳng, đến nay các chương trình khung này đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để các trường Văn hóa Nghệ thuật trong cả nước triển khai thực hiện
Trang 12III ĐÁNH GIÁ CHUNG:
1 Những thành tựu đạt được:
- Hoàn thành các đề án do Ban Tuyên giáo Trung ương phân công triển khai thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị, xây dựng danh mục các đề án cụ thể và phân công tới các cơ quan, đơn vị xây dựng/sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp quy triển khai Nghị quyết 23
- Công tác xây dựng pháp luật đạt thành tích tốt với 03 dự án luật đã hoàn thành và trình Quốc hội thông qua Nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và của Bộ được ban hành, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật
- Một số đề xuất, chính sách đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt có ý nghĩa kịp thời động viên văn nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật như: bổ sung 30 tỷ đồng để hỗ trợ cho các hoạt động sáng tạo của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và các Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành ở trung ương, địa phương trong năm 2010; điều chỉnh tăng kinh phí giải thưởng văn học, nghệ thuật hàng năm, trước hết là năm
2010 cho Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và các Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành ở trung ương
- Qua 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 23, lĩnh vực văn học, nghệ thuật về cơ bản có những chuyển biến tích cực Các hoạt động văn học, nghệ thuật có tính chuyên nghiệp hơn, có bước phát triển mới, số lượng tác phẩm có giá trị đạt giải thưởng khu vực, quốc gia tăng lên đáng kể Công tác lý luận phê bình có chuyển biến tích cực, hoạt động phổ biến, sáng tác tác phẩm đa dạng, phong phú Các hoạt động phong trào có bước phát triển sâu rộng, thu hút ngày càng đông các nghệ sĩ, tầng lớp nhân dân tham gia sáng tác, phục vụ có hiệu quả các sự kiện chính trị, góp phần định hướng tư tưởng, thẩm mỹ của nhân dân
- Các hoạt động văn học, nghệ thuật có sự đổi mới trong tổ chức và dàn dựng, chất lượng nghệ thuật được nâng lên, gắn kết chặt chẽ, phục vụ hiệu quả chính sách phát triển kinh tế- xã hội của các địa phương Một số chương trình, hoạt động văn hóa, nghệ thuật lớn tạo được ấn tượng tốt trong nhân dân Mức hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa được cải thiện
- Công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật được đẩy mạnh Ngày càng có nhiều tổ chức xã hội và cá nhân tham gia vào công tác bảo vệ và phát huy giá trị văn học, nghệ thuật
- Công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật được triển khai tích cực
- Công tác phối hợp giữa cơ quan quản lý Nhà nước đối với các Hội văn học, nghệ thuật đã có sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ hơn
Trang 13- Ý thức pháp luật và thực thi pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan
đã có những chuyển biến nhất định Công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm trong lĩnh vực bản quyền tác giả được tập trung triển khai thực hiện
- Hoạt động giao lưu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật được đẩy mạnh Nhiều văn bản hiệp định, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về phát triển văn hóa, nghệ thuật được ký kết và triển khai thực hiện
2 Những khó khăn, tồn tại:
- Công tác thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng ở một số lĩnh vực còn chậm, một số văn bản hướng dẫn Luật chậm ban hành hoặc đã ban hành nhưng chưa cụ thể, chưa theo kịp những biến động của thực tiễn nên hiệu quả thực hiện còn thấp Nhiều chính sách, quy định đã ban hành nhưng chưa đi vào đời sống Việc ban hành các văn bản pháp quy ở nhiều khâu còn thiếu đồng bộ
- Một số cơ chế chính sách phát triển văn học, nghệ thuật bộc lộ những bất cập không còn phù hợp với thực tiễn nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung, thay thế như chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác văn học nghệ thuật ở cơ sở, chế độ đối với diễn viên, nghệ sĩ hết tuổi nghề nhưng chưa đến tuổi nghỉ hưu Các chính sách về lương, phụ cấp đối với văn nghệ sĩ nhìn chung còn thấp, chưa
bù đắp được công sức sáng tạo Đời sống văn nghệ sĩ nhìn chung còn khó khăn nên nhiều nghệ sĩ chưa toàn tâm toàn ý cho các hoạt động nghệ thuật do phải tự
“bươn chải”, mưu sinh …
- Đội ngũ cán bộ quản lý văn học, nghệ thuật ở cơ sở vẫn trong tình trạng vừa thiếu và biến động nhiều, chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ Hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước ở một số lĩnh vực chưa cao
- Mức đầu tư ngân sách cho lĩnh vực văn học, nghệ thuật còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật cho thiết chế văn hóa, nghệ thuật ở cơ sở còn thiếu Chế độ đãi ngộ, đầu tư còn hạn chế, thiếu tính động viên khuyến khích
- Hoạt động văn học, nghệ thuật mặc dù có sự chuyển biến nhưng chưa đồng bộ giữa các khâu sáng tác, phổ biến, tiêu thụ, lưu giữ tác phẩm Số lượng tác phẩm khá lớn nhưng chưa có nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật tác giả thực sự tiêu biểu ở từng lĩnh vực còn ít Nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật được Nhà nước đặt hàng, tài trợ chậm tiến độ, chưa đạt được giá trị mong muốn
- Công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật còn hạn chế, việc huy động các nguồn lực phục vụ hoạt động văn hóa, nghệ thuật của nhiều địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi, biên giới còn nhiều khó khăn Chưa có nhiều sản phẩm văn hóa, nghệ thuật đến được các vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số Sự chênh lệch về mức hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật giữa vùng đô thị với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc còn nhiều cách biệt
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ còn nhiều bất cập, hiệu quả chưa cao Trong một số lĩnh vực đào tạo văn học, nghệ thuật, mô hình đào tạo còn lạc hậu, giáo trình chưa đầy đủ và đồng bộ, lực lượng giảng viên thiếu,
Trang 14không chuyên nghiệp do thỉnh giảng nhiều…Chưa có những biện pháp hữu hiệu phát hiện và bồi dưỡng nhân tài Các ngành nghề đào tạo có mở rộng, bổ sung nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội Một số ngành đào tạo nghệ thuật như: múa, xiếc, sân khấu truyền thống… gặp khó khăn trong công tác tuyển sinh
do thiếu đầu vào
- Số tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị của Việt Nam được giới thiệu ra nước ngoài còn hạn chế Mặc dù có sự chuẩn bị về nội dung, nghệ thuật và đã đạt được những thành quả nhất định trong công tác quảng bá, giới thiệu hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế nhưng so với yêu cầu thực tiễn, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam ở nước ngoài chưa được triển khai có hệ thống và thường phân tán, thiếu tính liên kết để tạo hiệu quả tổng thể Chưa có kế hoạch phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành địa phương và các tổ chức đối ngoại nhân dân
3 Nguyên nhân của những khó khăn tồn tại:
3.1 Nguyên nhân chủ quan:
- Năng lực xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy của một số cơ quan, đơn vị chức năng còn hạn chế do hạn chế về chỉ tiêu biên chế cán bộ cũng như năng lực cán bộ
- Việc thực thi các văn bản pháp quy còn nhiều bất cập chủ yếu do nhận thức
và ý thức chấp hành pháp luật của một số cơ quan, đơn vị, cá nhân chưa đầy đủ
- Công tác quản lý hoạt động văn học, nghệ thuật ở nhiều cơ quan, đơn vị chưa hiệu quả Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các Hội Văn học, nghệ thuật chưa thực sự chặt chẽ và thường xuyên
- Ý nghĩa, vị trí, vai trò của các hoạt động văn học, nghệ thuật trong xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội có lúc, có nơi vẫn chưa được các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân nhận thức đúng đắn nên chưa quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo đầu tư thỏa đáng
- Công tác đào tạo còn chưa hiệu quả do phương pháp giảng dạy và học tập còn chậm đổi mới, không đồng bộ và thiếu cập nhật
- Công tác quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật của Việt Nam ra nước ngoài còn hạn chế do việc xây dựng kế hoạch, chương trình tổng thể để quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật còn thiếu chủ động, thiếu định hướng lâu dài Nguồn nhân lực thiếu hụt, năng lực hạn chế nên chất lượng tiết mục và tác phẩm trong các chương trình văn hóa, nghệ thuật chưa đạt hiệu quả như mong muốn
3.2 Nguyên nhân khách quan:
- Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, luôn biến động, chưa chịu tác động mạnh của xu hướng kinh tế thị trường và tiến bộ khoa học công nghệ nên nhiều văn bản pháp quy mới ban hành trong thời gian ngắn đã không còn phù hợp (ví dụ Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
Trang 15quyền tác giả và các quyền liên quan), đòi hỏi công tác xây dựng các văn bản pháp quy phải liên tục cập nhật, điều chỉnh.
- Ngân sách Nhà nước và đầu tư xã hội cho các hoạt động văn học, nghệ thuật còn thấp Đặc biệt, trong giai đoạn 2009 đến nay, nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới nên ngân sách chi tiêu công cho lĩnh vực văn học, nghệ thuật được ngân sách hỗ trợ còn thấp so với nhu cầu
- Công tác đào tạo trong các ngành nghệ thuật thiếu đầu vào khi tuyển sinh
do các ngành học này vất vả, đòi hỏi năng khiếu thực sự, nhưng công tác đầu ra không đảm bảo, tuổi nghề hoạt động nghệ thuật không dài, thu nhập từ văn học, nghệ thuật còn thấp, chưa đảm bảo đời sống Chất lượng đào tạo, đặc biệt là các ngành mỹ thuật, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, múa, xiếc còn bất cập do ngân sách chi cho đào tạo nghệ thuật hạn hẹp, khả năng tự chủ của nhà trường bị hạn chế trong khi các ngành nghệ thuật đòi hỏi chi phí đào tạo lớn
P hầ n thứ h
a i PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN NGHỊ
QUYẾT SỐ 23-NQ/TW TRONG THỜI GIAN TỚI NĂM 2015
I Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp:
1 Phương hướng, nhiệm vụ:
- Đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII
và các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật
- Tiếp tục kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo của các cơ quan quản lý Nhà nước về văn học, nghệ thuật
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý cho văn học, nghệ thuật phát triển Tăng cường phổ biến pháp luật, hướng dẫn, khuyến khích quần chúng tham gia sáng tạo, bảo tồn, truyền dạy và phát huy các giá trị văn học, nghệ thuật truyền thống của dân tộc
- Đầu tư cho công tác sáng tác, sưu tầm, gìn giữ, quảng bá trong và ngoài nước những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị
- Tăng cường xây dựng, nâng cấp đồng bộ hệ thống cơ sở vật chất cho các thiết chế văn hóa, đặc biệt là cấp cơ sở
- Tạo điều kiện cho hoạt động văn hóa, nghệ thuật phát huy tiềm năng và trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ nhằm tạo ra những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật ngang tầm quốc gia, dân tộc và thời đại
- Tập trung phát triển đào tạo, bồi dưỡng tài năng văn học nghệ thuật
- Mở rộng hoạt động giao lưu hợp tác quốc tế, quảng bá giới thiệu văn hóa, nghệ thuật Việt Nam thông qua hoạt động xúc tiến văn hóa, du lịch; thu hút các nguồn lực từ bên ngoài hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển văn học, nghê thuật
Trang 162 Giải pháp:
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác lãnh đạo, thực hiện tốt chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với văn học, nghệ thuật; tiếp tục phổ biến sâu rộng tinh thần Nghị quyết 23 đến đông đảo quần chúng nhân dân Tăng cường bồi dưỡng nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, đặc trưng của văn học, nghệ thuật trong đời sống xã hội cho cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, cán bộ trực tiếp chỉ đạo, quản lý lĩnh vực văn học, nghệ thuật
- Đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện 05 đề án triển khai Nghị quyết 23 do Bộ chủ trì xây dựng đã được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ban hành Sau khi các đề án này được phê duyệt, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phân
công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện (chi tiết tiến độ triển khai thực hiện các đề án tại Phụ lục 4 đính kèm).
Trong năm 2013, hoàn thiện trình cấp có thẩm quyền phê duyệt ban hành
30 văn bản, đề án theo chức năng quản lý Nhà nước về văn học, nghệ thuật và 05
đề án triển khai Nghị quyết 40/NQ-CP (chi tiết tại Phụ lục 3 đính kèm)
- Tiếp tục nghiên cứu xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích văn nghệ
sĩ sáng tạo các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao Xây dựng cơ chế chính sách, chế tài ổn định, đáp ứng yêu cầu xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật nhằm động viên, huy động có hiệu quả sức người, sức của của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế- xã hội tham gia xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật Làm tốt công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển văn học, nghệ thuật từ địa phương đến trung ương
- Kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí cho các hoạt động văn học nghệ thuật Có chính sách bồi dưỡng, thu hút nhân tài, chăm lo đãi ngộ đội ngũ văn nghệ sĩ, tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ phát huy tài năng, gắn bó và cống hiến lâu dài Thực hiện cơ chế đặt hàng sáng tác, phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao
- Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và với các Hội Văn học nghệ thuật trong công tác quản lý, sáng tác và phổ biến các tác phẩm văn học nghệ thuật Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ ở các cơ quan quản lý Nhà nước, các Hội Văn học, nghệ thuật để đáp ứng nhu cầu, hiệu quả công tác quản lý trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật Tiếp tục kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hội Văn học nghệ thuật trung ương và địa phương
- Tăng mức đầu tư từ ngân sách trung ương và địa phương cho văn học, nghệ thuật phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đất nước, tiếp tục bảo đảm kinh phí cho các chương trình mục tiêu phát triển văn hóa, tài trợ đặt hàng các tác phẩm văn học, nghệ thuật
- Tập trung hoàn thiện, đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng tài năng văn học, nghệ thuật Xây dựng hệ thống giáo trình, giáo án toàn diện, nâng cao trình độ và hoàn thiện đội ngũ giảng viên tại các trường đào tạo văn học, nghệ thuật
Trang 17- Quan tâm nghiên cứu khoa học về hoạt động văn học nghệ thuật; kịp thời phát hiện, phát triển các loại hình văn học nghệ thuật dân gian nhằm bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
- Thực hiện có hiệu quả các hoạt động triển lãm, giao lưu văn hóa nhằm giới thiệu những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cho bạn bè trong nước và quốc tế
- Tổ chức có hiệu quả các hoạt động văn học nghệ thuật Đẩy mạnh các hoạt động sáng tác, phổ biến tác phẩm, lý luận phê bình, phấn đấu sáng tác những tác phẩm có giá trị cao về quê hương đất nước và con người, truyền thống lịch sử cách mạng của dân tộc, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tăng cường sự liên kết giữa Hội Văn học nghệ thuật với các Trung tâm văn hóa, Nhà văn hóa và các thiết chế văn hóa khác trong việc phổ biến tác phẩm, đưa văn học nghệ thuật phát triển toàn diện cả bề rộng lẫn bề sâu, góp phần định hướng tư tưởng, giáo dục thẩm mỹ, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân
- Tiếp tục cải tiến, nâng cao chất lượng các chuyên mục, chuyên đề về văn học nghệ thuật trên các Đài Phát thanh truyền hình và báo chí; củng cố và mở rộng mạng lưới phát hành tạp chí sáng tác nghiên cứu phê bình văn học nghệ thuật
II Đề xuất, kiến nghị:
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quan tâm chỉ đạo, giải quyết một số vấn đề sau:
1 Về chính sách:
- Chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan phối hợp sớm tháo gỡ khó khăn vướng mắc về chính sách đối với văn nghệ sĩ như: chính sách đối với nghệ sĩ, diễn viên, vận động viên, huấn luyện viên đã hết tuổi nghề nhưng chưa đến tuổi nghỉ hưu….Cần quan tâm đến chế độ tiền lương, chế độ nghỉ hưu phù hợp đối với đội ngũ văn nghệ sĩ (đặc biệt là loại hình nghệ thuật truyền thống)
- Cho phép Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với các Bộ ngành chức năng xây dựng đề án cải cách toàn diện chế độ chính sách đối với văn nghệ sĩ trình Thủ tướng phê duyệt theo cơ chế đặc thù (Chế độ nghỉ hưu sớm đối với nghệ sĩ trong độ tuổi làm việc nhưng không còn khả năng biểu diễn nghệ thuật; Chế độ lương; Chế độ bồi dưỡng luyện tập, biểu diễn; Phụ cấp ưu đãi nghề; Chế độ khuyến khích các nghệ sĩ, học sinh, sinh viên theo học các loại hình nghệ thuật truyền thống)
- Kiến nghị chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan (Nội vụ, Tài chính, Công an, Giáo dục đào tạo ) quan tâm, phối hợp trong việc xây dựng các chính sách bảo
vệ và phát triển văn học nghệ thuật, nhất là nghệ thuật truyền thống
- Chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sửa đổi, bổ sung Nghị định số 61/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ về chế độ nhuận bút và điều chỉnh quy định về mức chi bồi dưỡng
Trang 18tập luyện, biểu diễn nghệ thuật tại Quyết định số 180/2006/QĐ- TTg ngày 09tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ cho phù hợp với thực tế.
- Bố trí hợp lý thời gian và tiến độ xây dựng các đề án, các văn bản pháp quy trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Chính phủ khi phân công nhiệm vụ cho các Bộ, ngành và các cơ quan liên quan để đảm bảo tính khả thi
2 Về nguồn nhân lực:
- Kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan:+ Cho phép Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ động trong công tác đào tạo, tuyển chọn, tuyển dụng nhân tài cho lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn kể cả đào tạo ở nước ngoài
+ Cho cơ chế đặc thù để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm thí điểm xét nâng ngạch cho các nghệ sĩ thuộc 12 Nhà hát trực thuộc Bộ, các cơ sở để xây dựng chính sách chung cho các nghệ sĩ trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật của cả nước
+ Tạo điều kiện nhiều hơn cho đội ngũ văn nghệ sĩ đi giao lưu, thực tế, tham gia các trại sáng tác trong nước và quốc tế
- Kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, cho phép các trường năng khiếu nghệ thuật được tổ chức tuyển sinh không cùng đợt với các trường đại học, cao đẳng khác trong toàn quốc để bảo đảm nguồn tuyển sinh cho các trường
- Kiến nghị Bộ Giáo dục đào tạo và các cơ quan liên quan quan tâm đến công tác định hướng, giáo dục nâng cao ý thức công dân, nhất là học sinh, sinh viên về tinh thần trách nhiệm với Tổ Quốc trong việc bảo vệ và phát triển văn học nghệ thuật; phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng các chính sách động viên, khuyến khích cho nghệ sĩ, diễn viên và học sinh, sinh viên chuyên ngành văn họá nghệ thuật, đặc biệt là các bộ môn nghệ thuật truyền thống
3 Về thiết chế, cơ sở vật chất, kinh phí:
Kiến nghị Ban Bí Thư, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ:
- Quan tâm tăng mạnh mức đầu tư phát triển hàng năm cho sự nghiệp văn hóa nghệ thuật để thực hiện các Nghị định của Chính phủ, các đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để các văn bản này đi vào cuộc sống
- Bố trí kinh phí để ứng dụng hiệu quả khoa học, công nghệ, phương tiện hiện đại, trang thiết bị, máy móc theo công nghệ mới trong lĩnh vực văn họá nghệ thuật
- Bố trí kinh phí đầu tư phát triển để xây dựng thiết chế văn hóa hiện đại, đồng bộ có trọng điểm hệ thống thiết chế văn hóa nghệ thuật như hệ thống Nhà hát, Rạp chiếu phim để phổ biến tác phẩm văn học nghệ thuật phục vụ nhân dân,
Trang 19đồng thời tạo thị trường khuyến khích các đơn vị nghệ thuật, các hãng phim sản xuất các tác phẩm nghệ thuật;
- Bố trí kinh phí đầu tư xây dựng các chương trình nghệ thuật, các bộ phim, các công trình mỹ thuật chất lượng cao;
- Bố trí tăng ngân sách cho các đơn vị quản lý và biểu diễn nghệ thuật ởTrung ương và địa phương
- Tăng mức đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về nghệ thuật biểu diễn, Cho phép khôi phục lại Chương trình mục tiêu quốc gia về Điện ảnh giai đoạn2015-2020;
- Miễn giảm tiền thuê đất, hạ mức thuế suất hoạt động sản xuất phim, biểu diễn nghệ thuật và dịch vụ liên quan;
- Hỗ trợ, tạo điều kiện cho công tác quảng bá điện ảnh, phát hành phim trong nước và nước ngoài
- Để từng bước thực hiện Đề án "Quy hoạch và Kế hoạch nâng cấp, xây mới các công trình văn hóa (nhà hát, rạp chiếu phim, nhà triển lãm văn học nghệ thuật) giai đoạn 2012-2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 09/01/2013, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ bố trí trong năm 2013 khoản kinh phí 500 tỷ đồng để triển khai các công việc cấp bách như sau:
+ Triển khai công tác chuẩn bị đầu tư: Lập dự án đầu tư nâng cấp, xây mới một số công trình văn hóa ưu tiên của giai đoạn 1 theo kế hoạch phân kỳ của Đề án
+ Đầu tư nâng cấp cho các công trình văn hóa từ quý III năm 2013 khi đã có điều kiện đầy đủ thủ tục theo quy định hiện hành (dự án được phê duyệt, thiết kế
- Kiến nghị Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan báo chí đẩy mạnh tuyên truyền, định hướng trong việc bảo tồn, giới thiệu quảng bá và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đối với văn học, nghệ thuật, đặc biệt là các loại hình nghệ thuật truyền thống./
Trang 20BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
PHỤ LỤC 1 Kết quả xây dựng 05 đề án của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị theo sự phân công của Ban Tuyên giáo
Trung ương
(kèm theo Báo cáo số /BC-BVHTTDL ngày tháng năm 2013 của Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch)
1 Đề án
“Xây dựng và rà soát các chế độ chính sách đối với hoạt
động văn học nghệ thuật và văn nghệ sỹ; chế độ tài trợ,
đặt hàng đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật; chính
sách khuyến khích sáng tác trong các hoạt động văn học
nghệ thuật”
Đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số316/QĐ-TTg ngày 01tháng 3 năm 2011
2 Đề án
“Xây dựng chính sách thẩm định, quảng bá, thuế ưu
đãi đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong
nước; văn hoá phẩm của Việt Nam đưa ra nước ngoài và
giới thiệu tinh hoa văn học, nghệ thuật của thế giới vào
Việt Nam; chính sách sưu tầm, chỉnh lý, bảo tồn, phát
huy, quảng bá di sản văn học, nghệ thuật dân tộc và
phát triển văn học, nghệ thuật quần chúng”
Đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số645/QĐ-TTg ngày 29tháng 4 năm 2011
3 Đề án
“Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường
văn hoá, nghệ thuật giai đoạn 2011-2020”
Đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số1243/QĐ-TTg ngày
25 tháng 7 năm 2011
4 Đề án
“Trên cơ sở quy hoạch và rà soát, đánh giá lại các công
trình hiện có, xây dựng kế hoạch nâng cấp, xây mới các
công trình văn hoá (nhà hát, rạp chiếu phim, nhà triển
lãm) từ năm 2010-2020”
Đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số88/QĐ-TTg ngày 09tháng 01 năm 2013
5 Đề án
“Xây dựng Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Sở hữu
trí tuệ đối với hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật”
Thay thế bằng Đề án “Xây dựng Nghị định hướng dẫn
thi hành Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở
hữu trí tuệ”
Đã được Chính phủ phê duyệt, ban hành Nghị định số
85/2011/NĐ-CP ngày
20 tháng 9 năm 2011
Trang 21BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
PHỤ LỤC 2Các văn bản pháp quy đã ban hành về quản lý Nhà nước về văn
học, nghệ thuật (giai đoạn 2009-2012)
(kèm theo Báo cáo số /BC-BVHTTDL ngày tháng năm 2013 của Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch)
Quố c hộ i :
1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (năm 2009)
2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa (năm 2009)
3 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh (năm 2009)
C hí nh phủ :
1 Nghị định số 47/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ về
xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan;
2 Nghị định số 54/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện ảnh số 62/QH11 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh số 31/2009/QH12;
3 Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa;
4 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa;
5 Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định về quản lý nhà nước và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;
6 Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan;
7 Nghị định số 109/2011/NĐ-CP ngày 02 tháng 12 năm 2011 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 47/2008/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan;
8 Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu
Trang 22Thủ tướ n g C hí nh p hủ :
1 Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức ngành văn hóa, thể thao và du lịch giai đoạn 2011-2020”;
2 Quyết định số 369/QĐ-TTg ngày 14 tháng 3 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Tiếp tục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật của các Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và các Hội Văn học nghệ thuật địa phương, tiếp tục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí chất lượng cao ở Trung ương và địa phương giai đoạn 2011-2015”;
3 Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 30 tháng 5 năm 2011 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Đề án Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên trình độ cao trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2011-2020;
4 Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Khuyến khích sáng tác và công bố các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, cứu nước giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước giai đoạn 1930-1975”;
5 Quyết định số 649/QĐ-TTg, ngày 01 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường năng lực quản lý, thực thi có hiệu quả pháp luật bảo hộ quyền tác giả quyền liên quan đối với các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả quyền liên quan tại Việt Nam đến năm 2015”;
6 Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan
Bộ V ă n h ó a , T h ể t h a o v à D u l ị ch :
1 Thông tư số 02/2011/TTLT/BVHTTDL-BTC ngày 07 tháng 3 năm 2011 của
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho hoạt động sáng tạo tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật ở Trung ương và các Hội Văn học nghệ thuật địa phương giai đoạn 2011 – 2015;
2 Thông tư số 15/2012/TT-BVHTTDL ngày 13 tháng 12 năm 2012 của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn hoạt động giám định về quyền tác giả, quyền liên quan;
3 Thông tư số 09/2010/TT-BVHTTDL ngày 24 tháng 08 năm 2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết thi hành một số điều tại Nghị định
số 75/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa;
4 Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30 tháng 6 năm 2010 của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và
Trang 23lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia;
5 Thông tư số 18/2010/TT-BVHTTDL ngày 31 tháng 12 năm 2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về tổ chức và hoạt động của bảo tàng;
6 Thông tư số 08/2010/TT-BVHTTDL ngày 18/8/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định phim của Đài Truyền hình, Đài Phát thanh- Truyền hình;
7 Thông tư số 17/2012/TT-BVHTTDL ngày 27 tháng 12 năm 2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định triển lãm, thi, liên hoan và sử dụng tác phẩm nhiếp ảnh;
8 Quyết định số 3248/QĐ-BVHTTDL ngày 10/10/2011 của Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch phê duyệt đề án “Quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2011-2020”
Bộ V ă n h ó a , T h ể t h a o v à D u l ị ch p h ố i h ợp v ớ i c á c B ộ , n
g à n h li ên q u a n :
1 Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTTDL- BKHCN-BTP ngày 03 tháng 9 năm 2008 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ tranh chấp về sở hữu trí tuệ tại Tòa
án nhân dân;
2 Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL ngày 19 tháng 6năm 2012 của Bộ Thông tin truyền thông và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng Internet và mạng viễn thông;
3 Hướng dẫn số 73/BGDĐT-BVHTTDL ngày 16 tháng 1 năm 2013 của BộGiáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở các trường phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên
Trang 24BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
PHỤ LỤC 3 Các dự án, đề án do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì xây dựng dự
kiến trình các cấp có thẩm quyền ban hành
trong năm 2013
(kèm theo Báo cáo số /BC-BVHTTDL ngày tháng năm 2013 của Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch)
thành
I Các dự án, đề án do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
chủ trì xây dựng theo chức năng quản lý Nhà nước:
2 Nghị định của Chính phủ về quản lý hoạt động mỹ thuật Quý II/2013
5 Nghị định của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, quy trình,
thủ tục, hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu “Nghệ sĩ Nhân dân”, “Nghệ sĩ Ưu tú”
Quý II/2013
6 Nghị định của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, quy trình,
thủ tục, hồ sơ đề nghị xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” và “Giải thưởng Nhà nước” về văn học nghệ thuật
Quý II/2013
7 Nghị định của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, quy trình,
thủ tục, hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân Nhân dân”, “Nghệ nhân Ưu tú”
Quý II/2013
8 Nghị định của Chính phủ quy định cơ chế hoạt động và cơ
chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, số người làm việc và tài chính đối với đơn
vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và
du lịch
Quý III/2013
9 Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
61/2002/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ nhuận bút cho tác phẩm văn học, nghệ thuật
Quý IV/2013
Trang 2510 Chiến lược phát triển văn hóa đối ngoại đến năm 2020,
14 Quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa- thể dục
thể thao cơ sở và cơ sở văn hóa vui chơi, giải trí cho trẻ
16 Quy hoạch tổng thể phát triển văn hóa, thể thao và du lịch
vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030
Quý IV/2013
17 Quy hoạch tổng thể phát triển văn hóa, thể thao và du lịch
vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2020, tầm
19 Thông tư liên tịch hướng dẫn việc đấu thầu, đặt hàng sản
xuất phim có sử dụng ngân sách Nhà nước
Quý II/2013
20 Thông tư liên tịch hướng dẫn đấu thầu, đặt hàng, giao
nhiệm vụ cung cấp hoạt động biểu diễn nghệ thuật sử
dụng ngân sách nhà nước
Quý II/2013
21 Thông tư hướng dẫn quản lý việc chiếu phim 4D, 5D Quý II/2013
22 Thông tư trả công người làm mẫu vẽ đối với lĩnh vực Mỹ
thuật
2013
23 Thông tư liên tịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và
Bộ Tài chính) hướng dẫn chế độ quản lý đặc thù đối với
Đội chiếu bóng lưu động cấp tỉnh, thành phố
2013
24 Đề án Xây dựng Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước
ngoài giai đoạn 2013-2020
Trang 2627 Đề án tăng cường mức đầu tư cho kịch bản văn học, nghệ
thuật
Quý III/2013
28 Đề án điều chỉnh mức hỗ trợ tiền ăn của văn nghệ sĩ dự
Trại sáng tác tác phẩm, công trình văn học, nghệ thuật
2 Đề án “Xây dựng quy hoạch mạng lưới sân vận động, rạp
chiếu phim, các thiết chế văn hóa, khu văn hóa vui chơi
giải trí phục vụ cộng đồng giai đoạn 2011-2020
Quý II/2013
3 Đề án “Xây dựng cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cung
cấp đối với các sản phẩm, dịch vụ văn hóa do Nhà nước
yêu cầu”
Quý III/2013
4 Đề án “Xây dựng cơ chế hoạt động và cơ chế tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy,
số người làm việc và tài chính đối với đơn vị sự nghiêp
công lập trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch”
Quý III/2013
5 Đề án “Ban hành hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật và
tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng trong lĩnh vực văn hóa, thể
thao
Quý III/2013
Trang 27BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
PHỤ LỤC 4 Tiến độ xây dựng các đề án nhánh của 05 đề án triển khai thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị “về việc tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới” của các đơn vị trực thuộc Bộ
(kèm theo Báo cáo số /BC-BVHTTDL ngày tháng năm 2013 của Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch)
STT Tên công việc Đơn vị chủ trì Tiến độ
Vụ Kế hoạch, Tài chính
Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 01/3/2011
Vụ Tổ chức cán bộ
Tờ trình số229/TTr- BVHTTDLngày 30/11/2009
3 Nghị định của Chính phủ về hoạt động nghệ thuật biểu diễn
Cục Nghệ thuật biểu diễn
Nghị định số79/2012/NĐ-CPngày 15/10/2012
4 Nghị định của Chính phủ về quản lý mỹ thuật
Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm
Tờ trình số29/TTr- BVHTTDL ngày 27/2/20125
Nghị định hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
Cục Bản quyền tác giả
Nghị định số85/NĐ-CP ngày20/9/2011
6
Đề án Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên trình độ cao trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2011-2020
Vụ Đào tạo Quyết định số
808/QĐ-TTg ngày 30/5/2011
7 Đề án Quy hoạch phát triển ngành mỹ thuật đến năm 2020 tầm nhìn 2030
Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm
Đang dự thảo
Trang 28Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về
quy hoạch tượng đài danh nhân anh
hùng dân tộc
Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm
Ngày 8/4/2011,
Bộ VHTTDL đã báo cáo Bộ Chính trị9
Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện
giao kế hoạch, đặt hàng đấu thầu sản
xuất phim, mua bản quyền phim bằng
ngân sách Nhà nước
Cục Điện ảnh Đang xin ý kiến của các cơ quan
có liên quan để hoàn thiện10
Thông tư liên tịch hướng dẫn đấu thầu,
đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp hoạt
động biểu diễn nghệ thuật sử dụng ngân
sách nhà nước
Cục Nghệ thuật biểu diễn
Đang dự thảo
11*
Đề án trình Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định về đào tạo, bồi dưỡng
và phát triển các tài năng trẻ trong lĩnh
vực VHNT
Vụ Đào tạo Tờ trình số249/TTr-
BVHTTDL ngày 6/12/201012*
Đề án trình Thủ tướng Chính phủ quyết
định về “Đưa việc giáo dục nghệ thuật
truyền thống vào chương trình giáo dục
tiểu học và trung học cơ sở”
Vụ Đào tạo Tờ trình số272/TTr-
BVHTTDLngày 21/12/2010
13 Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa Vụ Pháp chế
Nghị định số75/2010/NĐ-CPngày 12/7/2010
14 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Điện
ảnh
Cục Điện ảnh
Nghị định54/NĐ-CP ngày21/5/2010
15
Nghị định hướng dẫn thi hành Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Di
sản Văn hóa
Cuc Di sản văn hóa
Nghị định số98/2010/NĐ-CPngày 21/9/2010
h i đ ua - K h e n t h ư ở n g ( đối với tiền
thưởng cho danh hiệu Nghệ sĩ Nhân
dân, Nghệ sĩ Ưu tú)
Bộ Nội vụ chủ trì
Vụ Thi đua khen thưởng làm đầu mối phối hợp
Nghị định số42/2010/NĐ-CPngày 15/4/2010
17
Đề án xây dựng cơ chế, giải pháp về nhà
ở (cho thuê hoặc bán) cho các Nghệ sĩ
Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú hiện đang gặp
nhiều khó khăn về nhà ở
Vụ Kế hoach,Tài chính
Tờ trình số135/TTr- BVHTTDL ngày 29/6/2010
Trang 29Vụ KHTC làm đầu mối phối hợp
Thông tư liên tịch số
04/2011/TTLT- BTTTT-BTC ngày 10/01/2011
19
Đề án trình Thủ tướng Chính phủ quyết
định về việc đầu tư cho các loại hình
nghệ thuật truyền thống trong chương
trình mục tiêu quốc gia về văn hóa
Vụ Kế hoach,Tài chính
Lồng ghép trongCTMTQG về văn hóa
20 Nghị định của Chính phủ về các HộiVăn học, Nghệ thuật.
Bộ Nội vụ;
Vụ Tổ chức cán bộ làmđầu mối phốihợp
Nghị định số45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 quy định về tổ chức, hoạt động
và quản lý hội
21 Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số61/2002/NĐ-CP về chế độ nhuận bút Cục Bản quyền tác giả
Đang dự thảo,
dự kiến trình Lãnh đạo Bộ quý IV/2013
22
Đề án trình Thủ tướng Chính phủ quyết
định về việc đầu tư kinh phí cho các
báo, tạp chí, nhà xuất bản của các Hội
VHNT
Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam
Vụ KHTC làm đầu mối phối hợp
Đang dự thảo,
dự kiến trình Thủ tướngChính phủ trongtháng 6/2013
23
Đề án “Tiếp tục hỗ trợ hoạt động sáng
tạo tác phẩm, công trình văn học, nghệ
thuật của các Hội Văn học, nghệ thuật
chuyên ngành Trung ương và các Hội
Văn học, nghệ thuật địa phương Tiếp
tục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm
báo chí chất lượng cao ở Trung ương và
địa phương giai đoạn 2011-2015”
Liên Hiệp các Hội VHNT Việt Nam
Vụ KHTC làm đầu mối phối hợp
Quyết định số369/QĐ-TTg ngày 14/3/2011 của TTCP phê duyệt Đề án
24
Đề án trình Thủ tướng Chính phủ quyết
định về việc trao giải thưởng hàng năm
cho các tác giả trên lĩnh vực VHNT
Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam
Vụ KHTC làm đầu mối phối hợp
Đang dự thảo,
dự kiến trình Thủ tướngChính phủ trongtháng 6/2013
Trang 3025 Đề án 2: Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường văn hoá,
nghệ thuật giai đoạn 2011-2020
Vụ Đào tạo Quyết định số
1243/QĐ-TTg ngày 25/7/2011
26
Đề án 3: Xây dựng chính sách thẩm
định, quảng bá, thuế ưu đãi đối với
các tác phẩm văn học, nghệ thuật
trong nước; văn hoá phẩm của Việt
Nam đưa ra nước ngoài và giới thiệu
tinh hoa văn học, nghệ thuật của thế
giới vào Việt Nam; chính sách sưu
tầm, chỉnh lý, bảo tồn, phát huy, quảng
bá di
sản văn học, nghệ thuật dân tộc và
phát triển văn học, nghệ thuật quần
Vụ Kế hoạch, Tài chính
Quyết định số 645/QĐ-TTg ngày 29/4/2011
27* Chính sách về cơ chế thẩm định các tácphẩm văn học, nghệ thuật
Vụ Kế hoạch,Tài chính
Bộ VHTTDL đã báo cáo tại Công văn số
KHTC ngày24/3/2011
866/BVHTTDL-28 Chính sách về quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật:
Viện Văn hóa Nghệ thuật VN
Đang hoàn thiện
29 Chính sách về thuế ưu đãi các tác phẩm văn học, nghệ thuật
Viện Văn hóa Nghệ thuật VN
Đang hoàn thiện
30
Thông tư liên tịch quy định về chế độ,
danh mục và định mức chi phí cho các
hoạt động văn hóa đối ngoại, đặc biệt là
việc tổ chức Tuần Việt Nam ở nước
ngoài, các hoạt động quảng bá văn học,
nghệ thuật, đất nước, con người Việt
Nam ở nước ngoài:
Cục Hợp tác quốc tế
Thông tư số102/2012/TT- BTC ngày21/6/2012
31 Đề án Bảo tồn và phát huy nghệ thuật
biểu diễn truyền thống đến năm 2020 Viện Văn hóa Nghệ thuật
VN
Tờ trình số197/TTr- BVHTTDLngày 24/10/2011
33 Thông tư quy định chế độ thưởng đặc Vụ Thi đua Đề nghị không
Trang 31thù cho các tác phẩm văn học nghệ thuật
đỉnh cao
khen thưởng ban hành, tránh
chồng chéo với các văn bản khác
34
Quy hoạch về thời gian, địa bàn, loại
hình nghệ thuật Việt Nam đi biểu diễn
nước ngoài giai đoạn 2011-2020
Cục Hợp tácQuốc tế
Tờ trình số19/TTr- BVHTTDL ngày 9/2/2011
35
Chương trình quốc gia về các loại sách
trọng yếu phục vụ công cuộc đổi mới và
phát triển đất nước trong giai đoạn mới
và được Chính phủ, Quốc hội bố trí
ngân sách hàng năm
Vụ Thư viện
Thực hiện trong Chương trình Mục tiêu quốc gia về văn hóa hàng năm
36
Đề án 4: Trên cơ sở quy hoạch và rà
soát, đánh giá lại các công trình hiện
có, xây dựng kế hoạch nâng cấp, xây
mới các công trình văn hoá (nhà hát,
rạp chiếu phim, nhà triển lãm) từ năm
2010-2020
Vụ Kế hoạch, Tài chính Quyết định số 88/QĐ-TTg
ngày 09/01/2013
37
Đề án 5: Xây dựng Thông tư hướng
dẫn thực hiện Luật Sở hữu trí tuệ đối
với hoạt động văn hoá, văn học, nghệ
thuật
Cục Bản quyền tác giả
Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20/9/2011
* Ghi chú:
1 Văn bản số 2: Nghị định của Chính phủ về đổi mới cơ chế hoạt động
và cơ chế tài chính (trong đó có tiền lương) đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch: Văn phòng Chính phủ đã
có Công văn số 1344/VPCP-KGVX ngày 03 tháng 3 năm 2010 nêu rõ ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng: “Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch chủ trì cùng Bộ Tài chính, căn cứ Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công” sau khi được Chính phủ phê duyệt, để nghiên cứu hoàn chỉnh Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch”, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, trình phê duyệt theo quy định”
2 Văn bản số 11: Đề án trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về đào tạo, bồi dưỡng và phát triển các tài năng trẻ trong lĩnh vực VHNT: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức Hội thi tài năng trẻ học sinh, sinh viên các trường văn hóa, thể thao và du lịch lần thứ nhất năm
2012 tại Đà Nẵng Thông qua hội thi này đã tuyển chọn các tài năng trẻ để đưa đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài trong thời gian tới Hiện nay, Bộ
Trang 32Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang thành lập Ban chỉ đạo, Tổ biên tập xây dựng các dự án, quy chế tuyển chọn cán bộ, giảng viên, giáo viên, học sinh, sinh viên văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài năm 2013; thành lập hội đồng tuyển chọn cán bộ, giảng viên, giáo viên, học sinh, sinh viên đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài.
3 Văn bản số 12: Đề án trình Thủ tướng Chính phủ quyết định về “Đưa việc giáo dục nghệ thuật truyền thống vào chương trình giáo dục tiểu học và trung học cơ sở”: Trên cơ sở Đề án này, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và ban hành Hướng dẫn số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL ngày 16 tháng
01 năm 2013 về việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên
4 Văn bản số 27: Chính sách về cơ chế thẩm định các tác phẩm văn học, nghệ thuật: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã báo cáo tại Công văn
số 866/BVHTTDL-KHTC ngày 24/3/2011 về việc Đề án trình Thủ tướng Chính phủ quyết định về việc thẩm định các tác phẩm VHNT trong các lĩnh vực: Điện ảnh, Nghệ thuật biểu diễn, Mỹ thuật nhiếp ảnh, Xuất bản
và văn học Trong Công văn nêu rõ: “Tiếp thu ý kiến góp ý của các Cơ quan liên quan, đặc biệt là ý kiến của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thống nhất với quan điểm không nhất thiết phải trình Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt đề án”, vì:
- Việc thẩm định các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong các lĩnh vực điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật nhiếp ảnh, xuất bản và văn học thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Các nội dung mang tính giải pháp của Dự thảo đề án bao gồm việc ban hành các văn bản thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch sẽ tiếp tục nghiên cứu xây dựng, ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền của Bộ, hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách về thẩm định các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong các lĩnh vực Điện ảnh, Nghệ thuật biểu diễn, Mỹ thuật nhiếp ảnh, Xuất bản và Văn học
Trang 33ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SAU 5 NĂM THỰC HIỆN
NGHỊ QUYẾT 23 - NQ/TW
Vũ Công Hội Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa, Văn nghệ
Ban Tuyên giáo Trung ương
1 Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, văn nghệ dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có 03 dấu mốc quan trọng: Đó là Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943; Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khóa VIII) “về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” ngày 16/7/1998 và Nghị quyết 23 - NQ/ TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị “về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”.
Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị đã tập trung đánh giá tình hình văn học, nghệ thuật trong thời gian qua và đề ra mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, chủ trương
và giải pháp tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới Về mục tiêu, nghị quyết nhấn mạnh: tập trung mọi nguồn lực xây dựng nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nhân cách con người Việt Nam…; xây dựng, phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ Việt Nam một cách toàn diện cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu loại hình, có các thế hệ nối tiếp nhau vững chắc, có tình yêu Tổ quốc nồng nàn, gắn bó sâu sắc với nhân dân, với sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo, có năng lực sáng tạo phong phú, đa dạng, đoàn kết, gắn bó cùng phát triển trong cộng đồng các dân tộc anh em trên đất nước ta Quan điểm chỉ đạo các hoạt động văn học nghệ thuật trong Nghị quyết đã nhấn mạnh:
Văn học nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa;
là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người…
Tài năng văn học, nghệ thuật là vốn quý của dân tộc Chăm lo phát hiện, bồi dưỡng, quý trọng và phát huy các tài năng văn học, nghệ thuật là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của Đảng, Nhà nước và của cả các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp
Các chủ trương và giải pháp thực hiện mà Nghị quyết đề ra bao gồm nhiều lĩnh vực: sáng tác, lý luận, phê bình, sản xuất các tác phẩm văn học nghệ thuật (VHNT); đào tạo bồi dưỡng đội ngũ hoạt động VHNT và công tác lãnh đạo, điều hành quản lý, đầu tư, tài trợ các hoạt động VHNT…
2 Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị ra đời được những người hoạt động trên lĩnh vực VHNT nói riêng, cả xã hội nói chung rất quan tâm Vì trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, bên cạch những thành tựu đã đạt được, hoạt động văn học nghệ thuật còn bộc lộ nhiều yếu kém, khuyết điểm: ít tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật; hoạt động lý luận văn học, nghệ thuật còn lạc hậu về nhiều mặt chưa xứng đáng với vai trò, vị trí của nó; một số tác phẩm văn học, nghệ thuật tầm thường, chất lượng
Trang 34kém được phát hành, truyền bá gây tác hại, ảnh hưởng xấu tới công chúng, nhất là thế hệ trẻ; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sỹ còn nhiều bất cập, yếu kém, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của các cấp ủy đảng, cơ quan nhà nước bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, nội dung và phương pháp lãnh đạo chậm đổi mới…
mà nguyên nhân chính là: Sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước về quan điểm, chủ trương, chính sách, về đầu tư kinh phí cho lĩnh vực văn học, nghệ thuật chưa đúng tầm và đúng mức Chủ trương tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, văn nghệ - nền tảng tinh thần của xã hội - chưa được quán triệt
và thực hiện nghiêm túc Một số cấp ủy, chính quyền chưa coi trọng và thiếu hiểu biết đầy đủ về vai trò, tính đặc thù của văn học, nghệ thuật, chậm thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng Đầu tư cho văn hóa, văn nghệ chưa tương xứng với yêu cầu mới, chưa hợp lý và kém hiệu quả Những vấn đề mà Nghị quyết nêu ra được các cấp, các ngành quan tâm, có ảnh hưởng trong đời sống
xã hội Ban Bí thư đã thành lập Ban Chỉ đạo triển khai một số Đề án thực hiện Nghị quyết 23; Chính phủ, các bộ, ban, ngành, đoàn thể đã chủ động triển khai với ý thức và tinh thần trách nhiệm cao Ban Chỉ đạo đã phân công các cơ quan, đơn vị thực hiện các đề án cụ thể như sau:
Đề án trình Chính phủ (có 07 đề án)
a/ Đề án 1: Xây dựng Nghị định về các Hội văn học, nghệ thuật trong thời
kỳ mới
- Cơ quan chủ trì: Ban cán sự Bộ Nội vụ
- Cơ quan phối hợp: Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương,
Ban cán sự đảng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đảng đoàn Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội văn học, nghệ thuật Trung ương
b/ Đề án 2: Xây dựng và rà soát các chế độ chính sách đối với hoạt động văn học, nghệ thuật và văn nghệ sĩ Chế độ tài trợ, đặt hàng đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật Chính sách khuyến khích sáng tạo trong các hoạt động văn học, nghệ thuật và thành lập Quỹ sáng tác.
- Cơ quan chủ trì: Ban cán sự Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Cơ quan phối hợp: Ban cán sự đảng Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ
Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Đảng đoàn Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội văn học, nghệ thuật Trung ương
c/ Đề án 3: Xây dựng chính sách thẩm định, quảng bá, thuế ưu đãi… đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong nước; văn hóa phẩm của Việt Nam đưa
ra nước ngoài và giới thiệu tinh hoa văn học, nghệ thuật của thế giới vào Việt Nam; chính sách bảo tồn, quảng bá, phát huy di sản văn học, nghệ thuật dân tộc, nghiên cứu, sưu tầm, chỉnh lý vốn văn học, nghệ thuật truyền thống, xây dựng và phát huy văn học, nghệ thuật quần chúng; chính sách xuất bản, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật đến với công chúng qua các ấn phẩm văn hóa, các phương tiện thông tin đại chúng.
Trang 35- Cơ quan chủ trì: Ban cán sự Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Cơ quan phối hợp: Ban cán sự đảng Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ
Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Đảng đoàn Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội văn học, nghệ thuật Trung ương
d/ Đề án 4: Trên cơ sở quy hoạch và rà soát, đánh giá lại các công trình hiện
có, xây dựng kế hoạch nâng cấp, xây mới các công tình văn hóa (nhà hát, rạp chiếu phim, nhà triển lãm) từ năm 2010-2020.
- Cơ quan chủ trì: Ban cán sự Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Cơ quan phối hợp: Ban cán sự đảng Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ
Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Đảng đoàn Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội văn học, nghệ thuật Trung ương
e/ Đề án 5: Xây dựng Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Sở hữu trí tuệ đối với hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật.
- Cơ quan chủ trì: Ban cán sự Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Cơ quan phối hợp: các cơ quan hữu quan.
g/ Đề án 6: Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường văn hóa, nghệ thuật.
- Cơ quan chủ trì: Ban cán sự Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Cơ quan phối hợp: Ban cán sự đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Tuyên
giáo Trung ương
h/ Đề án 7: Xây dựng chương trình giáo dục thẩm mỹ cho thanh thiếu niên, đặc biệt là học sinh, sinh viên trong các trường học.
Cơ quan chủ trì: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Cơ quan phối hợp: Bộ Văn hoá - Thể thao & Du lịch,Bộ Thông tin &
Truyền thông, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, các Hội VHNT Việt Nam
Đề án trình Ban Bí thư (có 02 đề án)
i/ Đề án 8: Xây dựng chương trình, nội dung đào tạo về văn học, nghệ thuật trong hệ thống các trường chính trị-hành chính.
- Cơ quan chủ trì: Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
- Cơ quan phối hợp: Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban cán sự đảng Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
k/ Đề án 9: Tiêu chuẩn, cơ chế lựa chọn, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới.
- Cơ quan chủ trì: Ban Tổ chức Trung ương.
Trang 36- Cơ quan phối hợp: Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban cán sự đảng Bộ Nội
vụ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội văn học, nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội văn học, nghệ thuật Trung ương
Đến tháng 11/2010 đã có 3 đề án hoàn thành và ra được những chính sách cụ thể Đó là đề án do Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì:
Xây dựng chương trình, nội dung đào tạo về văn học, nghệ thuật trong hệ thống các trường chính trị- hành chính; Đề án do Ban Tổ chức Trung ương chủ trì được Ban Bí thư ban hành Quy định số 284-QĐ/TW, ngày 05/02/2010 về tiêu chuẩn, cơ chế lựa chọn, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thật Đề án do Bộ Nội vụ chủ trì trình Chính phủ ra Nghị định số 45/2010/NĐ-
CP Ngày 21/4/2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, trong đó có Chương VI: Một số quy định áp dụng đối với các hội có tính chất đặc thù( các hội văn học nghệ thuật thuộc nhóm này) Đề án của Học viện Chính trị-Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh chính thức được triển khai từ năm 2010, đã tổ chức 24 lớp bồi dưỡng cho học viên các tỉnh, thành (trung bình mỗi lớp có 100 học viên); được đưa vào chương trình đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ của Viện Văn hóa và phát triển
Các đề án do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thiện trình Chính phủ ban hành 09 Quyết định, 05 Nghị định; Bộ đã ban hành 01 Quyết định, 05 Thông
tư, phối hợp với Bộ Tài chính ban hành 01 Thông tư và hoàn thành gần 20 văn bản dự kiến trình Thủ tướng ban hành trong thời gian tới liên quan đến các lĩnh vực hoạt động mà Bộ quản lý về mặt Nhà nước Trong số đó, tại Quyết định369/QĐ-TTg ngày 14 tháng 3 năm 2011 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án Tiếp tục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật của các Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và các hội văn học nghệthuật địa phương, tiếp tục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí chất lượng cao ở trung ương và địa phương giai đoạn 2011-2015; Quyết định 844/QĐ-TTg
ngày 01 tháng 6 năm 2011 của Thủ tướng về việc phê duyệt Đề án “Khuyến khích sáng tác và công bố các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng
và nghệ thuật, phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cứu nước giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước giai đoạn 1930- 1975”…Có
thể nói, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ động, tích cực trong việc xâydựng, hoàn thiện những văn bản nhằm thực hiện Nghị quyết 23- NQ/TW
Chính phủ đã kịp thời bổ xung 30 tỷ đồng cho hoạt động văn học, nghệ thuật
và nâng mức giải thưởng các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong năm 2010 Thông qua Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học, nghệ thuật Việt Nam, Chính phủ đã hỗ trợ sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật và báo chí giai đoạn 2011-2015 với kinh phí 430 tỷ đồng Trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, việc Chính phủ hỗ trợ cho văn học, nghệ thuật và báo chí là một điều đáng quý, giúp cho đội ngũ văn nghệ sĩ, các hội văn học nghệ thuật, nhất là những tỉnh còn nhiều khó khăn có điều kiện sáng tác, quảng bá tác phẩm Ngoài
ra, một số dự án, một số cuộc vận động sáng tác khác do các hội chuyên ngành đề xuất cũng được Chính phủ phê duyệt và cấp kinh phí
Trang 37Một số địa phương đã chỉ đạo Hội văn học nghệ thuật, Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch cùng với các ban ngành xây dựng đề án phát triển văn học nghệ thuật đến năm 2015-2020 (Hải Dương, Bến Tre…) Bổ sung về kinh phí cho hội VHNT tổ chức các trại sáng tác, hỗ trợ in ấn, quảng bá tác phẩm Đồng thời, nhiều hình thức tôn vinh, khích lệ, động viên văn nghệ sĩ đã được các tỉnh tổ chức như: Hàng năm xét, tặng giải cho những tác phẩm xuất sắc (Phú Thọ, Bắc Ninh,
TP Hồ Chí Minh…); tại các cuộc Liên hoan ảnh nghệ thuật, triển lãm mỹ thuật ỏ các khu vực hàng năm, cùng với giải thưởng của Hội Trung ương, nhiều tỉnh đã tặng thêm cho những tác giả là người địa phương Nhiều doanh nghiệp của các tỉnh đứng ra tài trợ cho hoạt động sáng tác, quảng bá văn học, nghệ thuật Có thể nói, Nghị quyết 23 đã và đang đi vào cuộc sống với ý thức, tâm huyết của các tầng lớp nhân dân trong xã hội
3 Tuy vậy, sau 5 năm thực hiện, Nghị quyết 23-NQ/TW vẫn còn nhiều vấn
đề cần được tiếp tục triển khai Một là, Chính phủ và các ngành hữu quan quan tâm phối hợp giải quyết những vướng mắc về thể chế trong việc phát triển văn học, nghệ thuật như: chính sách về chế độ làm việc, chế độ tiền lương đối với nghệ thuật truyền thống( chèo, tuồng, cải lương, ca trù…) Thứ hai là vấn đề nguồn nhân lực cho ngành (đào tạo, tuyển chọn, tuyển dụng, chính sách đãi ngộ với những nghệ sĩ tài năng…) Thứ ba là, tăng cường cơ sở vật chất cho các thiết chế văn hóa cơ sở, cho phép khôi phục lại Chương trình mục tiêu quốc gia về Điện ảnh (giai đoạn 2015-2020), chú trọng đầu tư trang thiết bị cũng như khoa học, công nghệ trong lĩnh vực điện ảnh Thứ tư là, các ngành chức năng quan tâm phối hợp với Bộ thực thi nghiêm minh pháp luật, khắc phục tình trạng vi phạm bản quyền, thực thi Luật sở hữu trí tuệ tạo môi trường sáng tạo lành mạnh Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, định hướng trong việc giữ gìn, giới thiệu quảng bá
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là các loại hình nghệ thuật truyền thống
4 Thời gian tới, chúng ta cần tiếp tục tuyên truyền sâu rộng về Nghị quyết23- NQ/TW trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là trong cán bộ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến địa phương và đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức.Trong điều kiện đất nước còn gặp nhiều khó khăn nhưng Đảng, Chính phủ luôn quan tâm đến văn nghệ sĩ bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả
Ngành văn hóa nên tập trung nguồn lực giải quyết những vấn đề bức xúc nhất hiện nay như: nghệ thuật truyền thống, hoạt động điện ảnh và đào tạo nhân lực
Tăng cường phối hợp hoạt động với các bộ, ngành chức năng, với các địaphương trong cả nước để triển khai có hiệu quả những vấn đề liên quan đến quản
lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ Nên có sự gắn bó chặt chẽ hơngiữa các đơn vị thuộc Bộ với các Hội chuyên ngành Trung ương cũng như với Ủyban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học, nghệ thuật Việt Nam
Trang 38BÁO CÁO HỘI NGHỊ
5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 23 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ VĂN
HỌC NGHỆ THUẬT
Nhà văn Đỗ Kim Cuông Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam
1 Về tổ chức hoạt động của các Hội Văn học nghệ thuật hiện nay
Theo số lượng thống kê chưa đầy đủ, biến động theo từng năm, hiện nay,
số lượng văn nghệ sỹ cả nước do các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, thành phố quản lí là gần 40.000 người Trong đó:
- Hội viên Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương: 18.000 người
- Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, thành phố: xấp xỉ 22.000 người
Cơ chế chỉ đạo, quản lí chung là: Cấp uỷ đảng trực tiếp chỉ đạo các Hội Văn học nghệ thuật Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ quản lí biên chế
Nhìn chung, tổ chức các Hội Văn học nghệ thuật từ Trung ương đến địa phương đều được các cấp uỷ Đảng quan tâm chỉ đạo, Nhà nước hỗ trợ kinh phí để hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương
2 Đánh giá tổng quan về tình hình Văn học nghệ thuật hiện nay
Trong sáng tạo nghệ thuật, về căn bản, các tác phẩm văn nghệ đi đúng hướng phản ánh hiện thực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN hôm nay, các tác giả tiếp tục tái hiện hiện thực cách mạng và kháng chiến hào hùng của dân tộc (1945 – 1975), lịch sử kiên cường bất khuất và những truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta Văn nghệ cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái mới tiến bộ, tạo dựng những tấm gương điển hình của con người thời đại: người lao động sáng tạo (công nhân, nông dân, trí thức), những người làm giàu chân chính cho đất nước (thương nhân, nhà doanh nghiệp, nhà kinh doanh), bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn an ninh xã hội (chiến sĩ lực lượng vũ trang, công an nhân dân)
Văn nghệ phê phán khá mạnh mẽ cái tiêu cực (tình trạng mất dân chủ, tham nhũng, lộng quyền và lạm quyền, thoái hóa biến chất về lý tưởng, đạo đức, lối sống vị kỉ, không tinh nghĩa, chạy theo đồng tiền và lợi ích vật chất thiển cận ).Văn nghệ sĩ được đảm bảo tự do sáng tạo, được chú trọng bảo vệ bản quyền
về sáng tác, biểu diễn Từ năm 2000 nhà nước đảm bảo hỗ trợ cho việc sáng tạo
và quảng bá tác phẩm, duy trì hoạt động của tổ chức Hội VHNT với tư cách là tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp Nhà nước đã thực hiện thể chế hóa tổ chức của Hội trong văn bản Pháp lệnh về Hội nghề nghiệp đặc thù trong đó có Hội
VHNT Song, đội ngũ văn nghệ sỹ đã có sự phân hoá: một bộ phận lớn văn
Trang 39nghệ sỹ (những người cao tuổi gắn bó với cách mạng và kháng chiến) là lực lượng nòng cốt trong các Hội Văn học nghệ thuật vẫn giữ quan điểm sáng tác của Đảng Còn một bộ phận văn nghệ sỹ trẻ, có tài, có tác phẩm hiện nay hành nghề
tự do, không muốn vào Hội Tác phẩm của họ tự xuất bản, tổ chức biểu diễn, làm phim theo đơn đặt hàng của các Háng tư nhân Nội dung tác phẩm chủ yếu đề cập tới hiện thực đời sống xã hội đương đại với cách nhìn, cách nghĩ của giới trẻ Tác phẩm ít có chiều sâu về tư tưởng, giá trị nhân văn nhưng lại được các cơ quan truyền thông quảng bá rộng rãi có tác động không nhỏ đến thị hiếu thẩm mĩ cảu công chúng (nhất là tầng lớp bình dân và giới trẻ)
Về nghiên cứu, lý luận, phê bình, đã đẩy lùi khuynh hướng phủ nhận thành tựu của văn nghệ cách mạng, kháng chiến, kiên trì bảo vệ và phát triển đường lối văn học nghệ thuật mácxit-leninit và tư tuởng văn nghệ Hồ Chí Minh
Bước đầu quan tâm thu hút lực lượng văn nghệ sĩ Việt Nam yêu nước tiến
bộ đang định cư ở nước ngoài về nước tham gia sáng tác, biểu diễn, phát huy những giá trị truyền thống văn nghệ của cộng đồng dân tộc Việt Nam
Thực hiện hợp tác giao lưu văn hóa với nước ngoài qua dịch thuật, xuất bản, lưu diễn, tổ chức trại sáng tác quốc tế ở Việt Nam và dự các liên hoan văn nghệ, các cuộc thi biểu diễn ở nước ngoài
Tuy nhiên mặt trận văn nghệ còn bộc lộ những khuyết nhuợc điểm:
- Cá biệt có VNS chưa đề cao trách nhiệm xã hội, công dân, suy giảm lòng tin vào sự nghiệp cách mạng, phát ngôn, viết hồi ký, sách báo bộc lộ sự dao động hoài nghi về lý tưởng và niềm tin về sự phát triển của đất nước trong vận hội mới
- Vẫn tồn tại dai dẳng khuynh hướng thuơng mại hóa, giải trí tầm thường hóa
ở một số lĩnh vực, chi phối một bộ phận công chúng (âm nhạc, điện ảnh, sân khấu)
- Thiếu vắng những tác phẩm giá trị tâm huyết, để đời, của những cá tính sáng tạo độc đáo, nghệ sĩ lớn bậc thầy Còn có biểu hiện dễ dãi bằng lòng với tình trạng nghiệp dư, “ăn xổi ở thì”, chiều theo thị hiếu cũ kĩ, hoặc tầm thường, thậm chí lập dị, ngộ nhận dưới danh nghĩa các trào lưu thời thượng như: hậu hiện đại, giải cấu trúc, đại tự sự
3 Về tư tưởng của đội ngũ văn nghệ sỹ
Trước tình hình diễn biến phức tạp của xã hội hiện nay: thách thức khó khăn về kinh tế, đời sống của đại bộ phận anh chị em văn nghệ sỹ còn vất vả, cơ cực (kể cả người đang hưởng lương và người đã về hưu) đồng lương không đủ sống, những tác động xấu của xã hội trong nước (tệ tham nhũng, cửa quyền, tệ nạn xã hội…) và những thông tin kích động của kẻ xấu trên các trang mạng…, vấn đề biển Đông… Nhưng nhìn chung, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng,
chính quyền từ trung ương đến địa phương, đại bộ phận anh chị em văn nghệ sĩ
vẫn tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới và những quyết sách của Đại hội Đảng lần thứ XI vạch ra Biểu hiện là: kiên trì, tâm huyết với công việc sáng tạo của
người nghệ sỹ, gắn bó với các giá trị truyền thống yêu nước và cách mạng, khẳng định các giá trị đạo đức, nhân văn của dân tộc Các cuộc thi sáng tác, các công trình nghiên cứu, sưu tầm văn hóa, Văn học nghệ thuật do các Hội tổ chức vẫn
Trang 40được anh chị em văn nghệ sỹ tham gia hưởng ứng với sự say mê, tâm huyết Có
thể khẳng định: Chính tình hình tư tưởng của đội ngũ văn nghệ sỹ hiện nay góp
phần quan trọng cho sự ổn định chính trị của xã hội, của đất nước.
Có được sự ổn định này là nhờ lòng yêu nước, gắn bó với sự nghiệp cách
mạng của Đảng, của dân tộc ở mỗi người văn nghệ sỹ Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Văn học nghệ thuật trong tình hình mới làm sáng rõ, minh bạch quan điểm của Đảng ta cùng với những cơ chế chính sách về Văn học nghệ thuật và đời sống văn nghệ sỹ từng bước được cải thiện, tháo gỡ, tạo được niềm tin của người nghệ sỹ với Đảng, gắn bó với vận mệnh của đất nước
- Việc Chính phủ tiếp tục “Hỗ trợ cho các công trình Văn học nghệ thuật và báo chí giai đoạn 2011 - 2015” thực sự là nguồn khích lệ đối với văn nghệ sỹ và báo chí cả nước Tuy kinh phí hỗ trợ còn ít (80 tỷ đồng/năm), mỗi hội Văn học nghệ thuật tỉnh, thành phố được hỗ trợ trên dưới 500 triệu đồng nhưng đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn cho các hoạt động văn nghệ của cả nước hiện nay, nhất là đối với các địa phương còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế (các tỉnh, thành phố mức thu nhập thấp, các tỉnh miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số)
Song tình hình tư tưởng của một số (rất ít) văn nghệ sỹ vẫn còn những biểu hiện sau:
- Một số văn nghệ sỹ chưa thật sự tin tưởng vào các Nghị quyết của Đảng,
và Chính sách của Nhà nước (như việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về củng cố xây dựng Đảng) Bộ phận này chịu tác động bởi những hiện tượng xấu đang diễn ra trong xã hội như: tham nhũng, tiêu cực trong kinh tế, đất đai, sự lộng hành của một số cán bộ có chức, có quyền không thực hiện đúng 19 điều quy định đối với Đảng viên, tác động của các luồng thông tin xấu (qua báo chí, dư luận xã hội…)
- Một số văn nghệ sỹ còn chịu tác động trực tiếp của những kẻ xấu gây chia
rẽ, kích động, phủ nhận thành quả của cách mạng và kháng chiến, lợi dụng tình hình phức tạp đang diễn ra ở Biển đông, phê phán sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Số văn nghệ sỹ này không nhiều, nhưng lợi dụng không khí đổi mới, dân chủ công khai, sự lỏng lẻo trong quản lí báo chí, từng lúc, từng nơi tìm cách bộc
lộ, tạo dư luận chú ý
Đây cũng là vấn đề rất cần được các cơ quan quản lý Văn học nghệ thuật quan tâm Kiên trì và kiên quyết đấu tranh không cho kẻ xấu lợi dụng thực hiện
âm mưu “diễn biến hoà bình” trong đội ngũ văn nghệ sỹ
- Năm 2012, ở một số Hội VHNT các tỉnh thành phố đã tiến hành đại hội, củng cố tổ chức bầu ra Ban chấp hành mới Dấu hiệu đáng mừng là ở một số các địa phương trước đây có tình trạng mất đoàn kết, kéo dài nhiệm kỳ của Đại hội đã được khắc phục Tuy nhiên qua thực tiễn công tác quản lý ở các Hội, đội ngũ lãnh đạo ở một số Hội cũng còn nhiều bất cập, thiếu cán bộ lãnh đạo văn nghệ chuyên trách, có uy tín cao về nghề nghiệp và trong hội viên Cho đến nay ở một vài hội biên chế hoạt động còn ít (3 - 5 người) Kinh phí hoạt động thấp, cơ sở vật chất để phục vụ cho các hoạt động VHNT còn thiếu