1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh với xu hướng đoàn kết, hợp tác khu vực đông nam á và sự vận dụng của đảng trong thời kỳ đổi mới

59 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 228 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hoạt động của mình, khi gắn phong trào yêu nước với phongtrào cách mạng thế giới, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh rất coi trọng đếnkhu vực Đông Nam Á, vốn có quan hệ truyền thống lâu

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước, Quân đội nhân dân Việt Nam… và cũng là người đặt nền móng chonền ngoại giao Việt Nam thời kỳ hiện đại Trong toàn bộ nội dung phongphú của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, những nguyên lý,quan điểm, luận điểm về đường lối quốc tế chính sách đối ngoại và về ngoạigiao Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh cùng với lý luận của Đảng trên cáclĩnh vực quốc tế và đối ngoại hợp thành một chỉnh thể Tư tưởng Hồ ChíMinh “là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân téc ta”1, là kim chỉ namcho hoạt động quốc tế và ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta

Trong hoạt động của mình, khi gắn phong trào yêu nước với phongtrào cách mạng thế giới, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh rất coi trọng đếnkhu vực Đông Nam Á, vốn có quan hệ truyền thống lâu đời và lợi Ýchchung về độc lập dân téc và tiến bộ xã hội Điểm nổi bật trong tư tưởng HồChí Minh là xu hướng đoàn kết và hợp tác khu vực Tư tưởng này hìnhthành qua nhiều giai đoạn gắn với quá trình đấu tranh cách mạng của Người,

đã có tác dụng cụ thể và ngày nay vẫn có ý nghĩa to lớn

Trong xu thế tăng cường liên kết khu vực, chủ trương của Đảng đưanước ta gia nhập ASEAN đã được chứng minh là đúng đắn và kịp thời trướctình hình thực tế những năm cuối của thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX.Đảng ta đã sớm nhận thấy sự cần thiết phải mở rộng, phát triển hơn nữa mốiquan hệ láng giềng, hữu nghị với các nước trong khu vực và ASEAN là mộtđối tác quan trọng ở Đông Nam Á mà chúng cần hướng tới ASEAN là một

1

§¶ng Céng s¶n ViÖt Nam: V¨n kiÖn §¹i héi §¹i biÓu Toµn quèc lÇn thø IX, Nxb CTQG, HN 2001, tr.84.

Trang 2

tổ chức khu vực có uy tín, có mối quan hệ rộng rãi, có nền kinh tế phát triểnnăng động Việc tham gia ASEAN sẽ đem lại cho Việt Nam nhiều lợi Ýchquan trọng.

Ngày 27/8/1995 tại Thủ đô Banđa Sêri Bêgaoan của BrunâyĐarutxalam lễ kết nạp Việt Nam vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á đãđược tổ chức

Quyết định gia nhập ASEAN năm 1995 là một bước ngoặt quan trọngtrên mặt trận đối ngoại của Việt Nam Thực hiện chính sách đối ngoại rộng

mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, với mục tiêu hàng đầu làcủng cố môi trường hoà bình, ổn định, đồng thời tranh thủ những điều kiệnquốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc của ta, việc ViệtNam gia nhập ASEAN không chỉ đánh dấu bước đi đầu tiên trong tiến trìnhhội nhập khu vực và quốc tế, mà còn mở đầu cho quá trình thống nhất ĐôngNam Á trong một tổ chức hợp tác khu vực chung vốn là ý tưởng ban đầu củaHiệp hội

Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh với xu hướng đoàn kết, hợp táckhu vực Đông Nam Á và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới có ý

nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Vì vậy, em chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí

Minh với xu hướng đoàn kết, hợp tác khu vực Đông Nam Á và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới” làm luận văn tốt nghiệp líp đào tạo giảng

viên tư tưởng Hồ Chí Minh

2 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

2.1 Mục đích của luận văn

- Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh với xu hướng hợp tác, đoàn kết, hợp

tác khu vực Đông Nam Á và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới 2.2 Nhiệm vụ của luận văn

Trang 3

- Làm rõ những hoạt động của Hồ Chí Minh nhằm đoàn kết các nướcĐông Nam Á trong cuộc đấu tranh giải phóng dân téc.

- Trình bày chủ trương, đường lối của đảng trong việc đưa nước ta hộinhập khu vực

3 Giới hạn và lịch sử nghiên cứu vấn đề

- Về giới hạn nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tư tưởng Hồ ChíMinh với xu hướng đoàn kết, hợp tác khu vực Đông Nam Á và chủ trươngcủa đảng đưa Việt Nam hội nhập với khu vực

- Về lịch sử nghiên cứu vấn đề: Nghiên cứu về tư tưởng ngoại giao

Hồ Chí Minh có nhiều công trình nghiên cứu như: Tư tưởng ngoại giao Hồ

Chí Minh của tác giả Nguyễn Dy Niên; Hoạt động đối ngoại của Chủ tịch

Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống pháp của tác giả Đặng văn Thái; Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1954 - 1969 của tác giả

Trần Minh Trưởng; Tư tưởng đối ngoại của Hồ Chí Minh của tác giả Đinh

Xuân Lý Song chưa có một công trình nào nghiên cứu tư tưởng Hồ ChíMinh với xu hướng đoàn kết, hợp tác khu vực Đông Nam Á và sự vận dụngcủa Đảng đưa nước ta hội nhập với khu vực Vì vậy, kế thừa kết quả nghiêncứu của các công trình đó, Tác giả luận văn tập trung làm rõ Tư tưởng HồChí Minh với xu hướng đoàn kết, hợp tác khu vực Đông Nam Á và sự vậndụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới

4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu và trình bày trên cơ sở những quan điểmphương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí

Trang 4

Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ quốc tế vàđường lối đối ngoại.

4.2 Nguồn tư liệu

Luận văn sử dụng các tài liệu của Đảng về đối ngoại bao gồm:

Các văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ươngĐảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về đường lối đối ngoại và công tác đối ngoại.Các tác phẩm, bài nói, bài viết hoặc phát biểu của các đồng chí lãnhđạo Đảng và Nhà nước

4.3 Các phương pháp sử dụng khi nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc và hệ thốngcác phương pháp như phân tích, tổng hợp, thống kê… nhằm làm sáng tỏ nhữngvấn đề đặt ra trong luận văn

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu gồm 2 chương

Trang 5

CHƯƠNG I: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI XU HƯỚNG ĐOÀN

KẾT HỢP TÁC KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

I - Những nội dung chủ yếu của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao là một bộ phận hữu cơ của tư tưởng

Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là hệ thống những nguyên lý, luận điểm, quan điểm về các vấn đề quốc tế và thời đại, về đường lối, chính sách, chiến lược và sách lược đối ngoại Việt Nam… Tư tưởng này còn thể hiện trong hoạt động đối ngoại thực tiễn của Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước Việt Nam

1.1 Hồ Chí Minh đấu tranh cho sự đoàn kết và hợp tác của nhân dân các nước Đông Nam Á

Năm 1919, lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trên trường chính trịquốc tế, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghịVecxây bản yêu sách đòi tự do, dân chủ, bình đẳng cho dân téc Việt Nam Cóthể xem đây cũng là những yêu sách của nhân dân Đông Dương, của khu vựcĐông Nam Á nói riêng và các nước thuộc địa và phụ thuộc nói chung

Từ Đại hội Tua năm 1920 đến các hoạt động ở ban nghiên cứu thuộcđịa, mà Nguyễn ái Quốc được cử làm trưởng ban nghiên cứu Đông Dương,những bài viết của Người trên các báo: “Người cùng khổ”; “Nhân đạo”;

“Đời sống công nhân”; “Thư tín quốc tế” đều thấm nhuần nội dung: thứctỉnh, kêu gọi các dân téc bị áp bức ở Châu, trên thế giới vùng dậy đấu tranhchống chủ nghĩa đế quốc Đồng thời, Người cũng tìm ra nguyên nhângây ra

sù suy yếu của các dân téc phương Đông là sự đơn độc… vì các dân técphương Đông không có sự quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau…

Trang 6

họ hoàn toàn không biết những gì xảy ra với các nước láng giềng gần gũicủa họ Do đo, thiếu sự tin cậy lẫn nhau, thiếu sự phối hợp hành động và sự

cổ vũ lẫn nhau Vì vậy, bằng nhiều hoạt động khác nhau, Người đã phấn đấulàm cho các dân téc thuộc địa từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biếtnhau hơn, và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một liên minh phương Đông Tưtưởng đoàn kết quốc tế giữa các dân téc phương Đông là biểu hiện của sựtiếp thu tư tưởng của Mac - Lênin về “ vô sản toàn thế giới và các dân téc bị

áp bức đoàn kết lại” trong cuộc đấu tranh giải phóng dân téc

Cuối năm 1924, khi đã trở thành một cán bộ cốt cán của Quốc tế cộngsản, Nguyễn Ái Quốc đước Bộ phương Đông và Ban chấp hành Quốc tếcộng sản điều động tới Quảng Châu (Trung Quốc) Về danh nghĩa côngkhai, Người là phóng viên của hãng thông tấn Rôxta (Thông tấn xã Nga Xôviết), và là một nhân viên phiên dịch, giúp việc cho cố vấn Bôrôđin bên cạnhchính phủ Trung Hoa Quốc Dân Đảng, do Tôn Trung Sơn đứng đầu, đóngtại Quảng Châu, chống chọi với chính phủ phản động ở Bắc Kinh, do Đoàn

Kỳ Thuỵ đứng đầu Trong nội bộ, Người là uỷ viên bộ Phương Đông củaQuốc tế cộng sản, phụ trách công tác vùng Đông Nam Á

Năm 1925, theo sự phân công của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốctrực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng ở Đông Nam Á Đây là thời kỳ đầutiên thử thách và kiểm nghiệm nhận thức cách mạng của người trong thựctiễn sinh động, phức tạp của phong trào giải phóng dân téc ở Đông Nam Á.Đồng thời hoạt động thực tiễn ở đây cũng bổ sung làm phong phó lý luận

cách mạng của người đã tiếp thu được Với sự ra đời của Hội liên hiệp các

dân téc bị áp bức Á Đông( 12- 1924) do Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập,

lần đầu tiên trong lịch sử, các nước Á Đông có chung một tổ chức cáchmạng Năm 1927, Bộ tuyên truyền của hội này đã giúp Người xuất bản cuốn

“Đường cách mạng”

Trang 7

Tôn chỉ, mục đích của Hội là đoàn kết các dân téc bị áp bức ởChâu Á trong mặt trận chung chống đế quốc, thực dân, giải phóng dântéc Hội viên là những phần tử yêu nước của Việt Nam, Trung Quốc,Triều Tiên, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia…Với tổ chức này, các tổchức ở châu Á nói chung các nước Đông Nam Á nói riêng có điều kiệngiúp nhau đấu tranh giải phóng dân téc.

Sau khi thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (6/1925),Nguyễn Ái Quốc đã có kế hoạch giúp đỡ tích cực, trực tiếp xúc tiến việcthành lập các nhóm cộng sản trong Việt kiều và nhân dân địa phương ởXiêm, Lào…

Sau khi Tưởng Giới Thạch phản bội và tiến hành cuộc đảo chính phảncách mạng 4/1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Vũ Hán rồi trở lạiLiên Xô 6/1927 Người tiếp tục làm việc ở cơ quan Quốc tế cộng sản ởMatxcơva, nhưng sứ mạng và trách nhiệm chính của Người vấn là lo toangiải phóng đất nước Việt Nam và vận động cách mạng ở vùng Đông Nam Á,đến 8/1928 sang Xiêm, ở đây Người tích cực hoạt động trong Việt kiều yêunước, trực tiếp lãnh đạo các tổ chức, các nhóm cộng sản Do vậy, từ 1928 -

1929 phong trào của việt kiều ở đây lên mạnh, được các cơ sở cách mạng ởXiêm giúp đỡ Phong trào yêu nước của việt kiều cũng tác động đến nhândân địa phương

Nhờ có sự giúp đỡ của chi hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Xiêm,năm 1927 chi hội ở Lào được thành lập ở Viên chăn Hơn một năm sống vàhoạt động ở Xiêm, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Người, phong trào cáchmạng của việt kiều phát triển đã đặt cơ sở cho việc tiến tới thành lập tổ chức

cơ sở của đảng Cộng Sản ở Thái Lan Trung tuần tháng 4/1930, Nguyễn ÁiQuốc cùng đi với Ngô Quốc Chính Và Trần văn Chấn từ Uđon và Băng Kốcliên hệ với nhóm cộng sản Hoa Kiều tại đây, 20/4/1930, tại một địa điểm của

Trang 8

Hủa LămPhông ở Băng Kốc, diễn ra cuộc hội nghị nhỏ gọn bàn việc thànhlập Đảng cộng sản Xiêm, do Nguyễn Ái Quốc, đại biểu Quốc tế cộng sảnchủ trì Từ đây 2 nhóm cộng sản Hoa kiều và Việt kiều nhập laị thành Đảngcộng sản Xiêm, nhưng vì giai cấp vô sản Người Xiêm chưa có ai là cộng sảnnên chưa thể thành lập Ban chấp hành chính thức, mà thành lập Ban lâm thờigọi là Xiêm uỷ Như vậy, Người cũng góp phần vào việc thành lập Đảngcộng sản Thái Lan vào tháng 4 - 1930.

Ngày 30/4/1930 Nguyễn Ái Quốc rời Băng Kốc đi Malaixia để thànhlập Đảng cộng sản Malaixia

Như vậy, trong 5 năm(1925 - 1930) tư tưởng về đoàn kết giữa các dântéc bị áp bức đã biến thành tổ chức hoạt động cách mạng, có tác dụng lớntrong sự phát triển của phong trào yêu nước vùng Đông Nam Á

Sự phát triển của phong trào những năm 30 thể hiện ở sự ra đời củacác Đảng cộng sản ở Việt Nam, Lào, Xiêm, Malaixia(1930),Philippin(11/1930), Mianma(1930) mà Nguyễn Ái Quốc góp phần khôngnhỏ Sự ra đời của các đảng vô sản, sự lớn mạnh của phong trào quần chúng

ở các nước thuộc khu vực Đông Nam Á đặt cơ sở để đến khi thời cơ đến, tuỳđiều kiện của mình, mỗi dân téc có thể đứng lên giành chính quyền

Sau khi Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giúp đỡ việc sáng lập các Đảngcộng sản ở một số nước Đông Nam Á, mối quan hệ của các đảng trong khuvực thêm chặt chẽ

Tháng 2/1941, sau 30 năm xa tổ quốc, Nguyễn ái Quốc trở về nướctrực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam và Đông Dương

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

ra đời, hoà bình lập lại ở đông Dương Nhiều quốc gia ở Đông Nam Á ởnhững mức độ khác nhau cũng lần lượt giành được độc lập:Campuchia(8/1945); Inđonêxia(17/8/1945);Lào(12/10/1945), cuộc đấu tranh

Trang 9

giải phóng dân téc của nhân dân Malaixia kéo dài từ tháng 8/1945 đến8/1957 mới buộc chính phủ Anh tuyên bố trao trả độc lập, Mianma giànhđộc lập vào năm 1947 - 1948… Nhưng các nước Âu - Mỹ một lần nữa lạiquay lại xâm lược các nước Đông Nam Á Mét làn nữa nhân dân trong khuvực lại đoàn kết, hợp tác với nhau để bảo vệ độc lập, tiếp tục sự nghiệp giảiphóng dân téc.

Cách mạng tháng Tám thành công, thế giới biết thêm tên tuối mộtchính khách lớn: Hồ Chí Minh - Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

Hồ Chủ tịch lại vận dụng đường lối liên hiệp các dân téc yêu chuộng độclập, tự do hoà bình trên thế giới, trước hết là trong vùng Đông Nam Á

1.2 Xu hướng hợp tác, đoàn kết các nước Đông Nam Á để bảo vệ thành quả cách mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh được quán triệt trong mọi hoạt động ngoạigiao của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà

Tháng 1/1946 Nguyễn Ái Quốc viết thư chúc tế Kiều bào lào, Xiêm,dặn dò kiều bào tăng cường đoàn kết với nhân dân Lào, Xiêm

Giữa năm 1946, khi Nguyễn đức Qùy được cử với tư cách phái viênchính phủ sang đặt quan hệ ngoại giao với Thái Lan, đã được Hồ Chí Minhcăn dặn phải tổ chức giúp đỡ cách mạng Lào Campuchia; liên hệ tranh thủngoại giao với các nước Đông Nam Á thông qua các cơ quan ngoại giao củacủa họ ở Thái Lan

Ngày 4/7/1946 nước Cộng hoà Philippin tuyên bố độc lập Ngày 8/7

Hồ Chí Minh gửi điện chúc mừng nhân dân và chính phủ Philippin

Tháng 8/1946, Hồ Chí Minh gửi điện mừng nhân ngày độc lập củaInđonêxia, Người viết: Hai dân téc chúng ta đã cùng chịu đựng một thống

Trang 10

khổ cùng chiến đấu để giành độc lập, có thể cộng tác với nhau chặt chẽ hơnbao giê hết đẻ thực hiện hoà bình và dân chủ ở Đông Nam Châu Á.

Tháng 1/1947 Hồ Chí Minh gửi điện cảm Ongxan - Phó Chủ tịchchính phủ Mianma về sự ủng hộ cuộc đấu tranh giành tự do của Việt Nam

Những hoạt động nói trên của Hồ Chí Minh, trong những năm đầutiên sau cách mạng tháng Tám, đã bước đầu xây dựng mối quan hệ thânthiện, đoàn kết với các nước trong khu vực, đặt cơ sở cho mối quan hệ ủng

hộ, giũp đỡ lẫn nhau trong những năm tiếp theo

Cuối tháng 3/1947, một số cán bộ Việt Nam được cử đi dự Hội nghịliên Á ở Niu Đêli, qua Thái Lan đã tiếp xúc với đại biểu Inđônêxia, ra thôngbáo chống chủ nghĩa đế quốc Phái đoàn ta còng xin chính phủ Thái Lan chophép tổ chức hội nghị phụ nữ Đông Nam Á Các đại biểu Thái Lan, ViệtNam, Lào, Campuchia, Mianma, Malaixia…đã tới dự Thông qua sứ quánViệt Nam đóng ở Băng Kốc, Phái viên Việt Nam được chính phủ Ên Độ,Inđonêxia, Malaixia hết sức ủng hộ giúp đỡ, cụ thể là Đảng cộng sảnmalaixia gửi tiền giúp, Liên đoàn chống phát xít Mianma gửi giúp vũ khí,thuốc men, điện đài cho nhân dân Việt Nam Ngay từ đầu cuộc kháng chiếnchống Pháp, chính phủ Thái Lan lúc bấy giê đã tạo điều kiện thành lập cáclực lượng vũ trang của Việt kiều về Nam Bộ hoạt động

Ngày 20/7/1947 thực dân Hà Lan bội ước mở cuộc tấn công xâm lướcInđônêxia, ngày 3/8/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tõ rõ sự đồng tìnhcủa chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với cuộc đấu tranh giành độc lậpcủa nhân dân Inđônêxia

Từ 1958-1959 đến trước ngày từ giã cõi đời 1969, Hồ Chủ tịch đãnhiều lần tiếp xúc, trao đổi thư, điện với Tổng thống Xucacnô củaInđônêxia, Hoàng thân Xuphanuvông của Lào, Quốc trưởng Xihanuc củaCampuchia

Trang 11

Như vậy, với sự đoàn kết với các lực lượng cách mạng trong khu vực,cuộc kháng chiến chống pháp, cũng như cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước của nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi lớn Trong sự nghiệp đổimới hiện nay của nước ta, tư tưởng đó lại được kế thừa và vận dụng mộtcách đúng đắn vào việc mở cửa hội nhập với các nước trong khu vực

Tư tưởng đoàn kết hợp tác khu vực của Chủ tịch Hồ Chí Minh đượchình thành trong quá trình đấu tranh giải phóng dân téc và xây dựng xã hộitiến bộm hạnh phóc của các dân téc Đông Nam Nó đã góp phần thắng lợitrong sự nghiệp giành độc lập, tự do của nhân dân khu vực và ngày nay trởthành xu hướng chung của các dân téc Đông Nam Á trong xây dựng đấtnước, trong hợp tác và phát triển

Trong các nước Đông Nam Á Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng các dân téc

trên bán đảo Đông Dương, chủ nghĩa thực dân thực hiện chính sách “chia để

trị”, gieo rắc và khơi sâu hận thù dân téc, nhằm làm cho nhân dân Cao Miên,Lào “ác cảm dân téc Việt Nam, không có chút thiện cảm nào đối với nhau

Ly gián dân téc để ngăn cản sự đoàn kết cách mạng của các dân téc là mộtmục đích Một mục đích khác nữa là đem dân téc này bắn giết dân téc khác”.Ngoài ra, “sự biệt lập”, “thiếu sự tin cậy lẫn nhau” đã làm suy yếu các dântéc phương Đông

Tuy nhiên, sự áp bức, đô hộ của thực dân Pháp và sự can thiệp của cácthế lực đế quốc đã tạo ra cơ sở khách quan để ba nước Đông Dương đoànkết, hợp tác và liên minh với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung

vì độc lập tự do của mỗi nước

Trong quan hệ với các nước láng giềng trên bán đảo Đông Dương, từ Hộinghị Trung ương lần thứ 8 (tháng Năm 1941), Hồ Chí Minh xác định thựchiện chính sách dân téc tự quyết và tăng cường đoàn kết, liên minh chiếnđấu giữa ba nước chống kẻ thù chung Bản thông cáo chính sách đối ngoại

Trang 12

đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 3/10/1945, nêu rõ: “Đặc

biệt là đối với nhân dân bạn Khơme và Lào, nước Việt Nam đặt mối quan

hệ dùa trên nguyên tắc dân téc tự quyết Đã từng chịu ách đô hộ của Pháp, nhân dân ba nước lẽ dĩ niên phải cùng nhau đấu tranh để cởi ách

đô hộ đó, giúp đỡ lẫn nhau giành lại và duy trì nền độc lập của mình…

Ba nước sẽ giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộc kiến thiết và cùng nhau tiến lên trên con đường tiến bộ”

Bản Thông cáo chính sách đối ngoại đầu tiên của Việt Nam Dân chủCộng hoà, ngày 3 tháng Mười 1945, nêu rõ: “Đặc biệt là đối với nhân dânbạn Khơme và Lào, nước Việt Nam đặt mối quan hệ dùa trên nguyên tắc dântéc tự quyết Đã từng chịu ách đô hộ của Pháp, nhân dân ba nước lẽ dĩ nhiênphải cùng nhau đấu tranh để cởi ách đô hộ đó, giúp đỡ lẫn nhau giành lại vàduy trì nền độc lập của mình… Ba nước sẽ giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộckiến thiết và cùng nhau tiến lên trên con đường tiến bộ”

Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Đảng ta và Chủ tịch

Hồ Chí Minh xác định “Đông Dương là một chiến trường”, cuộc đấu tranhgiải phóng dân téc của Việt Nam liên quan mật thiết với cuộc chiến tranhgiải phóng Campuchia và Lào Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng takháng chiến, dân téc bạn Miên, Lào cũng kháng chiến Vì vậy, ta phải ra sứcgiúp đỡ anh em Miên, Lào, giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào Và tiến đếnthành lập Mặt trận thống nhất các dân téc Việt - Miên - Lào”

Với Lào, ngay sau cách mạng tháng Tám- 1945, chính phủ Việt Nam dânchủ cộng hoà đã liên lạc với vua Lào Xixavang Vông và Hoàng ThânXuphanuvông nhằm phối hợp hành động giữa 2 nước

Ngày 12/10/1945 chính phủ lâm thời Lào tuyên bố nền độc lập của Lào,Ngày 14/10/1945, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã gửi điện chúc

Trang 13

mừng, tuyên bố công nhận chính phủ Lào và đề nghị thiết lập quan hệ ngaọigiao giữa hai nước.

Ngày 30/10/1945, Hiệp ước Liên minh quân sự giữa Chính phủ Việt Namdân chủ cộng hoà và Chính phủ Lào Itxala được ký kết Theo đó các đơn vị

bộ đội Lào và Việt Nam sẽ phối hợp cùng chiến đấu chống kẻ thù chung làthực dân pháp xâm lược, bảo vệ nền độc lập của dân téc mình Với sự kiệnnày, một thời kỳ mới trong quan hệ Việt Nam - Lào được bắt đầu

Với Campuchia, ngày 14/8/1945, chính phủ Khơme độc lập ra đời do ôngSơn Ngọc Thành làm Thủ Tướng Tháng 9/1945 thực dân Pháp trở lại xâmlược Campuchia, Sơn Ngọc Thành bị bắt, quân đội Pháp lập chính phủ bùnhìn do Hoàng Thân Môniret đứng đầu Một số người trong chính phủ SơnNgọc Thành chạy về vùng biên giới giáp với Việt Nam lập ra KhơmeItxarắc Sau sự kiện nói trên, Chính phủ ta đã chỉ thị cho uỷ ban kháng chiếnNam bộ chủ động giúp đỡ Khơme Itxarắc xây dựng lực lượng và tổ chứckháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Cuối năm 1946, một đơn vị vũtrang của Campuchia đã phối hợp với bộ đội Việt kiều đánh chiếm thị xãXiêm Riệp, mở đầu liên minh chiến đấu Việt Nam - Campuchia trong thời

kỳ mới

Hội nghị cán bộ về công tác giúp đỡ Lào và Campuchia ngày 15 tháng

Hai 1949 đề ra bốn phương châm của công tác quốc tế với nước bạn:

1-Không đứng trên lợi Ých Việt Nam mà làm công tác Lào – Miên; 2- Nắm chắc nguyên tắc dân téc tự quyết, do Lào, Miên tự quyết định lấy;3- Không đem chủ trương, chính sách, nguyên tắc của Việt Nam ứng dụng vào Lào, Miên như lắp máy; 4- Cần giúp đỡ Lào, Miên để bạn tự làm lấy.

Để đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động phối hợp chống kẻ thù chung củacách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia, Chủ tịch Hồ Chí Minh và trungương Đảng chủ trương gấp rút tăng cường và kiện toàn các đơn vị bộ đội

Trang 14

tình nguyện Việt Nam giúp Lào, Campuchia xây dựng các căn cứ địa làmchỗ đứng chân vững chắc cho lực lượng cách mạng bạn và giúp bạn xâydựng, phát triển cơ sở Đảng.

Đối với Campuchia, thực hiện uỷ nhiệm của trung ương Đảng và chínhphủ, Xứ uỷ và uỷ ban kháng chiến hành chính Nam bộ đã phân công cán bộchuyên trách theo dõi tình hình kháng chiến ở nước bạn Một số đội vũ trangcủa Kiều bào yêu nước từ nước ngoài về đã được tổ chức lại và đi vào hoạtđộng Các đơn vị này đã tiếp xúc được với dân, đẩy mạnh vũ trang tuyêntruyền mở rộng cơ sở

Tháng 12/1947, theo chủ trương của đảng cộng sản Đông Dương, Uỷ bangiải phóng Việt - Miên - Lào được thành lập Đây là hình thức tổ chức liênminh đầu tiên giữa ba dân téc nhằm mục đích cùng nhau hợp táctheo đuổiđến cùng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng toàncõi Đông Dương Trong thư gửi 12/12/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiệt liệthoan nghênh việc thành lập Uỷ ban giải phóng Việt - Miên - Lào, Ngườikhẳng định: “ các dân téc ta, đã sẵn một tinh thần tranh đấu cao, lại gắng đitới một sự cộng tác chặt chẽ, thì thắng lợi thế nào cũng về ta, và chúng tanhất định sẽ giành được độc lập

Đối với Lào, trên tinh thần tương trợ lẫn nhau, “giúp bạn là giúp mình”,thực hiện cam kết với Chính phủ kháng chiến Lào, từ đầu năm 1947, chínhphủ ta đã gửi quân tình nguyện phối hợp với quân và dân Lào yêu nước mởmặt trận phía Tây

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người đặt nền tảng cho liên minhchiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia mà còn luôn luôn theo dõi và vunđắp, củng cố tình hữu nghị của nhân dân ba nước

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng giáo dục tinh thần quốc tếtrong sáng cho cán bộ và nhân dân ta

Trang 15

Năm 1960, nhân dịp dự Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và công nhân quốc

tế ở Matxcơva, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm đồng chí CayxỏnPhômvihẳn Đồng chí Trường Chinh sau đó nhận xét: “Việc Bác sang thămđoàn Lào trước là một cử chỉ rất khiêm tốn, rất đẹp Nhiều cán bộ ta sangLào công tác, làm việc tốt, thái độ đúng đắn, được các bạn Lào khen Nhưngcũng có cán bộ bị chê vì thái độ chưa đúng mức Điều đó rất nên tránh” Bác

Hồ đã nhắc nhở các đồng chí lãnh đạo Đảng ta cần giáo dục các cán bộ ViệtNam khắc phục những mặt thiếu sót đó

Từ năm 1954, trong vấn đề Đông Dương, quan điểm của các nước lớn xãhội chủ nghĩa, cũng như của Mỹ, Anh, Pháp diễn biến phức tạp; lợi Ých đanxen, vừa đấu tranh, vừa nhân nhượng Quan hệ giữa Việt Nam và các nướcláng giềng bắt đầu chịu các tác động trực tiếp, đa chiều từ chính sách vàquan hệ giữa các nước lớn liên quan

Trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, dưới sự lãnh đạo củaChủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã triển khai các quan hệ vớiLào và Campuchia vừa nguyên tắc vừa linh hoạt, phù hợp với tình hình mỗinước và nhiệm vụ cách mạng nước ta Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thiết lậpquan hệ ngoại giao với các Vương quốc Lào và Campuchia, ủng hộ nềntrung lập của Lào và Campuchia, mặt khác giúp đỡ các lực lượng khángchiến ở hai nước này phù hợp với tình hình cụ thể từng thời kỳ Trong bốicảnh quan hệ của các nước lớn với ba nước Đông Dương ngày càng trở nênphức tạp, nhờ xem trọng ý nghĩa chiến lược của quan hệ với các nước lánggiềng, ta đã triển khai quan hệ với Lào, Campuchia khéo léo và linh hoạt,hình thành mặt trận đoàn kết của nhân dân Đông Dương, phục vụ đắc lựccuộc kháng chiến chống xâm lược, tăng cường các lực lượng cách mạng tạinước bạn

Trang 16

Phát biểu trong buổi tiễn đoàn cấp cao Lào(3/1963), Chủ tịch Hồ ChíMinh ca ngợi quan hệ Việt Nam - Lào:

Thương nhau mấy núi cũng trèo Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua Việt - Lào hai nước chúng ta, Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.

Nhân dịp tết cổ truyền của Campuchia, năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minhgửi điện chúc mừng tới Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc, khẳng định lòngmong muốn của Việt Nam “xây dựng sự hợp tác bền vững và lâu dài giữaViệt Nam Dân chủ Cộng hoà và Vương quốc Campuchia”

Đoàn kết, hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau và hợp tác cùng có lợi trên cơ sởbình đẳng, tôn trọng quyền tự quyết dân téc và độc lập chủ quyền của nhau,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau là quan điểm cơ bản của Chủtịch Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam với các nước láng giềng có chungbiên giới

Quan hệ láng giềng của ta với các nước láng giềng chung biên giới khôngphải lúc nào cũng thuận Có những thời điểm đã phát sinh bất hoà giữa ViệtNam và các nước bạn Hiểu được những mặt thuận lợi cũng như phức tạp

đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng giáo dục tinh thần quốc tếtrong sáng cho cán bộ và nhân dân ta Vào một dịp bàn về quan hệ quốc tế,

Bác nhắc nhở: “Ở Liên Xô, Đảng Cộng sản giáo dục chống tư tưởng Đại Nga Ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản giáo dục chống tư tưởng Đại Hán Ở ta

cũng đề phòng chống tư tưởng Đại Việt”

Trang 17

II - Sù vân dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới

2.1 Quá trình Đảng lãnh đạo đưa Việt Nam gia nhập ASEAN

Trước những khó khăn, thách thức to lớn mà tình hình thế giới và trongnước đặt ra, Đảng ta đã nắm bắt được quy luật, thực trạng và xu thế vậnđộng của tình hình thế giới, có chiến lược và sách lược đúng về đối ngoại,đặc biệt là mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước ASEAN

Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI chỉ rõ nhiệm vụ của Đảng

và Nhà nước ta trên lĩnh vực đối ngoại là: “ ra sức kết hợp sức mạnh của dântéc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dương, gópphần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới„ [39, tr 99].Đại hội nêu rõ: “Chính phủ và nhân dân Việt Nam không ngừng phấn đấunhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với Inđônêxia và các nướcĐông Nam Á khác” [39, tr 108] Vào thời điểm diễn ra Đại hội, vấn đềCampuchia là trở ngại chính cho việc phát triển quan hệ Việt Nam -ASEAN Vì vậy, Đại hội nhấn mạnh: “Chúng ta mong muốn và sẵn sàngcùng các nước trong khu vực thương lượng để giải quyết các vấn đề ở ĐôngNam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hoà bình, xây dựng Đông Nam Áthành khu vực hoà bình, ổn định và hợp tác" [39, tr 108]

Thực hiện và cụ thể hoá đường lối đối ngoại với các nước ASEAN màĐại hội VI đã đề ra, tháng 5/1988, Bộ Chính trị khoá VI đã họp Hội nghị lầnthứ 13 bàn về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới BộChính trị chủ trương rút toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam kháiCampuchia, coi đây là giải pháp phá bỏ những rào cản và sự bao vây cô lập

về chính trị của thế giới đối với ta Bộ Chính trị nhấn mạnh ngoài việc tăngcường quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, Lào và Campuchia, mở rộngquan hệ kinh tế với các nước phương Tây và các nước ASEAN là một yêu

Trang 18

cầu khách quan Để mở rộng quan hệ đối ngoại Việt Nam - ASEAN, BộChính trị cho rằng:

Cần có chính sách toàn diện đối với Đông Nam Á, trước hết

là tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với Indonesia, phá vỡ thế

bế tắc trong quan hệ với Thái Lan, mở rộng quan hệ hợp tác vềkinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá với các nước trong khu vực,giải quyết những vấn đề tồn tại giữa nước ta với các nước nàybằng thương lượng, thúc đẩy việc xây dựng khu vực hoà bình, ổnđịnh, hữu nghị và hợp tác [40, tr.12]

Chủ trương đúng đắn của Đảng nhằm tăng cường quan hệ với các nướcláng giềng khu vực tiếp tục được thể hiện ở Hội nghị Trung ương lần thứ 6(khoá VI), Hội nghị chỉ rõ:

Góp phần tích cực giải quyết vấn đề Campuchia bằng chínhtrị, đồng thời chuẩn bị rút hết quân sớm trong trường hợp chưa cógiải pháp về Campuchia Xây dựng mối quan hệ mới với các nướcASEAN, tham gia tích cực vào việc biến Đông Nam Á thành khuvực hoà bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác [41, tr 40]

Về vấn đề Campuchia, một lần nữa Hội nghị Trung ương lần thứ 8(khoá VI) nhấn mạnh: Kiên trì phấn đấu cho một giải pháp chính trị vềvấn đề Campuchia phù hợp với lợi Ých cơ bản của cách mạng Campuchia

và hoà bình, ổn định trong khu vực

Nhờ sự nhạy bén chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sáng suốt thihành đường lối đổi mới toàn diện cả về đối nội lẫn đối ngoại trước khi xảy

ra cuộc khủng hoảng của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, đã quyếttâm tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề Campuchia trước khixảy ra sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết

Trang 19

Việc Việt Nam chủ động rút hết quân khỏi Campuchia và tích cực đónggóp vào việc ký Hiệp định về Campuchia, đã tạo tiền đề quan trọng cho việccải thiện quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong và ngoài khu vực

Đại hội lần thứ VII của Đảng tuyên bố: “Việt Nam muốn là bạn với tất

cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và pháttriển” [43, tr 147] Đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước lánggiềng và các nước trong khu vực tiếp tục được Đại hội lần thứ VII của ĐảngCộng sản Việt Nam khẳng định: “Phát triển quan hệ hữu nghị với các nước

ở Đông Nam á và châu á - Thái Bình Dương, phấn đấu cho một Đông Nam

Á hoà bình, hữu nghị và hợp tác” [43, tr 90]

Thực hiện đường lối mà Đại hội VII đề ra, tháng 6/1992, Hội nghị lầnthứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá VII đã thông qua bản báo cáo: Thờicuộc hiện nay và nhiệm vụ của chúng ta do Tổng Bí thư Đỗ Mười trình bày.Bản báo cáo chỉ rõ: “Trong thời đại ngày nay, bất cứ nước nào, dù phát triểnđến đâu cũng không thể khép kín được” [44, tr 5] Vì vậy, phải mở rộngquan hệ quốc tế, trước hết là:

Xây dùng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trongkhu vực, tạo môi trường hoà bình, ổn định lâu dài chung quanhnước ta, đáp ứng lợi Ých của dân téc ta và phù hợp với xu thế cácnước, tăng cường liên kết khu vực vì hoà bình và phát triển Đồngthời mở rộng quan hệ với các nước tư bản phát triển, với các nướckhác và tổ chức quốc tế [44, tr 6-7]

Hội nghị Trung ương 3 (khoá VII) đã ra nghị quyết về đối ngoại, Hộinghị xác định rõ: Nhiệm vụ đối ngoại là giữ vững hoà bình, mở rộng quan

hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào

Trang 20

cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân téc, dânchủ và tiến bộ xã hội Trước tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phứctạp, Hội nghị đã đề ra tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại của Đảng vàNhà nước ta là: Giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xãhội, đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí,điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta, cũng như diễn biến của tình hìnhthế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm từng đối tượng ta có quan hệ Hộinghị cũng đề ra 4 phương châm để vận dụng xử lý các mối quan hệ quốc tế:

Một là, bảo đảm lợi Ých dân téc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ

nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân

Hai là, giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng

hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại

Ba là, nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế Bốn là, tham gia hợp tác khu vực đồng thời mở rộng quan hệ với tất

cả các nước

Với ASEAN, Hội nghị đã đánh giá: Đông Nam Á liên quan mật thiếttới yêu cầu tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho an ninh và phát triển củaViệt Nam Các nước ASEAN phát triển kinh tế khá nhanh, đang đi tới quátrình nhất thế hoá về kinh tế với việc lập khối mậu dịch tự do AFTA Vì lợiÝch an ninh và phát triển của Việt Nam, Hội nghị đề ra: Tiếp tục cải thiện

và mở rộng quan hệ với từng nước và với cả nhóm nước ASEAN trên cơ sởbình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hoà bình Chú ý mở rộng hợp tác về kinh

tế, thương mại, khoa học công nghệ trên các lĩnh vực mà ASEAN có trình

độ cao, từng bước tham gia hợp tác khu vực với khẩu hiệu biến Đông Nam áthành khu vực hoà bình, hợp tác và phát triển Việt Nam tham gia Hiệp ướcBali, tham gia các diễn đàn đối thoại với ASEAN, tích cực nghiên cứu mở

Trang 21

rộng quan hệ với ASEAN trong tương lai Giải quyết thoả đáng bằng thươnglượng các vấn đề tồn tại, vướng mắc giữa Việt Nam với các nước ASEAN Tiếp đó, năm 1993 Chính phủ Việt Nam công bố chính sách bốn điểmmới của Việt Nam với khu vực.

Chủ trương đối ngoại của Đảng được đề ra qua các Đại hội VI, VII vàcác Hội nghị Trung ương khoá VI, VII đã mở ra một thời kỳ mới trong quan

hệ đối ngoại giữa Việt Nam và các nước ASEAN, chủ trương đó được cácnước Đông Nam Á và quốc tế đánh giá cao, đã thúc đẩy mạnh mẽ tiến trìnhhội nhập Việt Nam - ASEAN

Tiếp đó, trong chuyến đi thăm chính thức Singapore, Tổng Bí thư ĐỗMười trong bài phát biểu tại buổi chiêu đãi tiếp tục khẳng định: “Chúng tôicoi trọng việc mở rộng quan hệ với các nước láng giềng… rất coi trọng sựhợp tác nhiều mặt với từng nước ASEAN và tổ chức ASEAN nói chung, sẵnsàng gia nhập tổ chức ASEAN vào thời gian thích hợp” [125, tr.132]

Trong chuyến đi thăm chính thức Vương quốc Thái Lan tháng 10/1993(Thái Lan đang giữ trọng trách là Chủ tịch Uỷ ban Thường trực ASEAN),Tổng Bí thư Đỗ Mười tiếp tục khẳng định: “Việt Nam chủ trương tăngcường quan hệ hợp tác nhiều mặt với từng nước láng giềng cũng như vớiHiệp hội các nước Đông Nam Á với tư cách là một tổ chức khu vực; sẵnsàng gia nhập ASEAN vào thời gian thích hợp” [133, tr.147]

Có thể nói, thời gian từ 1992 đến 1994, quan hệ ngoại giao giữa ViệtNam với các nước ASEAN được đẩy mạnh và tăng cường bằng các chuyếnthăm của các nhà lãnh đạo nước ta tới các nước ASEAN và ngược lại Tháng9/1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký quyết định thành lập Vụ ASEAN (BộNgoại giao) để phối hợp hoạt động giữa Việt Nam với ASEAN

Như vậy, với những phát triển nhanh chóng và thuận lợi trong quan hệ ViệtNam - ASEAN, Việt Nam đã chủ động, tích cực chuẩn bị để gia nhập ASEAN

Trang 22

Ngày 17/10/1994, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã gửi thưcho Ngoại trưởng Bruney, Chủ tịch đương nhiệm Uỷ ban Thường trựcASEAN (ASC) chính thức đặt vấn đề Việt Nam xin gia nhập ASEAN Tháng2/1995 các nước ASEAN nhất trí sẽ tổ chức kết nạp Việt Nam vào ASEANtrước phiên họp của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN lần thứ

28 tại Bruney Ngày 28/7/1995 tại Bruney, lễ kết nạp Việt Nam vào ASEANđược tổ chức

Phát biểu của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm tại lễ kết nạpViệt Nam vào ASEAN đã nêu rõ:

Đây là sự kiện quan trọng có ý nghĩa lịch sử trong quan hệ giữaViệt Nam và các nước ASEAN, một mốc mới đánh dấu sự thay đổicục diện ở Đông Nam á sau 50 năm kể từ khi chiến tranh thế giới lầnthứ II kết thúc Đây cũng là một nhân tố mới góp phần đẩy mạnh sựhợp tác kinh tế - thương mại trong khu vực vì sự phồn vinh của mỗinước và của cả Đông Nam á Sự kiện này đồng thời là bằng chứnghùng hồn nói về xu hướng khu vực hoá đang phát triển mạnh mẽcùng với xu thế quốc tế hoá ngày càng gia tăng trong một thế giới tuỳthuộc lẫn nhau ngày càng rõ nét [21, tr 415 - 416]

2.2.Chủ trương của Đảng tăng cường quan hệ Việt Nam - ASEAN

Trước tình hình thế giới diễn biến phức tạp, Đại hội VIII Đảng ta đã đề ra:

Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trườnghoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnhphát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nướcphục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cựcvào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình độclập dân téc dân chủ và tiến bộ xã hội [46, tr.120]

Trang 23

Về đường lối đối ngoại, Đại hội VIII khẳng định:

Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng

mở, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinhthần Việt Nam muốn làm bạn của tất cả các nước trong cộng đồngthế giới, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển Hợp tác nhiềumặt song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế

và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹnlãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và tranh chấpbằng thương lượng [46, tr.120 - 121]

Trên cơ sở đó, Đại hội cũng đề ra hướng đối ngoại cụ thể trong quan hệvới ASEAN “ra sức tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và cácnước trong tổ chức ASEAN”[46, tr.121]

Nghị quyết 01/NQ-TW cũng chỉ ra những giải pháp, cơ chế, chính sáchchủ yếu, trong đó về vấn đề thị trường và đối tác cần chú trọng Hiệp hộiASEAN và các nước láng giềng

Để thúc đẩy quan hệ hợp tác với ASEAN, Chính phủ ra các Nghịđịnh số NĐ 91/CP ngày 18/12/1995; NĐ 82/CP ngày 13/12/1996; NĐ15/

CP ngày 12 / 3/1998; NĐ 14/ CP ngày 23/3/1999; NĐ 09 /CP ngày 21/3/2000 ban hành danh mục hàng hoá của Việt Nam để thực hiện Hiệp định vềchương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nướcASEAN

Cuối năm 1999, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, trong bốicảnh vừa có những thuận lợi và thời cơ lớn, vừa đứng trước những khó khăn

và thách thức ở trong nước “qua 2 năm thực hiện kế hoạch 5 năm 1996

-2000, nền kinh tế nước ta tiếp tục phát triển và đạt tăng trưởng khá (GDP

Trang 24

tăng 9%)… Đời sống số đông nhân dân được cải thiện ổn định chính trịđược giữ vững Quốc phòng an ninh được đảm bảo Quan hệ đối ngoại được

mở rộng, vị thế quốc tế của nước ta được nâng cao” [48, tr 48 - 49]

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá VIII) cũng chỉ rõ những mặtcòn yếu kém đó là “sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả

và sức cạnh tranh thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao vàlâu bền…” [48, tr 49]

Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ, Nghịquyết Hội nghị cũng chỉ rõ: “Chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết vềcán bộ, luật pháp và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khả năngcạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và thế giới… Có kế hoạch cụ thểchủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA” [48, tr 60] Hộinghị đề ra nhiệm vụ “Xây dựng lé trình giảm dần thuế nhập khẩu theo Hiệpđịnh ưu đãi thuế quan (CEPT) áp dụng trong các nước ASEAN và các camkết quốc tế khác” [48, tr.76 - 77]

Gia nhập ASEAN được 5 năm, Việt Nam đã tham gia đầy đủ và tíchcực vào các hoạt động của Hiệp hội Quá trình hội nhập nhanh chóng vàđóng góp tích cực của Việt Nam được các thành viên trong Hiệp hội đánhgiá cao Để phát huy những kết quả của công tác đối ngoại nói chung vàquan hệ Việt Nam - ASEAN nói riêng, Nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đốingoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệquốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộngđồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” [50, tr.119]

Đại hội xác định độc lập tự chủ là cơ sở để thực hiện đường lối đốingoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá Bước phát triển mới trongđường lối đối ngoại của Đại hội IX là phát triển phương châm “Việt Nam

Trang 25

muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoàbình, độc lập và phát triển” [46, tr.120] được đề ra tại Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VIII của Đảng thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tincậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập vàphát triển” [50, tr.119] Điều này đã thể hiện bước phát triển mới về tư duyđối ngoại và nhận thức sâu sắc hơn của Đảng về bối cảnh và xu hướng quan

hệ quốc tế đang diễn ra, đồng thời khẳng định vị thế mới của Việt Namtrong quan hệ quốc tế

Đại hội IX cũng khẳng định nhiệm vụ đối ngoại là:

Tiếp tục giữ vững môi trường hoà bình và tạo các điều kiệnquốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tíchcực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình,độc lập dân téc, dân chủ và tiến bộ xã hội [50, tr.119-120]

Đại hội IX đã xác định tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam á

là một ưu tiên hàng đầu trong quan hệ đối ngoại của nước ta Đại hội chỉ rõ:

“Nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác với các nước ASEAN, cùng xâydựng Đông Nam á thành khu vực hoà bình, không có vũ khí hạt nhân, ổnđịnh, hợp tác cùng phát triển” [50, tr.121] Tăng cường phát triển quan hệhữu nghị hợp tác với các nước ASEAN là một chính sách nhất quán củađảng, xuất phát từ yêu cầu ổn định và phát triển của đất nước, từ vị thế địachính trị, địa kinh tế và địa chiến lược của nước ta trong khu vực cũng nhưvới thế giới Củng cố và phát triển quan hệ với các nước trong khu vực có ýnghĩa chiến lược đối với an ninh, ổn định và phát triển của Việt Nam, đồngthời cũng góp phần quan trọng tạo lập, duy trì và phát triển môi trường hoàbình, ổn định lâu dài của khu vực và trên thế giới Quan hệ hợp tác với các

Trang 26

nước ASEAN được đẩy mạnh theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quảcủa sự hợp tác song phương và đa phương, tích cực chủ động góp phần giữvững các nguyên tắc cơ bản của ASEAN, tăng cường đoàn kết trong Hiệphội, hạn chế tác động từ bên ngoài, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, xây dựngĐông Nam á thành khu vực hoà bình không có vò khí hạt nhân, ổn định,hợp tác cùng phát triển, nâng cao vị thế của khu vực trên trường quốc tế.Ngày 23/7/2001, trong diễn văn khai mạc Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giaocác nước ASEAN lần thứ 34 (AMM 34) diễn ra tại Hà Nội, Thủ tướng PhanVăn Khải đã khẳng định:

Chính sách ASEAN là một bộ phận cấu thành quan trọngtrong chính sách đối ngoại và hợp tác quốc tế của Nhà nước ViệtNam mà định hướng đã được khẳng định là hội nhập kinh tế quốc tế,sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc

tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập dân téc và phát triển [123, tr 191]

Để đẩy mạnh hơn nữa quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực,ngày 27/11/2001 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về Hội nhập kinh tế quốc tếnhằm cụ thể hoá một chủ trương lớn được nêu ra tại Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ IX của Đảng là: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vựctheo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảođảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi Ých dân téc,

an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân téc, bảo vệ môi trường” [52, tr.120]

Nghị quyết chỉ rõ mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế phải: “Chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn,công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoátheo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh” [52, tr 255]

Trang 27

Nghị quyết chỉ rõ để thực hiện tốt các mục tiêu của hội nhập kinh tếquốc tế, cần xác định:

Một là, hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; trong quá

trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thànhphần kinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủđạo

Hai là, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh

và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không Ýt thách thức, do đó cần tỉnhtáo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳtheo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể; vừa phải đề phòng tưtưởng trì trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng

Ba là, nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kế

hoạch và lé trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước,vừa đáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta thamgia; tranh thủ những ưu đãi dành cho các nước đang phát triển và các nước

có nền kinh tế chuyển từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường

Bốn là, kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu

giữ vững an ninh, quốc phòng, thông qua hội nhập để tăng sức mạnh tổnghợp của quốc gia nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giácvới những mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ “diễn biến hoàbình” đối với nước ta [52, tr.256- 257]

Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 23 (tháng 12/2001) được tổ chức tại HàNội ,Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã có bài phát biểu trong đó nêu rõ ngoạigiao có “nhiệm vụ quan trọng là giữ được ổn định chính trị, bảo đảm được anninh quốc phòng và thúc đẩy công tác đối ngoại, nâng cao vị thế của ViệtNam trên trường quốc tế, tranh thủ nâng cao hợp tác quốc tế để phục vụ cho

sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước” [123, tr 50] Tổng Bí thư nhấn

Trang 28

mạnh: “Tiếp tục mở rộng quan hệ song phương và đa phương… vai trò của đaphương để đảm bảo việc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi”[123, tr 52]

Còng trong Hội nghị này, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã chỉ rõ:

“Ngoại giao cũng như an ninh/quốc phòng đều đặt dưới sự lãnh đạo thốngnhất của Đảng, phải luôn đặt lợi Ých dân téc lên trên hết, độc lập dân téc phảigắn liền với chủ nghĩa xã hội, nêu cao lợi Ých dân téc chính đáng” [123,tr.156] Về đối ngoại, Chủ tịch nước nhấn mạnh: “Nêu cao tinh thần độc lập,

tự chủ, tự cường, đồng thời tăng cường đoàn kết quốc tế và mở rộng hợp tácquốc tế, kết hợp sức mạnh dân téc với sức mạnh thời đại” [123, tr.156] Bêncạnh đó, Chủ tịch nước nêu rõ: “Để đảm bảo môi trường an ninh ngoài tìnhhình thế giới chung phải coi trọng đến những đối tác và những nước lánggiềng trong khu vực của chúng ta [123, tr.157]

Nhân dịp năm mới 2003, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên trong bàitrả lời phỏng vấn báo Nhân Dân đã khẳng định: "Chủ động hội nhập khu vực

và quốc tế, trước hết về kinh tế, là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta”

Để hội nhập tốt trong “thời gian tới chúng ta sẽ tiếp tục tăng cường chủ độnghội nhập khu vực và quốc tế theo lé trình phù hợp với khả năng và đáp ứng yêucầu của chúng ta cho từng thời kỳ phát triển của đất nước [126, tr.152-153]

Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên cũng nhấn mạnh “Năm tới (2004) chóng ta

sẽ đẩy mạnh sự chuẩn bị nhân sự, pháp lý và tổ chức ở trong nước để thamgia vào AFTA” [125, tr.154]

Mét trong những nhiệm vụ của đối ngoại là giữ vững an ninh bảo vệ Tổquốc, thực hiện nhiệm vụ đó cũng là đảm bảo thực hiện đường lối đối ngoại

Để bổ sung và phát triển đường lối đối ngoại trong tình hình mới từ ngày 02đến ngày 12/7/2003, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX

Trang 29

ra Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới Trong đóĐảng ta đã bổ sung phát triển một số điểm mới về chính sách đối ngoại Hội nghị đã khái quát tình hình thế giới và khu vực từ năm 1991, đãthể hiện sự bổ sung, đánh giá mới về tình hình thế giới với những điểm mớilà:

Thế lực hiếu chiến đã và đang điều chỉnh chiến lược và ráo riết thựchiện ý đồ thiết lập “thế giới một cực”; bất chấp Liên hợp quốc, luật phápquốc tế và phản ứng của dư luận thế giới, ngang nhiên can thiệp thô bạo vàocông việc nội bộ của các nước, kích động chủ nghĩa ly khai, xung đột tôngiáo, dân téc và tiến hành chiến tranh ở nhiều nơi

Quan hệ giữa các nước lớn diễn ra rất phức tạp theo chiều hướng vừađấu tranh, vừa thoả hiệp

Cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới chống chiến tranh và chạy đua vũtrang, chống áp đặt và can thiệp, chống mặt trái của toàn cầu hoá, vì hoàbình, độc lập dân téc, dân chủ và tiến bộ xã hội có bước phát triển mới vàdiễn ra dưới nhiều hình thức mới, song các lực lượng đó chưa hình thànhđược liên minh có sức mạnh về tổ chức và vật chất

Từ sau sự kiện ngày 11/9/2001 diễn ra ở Mỹ các “hoạt động khủng bố”

và “chống khủng bố” trở thành vấn đề quốc tế lớn Các quốc gia đều phảicảnh giác đề phòng các hoạt động khủng bố phá hoại an ninh của nướcmình, đồng thời phải cảnh giác đề phòng các thế lực hiếu chiến, lợi dụngchiêu bài “chống khủng bố” để can thiệp vào công việc nội bộ, thậm chí xâmhại chủ quyền quốc gia, dân téc, bất chấp luật pháp quốc tế

Về tình hình khu vực, Hội nghị đã có những nhận định: “Sau cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ trầm trọng năm 1997, nhiều nước rơi vào khókhăn, khủng hoảng bị các nước chi phối, sự gắn kết giữa các nước trong khuvực lỏng lẻo hơn…” [13, tr 28]

Ngày đăng: 05/02/2015, 12:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w