MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 I MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI NGOẠI 2 1 1 Khái niệm và đặc điểm đối ngoại 2 1 1 1 Khái niệm đối ngoại 2 1 1 2 Đặc điểm của hoạt động đối ngoại 2 1. MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI NGOẠI21.1. Khái niệm và đặc điểm đối ngoại21.1.1. Khái niệm đối ngoại21.1.2. Đặc điểm của hoạt động đối ngoại21.2. Quyền hạn và trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động đối ngoại21.3. Yếu tố tác động đến chính sách đối ngoại31.4. Vai trò của đối ngoại trong thời kỳ hiện nay4II. NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI52.1. Đường lối đối ngoại của Đại hội VI52.2. Đường lối đối ngoại của Đại hội VII62.3. Đường lối đối ngoại của Đại hội VIII72.4. Đường lối đối ngoại của Đại hội IX82.5. Đường lối đối ngoại của Đại hội X92.6. Đường lối đối ngoại của Đại hội XI102.7. Đường lối đối ngoại của Đại hội XII11III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỐI NGOẠI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ HIỆN NAY143.1. Một số bài học kinh nghiệm.143.2. Giải pháp thúc đẩy hoạt động đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn tới153.2.1. Đối với hoạt động đối ngoại153.2.2. Đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế17PHẦN III: KẾT LUẬN20TÀI LIỆU THAM KHẢO21 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUĐường lối đối ngoại là một bộ phận của đường lối lãnh đạo chung của Đảng ta, ở mỗi giai đoạn cách mạng có mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể và góp phần phục vụ đường lối đối nội. Qua 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường, văn hóa xã hội có bước phát triển mới; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Quan hệ đối ngoại của Đảng không ngừng được mở rộng và tăng cường với các chính đảng ở các nước khác nhau trên thế giới theo hướng đa phương và đa dạng hóa các quan hệ. Công tác đối ngoại của Đảng cùng ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân kết hợp hài hòa đã tạo nên những thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao, góp phần phát triển đất nước trong những năm qua.Trong 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã đạt được những thắng lợi trong công tác đối ngoại. Trước bối cảnh tình hình khu vực, thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, công tác đối ngoại cần tiếp tục kiên trì nắm vững nhiệm vụ, mục tiêu, tôn chỉ nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, vì lợi ích quốc gia dân tộc. Nắm bắt được tính thời sự về vấn đề trên, tác giả đã chọn đề tài “Nội dung đường lối đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ đại hội VI đến đại hội XII” nhằm có cái nhìn sâu và rộng hơn về vấn đề đồng thời đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả Đối ngoại và Hội nhập quốc tế. PHẦN II: NỘI DUNGI: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI NGOẠI1.1. Khái niệm và đặc điểm đối ngoại1.1.1. Khái niệm đối ngoạiCông tác đối ngoại là lĩnh vực hoạt động phong phú và phức tạp. Các hoạt động đối ngoại có thể diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam, có thể xảy ra trên lãnh thổ của một quốc gia khác, cũng có thể đồng thời diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới. Các hoạt động có được tiến hành nhằm đạt những mục đích chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh… hoặc kết hợp các mục đích khác nhau.1.1.2. Đặc điểm của hoạt động đối ngoạiĐể giúp Quý độc giả có thêm thông tin về đối ngoại là gì? chúng tôi làm rõ các đặc điểm của hoạt động đối ngoại. Đặc điểm của hoạt động đối ngoại như sau:– Các hoạt động đối ngoại có thể do cơ quan Đảng, Nhà nước, có thể do tổ chức xã hội tiến hành hoặc cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội phối hợp cùng thực hiện.– Các hoạt động đối ngoại được tiến hành theo những nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính nhất quán, tính khoa học, đảm bảo lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng khác, tức là Quản lý tất cả các hoạt động và quan hệ do các cơ quan, tổ chức của Việt Nam thực hiện với các nước, các tổ chức nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế và khu vực.1.2. Quyền hạn và trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động đối ngoạiThực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở tông trọng độc lập, chuyển quyền, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi; quyết định các chủ trương và biện pháp lớn đề tăng cường và mở rộng quan hệ với nước ngoài và các tổ chủ trương và biện pháp lớn để tăng cường và mở rộng quan hệ với các nước ngoài và các tổ chức quốc tế; bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, thống nhất Quản lý Nhà nước về công tác đối ngoại.Trình Chủ tịch nước quyết định việc kí kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước và trình Chủ tịch nước phê chuẩn việc kí kết, gia nhập Điều ước quốc tế do Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.Quyết định và chỉ đạo việc thực hiện các chính sách cụ thể vè hợp tác kinh tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, giáo dục và các lĩnh vực khác với các nước và các tổ chức quốc tế, mở rộng công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại.Tổ chức và chỉ đạo hoạt động của các cơ quan đại diện của nước ta tại nước ngoài và tạo và tại các tổ chức quốc tế; bảo vệ lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài; Quản lý hoạt động của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.1.3. Yếu tố tác động đến chính sách đối ngoại– Lợi ích quốc gia: Lợi ích quốc gia trong đối ngoại bao gồm hai nhóm:+ Nhóm lợi ích sống còn: Giữ vững chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia; giữ vững hòa bình với bên ngoài, bảo đảm ổn định và trật tự bên trong; bảo đảm cuộc sống an toàn cho nhân dân; bảo đảm an ninh kinh tế của quốc gia; giữ gìn bản sắc dân tộc.+ Nhóm lợi ích phát triển: Không ngừng nâng cao khả năng giữ vững chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; mở rộng không gian phát triển; phát huy bản sắc dân tộc; phát huy vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.– Thế và lực của quốc gia trên trường quốc tế: Chính sách đối ngoại được xây dựng trên cơ sở không những phải phù hợp với lợi ích của quốc gia, mà còn phải tương thích với vị thế và sức mạnh tổng hợp của đất nước.– Tinh hình chính trị và an ninh thế giới: Cục diện thế giới và khu vực cũng có ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của mọi quốc gia trên thế giới.– Mục tiêu quốc gia mong muốn đạt được.– Ảnh hưởng của bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại.– Các nhân tố chính trị nội bộ (Các nhóm lợi ích, giới truyền thông, công luận…).1.4. Vai trò của đối ngoại trong thời kỳ hiện nayChủ động tạo ra mối quan hệ quốc tế thuận lợi để đưa nước ta hội nhập với các nước trên thế giới; góp phần tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước, nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế.Hoạt động đối ngoại đã chủ động, tích cực triển khai mạnh và hiệu quả chủ trướng lớn về Hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế đã được triển khai mạnh mẽ trên tất cả các kênh, bao gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại của Quốc hội, đối ngoại nhân dân, diễn ra hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội.Hoạt động đối ngoại đã có nhiều đóng góp thiết thực vào việc tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Có nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam.Người Việt Nam ở xa đất nước ngày càng hướng về quê hương, gắn bó và có những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã và đang làm tốt nhiệm vụ bảo vệ công dân, thực hiện thành chỗ dựa tin cậy của cộng đồng người Việt Nam sinh sống và làm việc ở nước ngoài. II. NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI2.1. Đường lối đối ngoại của Đại hội VIĐại hội VI của Đảng (12 1986) trên cơ sở nhận thức đặc điểm nổi bật của thế giới là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất, Đảng ta nhận định: “xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế – xã hội khác nhau,cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Từ đó Đảng chủ trương phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới và đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, với các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.+ Triển khai chủ trương của Đảng, tháng 121987, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành. Đây là lần đầu tiên Nhà nước ta tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam – mở cửa để thu hút nguồn vốn, thiếtbị và kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh và phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.+ Tháng 51988, Bộ chính trị ra nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình tình mới, khẳng định mục tiêu chiến lược và lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giư vững hoà bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế. Bộ chính trị đề ra chủ trương kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình; lợi dụng sự phát triển của cách mạng khoa học – kỹ thuật và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới để tranh thủ vị trí có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế; kiên quyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hóa quan hệ đối ngoại.Nghị quyết số 13 của Bộ chính trị đánh dấu sự đổi mới tư duy quan hệ quốc tế và chuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại của Đảng ta. Sự chuyển hướng này đã đặt nền móng hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ,mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế.Trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, từ năm 1989, Đảng chủ trương xoá bỏ tình trạng độc quyền trong sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu. So với chủ trương của Đại hội V “Nhà nước độc quyền ngoại thương và Trung ương thống nhất quản lý công tác ngoại thương”, thì đây là bước đổi mới đầu tiên trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại của Việt Nam.2.2. Đường lối đối ngoại của Đại hội VII
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI NGOẠI 2
1.1 Khái niệm và đặc điểm đối ngoại 2
1.1.1 Khái niệm đối ngoại 2
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động đối ngoại 2
1.2 Quyền hạn và trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động đối ngoại 2
1.3 Yếu tố tác động đến chính sách đối ngoại 3
1.4 Vai trò của đối ngoại trong thời kỳ hiện nay 4
II NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 5
2.1 Đường lối đối ngoại của Đại hội VI 5
2.2 Đường lối đối ngoại của Đại hội VII 6
2.3 Đường lối đối ngoại của Đại hội VIII 7
2.4 Đường lối đối ngoại của Đại hội IX 8
2.5 Đường lối đối ngoại của Đại hội X 9
2.6 Đường lối đối ngoại của Đại hội XI 10
2.7 Đường lối đối ngoại của Đại hội XII 11
III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỐI NGOẠI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ HIỆN NAY 14
3.1 Một số bài học kinh nghiệm 14
3.2 Giải pháp thúc đẩy hoạt động đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn tới 15
Trang 23.2.1 Đối với hoạt động đối ngoại 15
3.2.2 Đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 17
PHẦN III: KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Đường lối đối ngoại là một bộ phận của đường lối lãnh đạo chung củaĐảng ta, ở mỗi giai đoạn cách mạng có mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể vàgóp phần phục vụ đường lối đối nội Qua 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạtđược nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực của đờisống xã hội: Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định, quốc phòng - an ninhđược tăng cường, văn hóa - xã hội có bước phát triển mới; đời sống vật chất,tinh thần của nhân dân được cải thiện; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng,
đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nângcao Quan hệ đối ngoại của Đảng không ngừng được mở rộng và tăng cườngvới các chính đảng ở các nước khác nhau trên thế giới theo hướng đa phương
và đa dạng hóa các quan hệ Công tác đối ngoại của Đảng cùng ngoại giaoNhà nước và đối ngoại nhân dân kết hợp hài hòa đã tạo nên những thắng lợi
to lớn trên mặt trận ngoại giao, góp phần phát triển đất nước trong những nămqua
Trong 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chủ động và tích cực hộinhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã đạt được những thắng lợi trong công tácđối ngoại Trước bối cảnh tình hình khu vực, thế giới tiếp tục diễn biến phứctạp, khó lường, công tác đối ngoại cần tiếp tục kiên trì nắm vững nhiệm vụ,mục tiêu, tôn chỉ nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, vì lợi ích quốcgia - dân tộc Nắm bắt được tính thời sự về vấn đề trên, tác giả đã chọn đề tài
“Nội dung đường lối đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ đại hội
VI đến đại hội XII” nhằm có cái nhìn sâu và rộng hơn về vấn đề đồng thời
đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả Đối ngoại và Hộinhập quốc tế
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI NGOẠI
1.1 Khái niệm và đặc điểm đối ngoại
1.1.1 Khái niệm đối ngoại
Công tác đối ngoại là lĩnh vực hoạt động phong phú và phức tạp Cáchoạt động đối ngoại có thể diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam, có thể xảy ra trênlãnh thổ của một quốc gia khác, cũng có thể đồng thời diễn ra ở nhiều nơi trênthế giới Các hoạt động có được tiến hành nhằm đạt những mục đích chính trị,kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh… hoặc kết hợp các mục đích khácnhau
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động đối ngoại
Để giúp Quý độc giả có thêm thông tin về đối ngoại là gì? chúng tôilàm rõ các đặc điểm của hoạt động đối ngoại Đặc điểm của hoạt động đốingoại như sau:
– Các hoạt động đối ngoại có thể do cơ quan Đảng, Nhà nước, có thể
do tổ chức xã hội tiến hành hoặc cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội phốihợp cùng thực hiện
– Các hoạt động đối ngoại được tiến hành theo những nguyên tắc nhấtđịnh nhằm đảm bảo tính nhất quán, tính khoa học, đảm bảo lợi ích Nhà nước,quyền và lợi ích chính đáng khác, tức là Quản lý tất cả các hoạt động và quan
hệ do các cơ quan, tổ chức của Việt Nam thực hiện với các nước, các tổ chứcnước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế và khu vực
1.2 Quyền hạn và trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động đối ngoại
Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phươnghóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tếquốc tế trên cơ sở tông trọng độc lập, chuyển quyền, hợp tác bình đẳng và
Trang 5rộng quan hệ với nước ngoài và các tổ chủ trương và biện pháp lớn để tăngcường và mở rộng quan hệ với các nước ngoài và các tổ chức quốc tế; bảo vệđộc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế củaViệt Nam trên trường quốc tế, thống nhất Quản lý Nhà nước về công tác đốingoại.
Trình Chủ tịch nước quyết định việc kí kết hoặc gia nhập điều ước quốc
tế nhân danh Nhà nước và trình Chủ tịch nước phê chuẩn việc kí kết, gia nhậpĐiều ước quốc tế do Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế
mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia
Quyết định và chỉ đạo việc thực hiện các chính sách cụ thể vè hợp táckinh tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, giáo dục và các lĩnh vực khác vớicác nước và các tổ chức quốc tế, mở rộng công tác thông tin, tuyên truyền đốingoại
Tổ chức và chỉ đạo hoạt động của các cơ quan đại diện của nước ta tạinước ngoài và tạo và tại các tổ chức quốc tế; bảo vệ lợi ích chính đáng của tổchức và công dân Việt Nam ở nước ngoài; Quản lý hoạt động của tổ chức, cánhân nước ngoài tại Việt Nam
1.3 Yếu tố tác động đến chính sách đối ngoại
– Lợi ích quốc gia: Lợi ích quốc gia trong đối ngoại bao gồm hai nhóm:
+ Nhóm lợi ích sống còn: Giữ vững chủ quyền, thống nhất và toàn vẹnlãnh thổ của quốc gia; giữ vững hòa bình với bên ngoài, bảo đảm ổn định vàtrật tự bên trong; bảo đảm cuộc sống an toàn cho nhân dân; bảo đảm an ninhkinh tế của quốc gia; giữ gìn bản sắc dân tộc
+ Nhóm lợi ích phát triển: Không ngừng nâng cao khả năng giữ vữngchủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; không ngừng nângcao chất lượng cuộc sống của nhân dân; mở rộng không gian phát triển; phát
Trang 6huy bản sắc dân tộc; phát huy vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốctế.
– Thế và lực của quốc gia trên trường quốc tế:
Chính sách đối ngoại được xây dựng trên cơ sở không những phải phùhợp với lợi ích của quốc gia, mà còn phải tương thích với vị thế và sức mạnhtổng hợp của đất nước
– Tinh hình chính trị và an ninh thế giới:
Cục diện thế giới và khu vực cũng có ảnh hưởng và tác động mạnh mẽđến quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của mọi quốc giatrên thế giới
– Mục tiêu quốc gia mong muốn đạt được
– Ảnh hưởng của bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại
– Các nhân tố chính trị nội bộ (Các nhóm lợi ích, giới truyền thông,công luận…)
1.4 Vai trò của đối ngoại trong thời kỳ hiện nay
Chủ động tạo ra mối quan hệ quốc tế thuận lợi để đưa nước ta hội nhậpvới các nước trên thế giới; góp phần tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đấtnước, nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế
Hoạt động đối ngoại đã chủ động, tích cực triển khai mạnh và hiệu quảchủ trướng lớn về Hội nhập quốc tế Hội nhập quốc tế đã được triển khaimạnh mẽ trên tất cả các kênh, bao gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước,đối ngoại của Quốc hội, đối ngoại nhân dân, diễn ra hầu khắp các lĩnh vực củađời sống xã hội
Hoạt động đối ngoại đã có nhiều đóng góp thiết thực vào việc tranh thủtối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế – xã hội Có nhiềuquốc gia, vùng lãnh thổ, tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam
Trang 7Người Việt Nam ở xa đất nước ngày càng hướng về quê hương, gắn bó
và có những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã và đang làm tốt nhiệm vụbảo vệ công dân, thực hiện thành chỗ dựa tin cậy của cộng đồng người ViệtNam sinh sống và làm việc ở nước ngoài
II NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1 Đường lối đối ngoại của Đại hội VI
Đại hội VI của Đảng (12 /1986) trên cơ sở nhận thức đặc điểm nổi bậtcủa thế giới là cuộc cách mạng khoa - học kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ,đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất, Đảng ta nhận định: “xuthế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh
tế – xã hội khác nhau,cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta” Từ đó Đảng chủ trương phải biếtkết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới và đề rayêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hộichủ nghĩa, với các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức và tư nhân nướcngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi
+ Triển khai chủ trương của Đảng, tháng 12-1987, luật đầu tư nướcngoài tại Việt Nam được ban hành Đây là lần đầu tiên Nhà nước ta tạo cơ sởpháp lý cho các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam – mở cửa
để thu hút nguồn vốn, thiếtbị và kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất, kinhdoanh và phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước
+ Tháng 5-1988, Bộ chính trị ra nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chínhsách đối ngoại trong tình tình mới, khẳng định mục tiêu chiến lược và lợi íchcao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giư vững hoà bình để tậptrung sức xây dựng và phát triển kinh tế Bộ chính trị đề ra chủ trương kiênquyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đấu tranh và
Trang 8hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình; lợi dụng sự phát triển của cách mạngkhoa học – kỹ thuật và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới để tranh thủ vịtrí có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế; kiên quyết mở rộng quan hệhợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hóa quan hệ đối ngoại.
Nghị quyết số 13 của Bộ chính trị đánh dấu sự đổi mới tư duy quan hệquốc tế và chuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại của Đảng ta Sựchuyển hướng này đã đặt nền móng hình thành đường lối đối ngoại độc lập tựchủ,mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế.Trên lĩnh vực kinh
tế đối ngoại, từ năm 1989, Đảng chủ trương xoá bỏ tình trạng độc quyền trongsản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu So với chủ trương của Đại hội V
“Nhà nước độc quyền ngoại thương và Trung ương thống nhất quản lý côngtác ngoại thương”, thì đây là bước đổi mới đầu tiên trên lĩnh vực kinh tế đốingoại của Việt Nam
2.2 Đường lối đối ngoại của Đại hội VII
Đại hội VII của Đảng (6/1991) đề ra chủ trương “hợp tác bình đẳng vàcùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị – xã hôi khácnhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”, với phương châm
“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấnđấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”
Đại hội VII đã đổi mới chính sách đối ngoại với các đối tác cụ thể VớiLào và Campuchia, thực hiện đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệuquả trên tinh thần bình đẳng Với Trung Quốc, Đảng chủ trương thúc đẩy bìnhthường hoá quan hệ, từng bước mở rộng hợp tác Việt – Trung Trong quan hệvới khu vực, chủ trương phát triển quan hệ hữu nghị với các nước Đông Nam
Á và châu Á - Thái Bình Dương, phấn đấu cho một Đông Nam Á hoà bình,hữu nghị và hợp tác Đối với Hoa Kỳ, Đaị hội nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩyquá trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam –Hoa Kỳ
Trang 9Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội được Đại hội lần thứ VII của Đảng thông qua, đã xác định quan hệ hữunghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới là một trong nhữngđặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng.
Các Hội nghị Trung ương (khoá VII) tiếp tục cụ thể hoá quan điểm củaĐại hội VII về lĩnh vực đối ngoại Trong đó, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấphành Trung ương khoá VII (tháng 6-1992) nhấn mạnh yêu cầu đa dạng hoá,
đa phương hoá quan hệ quốc tê Mở rộng cửa để tiếp thu vốn, công nghệ, kinhnghiệm quản lý của nước ngoài, tiếp cận thị trường thế giới, trên cơ sở bảođảm an ninh quốc gia, bảo vệ tài nguyên, môi trường, hạn chế đến mức tốithiểu những mặt tiêu cực phát sinh trong quá trình mở cửa
Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (1/1994) chủ trương triển khai mạnh
mẽ và đồng bộ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa dạng hoá và
đa phương hoá quan hệ đối ngoại, trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo là: giữ vữngnguyên tắc độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội đồng thời phải rất sángtạo, năng động, linh hoạt phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể củaViệt Nam cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp vớiđặc điểm từng đối tượng
Như vậy quan điểm chủ trương đối ngoại rộng mở được đề ra từ Đạihội lần thứ VI, sau đó được các nghị quyết trung ương từ khoá VI đến khoáVII phát triển đã hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đadạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế.Giai đoạn 1996-2008: Bổ sung vàphát triển đương lối đối ngoại theo phương châm chủ động, tích cực hội nhậpkinh tế quốc tế
2.3 Đường lối đối ngoại của Đại hội VIII
Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996) khẳng định tiếp tục mở rộngquan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các nước, các trung tâm kinh tế, chính
Trang 10trị khu vực và quốc tế Đồng thời chủ trương “xây dựng nền kinh tế mở và
“đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”.Đại hội VIII xácđịnh rõ hơn quan điểm đối ngọai với các nhóm đối tác như: ra sức tăng cườngquan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN; khôngngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống; coi trọng quan hệvới các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị thế giới; đoàn kếtvới các nước đang phát ttriển, với phong trào không liên kết; tham gia tíchcực và đóng góp cho hoạt động của các tổ chức quốc tế, các diễn đàn quốctế.So với Đại hội VII, chủ trương đối ngoại của Đại hội VIII có các điểm mới:một là, chủ trương mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảngkhác Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương, khoá VIII (tháng 12-1997), chỉ rõ: trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chínhsách thu hút các nguồn lực bên ngòai Nghị quyết đề ra chủ trương tiến hànhkhẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp định Thương mại với Mỹ, gianhập APEC và WTO
2.4 Đường lối đối ngoại của Đại hội IX
Đại hội IX của Đảng (4/2001), Đảng nhấn mạnh chủ trương chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực.Lần đầu tiên, Đảng nêu rõ quan điểm về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ”
“Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đườnglối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh Xây dựng nền kinh tếđộc lập tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng vànâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thànhnguồn lực tổng hợp phát triển đất nước”.Cảm nhận đầy đủ “lực” và “thế” củađất nước sau 15 năm đổi mới, Đại hội IX đã phát triển phương châm của ĐạiHội VII là: “Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong cộng đồng thế giớiphấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn,
là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình,
Trang 11độc lập và phát triển” Chủ trương xây dựng quan hệ đối tác được đề ra ở Đạihội IX đánh dấu bước phát triển về chất tiến trình quan hệ quốc tế của ViệtNam thời kỳ đổi mới.Tháng 11-2001, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 07 về hộinhập kinh tế quốc tế Nghị quyết đề ra 9 nhiệm vụ cụ thể và 6 biện pháp tổchức thực hiện quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Hội nghị lần thứ chín BanChấp hành Trung ương khoá IX (ngày 5-1-2004) nhấn mạnh yêu cầu chuẩn bịtốt các điều kiện trong nước để sớm ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO); kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện của các lợi ích cục bộ làmkìm hãm tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
2.5 Đường lối đối ngoại của Đại hội X
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4-2006) nêu quan điểm:thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hợp tác vàphát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá cácquan hệ quốc tế Đồng thời đề ra chủ trương “chủ động và tích cực hội nhậpkinh tế quốc tế”.Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn chủ độngquyết định đường lối, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế, không thể rơi vàothế bị động; phân tích lựa chọn phương thức hội nhập đúng, dự báo đượcnhững tình huống thuận lợi và khó khăn khi hội nhập kinh tế quốc tế.Tích cựchội nhập kinh tế quốc tế là khẩn trương chuẩn bị, điều chỉnh, đổi mới bêntrong, từ phương thức lãnh đạo, quản lý đến hoạt động thực tiên; từ Trungương đến địa phương, doanh nghiệp; khẩn trương xây dựng lộ trình, kế hoạch,hoàn chỉnh hệ thống pháp luật; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp và nền kinh tế; tích cực, nhưng phải thận trọng, vững chắc.Chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế phải là ý chí, quyết tâm của Đảng, Nhànước, toàn dân, của mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và toàn xãhội.Như vậy, đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đaphương hoá quan hệ quốc tế được xác lập trong mười năm đầu của thời kỳ đổimới (1986-1996), đến Đại hội X (năm 2006) được bổ sung, phát triển theo
Trang 12phương châm chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, hình thành đườnglối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đốingoại rộng mở, đa phương hoá, đa dang hoá các quan hệ quốc tế
2.6 Đường lối đối ngoại của Đại hội XI
Thứ nhất, về mục tiêu của đối ngoại, văn kiện Đại hội XI nêu: “vì lợiích quốc gia, dân tộc” Cùng với lợi ích quốc gia dân tộc, Đại hội XI cũng đặtmục tiêu đối ngoại là “vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”.Hai mục tiêu này thống nhất với nhau Bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là cơ
sở cơ bản để xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Xây dựng mộtnước Việt nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh là phù hợp với lợi ích quốc giadân tộc và là điều kiện cần để thực hiện các lợi ích đó
Thứ hai, về nhiệm vụ của công tác đối ngoại, điểm mới trong phần đốingoại của văn kiện Đại hội XI là xác định rõ hơn khía cạnh an ninh khi nêu rõnhiệm vụ “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnhthổ” Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là cơ sở tồn tại củamột quốc gia Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổluôn luôn là một trong những nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia Việc nêu rõđiều này trong nhiệm vụ đối ngoại là nhằm đáp ứng những phát triển mới củatình hình, đồng thời khẳng định vai trò của đối ngoại trong sự nghiệp bảo vệđộc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước
Thứ ba, về các nguyên tắc phải tuân thủ khi tiến hành các hoạt động đốingoại, tái khẳng định các nguyên tắc của đường lối, chính sách đối ngoại thời
kỳ Đổi mới, Đại hội XI nêu: “bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tựchủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, “tôn trọng các nguyên tắc
cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc” Bên cạnh nhữngnguyên tắc nhất quán này, văn kiện Đại hội XI, phần định hướng giải quyếtcác vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới trên biển và thềm lục