§¹i héi ®¹i biÓu toµn quèc lÇn thø VI cña §ng (12 1986) ® nhËn thøc ®óng nh÷ng biÕn ®éng cña t×nh h×nh thÕ giíi vµ xu thÕ què PAGE 2 Më ®Çu §èi ngo¹i lµ mét lÜnh vùc rÊt c¬ b¶n cña mét quèc gia, lµ ch.
Trang 1Đối ngoại là một lĩnh vực rất cơ bản của một quốc gia, là chiếc cầu nối giữa dân tộc và nhân loại, giữa đất n ớc và thế giới Hoạt
động đối ngoại không chỉ thể hiện ở tài năng, vị thế của một quốc gia trên trờng quốc tế, mà còn hàm chứa trong đó cả yếu tố văn hóa truyền thống của dân tộc
Ngày nay, trớc xu thế khách quan của toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng, hoạt động đối ngoại ngày càng đợc mở rộng, vai trò và vị trí của nó càng trở nên quan trọng trong chiến l ợc quan hệ quốc tế giữa các quốc gia Không có một quốc gia nào không quan tâm đến chiến lợc đối ngoại
Đối với nớc ta, trong thời chiến cũng nh trong thời bình, Đảng
ta đều coi trọng công tác đối ngoại, xem chính sách đối ngoại là một
bộ phận không thể thiếu trong đờng lối cách mạng Việt Nam Đặc biệt, từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), Đảng ta đã đề ra đờng lối đổi mới toàn diện, trong đó có
đổi mới đờng lối đối ngoại của Đảng, công tác đối ngoại của Việt Nam đã mở ra một bớc ngoặt mới, hoạt động đối ngoại đợc tăng c-ờng và mở rộng hơn Với đc-ờng lối đối ngoại đổi mới của Đảng, hoạt
động đối ngoại của Việt Nam có hiệu quả hơn, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với nhiều nớc trên thế giới, bạn bè thế giới hiểu rõ hơn về
đất nớc và con ngời Việt Nam Vị thế của Việt Nam ngày càng đ ợc nâng cao trên trờng quốc tế
Để góp phần vào việc nghiên cứu đ ờng lối đối ngoại của Đảng
nói chung, trong phạm vi tiểu luận này sẽ đi sâu nghiên cứu: Nội dung đờng lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ 1986 – 2004.
Nội dung
I Đặc điểm tình hình thế giới và trong n ớc tác động đến việc đổi mới đờng lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam.
1- Đặc điểm tình hình thế giới:
Từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố biến động khó l-ờng Đặc biệt, sau sự sụp đổ của Liên Xô và các n ớc xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi cục diện thế giới và quan hệ quốc tế Trật tự thế giới mới đ ợc hình thành với xu
Trang 2h-ớng đa cực hóa chính trị thay cho trật tự thế giới hai cực đối lập (hai phe xã hội chủ nghĩa và t bản chủ nghĩa) do Liên Xô và Mỹ đứng
đầu bị tan rã Thế giới xuất hiện những đặc điểm mới đòi hỏi các quốc gia, nhất là các nớc vừa và nhỏ phải điều chỉnh chính sách đối ngoại để tìm kiếm con đờng phát triển và hội nhập quốc tế có lợi nhất cho quốc gia, dân tộc mình Những đặc điểm mới của tình hình thế giới, đó là:
Thứ nhất, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
phát triển mạnh mẽ, có bớc tiến nhảy vọt đã tác động đến tất cả các quốc gia, dân tộc Với những bớc tiến khổng lồ của điện tử, tin học, mạng Internet trong lĩnh vực công nghệ thông tin, sự đột biến về gien trong công nghệ sinh học, những thành tựu của công nghệ vật liệu mới… đã đa loài ngời từ nền văn minh công nghiệp chuyển sang thời kỳ mới của nền văn minh tin học Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới đã tạo ra thời cơ và thách thức đối với mỗi quốc gia trong việc tiếp cận, áp dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại để phát triển vơn lên, hay bị tụt hậu về kinh tế
Thứ hai, toàn càu hóa kinh tế là một xu thế khách quan lôi
cuốn ngày càng nhiều nớc tham gia, xu thế này đang bị một số nớc phát triển và các tập đoàn t bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh
Xu thế toàn cầu hóa hình thành từ đầu thế kỷ XX và đ ợc đẩy mạnh trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ này Chắc chắn nó sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ hơn nữa trong thế kỷ XXI Toàn cầu hóa là một quá trình mà thông qua đó thị trờng và sản xuất ở nhiều nớc khác nhau
đang ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau
Toàn cầu hóa là hệ quả tất yếu của sự phát triển lực l ợng sản xuất hiện đại, đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin Toàn cầu hóa trớc hết là sự biểu hiện của xã hội hóa cao độ lực l ợng sản xuất Toàn cầu hóa đồng thời là sự phát triển tất yếu theo chiều rộng
và chiều sâu của quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa, mặc dù không phải tất cả các nớc tham gia toàn cầu hóa đều là những nớc t bản Do vậy, chấn tâm của toàn cầu hóa là các n ớc t bản phát triển, xứ sở của phần lớn các công ty xuyên quốc gia trên thế giới
Trang 3Mặt khác, để tồn tại và phát triển, mỗi quốc gia đều quan tâm
đến lợi ích dân tộc mình và kịp thời nắm bắt chiều h ớng phát triển của thế giới trong bối cảnh kết thúc chiến tranh lạnh, không còn hai phe (xã hội chủ nghĩa và t bản chủ nghĩa ) trong quan hệ quốc tế Xu thế hợp tác và đấu tranh vì mục tiêu hòa bình, ổn định và phát triển trong quan hệ quốc tế đợc đặt ra Các quốc gia đều coi chiến lợc mở cửa với bên ngoài là một trong những động lực chủ yếu để phát triển kinh tế Nhu cầu liên kết, hợp tác để phát triển ngày càng gia tăng
Điều đó đã thúc đẩy nhanh chóng và mạnh mẽ quá trình toàn cầu hóa
Tuy nhiên, toàn cầu hóa là một quá trình phức tạp đầy mâu thuẩn, chứa đựng cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực, cả thời cơ và thách thức đối với các quốc gia, trong đó có các nớc đang phát triển, chậm phát triển chịu nhiều thách thức gay gắt hơn cả
Toàn cầu hóa có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác để phát triển, tháo dỡ các rào cản đối với nền kinh
tế thị trờng, tự do hóa thơng mại, làm cho giao lu kinh tế diễn ra mạnh mẽ nhanh chóng Toàn cầu hóa tạo ra môi tr ờng cạnh tranh ngày càng quyết liệt buộc các nớc phải có t duy năng động, có cơ chế quản lý, bộ máy quản lý hoạt động có hiệu quả Toàn cầu hóa và cách mạng thông tin tạo điều kiện thuận lợi để các quốc gia tiếp cận nhanh chóng những thành tựu văn hoá, khoa học, công nghệ của loài ngời, đồng thời có điều kiện đóng góp tích cực vào sự phát triển của văn minh nhân loại Toàn cầu hóa còn làm cho các quốc gia quan tâm hơn các vấn đề toàn cầu, đòi hỏi phải có sự liên kết, hợp tác giữa các quốc gia không phân biệt chế độ chính trị để giải quyết Nó cũng tạo ra một chủ thể quốc tế mới chống mặt trái của toàn cầu hóa và lôi kéo đông đảo các quốc gia, dân tộc chống lại sự phân hóa giàu nghèo, chống sự áp đặt phi lý của các cờng quốc kinh tế và các công
ty xuyên quốc gia
Song, bên cạnh những tác dụng tích cực, toàn cầu hóa đã tạo ra những thành tựu và nguy cơ không nhỏ đối với các n ớc, nhất là các nớc đang phát triển Toàn cầu hóa làm tăng tính phụ thuộc của các n
-ớc đang phát triển vào các n-ớc lớn về vốn, công nghệ và thị trờng Toàn cầu hóa kinh tế có tác động trực tiếp đến lĩnh vực chính trị, đến
an ninh quốc gia Nó tạo ra nguy cơ các nớc đang phát triển bị lệ
Trang 4thuộc về kinh tế, từ đó sẽ dẫn đến lệ thuộc về chính trị, làm nguy hại
đến chủ quyền và an ninh quốc gia
Nghiêm trọng nhất trong các vấn đề toàn cầu là nguy cơ khủng hoảng toàn cầu về môi trờng, sinh thái đe doạ sự sống trên trái đất
đang đến gần Hiểm họa môi trờng gia tăng với sự bùng nổ về dân số
đang là vấn đề xã hội của toàn nhân loại chứ không phải chỉ một quốc gia nào
Trớc xu thế toàn cầu hóa hiện nay, ở các nớc đang phát triển diễn ra ba xu hớng: một là, cờng điệu hóa mặt tích cực của toàn cầu hóa, coi nó là liều thuôc vạn năng cho sự phát triển của quốc gia Hai là, chỉ nhìn thấy mặt tiêu cực, khó khăn, thách thức, từ đó tìm cách né tránh, quay lng lại với toàn cầu hóa Ba là, chủ động hội nhập trên cơ sở nhận thức sâu sắc những tác động tích cực của toàn cầu hóa cùng những tác động tiêu cực của nó để tìm cách hạn chế
Thực tế cho thấy, các nớc muốn tránh khỏi nguy cơ bị biệt lập, tụt hậu, kém phát triển thì phải tích cực, chủ động tham gia hội nhập khu vực và quốc tế, đồng thời phải có bản lĩnh cân nhắc một cách cẩn trọng các yếu tố bất lợi để vợt qua
Thứ ba, tình hình thế giới còn nhiều biến động, các cuộc đấu
tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vẫn liên tiếp xãy ra Tuy có giảm hơn so với thời kỳ chiến tranh lạnh (nếu nh trong thời kỳ chiến tranh lạnh mỗi năm trung bình có 43 cuộc xung đột trên toàn thế giới thì
từ khi kết thúc chiến tranh lạnh mỗi năm trên thế giới có khoảng 13 cuộc xung đột), nhng các cuộc xung đột về dân tộc, về sắc tộc vẫn tiếp tục diễn ra mang tính chất gay gắt, quyết liệt và sâu sắc hơn Các nớc lớn lợi dụng cái gọi là “tự do, dân chủ, nhân quyền”, đứng
đầu là Mỹ đã trực tiếp hoặc gián tiếp can thiệp vào công việc nội bộ của nhiều quốc gia Tình trạng bạo loạn lật đổ vẫn là mối đe dọa của các quốc gia, dân tộc Nguy cơ bùng nổ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, song chủ nghĩa đế quốc vẫn cha từ bỏ chạy đua vũ trang
Tuy nhiên, sau chiến tranh lạnh, các n ớc đã đổi mới t duy về quan niệm sức mạnh và vị thế của quốc gia Thay thế cách đánh giá
cũ, chủ yếu dựa vào sức mạnh quân sự là chính bằng cách đánh giá tổng hợp, toàn diện hơn, trong đó nhấn mạnh sức mạnh kinh tế và khoa học, công nghệ là yếu tố hàng đầu Từ đó, đã biến cuộc chạy
đua vũ trang giữa các quốc gia thành cuộc cạnh tranh về kinh tế, hình thành xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển giữa các quốc gia
Trang 5Thứ t, các nớc lớn đóng vai trò chi phối các mối quan hệ trên
thế giới Quan hệ giữa các nớc lớn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của quan hệ quốc tế đơng đại Đó là các cờng quốc về kinh tế, khoa học – công nghệ, quân sự và là ủy viên thờng trực của Hội
đồng bảo an Liên hiệp quốc, bao gồm các n ớc: Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Đức, Italia, Nhật Bản, ấn Độ Các nớc này có một số
điểm chung trong chống khủng bố, chống sản xuất vũ khí hủy diệt, chống đói nghèo, bệnh tật và suy thoái kinh tế; nh ng cũng có những
điểm bất đồng trong quan hệ kinh tế thơng mại, bảo vệ môi trờng sinh thái… Các nớc vừa và nhỏ quan hệ với các nớc lớn sẽ mở ra triển vọng quan hệ với các nớc khác trên thế giới
Với những đặc điểm mới của tình hình thế giới đòi hỏi các quốc gia phải hết sức tỉnh táo khi lựa chọn con đ ờng mở cửa, hội nhập quốc tế Phải bảo đảm những vấn đề có tính nguyên tắc, có tính chiến lợc, song lại phải hết sức mềm dẻo, uyển chuyển trong sách l
-ợc khi xây dựng đờng lối đối ngoại đổi mới vì một thế giới hòa bình, vì sự ổn định và phát triển bền vững
2- Đặc điểm tình hình trong nớc:
Sau khi đất nớc đợc hòa bình thống nhất, cả nớc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, định hớng con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội, thì các thế lực thù địch, đứng đầu là đế quốc Mỹ thực hiện việc bao vây, cấm vận đối với nớc ta Khi sự kiện Campuchia xảy ra, chúng lợi dụng cái gọi là “vấn đề Campuchia” để cô lập Việt Nam với thế giới và khu vực Một số nớc vốn có quan hệ với Việt Nam từ trớc cũng ngừng quan hệ với Việt Nam Trong khi đó, bọn phản động l u vong chạy ra nớc ngoài âm mu câu kết với các thế lực đế quốc thực hiện chủ trơng “chuyển lửa” về quê nhà, kích động chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, xung đột vũ trang, gây mất ổn định tình hình chính trị – xã hội
Mặt khác, từ sau năm 1975, do hậu quả chiến tranh chống Pháp
và Mỹ rất nặng nề cha khắc phục đợc, lại xảy ra hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc Cùng với khuyết điểm chủ quan
do duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp
đã làm cho đất nớc ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng Việt Nam đang đứng trớc nguy cơ tụt hậu ngày càng
xa so với thế giới văn minh Trong khi nhân loại đã chuyển sang thời
đại của nền văn minh tri thức thì Việt Nam vẫn còn ở trong thời kỳ
Trang 6tiền công nghiệp hoá, hiện đại hoá (tức là ch a có công nghiệp hiện
đại) Việt Nam vẫn là một nớc có nền kinh tế phát triển thấp, tăng tr-ởng không ổn định, cơ sở hạ tầng và dịch vụ thấp kém, bình quân thu nhập quốc dân trên đầu ngời ở dạng các nớc nghèo, trong khi các quốc gia cùng khu vực nh Thái Lan, Brunây, Singapore, Indonesia… phát triển kinh tế rất nhanh
Để phá vỡ thế bao vây cấm vận của chủ nghĩa đế quốc, tiến tới hội nhập quốc tế và khu vực, đa nớc ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội và tụt hậu xa hơn về kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, giữ vững ổn định chính trị trong tình hình mới, một yêu cầu tất yếu khách quan và cấp bách đ ợc đặt
ra là phải đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới đ ờng lối đối ngoại của Đảng
Phát huy truyền thống hòa bình, nhân ái, hữu nghị, hợp tác văn minh của nền ngoại giao Việt Nam và t tởng ngoại giao của Hồ Chí Minh thể hiện trong tuyên bố của Ngời: “Chính sách đối ngoại là thân thiện với tất cả các nớc… mà không thù gì với nớc nào” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 5, tr.169) Đảng ta chủ trơng đổi mới đờng lối đối ngoại là mở cửa, hội nhập vì mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
II Nội dung đờng lối đối ngoại đổi mới của
Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ 1986 – 2004.
Đờng lối đối ngoại là một bộ phận quan trọng, hợp thành đ ờng lối chính trị của Đảng Đờng lối đối ngoại của Đảng nhằm khai thác tốt nhất các nhân tố quốc tế phuc vụ cho nhu cầu phát triển đất n ớc,
đồng thời mở rộng và phát huy ảnh hởng của dân tộc ta, đóng góp với cộng đồng quốc tế trong cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Đảng ta coi đối ngoại là một mặt trận và hết sức quan tâm đến mặt trận này
Từ việc nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của mặt trận đối ngoại, đặc biệt là đối ngoại trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã từ thực tiễn của công tác đối ngoại dần dần hoàn thiện đờng lối đối ngoại
đổi mới của Đảng
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986)
-Đại hội mở đầu thời kỳ đổi mới, Đảng ta chủ tr ơng về đối ngoại là
mở cửa và hội nhập quốc tế, quan hệ với tất cả các n ớc có chế độ
Trang 7chính trị - xã hội khác nhau trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và xu thế quốc tế, Đại hội đã phác họa những đặc điểm nổi bật của thời đại là cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành b ớc phát triển nhảy vọt của lực lợng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa các lực lợng sản xuất Cuộc cách mạng này là nhân tố cơ bản thúc đẩy sự hình thành thị trờng thế giới, trong đó, hệ thống kinh tế t bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa vì yêu cầu phát triển phải hợp tác với nhau trong trạng thái đấu tranh, cạnh tranh quyết liệt
Đại hội VI nhấn mạnh: Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa chính trị ngày càng quan trọng đối với kết cục cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống…, giữa các nớc có chế độ xã hội khác nhau, sự lựa chọn duy nhất đúng đắn là thi đua về kinh tế, về lối sống… và cuộc thi đua này chỉ có thể đợc thực hiện trong hoàn cảnh hòa bình đ ợc
đảm bảo vững chắc
Quan điểm trên đây của Đại hội VI thể hiện b ớc tiến mới về t duy chính trị quốc tế của Đảng Sự đổi mới t duy này đã đặt cơ sở cho việc xây dựng chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nớc phù hợp hơn, thích ứng hơn với tình hình thế giới
Đại hội VI nhận thức rõ sự cần thiết phải đổi mới ph ơng cách tập hợp lực lợng, một trong những bài học kinh nghiệm mà Đại hội rút ra là “phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới” và “xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nớc, kể cả các nớc có chế độ kinh tế – xã hội khác nhau, cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nớc ta” Những nhận thức mới này đã đặt nền móng cho việc hình thành các chủ trơng mở rộng quan hệ quốc tế của
Đảng
Về nội dung của chính sách đối ngoại, Đảng ta xác định: nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại hiện nay là lấy kinh tế đối ngoại làm u tiên hàng đầu Kinh tế đối ngoại có vai trò to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất n ớc nh: góp phần tạo vốn; thúc đẩy quá trình đổi mới kỹ thuật – công nghệ theo h ớng hiện đại hóa; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo h ớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tạo điều kiện khai thác tốt lợi thế so sánh của đất nớc, thúc đẩy phát triển và tăng trởng kinh tế – xã hội Đại
Trang 8hội VI nhấn mạnh: Nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế trong chặng đờng đầu tiên cũng nh sự nghiệp phát triển khoa học – kỹ thuật và công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa của nớc ta tiến hành nhanh hay chậm, điều đó phụ thuộc một phần quan trọng vào việc
mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Từ đó, Đảng chủ tr
-ơng: sử dụng tốt mọi khả năng mở rộng quan hệ th ơng mại, hợp tác kinh tế và khoa học, kỹ thuật với bên ngoài để phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Bớc vào thời kỳ mới, Đảng ta đặt vấn đề cần phải có quan điểm mới về an ninh và phát triển kinh tế, phải xử lý mối quan hệ này cho phù hợp với thời đại An ninh và phát triển kinh tế là hai mục tiêu cơ bản trong các mục tiêu của hoạt động đối ngoại Hai mục tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau Tuy nhiên trong từng điều kiện cụ thể, vị trí, vai trò của từng mục tiêu có thể thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng Trong một thế giới mà sự hợp tác, liên kết về kinh tế, sự đan xen lợi ích và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng, thì vấn đề an ninh của một quốc gia phải gắn với an ninh khu vực, thậm chí an ninh của cả thế giới Việc Việt Nam tham gia tích cực vào quá trình liên kết, hợp tác kinh
tế khu vực và quốc tế sẽ là một bảo đảm quan trọng cho an ninh của Việt Nam Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (5/1988) về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, đã chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với cách mạng nớc ta và khẳng định “lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế Đó là nhân tố quyết định củng cố, giữ vững an ninh và độc lập… Cần phải có quan điểm mới
về an ninh và phát triển trong thời đại ngày nay để khẳng định mạnh
mẽ phơng hớng u tiên tập trung cho sự nghiệp giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế” Nghị quyết còn chỉ rõ: “với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan
hệ hợp tác quốc tế chúng ta sẽ càng có nhiều khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hơn”
Trong tình hình mới, để tạo điều kiện và cơ hội giữ vững hòa bình, phát triển kinh tế, Nghị quyết 13 Bộ Chính trị xác định quan
điểm: trong quan hệ quốc tế, chúng ta phải “thêm bạn, bớt thù”, ra sức tranh thủ các nớc anh em bầu bạn và d luận rộng rãi trên thế giới, phân hóa hàng ngũ đối phơng, làm thất bại âm mu bao vây, cô
Trang 9lập ta về kinh tế, chính trị; kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đối thoại, đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình; lợi dụng sự phát triển của cách mạng khoa học
kỹ thuật và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới để tranh thủ vị trí có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế; kiên quyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hóa quan hệ
Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ơng
Đảng khóa VI (3/1989), tiếp tục quán triệt chủ tr ơng mở rộng quan
hệ quốc tế, tham gia tích cực vào phân công lao động quốc tế, chuyển mạnh hoạt động ngoại giao từ quan hệ chính trị là chủ yếu sang quan hệ chính trị – kinh tế, mở rộng quan hệ kinh tế, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nớc
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khóa VI (3/1990), coi việc mở rộng quan hệ đối ngoại theo ph ơng châm “thêm bạn, bớt thù” là một trong những nhiệm vụ cấp bách và quán triệt không để các vấn đề cục bộ, tạm thời, thứ yếu cản trở việc thực hiện nhiệm vụ chiến lợc của ta; nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế phù hợp với tình hình mới; đa dạng hóa quan hệ quốc tế; đẩy lùi từng bớc chính sách bao vây, cấm vận đối với nớc ta
Có thể nói, nội dung đổi mới t duy về đối ngoại của Đảng ta
đ-ợc khởi xớng từ Đại hội VI, sau đó đđ-ợc Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị và các Nghị quyết tiếp theo của Hội nghị Ban chấp hành Trung
-ơng ( khóa VI ) phát triển, đã thể hiện rõ sự điều chỉnh chiến l ợc đối ngoại của nớc ta trớc tình hình mới Sự điều chỉnh này đã đặt nền móng cho chiến lợc đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa,
đa phơng hóa quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nớc ta
Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp Mô hình chủ nghĩa xã hội bị sụp đổ ở Liên Xô và
Đông Âu; các thế lực đế quốc tăng cờng sử dụng chiến lợc "diễn biến hòa bình" chống phá nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm
vi toàn thế giới Trớc những thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu của công tác đối ngoại là phải nhận thức kịp thời và dự báo đợc những diễn biến trong quan hệ quốc tế
để có những chủ trơng đối ngoại phù hợp
Đáp ứng yêu cầu đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII cùa
Đảng (6/1991) tiếp tục đổi mới t duy đối ngoại và đề ra đờng lối đối
ngoại là đa dạng hóa, đa phơng hóa trong quan hệ quốc tế Theo
Trang 10quan điểm của Đảng ta, đa dạng hóa quan hệ có nghĩa là mở rộng quan hệ trên mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật đến các quan hệ về Nhà nớc, về Đảng và các tổ chức đoàn thể xã hội Đa phơng hóa, có nghĩa là quan hệ với nhiều đối t ợng khác nhau, với các tổ chức thuộc các xu hớng về chế độ - chính trị xã hội khác nhau, với các tổ chức phi chính phủ…
Tại Đại hội này, Đảng ta đã xác định: chỉ nghĩa Mác Lênin và
t tởng Hồ Chí MInh là nền tảng t tởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam Thế l1 về đ ờng lối đối ngoại,
Đảng ta đã vận dụng t tởng ngoại hgiao của Hồ Chí Minh: "làm bạn với mọi nớc dân chủ và không gây thù oán với ai" (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 5, trang 220) T tởng "thêm bạn, bớt thù" đợc Đảng ta khẳng định một lần nữa Hơn nữa, trong điều kiện mới, t duy xác định "bạn, thù" theo tiêu chí củ (cùng phe là bạn, khác phe là thù) không còn phù hợp, mà đòi hỏi phải mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn Từ đó, Đại hội VII đã xác định ph
-ơng châm đối ngoại là Việt Nam muốn là bạn với tất cả các n ớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Trong giai đoạn mới, mục tiêu chung của các quốc gia là hòa
bình, độc lập và phát triển Các nớc có thể có chế độ chính trị khác nhau, có điểm xuất phát từ kinh tế, chính trị, xã hội không giống nhau, thậm chí mục tiêu tiến lên khác nhau, nh ng vẫn có thể tỉm thấy tiếng nói chung trên nhiều vấn đề mà mỗi nớc quan tâm Quan hệ quốc tế rộng mở, đa phơng (bao gồm song phơng và đa phơng) và đa dạng đợc Đảng ta khẳng định theo chiều h ớng cởi mở vì mục tiêu ổn
định và phát triển
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khóa VII (6/1992) đã nhấn mạnh việc mở rộng, đa dạng hóa và đa ph ơng hóa quan hệ đối ngoại cả về chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật, cả về Đảng, Nhà nớc và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức phi chính phủ, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng
có lợi; bảo vệ, phát triển kinh tế, giữ gìn và phát huy những truyền thống và bản sắc tốt đẹp của nền văn hoá dân tộc Mở rộng cửa để tiếp thu cái tốt: vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của n ớc ngoài, tiếp cận thị trờng thế giới; nhng phải đảm bảo an ninh quốc gia, bảo