1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Từ quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, làm rõ sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta hiện nay.

19 67 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, làm rõ sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta hiện nay.
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học, Xây dựng Đảng, Phát triển kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 33,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ quan điểm triết học Mác Lênin, mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được coi là nhân tố cơ bản để hiểu và phân tích sự phát triển xã hội. Lực lượng sản xuất bao gồm các yếu tố vật chất và nhân lực mà con người sử dụng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Quan hệ sản xuất là cách thức tổ chức và phân phối sản phẩm trong xã hội.Theo quan điểm triết học Mác Lênin, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất không phải là một quan hệ tĩnh, mà là một quá trình không ngừng phát triển và tranh đấu. Lực lượng sản xuất phát triển, thúc đẩy sự thay đổi trong quan hệ sản xuất, trong khi quan hệ sản xuất cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của lực lượng sản xuất.Ở nước ta hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng quan điểm triết học Mác Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất vào việc phát triển lực lượng sản xuất và

Trang 1

Đề tài 4: Từ quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, làm rõ sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta hiện nay

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG CHÍNH 3

I Quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 3

1.1 Lực lượng sản xuất 3 1.2 Quan hệ sản xuất 4 1.3 Nội dung của quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 4

II Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, làm rõ sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta hiện nay 5

2.1 Bối cảnh Việt Nam hiện nay 6 2.2 Thực trạng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của Việt nam trước

và sau Đổi mới (1986) 8 2.2.1 Thời kỳ trước đổi mới 8 2.2.2 Thời kỳ sau đổi mới (1986) 10

Trang 2

2.3 Phương hướng để tiếp tục vận dụng tốt quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay 11

KẾT LUẬN 16 TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

MỞ ĐẦU

Triết học Mác - Lênin đã cung cấp một quan điểm sâu sắc về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, qua đó đóng một vai trò quan trọng trong việc nắm bắt và phân tích quá trình phát triển xã hội Mô hình này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn được áp dụng vào thực tế, bao gồm cả tình hình phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nước ta hiện nay Trên cơ sở đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra các chính sách và biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và điều chỉnh quan hệ sản xuất, nhằm đạt được mục tiêu xây dựng một

xã hội xã hội công bằng, tiến bộ và phát triển bền vững

Triết học Mác - Lênin cho rằng, sự tương tác giữa lực lượng sản xuất (bao gồm các yếu tố sản xuất như công nghệ, lao động và tài nguyên) và quan hệ sản xuất (bao gồm các quy tắc, quyền lực và tổ chức xã hội) là nguyên nhân chính cho sự phát triển xã hội Trong quá trình này, lực lượng sản xuất có vai trò quyết định quan hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất lại tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất không ngừng tiến bộ, và đồng thời, quan hệ sản xuất cũng phải điều chỉnh và thích ứng để phù hợp với sự phát triển đó Sự tương tác được thể hiện thông qua một quá trình biện chứng không ngừng, đóng góp vào sự tiến bộ và phát triển của xã hội

Trang 3

Trong bối cảnh của nước ta hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hiểu rõ quan điểm này và vận dụng nó một cách đúng đắn, sáng tạo trong thực tiễn quá trình phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi cho tiến bộ khoa học, đẩy mạnh đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, Đảng đã tạo đà phát triển mạnh mẽ cho lực lượng sản xuất Đồng thời, Đảng cũng đã có chủ trương chủ động điều chỉnh và cải cách các quy tắc, quyền lực và tổ chức xã hội, nhằm tạo điều kiện công bằng và thuận lợi cho sự phát triển của lực lượng sản xuất

Đảng Cộng sản Việt Nam đã chú trọng đến việc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường vai trò của nhà nước và thúc đẩy sự phát triển bền vững trong các lĩnh vực kinh tế, công nghệ, đầu tư và quản lý Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất, Đảng ta đã định hình được một mô hình phát triển đặc trưng, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của nước ta

Tuy nhiên, cần nhận thức rằng sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là quá trình phức tạp, đa chiều và đòi hỏi sự điều chỉnh liên tục Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn, bao gồm việc cải cách thể chế, đảm bảo công bằng xã hội cũng như xử lý bất cập trong quan

hệ sản xuất Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, đánh giá và vận dụng quan điểm của triết học Mác - Lênin sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta

NỘI DUNG CHÍNH

I Quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện

chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Trang 4

I.1 Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất: là tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần tạo thành sức mạnh cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người "Lực lượng sản xuất - tất cả những gì có nguồn gốc từ công nghệ

và quyền lực cùng với sự tạo ra và phân phối của hàng hóa - đó là cơ sở vật chất của tất cả các quan hệ xã hội." (“Các biên niên sử kinh tế chính trị” - C Mác)

Lực lượng sản xuất bao gồm hai bộ phận cơ bản: tư liệu sản xuất và người lao động

Tư liệu sản xuất là tất cả những yếu tố vật chất mà con người sử dụng

để tiến hành sản xuất, bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong đó tư liệu lao động là nguồn lực mà xã hội sử dụng để thực hiện quá trình sản xuất (bao gồm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển và bảo quản sản phẩm……) Đối tượng lao động là những yếu tố nguyên nhiên vật liệu có sẵn trong tự nhiên (gỗ, than đá,…) hoặc được tạo ra nhân tạo để phục vụ sản xuất (pôlime,….)

Người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, là người tạo ra và sử dụng tư liệu lao động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm Họ đóng vai trò quan trọng trong việc áp dụng kiến thức, kỹ năng và sáng tạo của mình để sản xuất và đóng góp vào phát triển kinh tế và xã hội Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã khiến cho tri thức khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Lực lượng sản xuất đóng vai trò cơ bản trong việc cải biến tự nhiên, tạo nên cơ sở vật chất cho các quan hệ xã hội và xác định tính chất cũng như phạm vi phát triển của xã hội Phát triển lực lượng sản xuất có thể dẫn đến

sự thay đổi trong các quan hệ xã hội và mang lại tiến bộ lịch sử Hiểu về lực

Trang 5

lượng sản xuất là một phần quan trọng trong việc nghiên cứu về sự phát triển

và biến đổi của xã hội

I.2 Quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất: là mỗi quan hệ giũa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội)

Quan hệ sản xuất bao gồm:

Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất (quan hệ sở hữu): nói lên ai là chủ sở hữu đối với nhà máy, xí nghiệp ,các thiết bị, các nguyên nhiên vật liệu trong quá trình sản xuất

Quan hệ trong tổ chức – quản lý quá trình sản xuất: nói lên ai là người

tổ chức, quản lý và điều hành quá trình sản xuất

Quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó : nói lên ai

là người có quyền phân phối, chia thành quả sản xuất, cho những ai và như thế nào?

Trong ba mối quan hệ trên thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định hai mối quan hệ kia, đồng thời tác động trở lại bằng cách thúc đẩy hay kìm hãm

I.3 Nội dung của quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát

triển của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất có vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của quan hệ sản xuất

Tương ứng với một trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có một quan hệ sản xuất phù hợp Lực lượng sản xuất luôn không ngừng phát triển ở một trình độ cao hơn nên quan hệ sản xuất cũng phải phát triển để tạo động lực cho lực lượng sản xuất Nhưng do lực lượng sản xuất luôn phát triển nhanh hơn quan hệ sản xuất nên đến một lúc nào đó sẽ mâu

Trang 6

thuẫn với quan hệ sản xuất, đòi hỏi phải xuất hiện quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất có vai trò tác động trở lại đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất quy định mục đích, cách thức của sản xuất, phân phối Do đó nó trực tiếp ảnh hưởng đến thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng cũng như hiệu quả của quá trình sản xuất và cải tiến công cụ lao động Sự tác động của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất diễn ra theo hai hướng, hoặc là tích cực, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển khi

nó phù hợp hoặc là tiêu cực, kìm hãm lực lượng sản xuất khi nó không phù hợp

Như vậy, lực lượng sản xuất không ngừng phát triển phá vỡ sự phù hợp về mặt trình độ của quan hệ sản xuất đối với nó đòi hỏi phá bỏ quan hệ sản xuất lỗi thời và thay thế bằng một quan hệ sản xuất tiến bộ hơn Quá trình đó lặp đi lặp lại tác động đến xã hội loài người qua việc trải qua những phương thức sản xuất từ thấp đến cao dẫn đến sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội, từ kinh tế cổ điển đến kinh tế công nghiệp, và từ kinh tế công nghiệp đến kinh tế tri thức và đổi mới Đây là một phần quan trọng trong sự phát triển và tiến bộ lịch sử của xã hội loài người

II Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất, làm rõ sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát triển lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất ở nước ta hiện nay II.1 Bối cảnh Việt Nam hiện nay

Việt Nam hiện nay đang trải qua thời kỳ quan trọng của quá trình quá

độ lên chủ nghĩa xã hội Đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong lịch sử

và phát triển của đất nước, đòi hỏi sự nhạy bén, quyết đoán và sáng tạo từ

Trang 7

Đảng Cộng sản Việt Nam để tạo ra một xã hội xã hội công bằng, tiến bộ và phát triển bền vững Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một thời kỳ lịch sử mà: “Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,… tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dai” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.10, tr.13)

Trong thời kỳ quá độ này, Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức và cơ hội Thách thức đầu tiên đó là việc phải vượt qua những hạn chế

và bất cập của chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ những tác động tiêu cực từ thị trường tự do và bảo vệ lợi ích cộng đồng Đồng thời, Việt Nam cũng phải đối mặt với áp lực của quá trình toàn cầu hóa và sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường quốc tế

Tuy nhiên, trong bối cảnh này, Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để khai thác và phát triển Nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc phát triển kinh tế, đổi mới công nghệ, và tạo ra sự tiến bộ trong đời sống của nhân dân Sự ổn định chính trị cùng với sự lãnh đạo mạnh mẽ của Đảng và

sự quyết tâm của nhân dân Việt Nam là những yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình quá độ này

Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang nỗ lực để định hình một hướng phát triển xã hội chủ nghĩa đúng đắn và bền vững Việc xây dựng và củng cố quyền lực nhân dân, tăng cường vai trò của các lực lượng cơ sở, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, và phát triển giáo dục, y tế và văn hóa đang được coi là những ưu tiên hàng đầu

Trang 8

Trong bối cảnh đặc biệt này, triết học Mác - Lênin đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn và định hình con đường phát triển của Việt Nam Sự vận dụng linh hoạt và sáng tạo của triết học Mác - Lênin trong tình hình Việt Nam hiện nay là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự thành công của quá trình quá độ và xây dựng một xã hội xã hội công bằng, tiến bộ

và phát triển bền vững

Về kinh tế, chính trị và văn hóa-xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đã xảy ra nhiều biến đổi đáng kể và đạt được những thành tựu đáng chú ý

Về mặt kinh tế, Việt Nam đã chuyển từ một nền kinh tế tập trung vào kinh tế truyền thống và nông nghiệp sang một nền kinh tế đa dạng hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa Chính sách đổi mới và mở cửa của Đảng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ và xuất khẩu Kinh tế Việt Nam đã có mức tăng trưởng ấn tượng, thu hút đầu tư nước ngoài và đóng góp quan trọng vào nền kinh tế khu vực

Về mặt chính trị, Việt Nam đã duy trì một chế độ chính trị ổn định dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì một hệ thống chính trị liên kết, trong đó quyền lực nhân dân và các tổ chức cơ sở được tôn trọng và đảm bảo Đảng cũng đã đẩy mạnh công tác cải cách thể chế, tăng cường sự minh bạch và chống tham nhũng, đồng thời đảm bảo ổn định an ninh và trật tự trong quá trình phát triển

Về mặt văn hóa - xã hội, Việt Nam đã chú trọng đến việc bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống, đồng thời đa dạng hóa và tiếp thu các giá trị văn hóa toàn cầu Đất nước đã đạt được tiến bộ đáng kể trong giáo dục, y tế

và phát triển các ngành nghề Quyền lợi của công dân được đảm bảo, đảm bảo sự công bằng và bình đẳng trong xã hội Ngoài ra, Việt Nam cũng đã

Trang 9

đóng góp tích cực vào hòa bình và hợp tác quốc tế, trở thành một thành viên

có trách nhiệm trong các cộng đồng quốc tế

Tuy nhiên bên cạnh đó, trong quá trình phát triển, Việt Nam vẫn còn đối mặt với một số thách thức Các khía cạnh kinh tế, chính trị và văn hóa

-xã hội vẫn cần được cải thiện và điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu và mong đợi của nhân dân Cần tiếp tục nỗ lực trong việc phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và đảm bảo công bằng xã hội Đồng thời, cần duy trì sự ổn định chính trị và phát triển văn hóa - xã hội đa dạng và giàu tính nhân văn

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã cho thấy những đổi mới, phát triển và tiến bộ đáng kể trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa-xã hội Điều này đã tạo ra một cơ sở vững chắc cho sự phát triển và tiến bộ của đất nước trong tương lai

2.2 Thực trạng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của Việt nam trước và sau Đổi mới (1986)

2.2.1 Thời kỳ trước đổi mới

Sau cuộc chiến tranh bảo vệ dân tộc kéo dài, kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu nay lại càng gặp nhiều khó khăn hơn, lực lượng sản xuất của nước ta còn thấp kém và chưa có điều kiện phát triển

Trình độ người lao động rất thấp, hầu hết không có chuyên môn tay nghề, phần lớn lao động chưa qua đào tạo Lao động Việt nam chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm mà cha ông

để lại Trường dạy nghề rất hiếm, chủ yếu chỉ xuất hiện ở Hà Nội, Sài Gòn,

… Tại những đô thị lớn, trình độ của người lao động có chênh lệch cao hơn các vùng khác trong cả nước

Tư liệu sản xuất mà nhất là công cụ lao động ở nước ta thời kỳ này còn thô sơ, lạc hậu Là một nước nông nghiệp thế nhưng công cụ lao động

Trang 10

chủ yếu là cày, cuốc, theo hình thức “con trâu đi trước, cái cày theo sau”, sử dụng sức người là chủ yếu, trong công nghiệp máy móc thiết bị còn ít và rất lạc hậu Phát triển công cụ lao động giữa các vùng, miền cũng có sự khác nhau

Nhìn chung trước trước Đổi Mới lực lượng sản xuất ở Việt Nam thấp kém, lạc hậu và phát triển không đồng đều

Trong hoàn cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng quan

hệ sản xuất xã hôi chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, bao gồm hai thành phần kinh tế: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động

Nhà nước không thừa nhận yếu tố kinh tế tư bản như là các thành phần kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân dựa trên chế độ sở hữu tư nhân, đã phân định tách bạch thuần khiết chế độ sở hữu và thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, phi xã hội chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò của chế độ công hữu, dẫn đến chủ trương cải tạo, sớm xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa

Trong thời kỳ đầu, sau giải phóng miền Bắc, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã nhấn mạnh thái quá vai trò “tích cực” của quan hệ sản xuất, dẫn đến chủ trương quan hệ sản xuất phải đi trước, mở đường để tạo động lực cho sự phát triển lực lượng sản xuất Có những nơi nông dân bị bắt ép đi vào các hợp tác xã, mở rộng nông trường quốc doanh mà không tính đến lực lượng sản xuất còn rất lạc hậu

Người lao động không được chú trọng về cả trình độ và thái độ lao động, đáng ra là chủ thể của sản xuất nhưng lại trở nên thụ động trong cơ chế quan liêu bao cấp Nước ta quá nhấn mạnh sở hữu tư liệu sản xuất theo hướng tập thể hóa, cho đó là nhân tố hàng đầu của quan hệ sản xuất mới, từ

Ngày đăng: 28/06/2023, 08:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ GD và ĐT, Giáo trình Những nguyên lí cơ bản của Chủ nghĩa Mác – LêNin, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Những nguyên lí cơ bản của Chủ nghĩa Mác – LêNin
Tác giả: Bộ GD và ĐT
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2021
2. Bộ GD và ĐT, Giáo trình Triết học Mác – Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác – Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị)
Tác giả: Bộ GD và ĐT
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2021
3. BCH Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 06- NQ/HNTW ngày 29/3/2989, Hội nghị lần thứ sau BCH Trung ương Đảng (khóa VI) về kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 06- NQ/HNTW ngày 29/3/2989
Tác giả: BCH Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hội nghị lần thứ sau BCH Trung ương Đảng (khóa VI)
Năm: 1989
4. BCH Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, H. 2016, tr 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: BCH Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
6. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Macxcova, 1978, t1, tr.163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V.I.Lênin Toàn tập
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w