Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu là quy luật tất yếu. Dệt may Việt Nam đã trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu ngành dệt may nhưng mới chỉ dừng lại ở khâu gia công, đặt mình vào vị trí đáy của chuỗi giá trị toàn cầu. Để lý giải điều này, cần phân tích chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp hữu hiệu để gia tăng giá trị trong chuỗi giá trị xuất khẩu của dệt may Việt Nam.
Trang 1Mục Lục
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 5
1 Khái quát về chuỗi giá trị toàn cầu 5
2 Vai trò của chuỗi giá trị toàn cầu 6
3 Khái niệm chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 7
4 Bản chất và nội dung cơ bản của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 7
4.1 Bản chất của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 7
4.2 Nội dung cơ bản của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 7
5 Sự cần thiết của việc tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu đối với các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa 8
5.1 Toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại – cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát triển 8
5.2 Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh 8
6 Kinh nghiệm tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Trung Quốc 8
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 9
1 Vài nét về ngành dệt may Việt Nam 9
2 Dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu 11
2.1 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 11
2.1.1 Thiết kế mẫu mã 15
2.1.2 Sản xuất nguyên, phụ liệu 16
2.1.3 Sản xuất gia công 16
2.1.4 Marketing, phân phối và dịch vụ sau bán hàng 16
2.2 Dệt may Việt Nam tạo ra giá trị gia tăng ít 17
2.3 Những nguyên nhân chính 19
2.3.1 Thiết bị công nghệ 19
2.3.2 Nguyên vật liệu 20
2.3.3 Trình độ nhân lực 21
2.3.4 Mạng lưới phân phối và marketing 22
3 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến ngành dệt may Việt Nam 23
Trang 23.1 Nhân tố chủ quan 23
3.2 Nhân tố khách quan 23
4 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành dệt may Việt Nam 25 4.1 Điểm mạnh 25
4.2 Điểm yếu 26
4.3 Cơ hội 27
4.4 Thách thức 28
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐỂ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM THAM GIA VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 30
1 Thay đổi về công nghệ 31
2 Phát triển sản xuất nguyên, phụ liệu 32
3 Phát triển lĩnh vực thiết kế 33
4 Xây dựng mạng lưới phân phối 35
5 Trở thành nhà cung ứng đạt tiêu chuẩn 36
KẾT LUẬN 37
Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo 38
Danh Mục Từ Viết Tắt 39
Danh Mục Bảng Biểu 40
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia chuỗi giá trịtoàn cầu là quy luật tất yếu Mỗi sản phẩm được tạo ra đều có giá trị bao gồmmột xâu chuỗi mắt xích nhiều giá trị kết nối tạo nên Trong bối cảnh hội nhập,các mắt xích tạo nên giá trị cuối cùng của một sản phẩm đã vượt ra ngoài biêngiới quốc gia – lãnh thổ, hoặc một sản phẩm thuần túy ra đời tại một địa phương
cụ thể nhưng vẫn mang giá trị toàn cầu
Ngành công nghiệp dệt may là một ngành có truyền thống lâu đời ở ViệtNam Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụnhu cầu thiết yếu của con người, giải quyết nhiều việc làm cho xã hội Xu thếtoàn cầu hóa có tác động đến tất cả các nước, đặc biệt là những nước đang pháttriển, và điều đó dẫn đến sự liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngàycàng chặt chẽ Dệt may Việt Nam cũng như các lĩnh vực khác của nền kinh tếquốc dân đã tích cực tham gia vào thị trường thế giới Sản phẩm của dệt mayViệt Nam được xuất đi rất nhiều nơi và Việt Nam có tên trong top 5 nước xuấtkhẩu dệt may lớn nhất thế giới Mặc dù trong những năm gần đây, ngành dệtmay Việt Nam có tốc độ kim ngạch xuất khẩu tương đối lớn, với kim ngạch xuấtkhẩu đứng thứ hai sau dầu mỏ - khí đốt nhưng giá trị gia tăng và lợi nhuận thuđược lại rất thấp Với khoảng hơn 4500 doanh nghiệp, trong đó đa số có quy môvừa và nhỏ với những hạn chế về khả năng tài chính, trình độ công nghệ, taynghề của đội ngũ lao động, trình độ quản lý và cả uy tín thương hiệu, các doanhnghiệp Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc cạnh tranh với các tậpđoàn dệt may lớn trên thế giới Dệt may Việt Nam đã trở thành một mắt xíchtrong chuỗi giá trị toàn cầu ngành dệt may nhưng mới chỉ dừng lại ở khâu giacông, đặt mình vào vị trí đáy của chuỗi giá trị toàn cầu Để lý giải điều này, cầnphân tích chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam, từ đó đưa ra các giảipháp hữu hiệu để gia tăng giá trị trong chuỗi giá trị xuất khẩu của dệt may ViệtNam
Với mục đích tìm hiểu về những vấn đề nổi bật liên quan đến thực trạng và
giải pháp cho ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu với sự
Trang 4hướng dẫn tận tình của thạc sĩ Dương Công Doanh, em đã quyết định chọn đềtài này Nội dung đề tài gồm 3 phần:
Chương 1 Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị toàn cầu
Chương 2 Thực trạng về ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàncầu
Chương 3 Giải pháp để ngành dệt may Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trịtoàn cầu
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU
1 Khái quát về chuỗi giá trị toàn cầu
Chuỗi giá trị nói đến một loạt các hoạt động cần thiết để biến một sản phẩmhay dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau,đến khi phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng và loại bỏ sau khi đã sử dụng.Tiếp đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗihoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi Chuỗi giá trị có thể diễn ratrong một phạm vi hẹp nhưng cũng có thể diễn ra ở phạm vi toàn cầu
Chuỗi giá trị toàn cầu bắt nguồn từ khái niệm chuỗi giá trị, cũng được biếtđến như là chuỗi giá trị phân tích, là một khái niệm từ quản lý kinh doanh đầu
tiên đã được mô tả và phổ cập bởi Michael Porter trong cuốn sách “Competitive Advantage: Creating Sustaining Superior Performance” (1985) về phân tích lợi
thế cạnh tranh của ông Theo Michael Porter, “chuỗi giá trị là một tập hợp cáchoạt động để đưa một sản phẩm từ khái niệm đến khi đưa vào sử dụng và cảdịch vụ sau bán hàng”
Chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động như thiết kế mẫu mã, sản xuất,marketing, phân phối và dịch vụ sau khi bán cho người tiêu dùng cuối cùng.Những hoạt động này có thể được thực hiện trong phạm vi một doanh nghiệphoặc được phân phối giữa các doanh nghiệp với nhau Chuỗi giá trị này có thểđược thực hiện trong phạm vi một khu vực địa lý hoặc trải rộng trong phạm vinhiều quốc gia và trở thành chuỗi giá trị toàn cầu
Dựa trên quan điểm của Michael Porter, năm 2002 hai nhà khoa học người
Mỹ là Raphael Kaplinsky và Mike Morris đã đưa ra khái niệm: “Chuỗi giá trịtoàn cầu là một dây chuyền sản xuất kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa,trong đó có nhiều nước tham gia, chủ yếu là các doanh nghiệp tham gia vào cáccông đoạn khác nhau từ thiết kế, chế tạo, tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ ngườitiêu dùng”
Mọi sản phẩm từ phần mềm cho đến đồ dùng đều phải trải qua một chu kì:bắt đầu từ nghiên cứu cơ bản rồi nghiên cứu ứng dụng, thời kì ấp ủ, phát triển,thử nghiệm, sản xuất, triển khai, hỗ trợ và mở rộng kỹ thuật để cải tiến Mỗikhâu trên đều được chuyên môn hóa và có tính đơn nhất Như vậy, mỗi sảnphẩm được tạo ra đều có giá trị bao gồm một xâu chuỗi các mắt xích nhiều giá
Trang 6trị kết nối tạo nên Trong thời đại toàn cầu hóa, các mắt xích tạo nên giá trị cuốicùng của một sản phẩm đã vượt ra ngoài biên giới một quốc gia, lãnh thổ khi cácchi tiết của nó được thiết kế ở một nước, sản xuất ở một nước khác, lắp ráp ởnước thứ ba và tiêu thụ ở nước thứ tư … hoặc một sản phẩm thuần túy ra đời tạimột địa phương cụ thể nhưng vẫn mang giá trị toàn cầu Vì vậy, khái niệm chuỗigiá trị toàn cầu đã xuất hiện và ngày càng trở nên phổ biến trên khắp thế giới.
2 Vai trò của chuỗi giá trị toàn cầu
Chuỗi giá trị là một hệ thống các hoạt động trao đổi được tổ chức chặt chẽ từkhâu sản xuất đến tiêu thụ, nhằm mục đích tạo ra giá trị và tính cạnh tranh caohơn Chuỗi giá trị được coi là đặc tính của thương mại quốc tế ngày nay Hiểumột cách đơn giản, chuỗi giá trị là chuỗi hoạt động mà một công ty hoạt độngtrong một ngành cụ thể, hoạt động nhằm mục đích cung cấp hàng hóa hoặc dịch
vụ Chuỗi giá trị của ngành (hay còn gọi là chuỗi cung ứng) được thực hiện theo
hệ thống mạng lưới các công ty, gồm các quá trình liên quan tới hoạt động sảnxuất hàng hóa và dịch vụ
Tham gia liên kết chuỗi sẽ làm cho doanh nghiệp mạnh lên, đặc biệt là cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ Lợi ích mà chuỗi giá trị đem lại đó là những cơ hộitiếp cận thị trường, liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, nâng cao hiệu quảsản xuất, thị trường được đảm bảo, cơ hội tạo ra những giá trị lớn hơn từ một thịtrường chung và khả năng quản lý rủi ro Chuỗi giá trị toàn cầu đã có tác độngmạnh mẽ tới phân công lao động quốc tế, giúp thay đổi cấu trúc kinh tế ở cảnhóm nước đang phát triển và nhóm nước có nền kinh tế mới nổi cả về tốc độ vàquy mô hợp tác quốc tế Vào chuỗi, doanh nghiệp có thể chuyên môn hóa đượcmặt hàng mà mình có thế mạnh, trong khi vẫn nhận được các đơn hàng đa dạngnhờ chia sẻ cho các doanh nghiệp khác trong chuỗi; phân công lao động cụ thểhơn sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực; các doanh nghiệp có thể giảmđược thời gian tìm kiếm người cung ứng; tăng cường được sự ổn định; đảm bảotiến độ; chia sẻ thông tin và tin cậy giữa các bên tham gia
Chuỗi giá trị toàn cầu đang được coi là một nhân tố cách mạng, tái cấu trúctoàn bộ hoạt động sản xuất toàn cầu, từ mạng lưới sản xuất, chuỗi giá trị giatăng, chuỗi cung ứng…trên quy mô hội nhập cả chiều rộng và chiều sâu, từ cácnước đang phát triển tới các nước phát triển Nhân tố mới xuất hiện mang lại cơ
Trang 7hội và thách thức cho tất cả các nước tham gia, đòi hỏi sự vận động theo hướngphát triển của các nước, tạo dựng lợi thế thương mại cho chính mình Trong xuthế đó, các quốc gia cũng nhận thấy những gì là bất lợi và việc hoạch định chínhsách có nghĩa vụ giảm thiểu bất lợi, sẽ trở thành điểm mạnh để các quốc gia tìmcho mình một chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu.
3 Khái niệm chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu được hiểu là các công đoạn của quá trình sảnxuất sản phẩm hàng may mặc trong chuỗi giá trị từ khâu khai thác, sản xuấtnguyên liệu, thiết kế, gia công – sản xuất thành phẩm rồi phân phối tới các nhàbán buôn, bán lẻ… có sự tham gia của các doanh nghiệp thuộc nhiều quốc giatrên thế giới
4 Bản chất và nội dung cơ bản của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
4.1 Bản chất của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Sản phẩm dệt may là một chuỗi giá trị bị ảnh hưởng bởi người mua, điều này
có nghĩa là những khách hàng quốc tế (bán lẻ hoặc những công ty phát triểnthương hiệu) thương có vị thế trội hơn trong chuỗi giá trị Chuỗi giá trị toàn cầuhướng theo người mua bao gồm các nhà bán lẻ lớn, các nhà marketing, các nhàsản xuất có thương hiệu mạnh có vai trò then chốt trong việc hình thành mạnglưới sản xuất tập trung ở các nước xuất khẩu khác nhau trên phạm vi toàn cầu,đặc biệt là ở các nước đang phát triển
4.2 Nội dung cơ bản của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Chuỗi giá trị có thể được thực hiện trong phạm vi một khu vực địa lý hoặctrải rộng trong phạm vi nhiều quốc gia và trở thành chuỗi giá trị toàn cầu Nhìnchung chuỗi giá trị dệt may toàn cầu được chia làm 6 công đoạn cơ bản:
1) Công đoạn cung cấp sản phẩm thô, bao gồm: các sợi tự nhiên, sợi nhântạo…
2) Công đoạn sản xuất các sản phẩm đầu vào, sản phẩm của công đoạn này
là chỉ, vải và sợi do các công ty dệt đảm nhận
3) Công đoạn thiết kế sản phẩm
4) Công đoạn sản xuất do các công ty may đảm nhận
5) Công đoạn xuất khẩu: do trung gian thương mại đảm nhận
6) Cuối cùng là công đoạn marketing và phân phối
Trang 8Dệt may nằm trong hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu do thị trường và ngườimua chi phối Trong chuỗi giá trị đó khâu tạo ra giá trị lợi nhuận cao nằm trongkhâu nghiên cứu và phát triển, thiết kế, marketing và chiến lược kết nối các nhàsản xuất trên phạm vi toàn cầu và bán các sản phẩm cho các thị trường tiêu dùngchính.
5 Sự cần thiết của việc tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu đối với các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa
5.1 Toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại – cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát triển
Xu thế toàn cầu hóa có tác động đến tất cả các nước, đặc biệt là những nướcđang phát triển, và điều đó dẫn đến sự liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa cácnước ngày càng chặt chẽ, do đó các nước dù giàu hay nghèo, dù lớn hay nhỏ,cũng phải tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, nếu không muốn bịđánh bại trong cuộc chiến toàn cầu của nền kinh tế
5.2 Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh
Hội nhập quốc tế thúc đẩy tham gia chuỗi giá trị toàn cầu Chuỗi giá trị toàncầu cho phép các công đoạn của chuỗi đặt tại những địa điểm (quốc gia) có khảnăng đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất Đến nay, nhiều công trìnhnghiên cứu kinh tế đã đi đến kết luận là: lợi ích khi trở thành một bộ phận củachuỗi giá trị toàn cầu đem lại lợi thế gấp 10 – 20 lần nếu chỉ do quá trình tự dohóa thương mại đem lại
6 Kinh nghiệm tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Trung Quốc
Ngành dệt may Trung Quốc là một trong những ngành có vị thế hàng đầu và
là ngành công nghiệp có nhiều thế mạnh trên trường quốc tế Ngành dệt mayTrung Quốc là một trong những ngành công nghiệp quan trọng của quốc gianày Với việc tận dụng được những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, sự đầu tưđúng đắn vào các khâu đem lại lợi nhuận cao, tăng cường đầu tư vào công nghệ,đổi mới các quy trình quản lý mà Trung Quốc đã thật sự thành công trong việcđưa ngành công nghiệp truyền thống mũi nhọn này ngày một phát triển mạnhmẽ
Trang 9CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU
1 Vài nét về ngành dệt may Việt Nam
Sau hơn 20 năm liên tục phát triển, dệt may Việt Nam đã vươn lên trở thànhngành kinh tế quan trọng của cả nước Năm 1990, toàn ngành có 200 doanhnghiệp với 200.000 lao động, doanh thu đạt 1 tỷ USD, trong đó xuất khẩu chiếm10% Năm 2013 số doanh nghiệp đã đạt 4.500 đơn vị với 2,5 triệu lao động,doanh thu tăng 20 lần, đạt 23 tỷ USD, trong đó xuất khẩu chiếm 86% đạt 19,73
tỷ USD Dệt may Việt Nam đã vươn lên hàng thứ 5 thế giới về xuất khẩu, trởthành ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia, đóng góp trên 10% GDP và hơn15% tổng kim ngạch xuất khẩu
(ĐVT: Tỷ đô la Mỹ)
Biểu đồ 1 Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam từ năm 2000 – 2012
(Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam)
Trang 10Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay chỉ tham gia vào một phầntrong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu là cắt và may, sản xuất theo phương thứcgia công đơn giản, thiếu khả năng cung cấp trọn gói nên giá trị gia tăng cònthấp Ngành dệt may Việt Nam vẫn còn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên, phụliệu nhập khẩu (khoảng 70%) chủ yếu từ thị trường Trung Quốc, Đài Loan, HànQuốc Tuy nhiên, liên tiếp hai năm trở lại đây, lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩuphụ liệu dệt may, khẳng định bước đầu cho sự tự chủ Theo thống kê của Tậpđoàn dệt may Việt Nam (VINATEX) trong năm 2013, Việt Nam có 5.982 công
ty dệt may, với lực lượng lao động chiếm hơn 20% lao động trong khu vực côngnghiệp và gần 5% tổng lực lượng lao động toàn quốc Phần lớn các công ty đượcđặt tại miền Nam (62%), còn lại nằm ở miền Bắc (30%), miền Trung và TâyNguyên (8%) Trong đó, các công ty may chiếm tỷ trọng lớn (70%), còn lại làcác công ty dệt (17%), kéo sợi (6%), nhuộm (4%), và ngành công nghiệp hỗ trợ(3%)
Bên cạnh đó, phải kể đến sự đóng góp cao và ngày càng tăng của các doanhnghiệp FDI trong giá trị xuất khẩu Theo số liệu thống kê trong năm 2013 cũngnhư hai tháng đầu năm 2014, đều cho thấy tỷ trọng xuất khẩu nghiêng hẳn vềphía doanh nghiệp FDI với hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu
Gia nhập WTO, ngành dệt may Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi và cơ hội;chủ động hơn trong quá trình phát triển thị trường nước ngoài, đặc biệt là giảm
áp lực từ các nhà cung cấp nguyên phụ liệu nước ngoài, giảm chi phí sản xuất vàtăng sức cạnh tranh của các sản phẩm thông qua công cụ giá cả Với lợi thế ổnđịnh chính trị - xã hội và nguồn lao động, dệt may Việt Nam đang có nhiều cơhội để tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt khi các hiệp định đối tác kinh
tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), hiệp định thương mại tự do songphương Việt Nam – EU (FTA) được ký kết Theo đó, mục tiêu tăng trưởng xuất
khẩu và tăng trưởng thị trường nội địa theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Bộ Công Thương sẽ đạt
Trang 11xuất khẩu, các rào cản thương mại ngày càng gia tăng từ các thị trường nhậpkhẩu lớn, nhất là Hoa Kỳ với các yêu cầu khắt khe về trách nhiệm xã hội, nhãnmác sinh thái, bảo vệ môi trường.
2 Dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu
2.1 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Sơ đồ 1 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu (Nguồn: The international competiveness of Asian economic in the apparel commodity chain)
Chuỗi giá trị dệt may chịu ảnh hưởng bởi người mua, việc tạo ra sản phẩmcuối cùng phải qua nhiều công đoạn và hoạt động sản xuất thường được tiếnhành ở nhiều nước Trong đó, các nhà sản xuất với thương hiệu nổi tiếng, cácnhà buôn, nhà bán lẻ lớn đóng vai trò then chốt trong việc thiết lập mạng lướisản xuất và định hình tiêu thụ hàng loạt thông qua các thương hiệu mạnh và sựphụ thuộc vào những chiến lược thuê gia công toàn cầu nhằm thỏa mãn nhu cầunày
Trước đây, ngành may mặc toàn cầu đặc trưng bởi rất nhiều nước xuấtkhẩu do hệ thống quota MFA tạo ra, nhưng mức độ tập trung xuất khẩu đang
Trang 12tăng nhanh Chuỗi cung ứng hàng may mặc được đánh dấu bằng sự chuyên mônhóa đáng kể theo nước Các nước có thu nhập cao hơn thường thống lĩnh cáclĩnh vực cần đầu tư vốn nhiều hơn, trong khi các nước có thu nhập thấp hơn tậptrung vào lĩnh vực cần nhiều lao động Lĩnh vực hoạt động cần nhiều lao độngnhất là sản xuất hàng may mặc, sau đó là dệt (sợi và vải) Những lĩnh vực cầnvốn đầu tư lớn như sản xuất xơ sợi nhân tạo và chế tạo thiết bị là thượng nguồn,nơi mà các hàng rào ngày càng cao hơn Do các nước phát triển giàu hơn vàlương tăng, lợi thế so sánh trong sản xuất bị mất dần đi, và phải chuyển trọngtâm sang các sản phẩm có giá trị cao hơn hoặc sang các sản phẩm chế tạo với sựtập trung lao động thấp hơn.
Việc phân công lao động giữa các nước tại những mức độ phát triển khácnhau hình thành nên sự nâng cấp công nghiệp trong chuỗi giá trị may mặc.Những lĩnh vực chính trong chuỗi may mặc như: may mặc, dệt, xơ sợi và thiết
bị được sắp đặt dọc theo chiều ngang và nó phản ánh mức độ giá trị gia tăngtương đối từ thấp lên cao khi tăng vốn đầu tư Ở châu Á, các nước được nhómtheo trục dọc theo mức độ phát triển tương đối của mình, với Nhật Bản đứngđầu, Trung Quốc và Ấn Độ ở mức giữa và các nước xuất khẩu kém phát triểnnhư Bangladesh, Campuchia và Việt Nam đứng cuối
Đầu tiên, các nước có xu hướng tiến bộ từ các lĩnh vực có giá trị gia tăngthấp lên cao trong chuỗi thời trang theo thời gian Điều này cho thấy tầm quantrọng của việc xem xét toàn bộ các bước giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất(nguyên liệu, cấu kiện, hàng thành phẩm, dịch vụ liên quan, thiết bị) hơn là chỉxem xét sản phẩm cuối cùng Thứ hai là có sự phân công lao động khu vực trongchuỗi giá trị may mặc, nơi các nước có mức độ phát triển khác nhau tạo thànhmột hệ thống thang bậc nhiều lớp với vai trò xuất khẩu khác nhau ( ví dụ như
Mỹ thường đưa ra thiết kế sản phẩm và đơn hàng lớn, Nhật Bản cung cấp thiết
bị may, các nền kinh tế mới nổi tại Đông Á (NIEs) cung cấp vải và các nền kinh
tế châu Á khác có mức lương thấp như Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam mayhàng may mặc) Sự nâng cấp công nghiệp xảy ra khi các nước thay đổi vai tròcủa mình trong hệ thống bậc thang xuất khẩu đó Cuối cùng là, các nền kinh tếtiên tiến như Nhật Bản và các nước NIEs Đông Á không muốn rời xa ngành nàykhi hàng thành phẩm của họ trong chuỗi đã trở nên chín muồi, theo mô hình
“vòng đời sản phẩm”, nhưng họ lại đầu tư vốn dựa trên kiến thức sản xuất và hệ
Trang 13thống phân phối của mình, do vậy chuyển dịch sang những giai đoạn giá trị giatăng cao hơn trong chuỗi may mặc
Hiện nay, trên thị trường dệt may toàn cầu, Trung Quốc là lực lượng chính –
là nước xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất Thế giới Tuy nhiên, nhiều nước xuấtkhẩu hàng dệt may khác có chi phí lao động thấp hơn Trung Quốc nhưBangladesh, Sri Lanka và Việt Nam đã bắt đầu mở rộng thị phần Bên cạnh đó,nhiều thị trường nhập khẩu lớn trên thế giới như Mỹ, EU và Nhật Bản cũngmuốn giảm sự phụ thuộc nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc và đã chuyểnhướng sang hợp tác các nhà sản xuất tại châu Á khác
Các doanh nghiệp dệt may gia công hàng xuất khẩu may mặc thường ápdụng 4 phương thức xuất khẩu chính là CMT, FOB, ODM và OBM
Sơ đồ 2 Các phương thức xuất khẩu chủ yếu
(Nguồn: FPT Securities)
CMT (Cut – Make – Trim)
Đây là phương thức xuất khẩu đơn giản nhất của ngành dệt may và manglại giá trị gia tăng thấp nhất Khi hợp tác theo phương thức này, người mua cung
Trang 14cấp cho doanh nghiệp gia công toàn bộ đầu vào để sản xuất bao gồm nguyênliệu, vận chuyển, mẫu thiết kế và các yêu cầu cụ thể; các nhà sản xuất chỉ thựchiện việc cắt, may và hoàn thiện sản phẩm Doanh nghiệp thực hiện xuất khẩutheo CMT chỉ cần có khả năng sản xuất và hiểu biết cơ bản về thiết kế để thựchiện mẫu sản phẩm.
OEM/ FOB (Original Equipment Manufacturing)
FOB – Free On Boad là phương thức xuất khẩu ở bậc cao hơn so với CMT;đây là hình thức sản xuất theo kiểu “mua nguyên liệu, bán thành phẩm” Theophương thức FOB, các doanh nghiệp chủ động tham gia vào quá trình sản xuất,
từ việc mua nguyên liệu đến cho ra sản phẩm cuối cùng Khác với CMT, cácnhà xuất khẩu theo FOB sẽ chủ động mua nguyên liệu đầu vào cần thiết thay vìđược cung cấp trực tiếp từ các người mua của họ Các hoạt động theo phươngthức FOB thay đổi đáng kể dựa theo các hình thức quan hệ hợp đồng thực tếgiữa nhà cung cấp với các khách mua nước ngoài và được chia thành 2 loại:
- FOB cấp 1
Các doanh nghiệp thực hiện theo phương thức này sẽ thu mua nguyên liệuđầu vào từ một nhóm các nhà cung cấp do khách mua chỉ định Phương thứcxuất khẩu này đòi hỏi các doanh nghiệp dệt may phải chịu trách nhiệm về tàichính để thu mua và vận chuyển nguyên liệu
- FOB cấp 2
Các doanh nghiệp thực hiện theo phương thức này sẽ nhận mẫu thiết kế sảnphẩm từ các khách mua nước ngoài và chịu trách nhiệm tìm nguồn nguyên liệu,sản xuất và vận chuyển nguyên liệu và thành phẩm tới cảng của khách mua.Điểm cốt yếu là các doanh nghiệp phải tìm được các nhà cung cấp nguyên liệu
có khả năng cung cấp các nguyên liệu đặc biệt và phải tin cậy về chất lượng,thời hạn giao hàng Rủi ro từ phương thức này cao hơn nhưng giá trị gia tăngmang lại cho công ty sản xuất cũng cao hơn tương ứng
ODM (Original Design Manufacturing)
Đây là phương thức sản xuất xuất khẩu bao gồm khâu thiết kế và cả quátrình sản xuất từ thu mua vải và nguyên phụ liệu, cắt, may, hoàn tất, đóng gói và
Trang 15vận chuyển Khả năng thiết kế thể hiện trình độ cao hơn về tri thức của nhà cungcấp và vì vậy sẽ mang lại giá trị gia tăng cao hơn rất nhiều cho sản phẩm Cácdoanh nghiệp ODM tạo ra những mẫu thiết kế, hoàn thiện sản phẩm và bán lạicho người mua, thường là chủ của các thương hiệu lớn trên thế giới.
OBM (Original Brand Manufacturing)
Đây là phương thức sản xuất được cải tiến dựa trên hình thức OEM, song ởphương thức này các hãng sản xuất tự thiết kế và ký các hợp đồng cung cấphàng hóa trong và ngoài nước cho thương hiệu riêng của mình Các nhà sản xuấttại các nền kinh tế đang phát triển tham gia vào phương thức OBM chủ yếu phânphối sản phẩm tại thị trường nội địa và thị trường các quốc gia lân cận
Đối với ngành dệt may, quan hệ theo chiều dọc của ngành này được biểuhiện dưới dạng chuỗi giá trị như sau:
Sơ đồ 3 Chuỗi giá trị sản xuất – kinh doanh hàng dệt may toàn cầu
2.1.1 Thiết kế mẫu mã
Đầu tư để làm chủ khâu thiết kế thời trang, có thể chủ động đưa ra các mẫumốt, phù hợp với xu hướng thời trang thế giới Khi được thị trường chấp nhậnthì giá trị của khâu này trong chuỗi giá trị toàn cầu chiếm 5%
Đây là khâu rất quan trọng đòi hỏi trình độ cao và tiền công cao hơn – khâu
có tỷ suất lợi nhuận cao nhất, nhưng lại là khâu yếu nhất của ngành may mặcViệt Nam Chỉ khoảng 30% giá trị xuất khẩu của ngành dưới dạng FOB (tức là
có tham gia vào khâu ý tưởng của thiết kế) còn lại xuất khẩu dưới dạng hìnhthức gia công Thiết kế kiểu dáng chủ yếu được làm ở các trung tâm thời trangthế giới tại Pari, Luân Đôn, New York…ở khu vực Mỹ, châu Âu Vải được sảnxuất ở Trung Quốc, các phụ liệu đầu vào khác được sản xuất tại Ấn Độ
2.1.2 Sản xuất nguyên, phụ liệu
Marketing, phân phối, dịch vụ sau bán hàng
Sản xuất gia công
Sản xuất nguyên, phụ liệu Thiết kế
mẫu mã
Trang 16Phát triển sản xuất nguyên, phụ liệu, kể cả đầu tư để phát triển thượng nguồn(bông, xơ), vải và các loại phụ liệu khác Làm chủ được khâu này giá trị trongchuỗi giá trị toàn cầu chiếm 18%.
Những năm gần đây, công nghiệp lọc hóa dầu phát triển đã mở ra cho chúng
ta một triển vọng mới trong việc tự túc các loại bông, xơ nhân tạo Tuy nhiên,việc phát triển bông tự nhiên, mặc dầu chúng ta đã có rất nhiều cố gắng trongnhiều năm (khoảng hơn 10 năm), nhưng kết quả còn rất khiêm tốn Hiện nay,nhu cầu về nguyên liệu nhập khẩu để đảm bảo sản xuất cần đến 95% xơ bông,70% sợi tổng hợp, 40% sợi xơ ngắn, 40% vải dệt kim và 60% vải dệt thoi Qua
đó, có thể thấy rằng cả một ngành công nghiệp dệt may gần như hoàn toàn phụthuộc vào nước ngoài
2.1.3 Sản xuất gia công
Khâu gia công sản phẩm, toàn bộ khâu này (cắt, may, hoàn thiện, đóng gói,vận chuyển…) chiếm giá trị là 5% - 7% trong chuỗi giá trị toàn cầu (bao gồm cảcác thủ tục xuất nhập khẩu)
Sản phẩm cuối cùng được thực hiện ở những nước có chi phí nhân công thấpnhư Việt Nam, Trung Quốc Đây là khâu có tỷ suất lợi nhuận thấp nhất chỉchiếm 5% - 7% Hiện nay, ngành dệt may Việt Nam chủ yếu là gia công chokhách hàng theo hình thức CMT hoặc CMP có hàm lượng giá trị gia tăng rấtthấp Có tới 90% doanh nghiệp dệt may của Việt Nam tham gia vào khâu này
2.1.4 Marketing, phân phối và dịch vụ sau bán hàng
Cuối cùng vươn lên, xâm nhập vào mạng lưới phân phối toàn cầu để bán sảnphẩm cho các nhà buôn (không phải qua các trung gian môi giới) thậm chí cóthể bán đến tận tay người tiêu dùng…Giá trị của khâu này lên tới 70% trongchuỗi giá trị toàn cầu
Trong khâu thương mại hóa, ngành dệt may Việt Nam mới chỉ thực sự mạnh
về khâu thương mại hóa trong nước, thương mại hóa ở các thị trường xuất khẩucòn yếu Mặc dù đã bước đầu có xuất khẩu dạng FOB, song tỷ lệ rất thấp, trongcác doanh nghiệp may, chủ yếu vẫn là xuất khẩu dạng CIF
Trang 17Tại thị trường trong nước, nhiều doanh nghiệp may đã có những quyết sáchmarketing thành công: Tổng công ty may Việt Tiến với chiến lược marketingchiếm lĩnh thị trường phía Bắc, Công ty cổ phần May 10 cũng có danh tiếng tạithị trường phía Bắc…Tuy nhiên, còn rất nhiều doanh nghiệp đang yếu năng lựcmarketing – công cụ nền tảng của việc tạo dựng hệ thống phân phối hiệu quả.Khâu phân phối chưa có sự tham gia của các hãng phân phối lớn và chuyênnghiệp, chủ yếu các doanh nghiệp tự thực hiện phân phối thông qua hệ thốngcác cửa hàng giới thiệu sản phẩm và các đại lý nhỏ lẻ của tư nhân.
Trong chuỗi giá trị, các nhà phân phối thường chính là các nhà thiết kế, vìhơn ai hết, chính là người tường tận nhất nhu cầu và điều kiện để thỏa mãn nhucầu khách hàng Vì thế, sau khi Việt Nam gia công hoàn thiện, sản phẩm đượcđưa trở lại thị trường do các công ty thương mại danh tiếng đảm nhận bán ra.Các chuyên gia trong ngành dệt may ước tính, tới 70% lợi nhuận (tính trên 1 sảnphẩm may mặc từ khâu đầu đến khâu cuối cùng của chuỗi giá trị) Và để tănggiá trị gia tăng cho toàn ngành, việc chú trọng vào khâu thương mại hóa nhằmgia tăng giá trị cảm nhận của sản phẩm, tăng khối lượng tiêu thụ, kích thích tiêudùng thực sự cần chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa
2.2 Dệt may Việt Nam tạo ra giá trị gia tăng ít
Sơ đồ 4 Quy trình gia công ở Việt Nam
Trở thành thành viên của WTO, cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu tănglên Tuy nhiên, để có thể phát huy được ưu thế này, ngành dệt may Việt Namcòn nhiều vấn đề cần phải tập trung giải quyết Thực tế cho thấy, để có thể xuấtđược số hàng dệt may trị giá 7,75 tỷ USD, Việt Nam phải chi tới 5,2 – 5,3 tỷUSD để nhập nguyên phụ liệu sản xuất Như vậy, giá trị mà ngành dệt may tạo
ra để thực hưởng vẫn quá khiêm tốn, chỉ khoảng 25% - 30% kim ngạch xuất
Cung cấp các yếu tố đầu vàocủa sản phẩm dệt may
Doanh nghiệp dệt may Việt Nam (cắt may, hoàn thiện)
Đối tác
nước ngoài
(người đặt gia công)
Sản phẩm dệt may hoàn thiện
Trang 18khẩu Đây cũng chính là tồn tại mà ngành này vẫn chưa xóa được đặc thù củamình là gia công Phần nhiều các sản phẩm may mặc của Việt Nam xuất khẩusang thị trường EU, Hoa Kỳ, được tiến hành qua một trung gian thứ ba là cácđối tác Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan… Với vai trò
là những nhà thầu phụ, các doanh nghiệp xuất khẩu may mặc của Việt Namcung cấp hàng hóa theo các hợp đồng ký kết với những đối tác này và giao hàngthẳng cho các nhà bán lẻ của Hoa Kỳ và EU hoặc cũng có thể giao trực tiếp chonhững đối tác này Vì vậy, hình thức xuất khẩu này làm cho việc xuất khẩu hàngmay mặc của các doanh nghiệp may Việt Nam trở nên thụ động, phụ thuộc vàonước thứ ba, dẫn đến giá trị xuất khẩu của Việt Nam bị hạn chế
Hoạt động trong khu vực hạ nguồn của dệt may Việt Nam chủ yếu là giacông cho khách hàng theo hình thức CMT hay CMP có hàm lượng giá trị giatăng rất thấp Có đến 90% doanh nghiệp dệt may của Việt Nam tham gia vàokhâu này, các doanh nghiệp gia công cho các thương hiệu nổi tiếng và hầu nhưkhông có đối tác phân phối trực tiếp trên thị trường quốc tế Phần đóng góp củaphía Việt Nam vào việc hoàn thiện một chiếc áo khoác chỉ vào khoảng 11%, đốivới áo sơ mi là 25%, quần dài là 15% và các sản phẩm khác luôn dưới mức25% Trong năm 2015, ngành dệt may Việt Nam xuất khẩu hàng hóa trị giá 27,2
tỷ USD, tương đương mức tăng trưởng 10% so với năm trước và chiếm 8,3%trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Các thị trường chính nhập khẩuhàng dệt may của Việt Nam năm qua là: Hoa Kỳ đạt 10,96 tỷ USD, tăng 11,7%;
EU đạt 3,47 tỷ USD, tăng 4,2%; Nhật Bản đạt 2,79 tỷ USD, tăng 6,3%; HànQuốc đạt 2,13 tỷ USD, tăng 2% so với năm 2014 Tuy nhiên, toàn bộ thị trườngtrong nước chỉ đạt doanh số khoảng 1,8 tỷ USD (nguồn: Tổng cục Thống kê).Như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam không có vai trò lớn trong quá trình hìnhthành và phân phối các sản phẩm dệt may trên thị trường thế giới Sự xuất khẩudệt may bằng con đường gia công làm các doanh nghiệp Việt Nam không đượctiếp xúc trực tiếp với khách hàng cho nên không có khả năng dự đoán nắm bắtnhu cầu để chuẩn bị kế hoạch sản xuất, dẫn đến bị động khi có sự thay đổi nhucầu, làm các doanh nghiệp dệt may bị phụ thuộc chặt chẽ vào đối tác đặt hànggia công Khi lợi thế về chi phí gia công không còn thì các doanh nghiệp ViệtNam khó có thể tự xuất khẩu vào thị trường này Vì khi chúng ta gia công chonước ngoài hàng hóa đó không được gắn nhãn mác của các doanh nghiệp dệt
Trang 19may Việt Nam mà cũng mang nhãn mác của các nhà phân phối Do hình thứcgia công xuất khẩu các doanh nghiệp chỉ thực hiện duy nhất công đoạn sản xuấtcòn lại các công đoạn khác là hoàn toàn do đối tác đặt gia công chịu tráchnhiệm.Cho nên hình thức gia công này là tương đối an toàn và phù hợp với cácdoanh nghiệp dệt may có quy mô nhỏ và lượng vốn hạn hẹp vì nó tránh đượcnhững rủi ro trong quá trình nghiên cứu thiết kế sản phẩm, cũng như quá trìnhphân phối sản phẩm Tuy nhiên, cùng với tránh được các rủi ro thì giá trị xuấtkhẩu mang lại cũng thấp.
Đứng trên giác độ của các chuyên gia kinh tế cho thấy, mặc dù giá trị giatăng không cao nhưng giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có sức cạnh tranhhơn bởi các “cường quốc may mặc”, họ cạnh tranh nhau khốc liệt ở giai đoạnthiết kế và phát triển phụ trợ mà tạo ra nhiều thị trường ngách cho các nướctrong đó có Việt Nam Với việc hội nhập sâu rộng của nước ta đã tạo ra chongành dệt may Việt Nam hoàn toàn có đủ năng lực để phát triển và khai tháctriệt để các lợi thế trong khâu này Trong ngắn hạn, quan điểm này cố gắng phảnánh đúng thực tiễn nhưng nó sẽ không phù hợp, thậm chí sẽ có định hướng sailệch cho phát triển ngành dệt may Việt Nam trong tầm nhìn dài hơn Khác vớicác ngành công nghiệp khác, công nghệ không phải là đòi hỏi có tính sống cònđối với các doanh nghiệp dệt may Theo đó, các doanh nghiệp không quá khókhăn trong quá trình tiếp cận các yếu tố đầu vào, điển hình là nguồn nhân lực; vàvới bề dày kinh nghiệm, ngành dệt may Việt Nam cần phải phát triển các khâuchủ chốt mang lại giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị may mặc toàn cầu
2.3 Những nguyên nhân chính
2.3.1 Thiết bị công nghệ
Thiết bị công nghệ ngành dệt may Việt Nam vừa lạc hậu vừa thiếu đồng
bộ, sản phẩm làm ra không có năng lực cạnh tranh Máy móc thiết bị ngành dệtphần lớn là cũ kỹ có xuất xứ từ nhiều nước, có gần 50% thiết bị đã sử dụng trên
25 năm nên hư hỏng rất nhiều làm cho năng suất thấp, chất lượng sản phẩmthấp, giá thành cao Trong nhiều năm qua, hầu hết các doanh nghiệp đã sử dụngnguồn vốn tự có, vốn vay trung hạn, dài hạn để mua sắm thiết bị, góp phần nângcao chất lượng công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm Hàng ngàn máy dệt khôngthoi, có thoi khổ rộng, nhiều bộ đồ mắc mới, hiện đại đã được nhập về, thay thếcho những thiết bị quá cũ để nâng cấp mặt hàng dệt nhưng cũng chỉ đáp ứng
Trang 20khoảng 15% công suất dệt Toàn ngành đã trang bị thêm được trên 20.000 máymay hiện đại để sản xuất các loại mặt hàng: sơ mi, jacket, đồ bảo hộ lao động,
áo phông các loại … cải thiện một bước chất lượng hàng may xuất khẩu và nộiđịa Ngành may liên tục đầu tư mở rộng sản xuất và đổi mới thiết bị để đáp ứngyêu cầu chất lượng của thị trường thế giới Một số doanh nghiệp đã đầu tư dâychuyền đồng bộ, sử dụng nhiều máy chuyên dùng sản xuất một mặt hàng nhưdây chuyền may sơ mi, may quần âu, quần jean, comple, hệ thống giặt là…nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất ngày càng cao
2.3.2 Nguyên vật liệu
Vượt lên những khó khăn về thị trường, sự cạnh tranh gay gắt từ các quốcgia xuất khẩu dệt may khác, năm 2015 ngành dệt may Việt Nam vẫn giữ vững vịtrí thứ 5 trong số các nước xuất khẩu dệt may thế giới, với kim ngạch xuất khẩuđạt 27,2 tỷ USD (nguồn: baocongthuong.com.vn)
Hiện nay, nhu cầu về nguyên liệu nhập khẩu để đảm bảo sản xuất cần đến95% xơ bông, 70% sợi tổng hợp, 40% sợi xơ ngắn, 40% vải dệt kim và 60% vảidệt thoi Qua đó, có thể thấy rằng cả một ngành công nghiệp dệt may gần nhưhoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài Vì vậy, để sản xuất ổn định, hầu như cáccông ty ngành dệt may đều phải chấp nhận gia công cho đối tác nước ngoài, dùlợi nhuận thấp Bởi khi gia công, đối tác sẽ cung ứng kịp thời, đầy đủ nguyênphụ liệu
Còn sản xuất theo dạng FOB (mua đứt, bán đoạn), lợi nhuận cao hơn,nhưng bù lại phải chịu khó tự tìm nguồn nguyên phụ liệu bằng cách nhập khẩu.Ngành dệt may Việt Nam chỉ có thể đáp ứng 30% nhu cầu nguyên phụ liệu vàđiều này cũng không có nghĩa là năng lực của ngành kém, không đủ sức sảnxuất Về cơ bản, phụ liệu nội địa có thể đáp ứng đủ và nguyên liệu nội địa có thểđáp ứng đến 70% nhu cầu sản xuất; nhưng do yêu cầu về thành phẩm của đối tácnước ngoài cao, nguyên phụ liệu Việt Nam chưa đáp ứng được, tất phải nhập từnước ngoài Việt Nam hiện chưa có đội ngũ thiết kế kiểu dáng nguyên liệu (vải)chuyên nghiệp
Tất cả các nước đều phải nhập khẩu nguyên phụ liệu, kể cả Trung Quốc vìnhu cầu trên thế giới rất đa dạng, không thể cùng lúc đáp ứng hết được Vấn đề