Export HTML To Doc Nhận định về phong trào thơ mới Tuyển chọn những bài văn hay Nhận định về phong trào thơ mới Với những bài văn mẫu đặc sắc, chi tiết dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu í[.]
Trang 1Nhận định về phong trào thơ mới
Tuyển chọn những bài văn hay Nhận định về phong trào thơ mới Với những bài văn mẫu đặc
sắc, chi tiết dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn Cùng tham khảo nhé!
Mục lục nội dung
Đề số 1: Chứng minh nhận định về phong trào thơ mới: Với thơ mới thi ca Việt Nam bước vào giai đoạn mới, thơ mới đã làm nên một cuộc cách mạng thơ ca, nó đã thay đổi từ “xác” đến “hồn”.
Đề số 2: Nhận xét về thơ mới (năm 1930 - 1945) Hoài Thanh viết ''Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như thế'' (theo cuốn thi nhân Việt Nam) Ý kiến của em
về nhận xét trên.
Đề số 3: Trong tác phẩm “Tuỳ viên thi thoại” nhà phê bình Viên Mai (Trung Quốc) viết: “Là người thì không nên có cái tôi Nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi” Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy bình luận và làm sáng tỏ cái tôi của một số nhà thơ trong phong trào thơ mới lãng mạn Việt Nam (1932 - 1945).
Trang 2Đề số 4: Có ý kiến cho rằng: “Với Thơ Mới, thi ca Việt Nam bước vào một thời đại mới” Anh/ chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm rõ điều làm nên dấu ấn của “thời đại mới” qua một số bài thơ mới đã học trong chương trình.
Đề số 5: Nhận xét về Thơ Mới, Hoài Thanh viết: “Đời chúng
ta nằm trong vòng chữ Tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ,
ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng
Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy cận Cả trời thực, trời mộng vẫn neo neo theo hồn ta.” (trích “Một thời đại trong thi ca”)
Đề số 1: Chứng minh nhận định về phong trào thơ mới: Với thơ mới thi ca Việt Nam bước vào giai đoạn mới, thơ mới đã làm nên một cuộc cách mạng thơ ca, nó đã thay đổi từ “xác” đến “hồn”.
Sinh thời, Bác Hồ đã từng quan niệm “xã hội nào thì văn nghệ ấy”, đúng như vậy! hoạt động lĩnh vực nghệ thuật trong đó có văn chương luôn đổi mới để phù hợp với sự tiến bộ của xã hội,
sự thay đổi đó sẽ từng bước hình thành và phát triển theo lối tư, duy sáng tạo về cả mặt khách quan và chủ quan của người nghệ sĩ Xuất hiện vào những năm 30 của thế kỷ 20 Thơ mới là một minh chứng tiêu biểu cho sự cách tân, đổi mới Bàn về điều này đã có ý kiến cho rằng, phân biệt thơ cũ và thơ mới, điều quan trọng nhất không phải ở phần “xác” mà là phần “hồn” của nó Hay nói như Hoài Thanh ở tinh thần thơ mới, ấy là cái tôi cá nhân nhìn đời nhìn thiên nhiên bằng con mắt tươi trẻ xanh non (Xuân Diệu) đồng thời cảm thấy cô đơn trước vũ trụ và cuộc sống
Một trào lưu văn học nữa ra đời bao giờ cũng mang những nét riêng, nét mới, nét cải tiến hơn
so với những phong trào trước đó Không phải dĩ nhiên người ta quan niệm với thơ mới, thi ca Việt Nam bước vào một thời đại mới, đó là do những cách tân đích thực mới mẻ mà nó đem lại Đầu tiên là về phần xác, hay nói cách khác chính là các phương tiện biểu đạt hệ thống nghệ
Trang 3thuật, thơ mới đã phá bỏ các hệ thống ước lệ, các niêm luật chặt chẽ của thơ cũ để thay lớp áo mới Thế nhưng điều quan trọng không phải ở phần xác, mà là ở phần hồn tức nội dung, tư tưởng, tình cảm mới mẻ của các nhà thơ Gọi như Hoài Thanh đó là tinh thần thơ mới, đó là cái tôi nhìn đời, nhìn thiên nhiên bằng con mắt tươi trẻ xanh non và còn là cảm thấy cô đơn trước vũ trụ và cuộc sống Như vậy ý kiến trên đã nhấn mạnh sự lột xác đổi mới hoàn toàn của thơ mới, thể hiện ở nội dung, tư tưởng, tình cảm được bộc lộ
Giáo sư Lê Đình Kỵ đã cho rằng, “thơ mới là thơ của cái tôi” Điều này hoàn toàn đúng với thơ xưa, cái bản ngã luôn được đề cao, cái tôi phải nhường chỗ cho cái ta chung Một số nhà thơ
cũ đã vùng vẫy thể hiện cái tôi như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ nhưng vẫn chưa bộc lộ
rõ ràng Sang đến thơ mới điều này đã được thai nghén từ trước và đợi đến thời điểm nó sẽ biểu hiện rõ ràng Cái tôi trong thơ mới cũng chính là hình thái, phẩm chất Phần hồn của thơ mới đó
là cái tôi cá nhân, nhìn đời, nhìn thiên nhiên bằng con mắt tươi trẻ, xanh non, thậm chí đến khám khổ, vồ vập Đó còn là cái cô đơn trước vũ trụ và cuộc sống Nỗi buồn, nỗi cô đơn này thực sự khác rất xa so với thơ xưa Bởi nó còn là cái nhìn chủ quan, cái hồn bơ vơ lạc lõng giữa dòng đời Đó còn là nỗi buồn của một tấm lòng yêu nước thầm kín, của các thi nhân Nhìn một cách tổng quát, thơ mới đã lột xác hoàn toàn và nội dung, tư tưởng bộc lộ rõ ràng cho điều đó
Thơ mới khác với thơ xưa trước hết chính là cách nhìn đời, nhìn thiên nhiên bằng con mắt tươi trẻ xanh non, một bức tranh thiên nhiên đẹp của thơ xưa phải bắt buộc theo những quy ước chặt chẽ mang tính chất khuôn mẫu
Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây, gió, trăng, hoa, tuyết núi, sông”
( Hồ Chí Minh)
Trang 4Nhưng thơ mới lại hoàn toàn khác, bức tranh thiên nhiên đẹp còn lại phụ thuộc vào cái nhìn, cái cảm của người nghệ sĩ Đến với Xuân Diệu, ta thường bắt gặp bức tranh thiên nhiên mùa xuân tràn trề sự sống được Cảm nhận với tất cả các giác quan bài thơ “Vội Vàng” minh chứng
rõ cho điều đó
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của Yến Oanh này đây khúc tình si”
Một bức tranh thiên nhiên của mùa xuân như một thiên đường trên mặt đất, đó là “Ong
Bướm” dập dìu đi tìm mật ngọt, như đang hưởng thụ tuần trăng mật tươi trẻ và tràn đầy hạnh phúc Đó là hoa lá trên đồng nội xanh rì, một mầu xanh tràn trề nhựa sống chứ không nhạt, thiếu
đi vẻ căng tràn Bức tranh đó còn là hiện diện của cành tơ vẫy chào mùa xuân, còn là khúc tình si đắm say của chim yến reo vang Tất cả gợi một bữa tiệc đang chào mời nơi nơi, một bữa tiệc mùa xuân tươi trẻ, xanh non Cái hồn của thơ mới còn được Xuân Diệu bộc lộ một cách trực tiếp, táo bạo Nhà thơ đã lấy vẻ đẹp của con người làm thước đo cho vẻ đẹp của thiên nhiên, để đánh giá và bộc lộ tình cảm của mình
“Và này đầy ánh sáng chớp hàng mi
Trang 5Mỗi buổi sớm thần vui hàng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”
Không còn là cái nắng chói chang của mùa hè yếu ớt, của mùa đông, mùa xuân đến đem theo thứ ánh nắng ấm áp, dịu nhẹ như hàng mi của người con gái đương xuân Tất cả khiến nhà thơ có cảm giác như ngày nào cũng được “thần vui gõ cửa”, chào mời và rồi phải thốt lên nó đẹp như cặp môi gần của người thiếu nữ đôi mươi Khu vườn xuân, đài tình ái cùng với cách nghĩ, cách
so sánh độc đáo của Xuân Diệu qua thực thật mới mẻ
Chính cái tôi cá nhân nhìn cuộc đời, nhìn thiên nhiên bằng con mắt tươi trẻ, xanh non đã giúp nhà thơ bộc lộ những ước muốn táo bạo, tước quyền của tạo hóa
“Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi”
“Tắt nắng, buộc gió” là việc của ông trời, thế nhưng nhà thơ lại muốn chiếm lĩnh thứ quyền
đó Xuân Diệu muốn “tắt nắng” cho màu sắc trần thế không bị phai mờ, muốn “buộc gió” cho hương hoa hương cỏ không biến mất Ước muốn táo bạo, lạ lùng có phần ngông cuồng đó lại bộc
lộ rất rõ cái tôi của Xuân Diệu, một cái tôi thắm thiết, yêu đời, yêu cuộc sống, một cá tính mới
mẻ và độc đáo
Phần “hồn” của thơ mới là cái tôi cá nhân, nhìn đời, nhìn thiên nhiên bằng con mắt tươi trẻ Xuân Diệu đã làm được điều đó và bên cạnh Xuân Diệu Đến với thơ Hàn Mặc Tử tã cũng bắt gặp những phong cảnh thiên nhiên đến đắm say lòng người, bài thơ “Đây Thôn Vĩ Dạ” tuy chỉ là một sáng tác nhỏ của ông, nhưng nó đã bộc lộ rất rõ cái hồn về thiên nhiên của thơ mới
“Sao anh không về chơi thôn vĩ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
Khác với mùa xuân trong thơ của Xuân Diệu, đến Hàn Mặc Tử là đến với những điều gì đó bình dị, mượt mà, tinh khôi và hữu tình Hình ảnh Thôn Vĩ, đây là một minh chứng tiêu biểu Đó
là hình ảnh của nắng mới chiếu lên, những ngọn cau thẳng đứng mới đẹp làm sao Hay là hình ảnh đẫm Sương đêm của vườn tược thôn vĩ cũng được ánh ban mai chiếu vào, nhìn ánh lên như ngọc Rồi còn là sự hữu tình của con người xứ Huế, với vẻ mặt phúc hậu, bản chất chăm chỉ hiện lên chỉ bằng vài ba nét vẽ Thi sĩ họ hẳn đã đưa ta đến cái đẹp tuyệt trần, mỹ lệ của thôn Vĩ Dạ
Trang 6Hình ảnh thiên nhiên hòa quyện với vẻ đẹp con người tặng cho độc giả những điều không thể quên
Đã có nhà phê bình văn học từng nhận xét “thơ xưa nhiều cái vô lý”, nước ta không có tuyết
mà cứ bắt nói tuyết, cái chủ quan của người viết phải đứng dưới cái khuôn mẫu đã đặt ra Nhưng thơ mới không như vậy, nó là sự cách tân đổi mới rõ ràng, bức tranh thiên nhiên đâu có tuyết, mây, gió trăng, hoa đâu mà ta vẫn cứ thấy đẹp Phần hồn của thơ mới thoát ra bộc lộ rõ ràng ở đây với cái nhìn thiên nhiên tươi trẻ xanh non, nhưng người nghệ sĩ đã đem đến cho độc giả một cái nhìn mới mẻ, độc đáo và hết sức rung động trước cảnh, trước người
Không những phần hồn thay đổi, từ cái nhìn về thiên nhiên non tơ, tươi trẻ, mà phần hồn của thơ mới còn được bộc lộ sự cô đơn trước vũ trụ và cuộc sống Thơ xưa ta cũng từng gặp cái buồn đau, thất vọng nhưng nỗi buồn trong thơ mới rất đa dạng, phức tạp Đến với Xuân Diệu đó là nỗi buồn của sự ngắn ngủi về kiếp người trước thời gian chẩy trôi vô hạn
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài tuổi trẻ của nhân gian Nói làm chi răng Xuân văn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ Chẳng hai lần thăm lại”
Xuân Diệu nhìn thời gian đầy tính mất mát, Ông nhận ra rằng thời gian thì vô thủy, vô cùng, con người thì chỉ là một cái chớp mắt của khoảng thời gian ấy Ông quan niệm thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại, thi nhân đã lấy tuổi trẻ làm thước đo của thời gian nên ông mới thấy ngắn ngủi, đang từ vui vẻ chuyển sang buồn bã thậm chí là cô đơn và thất vọng
Nỗi buồn của thơ mới có khi là nỗi buồn về cuộc sống thực tại, điều đó ta bắt gặp trong thơ Hàn Mặc Tử, là một nhà thơ thắm thiết yêu đời, yêu cuộc sống, thế nhưng lại có cuộc đời đau khổ bất hạnh Trên từng dòng thơ của ông cũng mang rõ điều đó
“Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đâu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”
Trang 7Xưa nay mây và gió thường đi đôi với nhau, gió thổi mây bay, thế mà Hàn Mặc Tử lại thấy mây, gió chia lìa gợi một sự buồn bã cô đơn đến tuyệt vọng Đó còn là hình ảnh của dòng nước buồn thiu như ngừng đọng lại, là hình ảnh của hoa ngô khẽ khàng lay chuyển một cách thiếu sức sống, cũng gợi sự buồn bã Hàn Mặc Tử khi viết thi phẩm này đang nằm trong trại phong Tuy Hòa Thế nên thơ thường mang hình ảnh trăng, nhà thơ mong trăng như mong ngóng một cái gì
đó quý giá, thiêng liêng Người khác chăng không về hôm nay thì sẽ về ngày mai, nhưng với Hàn Mặc Tử Trăng không về hôm nay thì sẽ đem theo một dư vị gì đó buồn bã, tuyệt vọng
Nhắc đến nỗi buồn thơ mới, ta không thể không nhắc đến Huy Cận, những vần thơ của ông thao thao như chất chứa nỗi niềm Đó cũng là một gương mặt, một biểu hiện cho cái tinh thần thơ mới Bài thơ “Tràng Giang” bộc lộ rõ nỗi buồn của thi nhân của kiếp người nhỏ bé trước vũ trụ bao la, điều đó bộc lộ rõ qua lời đề từ
“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”
Và dân dần hiện ra qua các khổ thơ
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng”
Hình ảnh từng đợt sóng nhỏ lăn tăn trên mặt nước mênh mông “Điệp điệp, trùng trùng”, gợi một cái gì đó bâng khuâng, rồi là hình ảnh con thuyền xuôi mái song song trên dòng nước rất đẹp Nhưng lại gợi sự cô đơn lẻ loi Cũng như Hàn Mặc Tử, Huy Cận cũng thấy được sự chia ly giữa thuyền và nước, đó còn là sự đối nghịch lác đác trên sông là những cành củi khô trôi lơ lửng, lạc loài Cảnh vật rất đẹp nhưng cũng rất buồn, một nỗi buồn bâng khuâng, xao xuyến
Chưa dừng lại ở đó nỗi buồn của Huy Cận còn là nỗi buồn của sự quạnh hiu, vắng vẻ, không
có âm thanh của sự sống, con người
“Lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu Đầu tiếng làng xa vắng chợ chiều”
Hay:
“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật”
Trang 8Con người không xuất hiện làm cho bức tranh trở nên buồn bã thêm, có đâu xuất hiện thì cũng là đâu đó thôi chứ không rõ hình ảnh cây bèo trôi Cùng với đó là sự không cầu, không đò
đã đem đến cái cảm giác trống trải Để rồi từ đó nhà thơ nhớ về quê hương, đồng thời bộc lộ tình yêu nước thiết tha thầm kín
“Long quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Quả thực nỗi buồn của thơ mới thật đa dạng, phong phú, nhưng nhìn chung một điểm là nó đều bộc lộ cái tôi sâu sắc thầm kín của thi nhân
Cái mới, cái để phân biệt thơ mới và thơ cũ là phần “hồn”, nhưng ta cũng không thể phủ nhận hoàn toàn cách tân sáng tạo của phần “xác” thơ mới đã thoát khỏi những niêm luật chặt chẽ, những quy định dường như trở thành khuôn mẫu của thơ ca xưa như tính quy phạm, tính ước lệ, tính sùng cổ Thơ mới còn là sự phá cách về thể thơ, vần nhịp, nhạc điệu, ngôn từ, không mang những hình thức gò bó, thơ mới cũng dễ bộc lộ được tấm lòng tình cảm của thi nhân một cách tân về hình thức chính là để khám phá nội dung Đến với thơ mới không những ta được gặp những hồn thơ mới đặc sắc, mà còn được gặp những sáp thơm độc đáo, thú vị
Sự ra đời của phong trào thơ mới, sự xuất hiện của cái tôi là một bước chuyển mình to lớn của văn học nước nhà nó đã khẳng định sự vận động tự thiên của văn học nói chung và thơ ca nói riêng Thơ mới đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển của thơ ca dân tộc Đó là nền tảng cho
sự phát triển của thơ, thơ ca cách mạng sau này Thử hỏi không có thơ mới văn học Việt Nam làm sao có được bước chuyển mình toàn diện, nó đã góp phần hiện đại hóa cho nền văn học Việt Nam cả phần “xác” lẫn phần “hồn” Theo về thơ mới là ta về với cội nguồn dân tộc, đi tìm vẻ đẹp của thiên nhiên và con người đắm chìm trong tình cảm ngọt ngào, đôi khi là sự sẻ chia nỗi buồn Đọc một câu thơ hay ta không còn thấy câu thơ mà chỉ thấy tình người trong đó, điều đó quả không sai mà
Với thơ mới thi ca Việt Nam bước vào giai đoạn mới, thơ mới đã làm nên một cuộc cách mạng thơ ca, nó đã thay đổi từ “xác” đến “hồn” Đó là cái hồn của thiên nhiên tươi non, mượt
mà, xanh mát, nhưng cũng là cái hồn của nỗi buồn, sự bơ vơ Đến với thơ mới những cái tên Như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử là những cái tên để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả, bởi những sáng tác của nó thoát xác một cách rõ rệt nhất, thể hiện mới mẻ nhất Có lẽ vì điều đó
mà tên tuổi của họ cũng như các sáng tác của các nhà thơ, đó sẽ như bông hoa vĩnh cửu mang hương sắc làm ngất ngây độc giả cả hôm nay và mai sau./
Đề số 2: Nhận xét về thơ mới (năm 1930 - 1945) Hoài Thanh viết ''Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như thế'' (theo cuốn thi nhân Việt Nam) Ý kiến của em
về nhận xét trên.
Trang 9* Đặt vấn đề:
Giới thiệu về phong trào Thơ Mới ( )
Chú ý đến đặc điểm chính của Thơ Mới là cái mới, lạ, chất phương Đông kết hợp với phương Tây, hòa quyện làm nên một phong trào thơ ca với những tác phẩm và những nhà thơ tiêu biểu Xôn xao bởi nó có nhiều cái mới, cái lạ Và "buồn" bởi cái thế sự lúc bấy giờ và tâm sự của những nhà thơ Mới, họ của nhạy cảm, với bản thân mình và với xã hội đương thời - thơ ơ, dửng dưng
Nó được thể hiện qua câu nói của Hoài thanh trong "Thi nhân Việt Nam" (Trích dẫn câu của Hoài Thanh.)
* Giải quyết vấn đề:
- Giải thích câu nói của Hoài Thanh (mở rộng thêm chút nữa từ cái chú ý trong phần mở bài)
- Chứng minh qua những bài thơ đã được học:
+ Vội vàng:
Xuâm Diệu - "nhà thơ mới nhất trong nhà thơ mới" - đã đem đến cho làng thơ VN cái vẻ phương Tây đầy mới lạ, ông đem đến sự "xôn xao" mà mãi lâu sau khi ông đến người ta mới "quen" được với nó
Chứng minh cái "xôn xao" mà Xuân Diệu đem tới:
"Tôi muốn tắt nắng đi Cho hương đừng bay đi"
Khẳng định cái "tôi" của mình
Xuân Diệu - người đã đến, "đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới", khám phá thiên nhiên, đất trời, cái đẹp nhân gian
Nhưng cũng chất chứa trong ông là nỗi buồn, nỗi buồn với khát khao giao cảm mà ngưòi đời thì dửng dưng
"Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời"
Tuy nhiên, khát vọng yêu thương của Xuân Diệu không bao giờ vơi cạn, cho nên cái buồn của ông luôn chất chứa khát khao, dù lúc vui hay là lúc buồn thì ông luôn có một niềm khát khao đó
Trang 10+ Đây thôn Vĩ Dạ:
Hàn Mặc Tử gây xôn xao bởi cái "điên" của ông
Nhưng thực là buồn nhiều hơn Nỗi đau thể xác khiến ông bấn loạn về tinh thần, đau đớn nhưng luôn khát khao giao cảm
"Gió theo lỗi gió mây đường mây "
+ Có thể chứng minh thêm ở bài "Nhớ rừng" của Thế Lữ
"Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu"
=> Chốt lại vấn đề: Câu nói của Hoài Thanh đã khái quát được một cách đầy đủ và sâu sắc về phong trào thơ Mới, gây nhiều "xôn xao" nhưng cũng thực "buồn"
Mỗi nhà thơ đều là một cơn gió reo vui mang đến những nốt nhạc lạ, muôn nhạc điệu Nhưng cuộc đời thờ ơ quá, dửng dưng quá => nỗi buồn tha thiết "nhưng động tiên đã hết, tình yêu không bền, say đắm rồi cũng bơ vơ "
* Kết thúc vấn đề:
(Trích dẫn lại câu của Hoài Thanh) => Câu nói giúp ta hiểu thêm về phong trào thơ Mới một cách đầy đủ, và sâu sắc Câu nói đúng đắn của một nhà phê bình làm ta khắc ghi sâu hơn cái
"điệu" của một thời kì của thơ ca Việt Nam
Đề số 3: Trong tác phẩm “Tuỳ viên thi thoại” nhà phê bình Viên Mai (Trung Quốc) viết: “Là người thì không nên có cái tôi Nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi” Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy bình luận và làm sáng tỏ cái tôi của một số nhà thơ trong phong trào thơ mới lãng mạn Việt Nam (1932 - 1945).
Trang 11Ai đã từng một lần đọc kiệt tác “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du, hẳn vẫn còn nhớ mãi bước chân “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” của Thuý Kiều tìm đến với Kim Trọng – bước chân mà nói như Xuân Diệu, sẽ còn làm biết bao thiếu nữ hôm nay và mai sau phải ngỡ ngàng, ngạc nhiên
Trong xã hội phong kiến “phi ngã”, “vô ngã” những “bước chân Thuý Kiều” như thế thật hiếm hoi biết bao Trong cuộc đời đã vậy, chẳng lẽ điều đó cũng hi hữu trong thơ ca, trong văn chương nghệ thuật? ý kiến sau đây của nhà phê bình nổi tiếng Trung Quốc Viên Mai, là lời giải đáp cho câu hỏi đó: “Làm người thì không nên có cái tôi nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi”
Xuất phát từ sự trải nghiệm sâu sắc với cuộc đời, từ thực tế phê bình thơ ca cổ điển Trung Quốc, Viên Mai đã đề xuất một quan niệm khá mới mẻ về “làm người” và “làm thơ” Sống trong
xã hội phong kiến, thời đại mà tư tưởng “vô ngã”, “phi ngã” như một thế lực vô hình chi phối mọi hành động của con người, Viên Mai cũng quan niệm: “làm người không nên có cái tôi”
“Cái tôi” ở đây có thể hiểu là tiếng nói là ý thức cá nhân cũng như cá tính riêng của mỗi
người “Cái tôi” trong cách nghĩa xưa như là hiện thân của một tư tưởng cá nhân ích kỉ, hẹp hòi, nhỏ bé, tầm thường Cho nên “làm người không nên có cái tôi” là vì vậy Nhưng câu nói của Viên Mai không nhấn mạnh tới vấn đề này Điều ông quan tâm là việc “làm thơ” nghĩa là sáng tác văn chương nghệ thuật Nhà phê bình đã đối lập “làm người” và “làm thơ” khi đặt ra yêu cầu bức thiết, sinh tử đối với thơ ca “không thể không có cái tôi” “Cái tôi” trong thơ ca được hiểu như là cái tôi xúc cảm, là cá tính sáng tạo của nhà thơ Như thế Viên Mai đã đặt ra yêu cầu quan trọng đối với nhà thơ đó là phải in dấu “cái tôi” - xúc cảm, cá tính sáng tạo của mình vào trang thơ Thơ ca, với ông, là sự thể hiện “cái tôi” của nhà thơ sâu sắc nhất Vậy thì tại sao “làm thơ không thể không có cái tôi”? Theo tôi, điều đó bắt nguồn từ chính đặc trưng của thơ ca Thơ ca là hoạt động sáng tạo tinh thần của con người Thơ là sự tự thể hiện mình một cách trực tiếp và chân thực nhất Nói như Diệp Tiếp, thơ “là tiếng lòng” của nhà thơ vậy Khi có những xúc cảm trào dâng mãnh liệt “không nói ra không được”, thậm chí có “thể chết” như cách nói của Rinkle, nhà thơ lại tìm đến thơ để giãi bày, sẻ chia Bởi lẽ có những điều “chỉ có thể nói được bằng thơ” Chính vì thơ là sự thể hiện nên thơ in đậm dấu ấn cái tôi cá nhân của nhà thơ Xúc cảm trong thơ không phải của ai khác mà chính là những băn khoăn, trăn trở, những tình cảm, suy nghĩ của chính nhà thơ Cho nên làm thơ phải có “cái tôi” là vì vậy
Thế nhưng quy luật, bản chất của lao động nghệ thuật lại là sáng tạo Làm thơ không phải là một thứ sản xuất hàng loạt, làm theo “một vài kiểu mẫu” đưa cho Sáng tác thơ, nói như Xuân Diệu, “là một thứ sản xuất đặc biệt và cá thể, do cá nhân thi sĩ làm” Nghệ thuật muôn đời vẫn
là “lĩnh vực độc đáo” Vì vậy nó đòi hỏi nhà thơ phải có phong cách nổi bật tức là có cái gì đó rất riêng, rất độc đáo thể hiện trong tác phẩm của mình Sáng tạo là yêu cầu sinh tử của nhà văn, đồng thời cũng làm nên tư cách của nhà văn chân chính Khi mà anh không sáng tạo nghĩa là anh đang chết, nghĩa là anh phủ nhận tư cách nghệ sĩ của mình Phải chăng vì vậy trong bức thư gửi một nhà văn trẻ, M.Gorki đã khuyên nhủ, nhắn gửi chân thành thấm thía rằng: “Các bạn hãy học viết ở tất cả các nhà văn có phong cách điêu luyện nhưng các bạn hãy tìm lấy nốt nhạc và lời ca của chính mình” Khi một người không có cái gì riêng của mình, tác phẩm của anh ta không thể
có một giá trị gì Chính bởi bản chất của thơ ca là sáng tạo nên nhà thơ phải có “cái tôi” cá thể của mình, tức là phải có cá tính riêng độc đáo thể hiện trong tác phẩm của mình Thơ ca chỉ thực
sự có giá trị, có sức sống khi nó in đậm một cá tính riêng của nhà thơ
Trang 12Yêu cầu về “làm thơ” của Viên Mai đã vượt qua sự trói buộc ràng buộc nghiệt ngã của hệ tư tưởng phong kiến, trở thành một quan điểm ý nghĩa, xác đáng đối với thơ ca, nói rộng ra là văn chương nghệ thuật Ý kiến ấy đã được thể hiện sâu sắc trong thực tế sáng tác thơ ca của các nhà thơ Trung Quốc cũng như đối với thơ ca Việt Nam, đặc biệt là với phong trào thơ mới lãng mạn Việt Nam thời kì 1932 - 1945 Đây được coi là thời đại của cái tôi - một thời đại chưa từng có trong lịch sử thơ Việt Nam Thơ mới lãng mạn được coi là một dàn hợp xướng của “cái tôi” Mãi mãi hôm nay và mai sau, người yêu thơ sẽ còn nhớ đến một Xuân Diệu “thiết tha, rạo rực”, một Huy Cận “ảo não”, một Nguyễn Bính “quê mùa”, một Hàn Mặc Tử “kì dị”, một Lưu Trọng
Lư “mơ màng”, một Huy Thông “hùng tráng” và một Nguyễn Nhược Pháp “trong sáng” Bởi các nhà thơ ấy đã nói lên tiếng nói của cái tôi cá nhân, đã nhìn cuộc đời và con người bằng con mắt của bản thân và diễn đạt cách cảm nhận riêng ấy bằng chính những ngôn ngữ, hình ảnh in đậm dấu ấn cá nhân nên tiếng thơ của họ còn mãi với cuộc đời, sống mãi trong lòng người
Trong dàn hợp xướng của phong trào thơ mới lãng mạn Việt Nam, Xuân Diệu nổi bật lên như một ngôi sao rực rỡ, chói loà, với những vần thơ nồng nàn, say đắm, mãnh liệt Thơ Xuân Diệu
là bầu xuân “Thơ ông là bình chứa muôn hương của tuổi trẻ” (Vũ Ngọc Phan) Trong thơ ông người đọc bắt gặp dòng cảm xúc sôi nổi mãnh liệt, cái mà Nguyễn Đăng Mạnh gọi là “niềm khát khao giao cảm với đời” riêng có ở Xuân Diệu Cái tôi nội cảm của nhà thơ, xét đến cùng chính là lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt đó Có lẽ chỉ riêng Xuân Diệu mới có ham muốn phi thường,
kì vĩ:
“Tôi muôn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muôn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi”
Hiện diện giữa các dòng thơ là “cái tôi” của Xuân Diệu, không hề che giấu mà dõng dạc vang lên như thách thức, như tuyên bố với cuộc đời Nhà thơ có ham muốn “tắt nắng”, “buộc gió” để giữ lại màu sắc, hương thơm của thiên nhiên, của tạo vật Một khát vọng, ước muốn kỳ vĩ, độc đáo có lẽ chỉ thấy ở nhà thi sĩ họ Ngô này Khát vọng ấy xuất phát từ tình yêu mãnh liệt với cuộc đời, ước muốn được làm chủ, được chế ngự thiên nhiên, được sống tận độ trong sắc màu và hương thơm của cuộc sống, của tuổi trẻ Chính ham muốn ngông cuồng ấy đã làm nên sắc điệu riêng cho tiếng nói của cái tôi cá nhân của Xuân Diệu
Có ai đó đã phong Xuân Diệu là “hoàng tử của thơ tình Việt Nam hiện đại”, là “người ca sĩ hát rong về tình yêu của nhân dân trong thời hiện đại” Lòng ham sống, yêu cuộc sống mãnh liệt
đã chắp cánh cho hồn thơ Xuân Diệu đến với tình yêu như một sự vượt thoát khỏi khuôn khổ chật hẹp của lễ giáo phong kiến Xuân Diệu đã thể hiện một thứ tình yêu mạnh bạo mới mẻ của cuộc đời thực chứ không phải thứ tình yêu đạo đức trong sách vở hay thứ tình yêu ảo mộng của Tản Đà, Thế Lữ Trước và sau Xuân Diệu không ai có được những vần thơ tình yêu sôi nổi, mãnh liệt như thế này:
“Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh
Trang 13Anh nhớ em Anh nhớ lắm Em ơi !?”
Vẻ đẹp tình yêu trong thơ tình Xuân Diệu thể hiện niềm khát khao giao cảm mãnh liệt từ thể xác tới tâm hồn con người Cái mà Xuân Diệu sợ nhất trong tình yêu không phải là sự xa cách không gian – thời gian mà là sự xa cách của tấc lòng, là tình cảm mỗi người, là một vũ trụ riêng chứa đầy bí mật không hài hoà, trộn lẫn làm một Quan niệm tình yêu độc đáo riêng có ấy đã làm nên những vần thơ tình đẹp nhất, mãnh liệt nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại
Xuân Diệu hiện diện trong thơ không chỉ với cái tôi xúc cảm dào dạt đắm say mà còn với một
cá tính sáng tạo độc đáo Cá tính ấy thể hiện trong cái nhìn tươi mới trong trẻo, độc đáo về thế giới về con người được gửi gắm trong những vần thơ hiện đại, tinh vi, tài hoa Thoát ra khỏi cái nhìn ước lệ chung chung chật hẹp của quan niệm phong kiến, Xuân Diệu đã say sưa, choáng váng trước vẻ đẹp đích thực của cuộc đời:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”
Thế giới được cảm nhận qua đôi mắt “non xanh biếc rờn” của Xuân Diệu thật đẹp, thật sống động, tràn đầy màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hương vị, tràn trề nhựa sông, đầy ắp sự sống Mỗi chữ “này đây” vang lên như một đợt sóng cảm xúc dâng trào Được trả cho mình đôi mắt nhìn đời của chính mình, Xuân Diệu đã say sưa ca lên khúc nhạc vui về cuộc sống về thiên nhiên về con người Chính bởi cặp mắt ấy, Xuân Diệu đã phát hiện ra vẻ đẹp đích thực của thế giới, giúp người đọc thấm thía rằng: Thiên đường không phải ở đâu xa không phải ở một cõi mộng xa khuất nào mà ở ngay xung quanh chúng ta, ở ngay trong cuộc đời thực Thiên đường ở chính mảnh đất của sự sống, của hương hoa này Phải có con mắt “xanh non biếc rờn” của tuổi trẻ, của sức trẻ mới có thể nhận ra được Sự phát hiện độc đáo ấy còn gắn với một quan niệm thẩm mỹ rất riêng, rất Xuân Diệu:
“Tháng Giêng ngon như cặp môi gần”
Thơ xưa thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người Người phụ nữ đẹp trong quan niệm xưa phải có khuôn mặt đẹp như hoa, như trăng rằm, có tiếng nói trong như tiếng oanh vàng, có lông mày đẹp như lá liễu Còn với Xuân Diệu, chính con người mới là tạo vật toàn
mĩ nhất, vẻ đẹp con người mới là chuẩn mực của thiên nhiên: “Lá liễu dài như một nét mi”