Các đặc điểm tâm sinh lý của con người trước hết tác động đên việc thực hiện hành vi của họ thể hiện thông qua lời nói, cử chỉ hay hành động. Chính những lời nói, cử chỉ hay hành động này trong những tình huống cụ thể đã góp phần kích thích, thúc đẩy làm phát sinh hành vi phạm tội phạm tội. Tuy nhiên có phải trong các vụ án hình sự đều do nạn nhân có lỗi nên mới xảy ra hành vi phạm tội hay không?
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ BÀI 1
B NỘI DUNG 2
I Khái quát chung 2
1 Khái niệm nạn nhân của tội phạm 2
2 Phân loại nạn nhân của tội phạm 3
II Quan điểm về nhận định: “Trong các vụ án hình sự, do nạn nhân có lỗi nên mới xảy ra hành vi phạm tội” 4
C KẾT BÀI 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 2A MỞ BÀI
Trong các vụ án hình sự, vai trò của nạn nhân của tội phạm được thể hiện qua
xử sự của họ trong từng tình huống phạm tội cụ thể, ở quá trình người phạm tội đánh giá tình huống đó cũng như cân nhắc các đặc điểm nhân thân cùa nạn nhân trước khi quyết định thực hiện hành vi phạm tội cụ thế Trong các nguyên nhân
từ phía nạn nhân có tác động thúc đẩy khả năng trở thành nạn nhân của tội phạm, trước hết phải kể đến những đặc điểm tâm lý, sinh lý của nạn nhân Các đặc điểm tâm sinh lý của con người trước hết tác động đên việc thực hiện hành
vi của họ thể hiện thông qua lời nói, cử chỉ hay hành động Chính những lời nói,
cử chỉ hay hành động này trong những tình huống cụ thể đã góp phần kích thích, thúc đẩy làm phát sinh hành vi phạm tội phạm tội Tuy nhiên có phải trong các
vụ án hình sự đều do nạn nhân có lỗi nên mới xảy ra hành vi phạm tội hay không?
Sau đây sẽ là quan điểm cá nhân tôi về nhận định: “Trong các vụ án hình sự,
do nạn nhân có lỗi nên mới xảy ra hành vi phạm tội”.
Trang 3B NỘI DUNG
I Khái quát chung
1 Khái niệm nạn nhân của tội phạm
Các quan điểm về nạn nhân của tội phạm học đã được tranh luận từ giữa thế
kỷ XX tuy chưa có sự thống nhất nhừn đều đi theo hai xu hướng là xu hướng xác định nạn nhân theo nghĩa hẹp và xu hướng xác định nạn nhân theo nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, tại khoản a, Điều 1, Nghị quyết khung của Cộng đồng châu Âu có thể hiểu nạn nhân chỉ là những cá nhân con người đã bị các hành vi
mà theo Luật hình sự của một quốc gia thành viên coi là tội phạm xâm phạm, gây thiệt hại về thể xác, tinh thần, tình cảm hoặc thiệt hại về kinh tế Theo nghĩa rộng, nạn nhân của tội phạm không chỉ bao gồm thể nhân mà còn bao gồm các
tổ chức bị hành vi phạm tội xâm hại Khuynh hướng này đã mở rộng khái niệm nạn nhân của tội phạm, giúp cho việc đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, làm căn cứ cho việc đinh tội, định khung, quyết định hình phạt và là căn cứ xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại
Từ những quan điểm trên cỏ thể rút ra được khái niệm nạn nhân của tội phạm
như sau: Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức phải chịu những hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác mà những hậu quả thiệt hại này là do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra.
Định nghĩa này xác định nạn nhân của tội phạm có ba đặc điểm sau:
Thứ nhất, nạn nhân của tối phạm có thể là cá nhân hoặc tổ chức Con người là
nạn nhân của tội phạm phải là người đang tồn tại trong thế giới khách quan vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra Tổ chức là nạn nhân phải là những tổ chức hợp pháp và có tài sản, những tổ chức bất hợp pháp không thể là nạn nhân của tội phạm và những tổ chức là nạn nhân của tội phạm phải là tổ chức vẫn còn tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra
Trang 4Thứ hai, nạn nhân của tội phạm có thể chịu các thiệt hại về tính mạng, sức
khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác
Thứ ba, hậu quả thiệt hại mà nạn nhân của tội phạm phải gánh chịu phải là
những hậu quả trực tiếp do hành vi phạn tội gây ra Điều đó có nghĩa là giữa hành vi phạm tội và hậu quả thiệt hại phải có mối quan hệ nhân quả với nhau Thiệt hại mà nạn nhân gánh chịu là hậu quả trực tiếp do hành vi phạm tôi gây ra
và ngược lại, hành vi phạm tội phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả thiệt hại cho nạn nhân
2 Phân loại nạn nhân của tội phạm
Nạn nhân của tội phạm có thể được chia thành nhiều loại dựa trên những căn
cứ khác nhau phục vụ cho những mục đích nghiên cứu khác nháu, ví dụ như: Căn cứ vào địa vị pháp lý của nạn nhân, có thể chia thành nhóm nạn nhân là cá nhân (thể nhân), nhóm nạn nhân là tổ chức
Căn cứ vào cơ chế tác động của hành vi phạm tội đến nạn nhân, nạn nhân được chia thành ba nhóm là nhóm nạn nhân trực tiếp (primary victims hay direct victims), nhóm nạn nhân thứ cấp (nạn nhân gián tiếp) (indirect victims hoặc secondary vitims) và nhóm nạn nhân mở rộng (nạn nhân thứ ba) (tertiary victims)
Căn cứ vào vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội có thể chia thành nạn nhân có lỗi và nạn nhân không có lỗi
Căn cứ vào thể chất, trạng thái tinh thần cũng như đặc điểm tâm lý hiểu biết
củ nạn nhân, được chia thành nhóm nạn nhân là người dưới 16 tuổi, nhóm nạn nhân là nữ giới, nhóm nạn nhân là người già, nhóm nạn nhân là người mắc bệnh tâm thần, người tàn tật, là người trí tuệ kém phát triển (Người mắc bệnh đao) Bên cạnh đó còn có một số nạn nhân khác như: nhóm nạn nhân là những người nhập cư và người thiểu số, nhóm nạn nhân là người tham lam hám lợi, nhóm nạn nhân là ngừi dâm đãng háo sắc, nhóm nạn nhân với điều kiện sinh
Trang 5sống, làm việc dễ bị các hành vi phạm tội xâm hại như nghề lái taxi, nghề kinh doanh vàng bạc,…
II Quan điểm về nhận định: “Trong các vụ án hình sự, do nạn nhân có lỗi nên mới xảy ra hành vi phạm tội”.
Trước tiên trên tất cả, quan điểm của tôi về nhận định: “Trong các vụ án hình
sự, do nạn nhân có lỗi nên mới xảy ra hành vi phạm tội” là sai.
Để chứng minh cho quan điểm trên sau đây sẽ là các trường hợp điển hình để
từ đó có thể khẳng định nhân định : “Trong các vụ án hình sự, do nạn nhân có lỗi nên mới xảy ra hành vi phạm tội” là sai.
Thứ nhất, cần khẳng định rằng trong các vụ án hình sự không phải lúc nào
nạn nhân có lỗi mới xảy ra hành vi phạm tội Nạn nhân có lỗi là những nạn nhân
đã có các hành vi, xử sự không đúng chuẩn mực tạo điều kiện thuận lợi hoặc thúc đẩy hành vi pham tội được thực hiện Hay nói cách khác, giữa hành vi, xử
sự của nạn nhân với hành vi phạm tội có mối quan hệ với nhau Hành vi sử xử của nạn nhân là một trong các yếu tố thúc đẩy, làm phát sinh tội phạm Những hành động không đúng mực có thể là những hành vi như mất cảnh giác, coi thường sự bảo vệ tính mạng, tài sản, hành vi không phù hợp các chuẩn mực đạo đức, thuần phong, mỹ tục, thậm chí là các hành vi trái pháp luật, hành vi phạm tội,…
Nạn nhân không có lỗi là những người có những hành vi, xử sự hoàn toàn đúng đắn, tuân thủ đúng những chuẩn mực đạo đức, thuần phong, mỹ tục và pháp luật Hành vi của họ hoàn toàn không tạo điều kiện thuận lợi hay thúc đẩy hành
vi phạm tội Nói cách khác, hành vi phạm tội hoàn không liên quan đến các hành
vi, xử sử của họ
Không phải lúc nào trong các vụ án hình sự nạn nhân có lỗi mới xảy ra hành vi phạm tội Điển hình đối với tội khủng bố được quy định tại Điều 299 Bộ luật
hình sự 2015: “1 Người nào nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng
Trang 6mà xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm: a) Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố; b) Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố; c) Xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe hoặc chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân 3 Phạm tội trong trường hợp đe dọa thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm 4 Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm 5 Người phạm tội còn có thể bị tước một số quyền công dân, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” Trong tội này, người phạm tội có thể đặt bom ở nhà ga, nơi tập trung nhiều
người qua lại làm chết, bị thương rất nhiều hành khách cũng như huỷ hoại tài sản của những người đó Trường hợp này, nhiều người đã ngẫu nhiên trở thành nạn nhân của tội phạm, người phạm tội không quan tâm đến nạn nhân là ai, sẵn sàng giết chết hoặc làm bị thương thường dân bất kì để đạt được mục đích gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng của mình, nạn nhân không có lỗi gì trong
vụ án hình sự này, nạn nhận có những hành vi, xử sự hoàn toàn đúng đắn, tuân thủ đúng những chuẩn mực đạo đức, thuần phong, mỹ tục và pháp luật, hành vi bình thường của họ hoàn toàn không tạo điều kiện thuận lợi hay thúc đẩy hành
vi phạm tội khủng bố của người phạm tội
Thứ hai, trường hợp nạn nhân hoàn toàn không có lỗi nhưng do các đặc điểm
tâm, sinh lý của nạn nhân, trước hết phải kể đến những đặc điểm sinh học vốn
có nhứ độ tuổi, giới tính hay sức khỏe đã tạo ran guy cơ trở thành nạn nhân cao hơn nhiều so với những nhóm người khác Nạn nhân học xác định một số nhóm người có những đặc điểm hạn chế về khả năng tự bảo vệ, do đó đã kích thích sự hình thành ý định phạm tội mà điển hình là nhóm phụ nữ, trẻ em, người già, người tàn tật hay người mắc bệnh tâm thần Điển hình có thể nhắc đến ở đây là
Trang 7nhóm nạn nhân nữ giới vì với những đặc điểm sinh học hạn chế và khả năng tự bảo vệ, luôn có nguy cơ trở thành nạn nhân của nhiều loại tội phạm, nhất là tội phạm liên quan đến tình dục và bạo lực gia đình Hay nhóm nạn nhân là người già, trẻ em và người tàn tật cũng là nhóm người do các đặc điểm, sự không hoàn thiện về tâm, sinh lý đã ảnh hưởng đến khả năng tự bảo vệ cũng như nhận thức
về pháp luật (nhất là vấn đề nạn nhân khi mà có trường hợp họ trở thành nạn nhân nhưng chính bản thân lại không hề hay biết) của họ thấp hơn nhiều so với những nhóm người còn lại nên dẫn đến nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm
là rất cao Trong các trường hợp này nạn nhân không có lỗi nhưng lại bị những nhười phạm tội lợi dụng những hạn chế về khả năng tự bảo vệ hay hạn chế về nhận thức để thực hiện hành vi phạm tội của mình
Thứ ba, trong các vụ án hình sự không phải tội phạm nào cũng có nạn nhân
nên nhận định là đều do lỗi của nạn nhân là sai Như đã nhắc tới ở trên, con người là nạn nhân của tội phạm là những người đang tồn tại vào thời điểm hành
vi phạm tội xảy ra, nghĩa là hành vi phạm tội phải xâm hại đến một người đang tồn tại trong thế giới khác quan để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại, thời gian có thể bị hành vi phạm tội xâm hại bắt đầu từ khi cá nhân đó sinh ra còn sống và kết thúc khi người đó chết đi Trước thời điểm sinh ra, người đó chưa tồn tại về mặt pháp lí, do đó, hành vi phạm tội chưa thể xâm hại đến người đó được Ngược lại, khi người đó chết đi thì sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình cả về mặt thực tế lẫn mặt pháp lí (khai tử) Vậy nên một ví dụ theo Điều 319 Bộ luật
hình sự: “Người nào đào, phá mồ mả, chiếm đoạt những đồ vật để ở trong mộ, trên mộ hoặc có hành vi khác xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm 2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; b) Chiếm đoạt hoặc hủy hoại vật có giá trị lịch sử, văn hóa; c) Vì động cơ đê hèn; d) Chiếm đoạt bộ phận thi thể, hài cốt” Khi đó, tất cả những hành vi xâm hại đến thi thể,
hài cốt, mồ mả của họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm thi
Trang 8thể, mồ mả, hài cốt (Điều 319 Bộ luật hình sự) Những trường hợp này không thể coi thi thể, hài cốt người chết là nạn nhân của tội phạm nên có thể nói tội phạm này không có nạn nhân Vậy nên có thể thấy không phải trong tất cả các
vụ án hình sự đều do lỗi của nạn nhân làm phát sinh được
Thứ tư, chỉ trong một vài trường hợp thì nạn nhận mới là nguyên nhân chính
làm phát sinh hoặc thúc đẩy tội phạm thực hiện chứ không phải là tất cả các vụ
án hình sự đều xuất phát từ lỗi của nạn nhân thì người phạm tội mới tực hiện hành vi phạm tội Trong trường hợp này, Có thể nêu một sổ trường hợp làm phát sinh, thúc đẩy tội phạm được thực hiện có liên quan đến nạn nhân như: Nạn nhân thiểu hiểu biết, nhận thức hạn chế; Sự phô trương tài sản hoặc mất cảnh giác, sơ hở trong bảo vệ tài sản; Tính hám lợi hoặc tính phản trắc, bội bạc của nạn nhân; Khả năng tự bảo vệ bản thân của nạn nhân còn hạn chế; Sự dễ dãi hoặc quá tự tin với an ninh của bản thân; Nạn nhân có lối sống vô đạo đức hoặc
có hành vi trái pháp luật Ví dụ như A khi đi ra ngoài thường không khóa cửa nên đã để cho B thường xuyên thấy được, B nổi lòng tham và đã lợi dụng một lần A đi vắng để lẻn vào nhà A và trộm nhiều tàu sản của A, trong trường hợp này A đã có sựu mất cảnh giác, sử hở trong việc bảo vệ tài sản Tuy nhiên, vai trò của nạn nhân của tội phạm có thể là hạn chế được phần nào tội phạm xảy ra trên thực tế Cụ thề là nếu nạn nhân nâng cao ý thức cảnh giác, có ý thức bảo vệ tài sản cùa mình cũng như bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm của bản thân thì điều này có thể đưa đến việc từ bỏ ý định phạm tội cũng như từ bỏ việc thực hiện hành vi phạm tội của người phạm tội Ví dụ như hành vi luôn khoá kĩ nhà trước khi ra khỏi nhà sẽ hạn chế nguy cơ của tội trộm cắp tài sản hoặc hành vi không đi một mình đến những nơi vắng vẻ sẽ hạn chế nguy cơ cùa một số tội như cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, tội hiếp dâm,…
Thứ năm, vai trò của nhân tố khách quan cũng rất quan trọng trong việc thúc
đẩy quá trình trở thành nạn nhân của tội phạm Thời gian và địa điểm luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình nạn nhân hóa Người phạm tội luôn biết tận
Trang 9dụng những khoảng thời gian và địa điểm thuận lợi để phạm tội, nạn nhân tuy không có lỗi nhưng vô tình lại trở thành nạn nhân của hành vi phạm tôi của người phạm tội Ví dụ như đi làm về trong thời gian buổi tối, đêm khuya, đi qua những đoạn đường vắng người, xa khu dân cư mang theo người nhiều tài sản rất
dễ trở thành nạn nhân của tội Cướp tài sản Nói tóm lại những người với các hoạt động phù hợp với thời gian và địa điểm đặc trưng của mỗi loại tội phạm tuy không có lỗi nhưng rất dễ trở thành nạn nhân của tội phạm Do đó, nhận định:
“Trong các vụ án hình sự, do nạn nhân có lỗi nên mới xảy ra hành vi phạm tội” là hoàn toàn sai, không có căn cứ.
Từ đó cũng có thể rút ra bài học cho bản thân và những biện pháp làm giảm nguy cơ để trở thành nạn nhân của tội phạm trong một vài vụ án hình sự, rằng mọi người cần nâng cao ý thức cảnh giác, có ý thức bảo vệ tài sản của mình cũng như bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của bản thân để tránh nguy cơ có thể trở thành nạn nhân của tội phạm hình sự vì cho tới cùng thì vẫn tồn tại những vụ án hình sự do lỗi của nạn nhân mới dẫn đến việc người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội
Xuất phát từ những yếu tố chủ quan và khách quan nhất định làm cho một số người có nguy cơ trở thành nạn nhân của các vụ án hình sự thì để phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm, mọi người cần phải vừa luôn luôn đề cao tinh thần cảnh giác, thực hiện tốt nhất các biện pháp nhằm bảo đảm tính mạng, tài sản của mình cũng như của những người thân trong gia đình mình như
đã nói ở trên vừa đòi hỏi mọi cá nhân, tổ chức phải cùng tham gia vận dụng tổng hợp, đồng bộ các biện pháp, trong đó quan trọng nhất là biện pháp tuyên truyền, giáo dục đễn mọi người xung quanh mình cùng chung tay nâng cao cảnh giác của bản thân để giảm thiếu tối đa nguy cơ trở thành nạn nhân của các vụ án hình sự
Trang 10C KẾT BÀI
Từ những nguyên nhân đã phân tích như trên, khẳng định một lần nữa nhận
định “Trong các vụ án hình sự, do nạn nhân có lỗi nên mới xảy ra hành vi phạm tội” là không chính xác Trong nhiều vụ án hình sự, không phải tội phạm
nào cũng gây ra thiệt hại cho các nạn nhân Nói cách khác, không phải tội phạm nào cũng có nạn nhân Có những tội phạm luôn luôn có nạn nhân, có những tội phạm có thể có nạn nhân, có những tội phạm luôn không có nạn nhân Vậy nên, khi đánh giá về vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội, không nên quan niệm sai lầm cho rằng trong các vụ án hình sự, do nạn nhân có lỗi nên mới xảy ra hành vi phạm tội Trong một số trường họp, vai trò của nạn nhân là nguyên nhân làm phát sinh hoặc thúc đầy tội phạm được thực hiện