Export HTML To Doc Nhận định về Hàn Mặc Tử Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Nhận định về Hàn Mặc Tử Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp chi tiết, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của[.]
Trang 1Nhận định về Hàn Mặc Tử
Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Nhận định về Hàn Mặc Tử Các bài văn mẫu được biên
soạn, tổng hợp chi tiết, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học sinh trên cả nước Mời các em cùng tham khảo nhé!
Mục lục nội dung
Nhận định 1: “Hàn Mặc Tử: Trữ tình gợi cảm trong điên cuồng đau thương”
Nhận định 2: Hàn Mặc Tử - người hiền viết 'Thơ điên'
Nhận định 3: Hàn Mặc Tử - Một hiện tượng thơ độc đáo trong tư duy thơ Việt Nam
Sinh thời, nhà thơ Chế Lan Viên từng nhận định: “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”.
Trang 2Nhận định 4: Hoài Thanh nhận xét về hàn Mặc Tử: “ Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng " và "Vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh "
Nhận định 1: “Hàn Mặc Tử: Trữ tình gợi cảm trong điên cuồng đau thương”
Mỗi khi nhắc đến Thơ mới – một trong những thời đại thi ca rực rỡ bậc nhất của văn học Việt Nam, cái tên Hàn Mặc Tử, bao giờ cũng hiện ra trong tâm trí của độc giả, đặc biệt là những người yêu thơ ca bởi lẽ ông đã trở thành tượng đài lớn
Trong tạp chí Ngày mới xuất bản năm 1940, Chế Lan Viên từng nhận định “Mai sau, những cái tầm thường, mực thước sẽ biến đi và còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử”
Trang 3Thơ của Hàn Mặc Tử thấm đẫm chất trữ tình chủ đạo của thời đại thi ca đó, nhưng vẻ trữ tình của ông mang nét khác hẳn Nó không lao thẳng vào cảm xúc người đọc một cách thuần khiết như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, cũng không chỉ mang màu sắc lãng mạn tương trưng như Xuân Diệu, Huy Cận, Đinh Hùng, Bích Khê…
Nó là sự hòa quyện tài tình của tượng trưng và siêu thực Vì thế mà thơ Hàn Mặc Tử không
“truyền cảm” mà “gợi cảm” sâu xa để người đọc tha hồ suy tưởng rồi run lên vì hay quá, điên quá, táo bạo quá!
Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi Chất trữ tình trong thơ ông thủơ ban đầu là chất trữ tình cổ điển, với lối so sánh ước lệ và cách gieo vần theo thể Đường luật Điều đó được thể hiện rõ trong tập Lệ Thanh thi tập của ông:
“Khóc giùm nhân thế hoa rơi lệ Buồn giúp công danh, dế tạo đàn”
(Đêm không ngủ)
Tuy nhiên, ngay trong những bài thơ Đường luật ấy, mầm mống của sự cách tân khác biệt đã bắt đầu lộ rõ Đó là ngày 11/10/1931, ba bài thơ gồm: Chùa hoang, Gái ở chùa và Thức khuya (hay còn có tên khác là Đêm không ngủ) được in trên Thực dân Nghiệp báo có ký tên P.T (tức Phong Trần)
Ba bài thơ này đã được Ông già Bến Ngự - Phan Bội Châu chú ý và hết lòng khâm phục Cũng vẫn là thơ trung đại đấy, nhưng nội dung thơ đã chẳng còn ngâm vịnh gió trăng hay bàn đến hào khí anh hùng, mà bao trùm lên đó là nhục cảm và thân xác, điều gần như cấm kỵ thời bấy giờ lại
là hai yếu tố chính trong thơ Hàn Mặc Tử
Thật chẳng quá lời khi có người nói rằng, Hàn Mặc Tử đã thực sự đưa thơ ca Việt Nam sang một giai đoạn mới, phá tung xiềng xích của lễ giáo cũ kỹ, chật cứng trong xã hội cổ, để mở ra một không gian mới, một hành trình khám phá mới cho nghệ thuật chỉ với hai câu thơ:
“Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối Gió thu lọt cửa cọ mài chăn”
(Đêm không ngủ)
Ở thời điểm đó, đã làm gì có ai dám “điên” như Hàn Mặc Tử, “leo song” rồi “rờ rẫm” đều là những động từ nhạy cảm và có tính gợi cảm cực kỳ cao độ, mùi xác thịt nằm cả ở gió trăng
Trong nhiều bản in, bạn đọc sẽ bắt gặp “sờ sẫm gối” thay vì “rờ rẫm gối”, em trai Hàn Mặc Tử là Nguyễn Bá Tín cho rằng có thể do người bạn thân Quách Tấn đã sửa, để câu thơ trở nên lịch sự hơn nhưng vô tình lại làm mờ đi ý đồ của tác giả khi muốn mang lại cảm giác ram ráp, rạo rực cho người đọc hơn là sự nhẵn bóng, trơn tru của âm “s” trong từ miêu tả
Trang 4Nhờ có cái chất trung đại từ thủơ ban đầu ấy, mà sau này khi Hàn Mặc Tử chuyển sang thơ mới, ông lập tức định vị được cái vẻ trữ tình riêng biệt cho mình thật khác với các thi nhân cùng thời Chính bởi căn cốt phương Đông đã ăn sâu mà sự tượng trưng của thơ ông mang dáng vẻ Đường thi, rõ hơn nữa là tính siêu thực đậm chất liêu trai “điên cuồng” với trăng, hồn và máu
Đọc thơ của Hàn Mặc Tử, có khi người ta cảm thấy bứt rứt kinh khủng bởi lối nói đậm vẻ
phương Đông vừa lộ liễu vừa kín đáo Thơ ông không áp đặt người đọc phải cảm nhận những gì ông cảm nhận, những con chữ chỉ đóng vai trò đòn bẩy, là phương tiện mở ra những liên tưởng độc đáo, làm bật lên cảm xúc riêng biệt trong mỗi người, từ đó mà ta đón nhận những mỹ cảm một cách tròn đầy hơn, đã đời hơn mà reo lên thích thú:
“Trăng nằm sõng soài trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi Hoa lá ngây tình không muốn động Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi”
(Bẽn Lẽn)
Chúng ta đều biết, Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong, những ngày tháng cuối đời trong trại phong Quy Hòa – Bình Định cũng là lúc chất trữ tình siêu thực trong đau thương, điên cuồng trở nên rõ rệt nhất
Cái thực – cái ảo vốn đã nằm sẵn trong ông, và nay khi căn bệnh nan y xuất hiện làm chấn động tâm lý, kéo thi nhân vào nỗi đau cùng cực của cả tinh thần lẫn thể xác, thì những ẩn sâu đó được phát lộ mạnh mẽ hơn bao giờ hết
Ông tan biến vào thế giới của riêng mình ở các bài thơ, nhìn vạn vật đẹp mà đầy “đau thương”,
“sao bông phượng nở trong màu huyết/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?” Có những lúc, người đọc không khỏi rùng mình ám ảnh bởi những vần “thơ điên”, thơ hay nhưng xót xa quá, xót cho con người cuồng loạn mê man trong miền không gian hư ảo:
“Thưa, tôi không dám say mê
Một mai tôi chết bên khe ngọc tuyền Bây giờ tôi dại tôi điên Chắp tay tôi lậy cả miền không
gian…”
(Một miệng trăng)
Thật may mắn rằng, dù có mộng mị đến đâu, siêu thực nhường nào, thơ của Hàn Mặc Tử vẫn có yếu tố lãng mạn níu kéo Sự hòa hợp tài tình này, đã khiến cho “đau thương” trong cuộc sống thường ngày của ông trở nên lộng lẫy, kỳ ảo, huyền bí bằng phương tiện ngôn từ Thơ ông quả thực có sức “gợi cảm” mạnh liệt tới tận đáy sâu tâm hồn của tất cả những ai thưởng thức nó
Nhận định 2: Hàn Mặc Tử - người hiền viết 'Thơ điên'
Trang 5Nói đến Hàn Mặc Tử là nhớ tới một "Mùa xuân chín" trong veo tới yếu lòng: "Trong làn nắng ửng khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc Trên giàn thiên lý bóng xuân sang"; đến "Đây thôn Vĩ Dạ" với những yêu thương tới thổn thức: "Sao anh không về chơi thôn Vỹ? Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền"
Nhưng nói tới Hàn Mặc Tử cũng lại nói tới "Thơ điên" với những vần thơ đau đớn, quằn quại, với những giây phút "hộc ra trăng" trong cô đơn tận cùng của người thơ
Âu cũng bởi cuộc đời bất hạnh đã khiến con người trong trẻo, yêu đời, yêu người tha thiết ấy phải điên, phải cuồng, phải loạn Chính bởi vậy, niềm thương với ông càng chan chứa hơn
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, ông sinh ngày 22/9/1912, tại Lệ Mỹ (Đồng Hới, Quảng Bình), trong một gia đình theo đạo Công giáo, ông là con thứ tư trong gia đình có 8 anh chị em Anh trai cả của Hàn Mặc Tử là Nguyễn Bá Nhân (tức nhà thơ Mộng Châu), cũng chính
là người đã dìu dắt ông trên con đường thơ văn
Hàn Mặc Tử sinh ra vốn đã ốm yếu, tính tình hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ Do thân phụ là ông Nguyễn Văn Toản làm thông ngôn, ký lục nên thường
di chuyển nhiều nơi, nhiều nhiệm sở, nên Hàn Mặc Tử cũng đã theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Qui Nhơn, Bồng Sơn (1921 - 1923), Pellerin Huế (1926)
Hàn Mặc Tử làm thơ từ rất sớm, khi mới 16 tuổi, với các bút danh Lệ Thanh, Phong Trần Năm
21 tuổi, Hàn Mặc Tử quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp, làm ở Sở Đạc Điền Ở Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người, và đây cũng chính là mối tình sâu đậm nhất trong đời nhà thơ bất hạnh
Theo gia đình Hàn Mặc Tử kể lại, thì vào khoảng đầu năm 1935, họ đã phát hiện những dấu hiệu của bệnh phong trên cơ thể ông Tuy nhiên, ông cũng không quan tâm vì cho rằng nó là một chứng phong ngứa gì đó không đáng kể Cho đến năm 1936, khi ông xuất bản tập "Gái quê", rồi
đi Huế, Sài Gòn, Quảng Ngãi, vào Sài Gòn lần thứ hai, được bà Bút Trà cho biết đã lo xong giấy phép cho tờ Phụ nữ tân văn, quyết định mời Hàn Mặc Tử làm chủ bút, bấy giờ ông mới nghĩ đến bệnh tật của mình Nhưng ý ông là muốn chữa cho dứt hẳn một loại bệnh thuộc loại “phong ngứa” gì đấy, để yên tâm vào Sài Gòn làm báo chứ không ngờ đến một căn bệnh nan y Năm
1938 - 1939, Hàn Mặc Tử đau đớn dữ dội Tuy nhiên, ở bên ngoài thì không ai nghe ông rên rỉ than khóc Ông chỉ gào thét ở trong thơ mà thôi
Do thời ấy mọi người đều cho rằng bệnh phong là căn bệnh truyền nhiễm nên bao nhiêu bệnh nhân đã bị hắt hủi, cách ly, xa lánh thậm chí bị ngược đãi Hàn Mặc Tử cũng không là ngoại lệ
Bị người đời hắt hủi, ông đã bỏ tất cả quay về Quy Nhơn, vào nhà thương Quy Hòa (20/ 9/1940) mang số bệnh nhân 1.134, và từ trần tại nhà thương này vì chứng bệnh kiết lỵ, khi mới bước sang tuổi 28
Trang 6Cuộc sống ngắn ngủi, nhưng di sản thơ mà Hàn Mặc Tử để lại cho đời cũng đủ để ông trở thành một nhà thơ của thi đàn "Thơ Mới" sánh cùng Xuân Diệu, Huy Cận
Nói về Hàn Mặc Tử, Hoài Thanh - Hoài Chân, tác giả của cuốn "Thi nhân Việt Nam" nổi tiếng
đã dành cho ông những lời nhận xét thật sự đầy ưu ái: "Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mạc
Tử nhiều lắm Có người bảo: "Hàn Mạc Tử? thơ với thẩn gì! toàn là nói nhảm" Có người còn nghiêm khắc hơn nữa: "Thơ gì mà rắc rối thế! mình tưởng có ý nghĩa khuất khúc, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa mình!"
Nhưng tôi cũng đã nghe những người ca tụng Hàn Mạc Tử Trong ý họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mạc Tử Bao nhiêu thơ Hàn Mạc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết Mà thuộc hết thơ Hàn Mạc Tử đâu có phải chuyện dễ Đã khúc mắc mà lại nhiều: tất cả đến sáu bảy tập Họ thuộc hết và chọn những lúc đêm khuya thanh vắng, họ sẽ cao giọng, ngâm một mình Bài thơ đã biến thành bài kinh và người thơ đã trở nên một vì giáo chủ”
Những ngày viết "Thi nhân Việt Nam", Hoài Thanh - Hoài Chân đã dành tới ngót 1 tháng chỉ để đọc thơ Hàn Mặc Tử Và cũng như độc giả yêu thơ Hàn Mặc Tử, họ theo ông suốt cả "vườn thơ rộng rinh không bờ bến", để mang theo cảm giác "càng đi xa càng ớn lạnh", ớn lạnh bởi thơ chính là tiếng khóc của người thơ, vốn không hề kêu tiếng nào trong những ngày bệnh tật hành
hạ, và chỉ "thét lên bằng thơ"
Hàn Mặc Tử khi hiện diện bằng "Gái quê" (1936), thật có đôi chút bình dị Thơ ông lúc ấy trong trẻo, dễ dàng, và có phần "giông giống những ai đó" Như nhận xét của Hoài Thanh - Hoài Chân,
đó là "Nhiều bài có thể là của ai cũng được Còn thì tả tình quê trong cảnh quê Lời thơ dễ dàng,
tứ thơ bình dị" Thế nhưng, trong cái giông giống thời cuộc ấy, vẫn có chút gì riêng của ông trong một tình yêu "không có cái vẻ mơ màng thanh sạch như mối tình ta vẫn quen đặt vào trong khung cảnh những vườn tre, những đồi thông Ấy là một thứ tình nồng nàn, lơi lả, rạo rực, đầy hình ảnh khêu gợi"
Nhưng có lẽ đến khi "nhập cuộc" với "Thơ điên" (1938), mới là lúc Hàn Mặc Tử có đất thể hiện mình Dường như nỗi đau của bệnh tật, của sự cô đơn đã khiến ông "rút ruột làm thơ", rút ruột tâm sự với người bạn thân - người tri âm tri kỷ duy nhất của ông lúc này: Vầng trăng!
"Thơ điên" gồm 3 tập: “Hương thơm” - “Mật đắng” - “Máu cuồng” và “Hồn điên” Và ở mỗi tập, thì cảm xúc của Hàn Mặc Tử lại một bùng nổ hơn
Với "Hương thơm", đó là "mảnh đất" nơi có ánh trăng, ánh nắng, tình yêu và cả người yêu đều như muốn biến ra hương khói
Với "Mật đắng", cảm xúc đã "bùng" lên hơn với những "lời thơ như dính máu"
Và với "Máu cuồng” và “Hồn điên", thì hoàn toàn là một thế giới của Hàn Mặc Tử - một thế giới trăng, toàn trăng "Trăng ở đây cũng ghen, cũng giận, cũng cay nghiệt, cũng trơ tráo và cũng náo nức dục tình Hàn Mặc Tử đi trong trăng, há miệng cho máu tung ra làm biển cả, cho hồn văng
ra, và rú lên những tiếng ghê người "
Trang 7Nếu chỉ có vậy, đã đủ để thương người thơ lắm rồi Nhưng càng thương hơn, khi thật ra trong những phút giây hoảng loạn ấy, ông vẫn yêu cuộc sống lắm, nó thể hiện trong những câu thơ đôi khi trong trẻo tới bất ngờ của ông Như "Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ Đầy mình lốm đốm những hào quang" Hay như "Ta bay lên! Ta bay lên! Gió tiễn đưa ta tới nguyệt thiềm Ta ở cõi cao nhìn trở xuống: Lâng lâng mây khói quyện trăng đêm"
Đọc thơ Hàn Mặc Tử nhiều, yêu thương cả những câu chuyện, vở kịch viết về ông cũng nhiều, đôi khi vẫn cứ mang trong lòng một cảm giác trách cuộc đời đã "bất nhẫn" với ông, khiến cả cuộc đời ông không có nhiều những phút vui Âu cũng bởi, dường như ngay trong cái bút danh ông chọn cho mình, cũng đã "tiền định" những bất hạnh mà ông gánh chịu."Hàn Mạc Tử", bút danh ông chọn năm 1936, có nghĩa là "chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo, trống trải" Sau đó bạn bè gợi ý ông nên vẽ thêm mặt trăng khuyết vào bức rèm lạnh lẽo để lột tả cái cô đơn của con người trước thiên nhiên, vạn vật "Mặt trăng khuyết" đã được "đặt vào" chữ "Mạc" thành ra chữ
"Mặc" Hàn Mặc Tử có nghĩa là "chàng trai bút nghiên"!
Nhận định 3: Hàn Mặc Tử - Một hiện tượng thơ độc đáo trong tư duy thơ Việt Nam
Sinh thời, nhà thơ Chế Lan Viên từng nhận định: “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”.
Thật vậy, trong làng Thơ mới, Hàn Mặc Tử là thi sĩ có diện mạo thơ vô cùng phong phú, sáng tạo và đầy bí ẩn Bên cạnh những vần thơ điên, thơ say, thơ siêu thực là một giọng thơ trữ tình, đằm thắm, thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết, khao khát tình người đến cháy bỏng
"Ánh sáng" khác thường Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22/9/1912 tại ngôi làng Lệ Mỹ bên dòng Nhật Lệ, nay thuộc thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Hàn Mặc Tử bộc lộ một tài năng thơ
ca từ rất sớm Năm 16 tuổi, ông đã bắt đầu làm thơ và nổi tiếng trên thi đàn với bài thơ đầu tiên
“Vội vàng chi lắm” họa vận bài Gởi nhạn của nhà thơ Mộng Châu Thơ Hàn Mặc Tử thuở ban đầu mang đậm dấu cổ thi, chất trữ tình trong thơ ông là chất trữ tình cổ điển, với lối so sánh ước
lệ và thể thơ Đường luật Tuy nhiên, dẫu bắt đầu bằng những khuôn mẫu nhưng thơ của Tử đã mầm mống xuất hiện những phá cách đầy táo bạo:
“Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối,
Trang 8Gió thu lọt cửa cọ mài chăn”…
(Thức khuya)
Từ năm 1935, ông đổi bút hiệu thành Lệ Thanh, rồi Hàn Mặc Tử "Hàn Mặc Tử" là "chàng bức rèm lạnh" hay "chàng đơn lạnh" Cái tên ấy dường như đã ứng với dự cảm về những năm cuối trên đỉnh thơ cô đơn, lẻ lạnh của riêng ông
Năm 1936, Hàn Mặc Tử cho xuất bản tập "Gái quê" lừng danh và cũng chính lúc này ông phát hiện mình bị bệnh phong Gần cả cuộc đời phải chống chọi với bạo bệnh, cũng là gần trọn cuộc đời, thi sỹ luôn đấu tranh cho khát vọng được sống, được yêu đến quằn quại, đau đớn Tuy nhiên cũng nhờ những đau khổ trong cuộc đời, cộng với bản năng sáng tạo đã chắp cánh cho thi ca Hàn Mặc Tử, đưa ông lên đỉnh cao của văn chương, nghệ thuật hiện đại Từ những năm ba mươi của thế kỷ, trong tư duy nghệ thuật của mình, Hàn Mặc Tử đã có ý thức đi tìm cái lạ và nung nấu thi hứng sáng tạo ở một cường độ cao: “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ - sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu Tôi đã vui buồn hờn giận đến gần đứt sự sống” Thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử vô cùng phong phú và đa dạng như ông đã từng nói: "Vườn thơ của tôi rộng rinh không bờ bến Càng đi xa càng ớn lạnh "
Trữ tình gợi cảm trong đau thương
Trong cuốn: "Hàn Mặc Tử: một hiện tượng thơ độc đáo trong tư duy thơ Việt Nam", nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy cho rằng: “Nếu Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính là dòng lãng mạn thuần khiết, nếu Xuân Diệu và nhất là Huy Cận, là dòng lãng mạn được cườm vào những yếu tố tượng trưng… thì Hàn Mặc Tử là hài hòa của lãng mạn, tưởng tượng, thậm chí siêu thực nữa” Có lẽ chính từ cuộc sống mỏi mòn trong bệnh tật, cô đơn, trong bóng đêm hoang hoải đầy
ác mộng, ẩn ức, ám ảnh giữa thực và mộng của ông đã thăng hoa từ vô thức mà bừng lên những hình ảnh siêu thực trên cái nền lãng mạn: “Không gian dày đặc toàn trăng cả/ Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng”, “Nước hóa thành trăng trăng ra nước/ Lụa là ướt đẫm cả trăng thơm”…
Đọc thơ của Hàn Mặc Tử, có khi người ta cảm thấy bứt rứt kinh khủng bởi lối nói đậm vẻ
phương Đông vừa lộ liễu vừa kín đáo Thơ ông không áp đặt người đọc phải cảm nhận những gì ông cảm nhận, những con chữ chỉ đóng vai trò đòn bẩy, là phương tiện mở ra những liên tưởng độc đáo, làm bật lên cảm xúc riêng biệt trong mỗi người, từ đó mà ta đón nhận những mỹ cảm một cách tròn đầy hơn, đã đời hơn mà reo lên thích thú:
“Trăng nằm sõng soài trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi Hoa lá ngây tình không muốn động Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi”
(Bẽn lẽn)
Đôi bàn tay của một con người mắc bệnh phong đang co quắp vì đau đớn, nhưng càng đau đớn, đôi bàn tay ấy càng khát khao, thèm muốn níu giữ lấy cuộc đời níu giữ lấy tình đời Dường như nhà thơ cố dồn hết sức lực của mình vào đôi bàn tay để "riết", để "níu", để "ràng rịt" với cuộc
Trang 9đời Và cũng có những lúc đôi bàn tay ấy xòe ra thật rộng, nhà thơ như cởi hết lòng để yêu, để viết và để hòa mình với thiên nhiên với cuộc đời thơ mộng:
Cởi thơ, cởi mộng, cởi niềm yêu thương
(Ngủ với trăng)
Nhà thơ đã mở rộng "túi thơ" của mình để đón nhận và để dâng hiến Nói chuyện tâm hồn mà vẫn giản dị như đời thường Ngay cả trong những câu thơ hay nhất, mang chiều kích rộng lớn, bao la của vũ trụ ông vẫn dùng cách nói như thế:
Áo ta rách rưới trời không vá,
Mà bốn mùa trăng mặc vải trăng
(Lang thang)
Giáo sư Lê Đình Kỵ đã nhận xét: "Không ai ngoài Hàn Mặc Tử có thể viết như thế Câu thơ mang chiều kích của vũ trụ mà vẫn tự nhiên như không, siêu thoát mà vẫn trần tục với chuyện Rách rưới, Vá víu, Vải vóc"
Một trong những tiêu chuẩn để đánh giá tài năng nghệ sĩ là cái lạ, cái độc đáo Thơ ca Hàn Mặc
Tử lạ trong cách suy nghĩ, lập ý, so sánh, trong cách dùng từ ngữ, hình ảnh Và cái lạ nhất là một con người phải trải qua những nỗi đau thể xác và tinh thần ghê gớm như vậy nhưng giọng thơ nói chung không bi quan mà luôn mơ ước, hướng tới thế giới vĩnh hằng “tứ thời xuân non nước” Bên những vần thơ điên loạn với ngập tràn ý tưởng của hồn, trăng, và máu, người ta còn biết đến những bài thơ trong sáng như ca dao, ngọt lành như trái chín với cái nhìn trẻ trung, lãng mạn mà
bí ẩn của thi nhân Đó là nhân vật trữ tình của một thời: “Hai mươi mốt tuổi, tuổi như hoa” Với bao hy vọng của tuổi trẻ: Ra đời ta thấy đời vui sao/ Đầy cả say sưa với ngọt ngào…/ Lúc ấy lòng ta như rạo rực/ Bâng khuâng thèm uống rượu Quỳnh Dao/ (Chạy theo hạnh phúc)
Hàn Mặc Tử đã gắn bó tâm hồn mình với thiên nhiên đất nước, với những không gian đã từng chứng kiến bao kỷ niệm vui buồn, được mất trong cuộc đời và tình duyên của thi nhân Lạ lùng thay với Hàn Mặc Tử, “những địa danh cụ thể cũng trở thành huyền ảo”, cũng nên thơ với Đà Lạt trăng mờ, Đây thôn Vĩ Dạ, Phan Thiết! Phan Thiết Tình quê hương trong cách cảm, cách nghĩ của thi sĩ không chỉ là tình người, tình đời như thơ Nguyễn Bính hay là bức tranh quê như trong thơ Bàng Bá Lân, Anh Thơ mà là tiếng vọng của tâm linh, với những hình ảnh gợi cảm, giàu nhạc điệu: Mây chiều còn phiêu bạt/ Lang thang trên đồi quê/ Gió chiều quên ngừng lại/ Dòng nước luôn trôi đi/ Ngàn lau không tiếng nói/ Lòng anh dường đê mê…/ Tiếng buồn trong sương đục/ Tiếng hờn trong luỹ tre/ Dưới trời thu man mác/ Bàng bạc khắp sơn khê (Tình quê)
Trang 10“Mùa xuân chín” và “Đây thôn Vĩ Dạ” là những bài thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử Với “Mùa xuân chín”, thiên nhiên trong thơ như không có đường viền Trong cái không gian khoáng đạt, phóng túng ấy ẩn náu một cái tôi trữ tình tài hoa, đầy dự cảm của thi nhân: Trong làn nắng ửng khói mơ tan/ Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng/ Sột soạt gió trêu tà áo biếc/ Trên giàn thiên lý bóng xuân sang/ Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời/ Bao cô thôn nữ hát trên đồi/ - Ngày mai trong đám xuân xanh ấy/ Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi
Ngày 11/11/1940, Hàn Mặc Tử đã trút hơi thở cuối tại nhà thương Quy Hoà Ngôi sao ấy xẹt qua bầu trời thi ca Việt nhưng đã kịp để lại vầng sáng lạ lùng và dữ dội Nửa đời người chưa qua hết nhưng Hàn Mặc Tử đã làm tròn sứ mệnh của mình, để lại cho nền văn học Việt Nam một đời thơ giá trị Thật đúng như nhà thơ Chế Lan Viên đã nhận định: “Mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, còn lại chút gì trên đời này đáng kể, đó chính là Hàn Mặc Tử”…
Nhận định 4: Hoài Thanh nhận xét về hàn Mặc Tử: “ Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng " và "Vườn thơ Hàn rộng
không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh "