1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài ca ngất ngưởng

30 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài ca ngất ngưởng
Tác giả Nguyễn Công Trứ
Người hướng dẫn Thầy Phạm Hữu Cường
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 477,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài ca ngất ngưởng

Trang 1

3 Khi đọc chú ý nhấn giọng từ ngất ngưởng ở nh ng vị trí khác nhau, chú ý cách ngắt nhịp, âm điệu các câu thơ, xen kẽ gi a nhịp dồn với câu dài: 3/3/4 (câu 3), 3/3 (câu 5) , 5 câu thơ cuối (2/2/2, 2/2/3 )

4 Bài ca ngất ngưởng được làm theo thể hát nói - một thể thơ bác học phát triển mạnh đầu thế kỉ XIX do các tác gia người Việt sáng tạo trong môi trường văn hoá song ng Hán Nôm thời trung đại, đó là thể thơ

“nửa hát, nửa nói, có tính chất kể chuyện” Nhiều nhà nho, nhà thơ, nhà chính trị nổi tiếng lúc đó, dường như đều gửi gắm tâm sự của mình trong hát nói Nhờ đó thể loại này nhanh chóng chiếm được vị trí độc tôn

và trở thành một khuynh hướng văn học của thời đại

Có thể nói, so với các bài thơ Đường luật gò bó, hát nói phóng khoáng hơn nhiều Hát nói có quy định về

số câu, về cách chia khổ nhưng nhìn chung người viết hoàn toàn có thể phá cách toàn bộ điều này để tạo nên một tác phẩm tự do về số câu, số ch , về cách gieo vần, nhịp điệu, Sự phóng khoáng của thể thơ đặc biệt thích hợp với việc chuyển tải nh ng quan niệm nhân sinh mới mẻ của tầng lớp nhà nho tài tử khao khát khẳng định mình, sống theo mình, coi thường nh ng ràng buộc chật chội của l nghi, của cuộc đời trần thế

mà Nguy n Công Trứ là một đại biểu ưu tú nhất

Bài thơ thuộc loại hát nói dôi khổ gồm 19 câu, gieo vần theo một bài hát nói điển hình Câu đầu tiên gieo vần chân, thanh trắc, câu 2, 3 gieo vần lưng, thanh bằng, các cặp câu cứ như thế luân phiên đến hết bài Trong bài có xen kẽ nh ng câu thơ ch Hán và số lượng từ trong các câu không cố định Điều đó làm nên giọng điệu đặc trưng của bài hát nói, thể hiện được tâm trạng và tình cảm của nhân vật tr tình

Giáo viên: PH ẠM HỮU CƯ NG TÀI LI U BÀI GI NG

Đây là tài liệu đi kèm bài giảng Bài ca ngất ngưởng thuộc khoá Ng văn 11 ậ thầy Phạm H u Cường tại website Hocmai.vn

B ạn nên kết hợp xem tài liệu với bài giảng này

Trang 2

5 Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng các từ, cụm từ mang tính chất tự xưng, đó là: Ông Hi Văn, tay ngất ngưởng, ông ngất ngưởng, phường Hàn, Phú Nh ng cách tự xưng này đã góp phần thể hiện cái ngất ngưởng, thái độ tự tôn, sự ngông ngạo của Nguy n Công Trứ, làm nổi bật hình ảnh cái tôi cá nhân cao ngạo của tác giả

6 Ngất ngưởng là một từ láy tượng hình vốn được dùng chỉ sự vật ở độ cao chênh vênh, bất ổn định bài thơ này, từ ngất ngưởng được dùng với nghĩa chỉ sự khác thường, vượt lên thói thường, coi thường dư luận Ngoài nhan đề, từ ngất ngưởng được nhắc đi nhắc lại 4 lần ở cuối các khổ thơ trở thành một biểu tượng cho một phong cách sống, thái độ sống vượt thế tục, một lối chơi ngông thách thức xung quanh trên cơ sở nhận thức rõ tài năng và nhân cách cá nhân

7 Sau khi cởi mũ, cáo quan ra khỏi cuộc sống bó buộc chốn quan trường bon chen, Nguy n Công Trứ có

nh ng hành vi kì quặc, lập dị đến ngất ngưởng Người ta cưỡi ngựa đi giao du thiên hạ thì ông cưỡi bò, lại còn đeo cho một cái đạc ngựa khiến cả chủ l n tớ đều ngất ngưởng Đi thăm thú cảnh chùa mà v n đeo kiếm cung bên người và mang theo “một đôi dì” Rõ ràng trong bộ dạng từ bi, Nguy n Công Trứ v n vương đầy nợ trần, v n đèo bòng đằng sau mấy bóng giai nhân Cốt cách của một khách tài tử, văn nhân chính là ở đó Đó là lối sống phá cách của một con người thích làm nh ng chuyện trái khoáy ngược đời để ngạo đời, thể hiện thái độ và khát vọng sống tự do tự tại

Không bận tâm đến nh ng lời khen chê, nh ng chuyện được mất Đó là một quan niệm sống, triết lí sống phóng khoáng tự do, thoát khỏi vòng danh lợi tầm thường Coi sự được mất là lẽ thường tình, ông đã ra khỏi vòng danh lợi để sống thảnh thơi, tự do, tự tại để hưởng mọi lạc thú, cầm, kì, thi, tửu, giai nhân gi a cuộc đời trần thế một cách thoả thích

Nhà thơ đã vận dụng nghệ thuật tương phản, đặt nh ng cái đối lập nhau để thể hiện thái độ ngất ngưởng của mình

8 Nhân vật tr tình xuất hiện trong tác phẩm là một con người có cá tính ngông, một con người đầy tự tin, yêu thích cuộc sống tự do tự tại, coi thường danh lợi Con người ấy tự tin vào tài năng và tin tưởng vào quan điểm sống của mình nên đã rất bản lĩnh vượt lên trên thói thường cuộc đời để sống và làm điều mình thích Nhưng dù ngất ngưởng, ngông ngạo đến đâu, ông v n ý thức rất rõ trách nhiệm của mình đối với cuộc đời Vì thế, sau nh ng phút giây cao hứng, thả mình phóng túng cùng trời đất tự do, ông v n không quên tự nhắc: “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung” Tư tưởng ấy không hề mâu thu n với cái ngông ngạo, ngất ngưởng của ông Trên thực tế, Nguy n Công Trứ là một nhà nho có trách nhiệm với đất nước Tuy cuộc sống quan trường gặp nhiều lận đận nhưng ông v n luôn một lòng trung thành với triều đình Dù ham cuộc sống tự do phóng túng nhưng ông v n nhiệt tình thực hiện trách nhiệm quân thần

9 Cá tính sáng tạo của Nguy n Công Trứ được thể hiện ở chỗ nhà thơ sử dụng khá nhiều khẩu ng trong bài thơ Điều này tạo nên tính chất sống động, gần gũi, hóm hỉnh cho thể hát nói Các từ ng mang tính chất khẩu ng : ông, tay, vào lồng, một đôi dì, nực cười, phường, kìa núi nọ phau phau mây trắng, nên dạng, chẳng cũng cũng góp phần khắc hoạ rõ nét tâm hòn tự do, khoáng đạt và thái độ tự tin của tác giả

II TÀI LI U THAM KH O:

Trang 3

A Phân tích Bài ca ng t ng ng của Nguy n Công Trứ

Nếu được phép hiểu con người một cách giản đơn thì nhìn vào cụ Uy Vi n tướng công ta sẽ thấy rõ hai nét: Thấm nhuần đến chân tơ kẽ tóc đạo trung hiếu Nho gia và ý thức rất rõ về tài đức của mình, cố đem hết tài đức ấy cống hiến để làm nên sự nghiệp và danh tiếng để đời Chí hướng và nhiệt huyết ấy ít ai bì kịp Nguy n Công Trứ - ông quan kinh bang tế thế lại có một tâm hồn nghệ sĩ, cống hiến thì hết mình nhưng việc xong, công thành, lại tự thưởng cho mình được vui chơi ậ vui chơi thanh nhã: Nợ tang bồng một khi

đã trắng thì vỗ tay reo và thơ túi rượu bầu, hoặc hẹn với nh ng ông cao niên tiên ẩn sĩ nào đó ở tận chốn thâm sơn cùng cốc và thả hồn theo nào địch nào đàn…

Có thể coi Bài ca ngất ngưởng là một bài tự thuật ngắn gọn có ý nghĩa tổng kết cuộc đời và tính cách của

Uy Vi n ướng công Nguy n Công Trứ Lời lẽ gọn mà v n đủ Điệu thơ gửi vào thể ca trù nhiều tự do, ít khuôn phép, là thơ mà cũng là ca, là nhạc

Vũ trụ nội mạc phi phận sự Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông, Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên

Đô môn giải tổ chi niên, Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi n ọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Được mất dương dương người thái thượng, Khen chê phơi phới ngọn đông phong, Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không Tiên, không vướng tục

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho trọn vẹn đạo sơ chung, Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

Không rõ tựa đề bài thơ này tự cụ đặt hay người sưu tập đưa vào, nhưng tinh thần chung v n là kẻ nói lên sự ngất ngưởng Không chỉ ở đầu đề mà toàn bài còn có thêm bốn ch n a, một sự cố ý trùng lặp

Phong thái ấy của Nguy n Công Trứ vốn có từ nhỏ nhưng nó bộc phát mạnh mẽ và không giấu giếm hhất là sau thời điểm Đô môn giải tổ chi niên (được trả ấn từ quan, vua cho về nghỉ) Bởi dù sao trong một thái độ ngất ngưởng như thế không bao giờ được phép lọt vào mắt vào tai các vua chuyên chế của triều Nguy n

Trang 4

Cho nên mở bài v n phải phô ra cái nét thứ nhất (như bên trên đã giải bày): Vũ trụ nội mạc phi phận sự, tác giả đặt mình ngang tầm vũ trụ nhưng rồi cũng khiêm tốn, kín mà hở nói tiếp ngay: Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng Vào lồng là vào khuôn phép vua chúa nhưng v n là chật hẹp, tù túng trái với bộ đội trời đạp đất của ông

Nhà thơ vừa mới tự đề cao vai trò của mình trong vũ trụ ở câu thứ nhất thì lập tức tự chê mình đã đem cái tài ba ấy nhốt vào lồng ở câu thứ hai nhưng dù sao v n nổi hẳn lên sự khoan khoái, tự hào khi nhắc tới đôi cái mốc của đời mình, dù mỗi sự kiện chỉ nhắc đến bằng vài ch , như bất cần, không có gì quan trọng

Khi thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Lúc bình Tây cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên

Giọng thơ kể toàn chuyện lớn lao hiển hách mà nghe như nói chơi Đỗ Thủ khoa (đỗ đầu cử nhân khoa thi hương), làm Tham tán quân sự…chức vị ấy nói sơ qua cũng được Nhưng làm đến Tổng đốc Hải An (Hải Dương và Quảng Yên), một chức quan to trong tỉnh hay lĩnh chức đại tướng bình Tây (xứ Tây Nam nước ta) mà chỉ gọi cộc lốc khi Tổng đốc Đông và bình Tây, cờ đại tướng thì thật sự Nguy n Công Trứ không coi nh ng chức tước ấy đều là vẻ vang lớn nhất đối với mình Tất cả chỉ là phận sự trong vũ trụ, đến tay mình thì làm, cái cốt yếu đã làm hết lòng hết sức Chẳng phải cụ đã từng nói: Làm tổng đốc tôi không lấy làm vinh, làm lính tôi cũng không coi là nhục đó sao? Cho nên, câu tổng kết: Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng khẳng định, đối với công danh, dù Tổng đốc, dù đại tướng cụ coi cũng nhẹ tênh Đó là một loại ngất ngưởng

Tiếp theo là một hành ngất ngưởng hơi bất thường: người giàu sang thì cưỡi ngựa, còn cụ lại cưỡi bò và cho bò đeo đạc ngựa:

Người đời bảo cụ khác người, có kẻ cho là cụ đặt mình lên trên dư luận Xét ra có thể còn xa hơn thế, cụ cho bò đeo nhạc ngựa cũng là một cách chơi ngông Hơn n a, hành động ấy xảy ran gay sau ngày cụ về nghỉ việc quan Vừa nêu rõ năm tháng mình thôi đeo ấn vua ban, đô môn giải tổ chi niên (giải tổ có nghĩa là cởi dây đeo ấn) thì lại cho ngay bò mình cưỡi đeo đạc ngựa để cho nó cùng ngất ngưởng như mình? Ai suy

di n ra điều này chắc không khỏi cho hành vi của cụ là xấc xược Đó là hai thứ ngất ngưởng

Cười bò lên thăm chùa ở núi Nài mây phủ trắng phau, cụ cười mình là: Tay kiếm cung mà nên dạng

từ bi, kỳ thực đó là cái dạng thôi Bởi theo hầu cụ có một đoàn gót sen “ tiên n ” đủng đỉnh một đôi dì là các cô ả đầu Không nh ng chẳng từ bi chút nào mà còn bất kính là đằng khác Tuy vậy nhưng v n rất tự

Trang 5

nhiên Và cụ khiến But không nh ng chẳng chau mày quở trách mà còn nực cười độ lượng với ông quan thượng già

Đến chùa, cụ đâu có l Phật mà bày tiệc ca hát, một tiệc hát ả đào có cả đàn kịch, trống phách hẳn hoi Nhà chùa chắc cũng vì nể uy cụ mà làm lơ Cụ được tất cả tục lụy mà lâng lâng bay bổng trên chín tấng mây, phơi phới luồng ấm mát của gió xuân

Được mất dương dương người thái thượng, Khen chê phơi phới ngọn đông phong

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không Tiên, không vướng tục

mất, miệng khen, miệng chê…tất cả đều coi như không có Hồn cụ lâng lâng ở cõi mây trong lành, cao khiết, lời thơ vút lên hào hứng: Được mất/ dương dương người thái thượng: Khen chê/ phơi phới ngọn đông phong Con người có bay bổng trên tầng cao, trong say sưa âm nhạc của điệu ca, tiếng trống Khi ca/ khi tửu/ khi cắc, khi tùng Dù cuộc vui bày trong của Phật có các cô tiên tham dự mà mình v n trong sạch,

thanh cao Không phật, không/ Tiên, không vướng tục:

Đây là đoạn thơ rõ nhất và cũng là đoạn hay nhất của bài thơ Hai câu trước trải dài, thanh thoát cao siêu như tấm lòng không còn vướng chút bụi trần trong nhịp điệu thênh thang thì hai câu sau là nhịp ca, nhịp trống, nhịp phách, nhịp rượu chúc mừng, rồi dồn lên rối rít để chấm dứt ở một ch mang thanh trắc, đục, mạnh, chấm dứt câu thơ cũng là nện mạnh xuống mặt trống để tự thưởng, tự hào, tự khằng định cái tài tình, cái khoáng đạt của tâm hồn mình

Riêng mấy câu thơ ấy cũng đủ bộc lộ tâm tính của Uy Vi n tướng công, giúp ta hiểu được phần nào cái ngất ngưởng và Bài ca ngất ngưởng này của cụ

Kết thúc bài thơ, Nguy n Công Trứ cũng phải trở lại cái điệp khúc nhàm chán của đạo sơ chung với triều Nguy n, mặc dù câu đó chĩ đặt gi a một câu tự đánh giá cao và một câu như muốn thách thức với cả triều đình:

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung, Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

Nội dung ngất ngưởng bất chấp dư luận, bất cần mọi sự đã tìm được ở thể ca trù một âm hiệu hoàn toàn thích hợp, câu ngắn, câu dài tùy ý, v n liền từng cặp xen l n đều đặn bằng trắc: niêm luật tự do, đối không bắt buộc, âm điệu quyết định ở trạng thái tâm hồn nhà thơ: bi thương , hùng tráng, cười cợt…

Giọng điệu bài thơ amng nét độc đáo của tác giả: tự hào gần như tự phụ, thậm chí đến ồn ào Hai nét lớn trong tính cách cụ không hề che giấu, công tích lớn mà kể coi như chuyện thường tình, còn thú chơi ngông thì lại đề cao tột bậc

B Bình gi ng bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguy n Công Trứ

Nguy n Công Trứ (1778 ậ 1858) là nhà thơ lớn của dân tộc ta trong nửa đầu thế kỉ XIX Văn chương lỗi lạc, có tài kinh bang tế thế, lưu danh sử sách Lúc sống cuộc đời một hàn sĩ, lúc cầm quân chinh

Trang 6

chiến, lúc làm lính thú, lúc làm đại quan Vinh nhục đã từng, thăng trầm đã trải, nhưng lúc nào ông cũng hăm hở chí nam nhi, sòng phẳng với nợ tang bồng, sống vì một khát vọng phi thường:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông”

Sự nghiệp văng chương của Nguy n Công TRứ vô cùng rạng rỡ, cho thấy một cá tính sáng tạo rất độc đáo được thể hiện tuyệt đẹp qua bài phú Nôm “Hàn nho phong vị phú”, và trên 60 bài thơ hát nói cực

kì tài hoa “Bài ca ngất ngưởng” là một trong nh ng bài thơ hát nói kiệt tác trong nền thơ ca dân tộc Bài hát nói này có hai khổ đôi, tất cả có 19 câu thơ đầy vần điệu, nhạc điệu trầm bổng, réo rắt, lúc khoan thai Lúc hào hùng, đọc lên nghe rất thú vị Hát nói là một thể thơ dân tộc, có bố cục chặt chẽ, chất thơ chát nhạc kết hợp rất hài hòa, hấp d n

Nguy n Công Trứ về trí sĩ năm 1848, sau gần 30 năm làm quan với triều Nguy n Bài thơ” Bài ca ngất ngưởng” được ông viết sau khi đã về trí sĩ tại quê nhà Bài thơ vang lên như một lời tự thuật về cuộc đời, qua đó ông Hy Văn tự hào về tài năng và công danh của mình, biểu lộ một cá tính, một phong cách sống tài tử, phóng khoáng ở đời

“Ngất ngưởng” nghĩa là không v ng, ở chỗ cheo leo d đổ, d rơi Trong bài thơ này nên hiểu “ngất ngưởng” là một con người khác đời Một cách sống khác đời và bất chấp mọi người Và ngất ngưởng đã được Nguy n Công Trứ nâng lên thành bài ca, thành điệu tâm hồn với tất cả niềm tự hào và sự say sưa hiếm thấy

Khổ đầu cất cao một tiếng nói, một lời tuyên ngôn của đấng nam nhi, đấng tài trai Rất trang trọng

và hào hùng: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” ậ mọi việc trong vũ trụ chẳng có việc nào không là phận sự của

ta Một cách nói phủ định để khẳng định tâm thế của một nhà nho chân chính Mà đâu chỉ có một lần? Lúc thì ông viết: “Vũ trụ giai ngô phận sự” (Nh ng việc trong vũ trụ là chức phận của ta ậ “Nợ tang bồng”);

“Vũ trụ chức phận nội” (Việc trong vũ trụ là chức phận của ta ậ “Gánh trung hiếu”) Có cái tâm thế ấy chính vì “Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng” Hy Văn là biệt hiệu của Nguy n Công Trứ “Tài bộ” là tài năng lớn, nhiều tài năng Ch “lồng” trong câu thơ có nhiều cách hiểu khác nhau “Vào lồng là vào khuôn phép của vua chúa cái nơi chật hẹp, tù túng trái với cái tài đội trời đạp đất của ông” (Lê Trí Vi n) Có người lại giải thích: “lồng là trời đất, vũ trụ” Nguy n Công Trứ đã nhiều lần nói: “Đã mang tiếng ở trong trời đất”, hoặc “Chẳng công danh chi đứng gi a trần hoàn” Cách hiểu thứ hai hợp lý hơn, vì có vào lồng vũ trụ thì mới có ý chí đua tranh, như ông nói

“Chí làm trai nam bắc đông tây Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”

Sau khi đã xưng danh, nhà thơ tự khẳng định tâm thế mình “tài bộ” mình, chí nam nhi của mình mang tầm vóc vũ trụ

Ông Hy Văn là một người có thực tài và thực danh Học hành thi cử, ông dám thi thố với thiên hạ:

“Cái nợ cầm thư phải trả xong” Năm 1819 Nguy n Công Trứ đỗ Thủ khoa trường Nghệ An Làm quan võ,

gi chức Tham tán; làm quan văn, là Tổng đốc Đông (Hải Dương và Quảng Yên) Tiếng tăm l y lừng

Trang 7

“Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ” Chí anh hùng Đứng trên đỉnh cao danh vọng bởi có văn võ toàn tài, bởi có “Gồm thao lược”, và chính lúc đó ông Hy Văn mới trở thành “tay ngất ngưởng”, một con người hơn đời và hơn thiên hạ Câu thơ với cách ngắt nhịp (3-3-4-3-3-2), ba lần điệp lại ch “khi” đã tạo nên một giọng điệu hào hùng, thể hiện một cốt cách phi thường, một chí khí vô cùng mạnh mẽ:

“Khi thủ khoa/ khi Tham tán/ khi Tổng đốc Đông Gồm thao lược/ đã nên tay, ngất ngưởng”

Bốn câu tiếp theo (khổ gi a), ý thơ mở rộng, tác giả tự hào, khẳng định mình là một con người, một

kẻ sĩ có tài kinh bang tế thế Thời loạn thì xông pha trận mạc, gi trọng trách trước ba quân: “bình Tây cờ Đại tướng” Thời bình thì giúp nước giúp vua, làm “Phủ doãn thừa Thiên” Đó là năm 1847, Nguy n Công Trứ đã lên tới đỉnh cao nhất danh vọng Ông đã từng nói: “Lúc làm Đại tướng, ta chẳng lấy thể làm vinh,

lúc làm lính thủ, ta cũng chẳng lấy thế làm nhục “ Sau 30 năm làm quan, Nguy n Công Trứ về trí sĩ ở quê nhà, năm đó, ông vừa tròn 70 tuổi (1848):

“Đô môn giải tố chỉ niên, Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”

Trở lại với đời thường, cụ Thượng Trứ đã hành động một cách ngược đời, hình như để gi u đời với tất cả sự ngất ngưởng Vị đại quan thuở nào “ngựa ngựa xe xe” nay chỉ cưỡi bò vàng và cho bò đeo đạc ngựa Cả ngwoif và bò vàng đều ngất ngưởng Như một sự thách đố với “miệng thế” Cho đến nay dân gian

v n cười và truyền tụng bài thơ đề vào chiếc mo cau của ông Hy Văn thuở nào:

“Xuống ngựa, lên xe, nọ tưởng nhàn, Lợm mùi giáng chức với thăng quan

Điền viên dạo chiếc xe bò cái, Sẵn tấm mo che miệng thế gian”

Tám câu tiếp theo trong hai khổ đôi nói lên một cách sống ngất ngưởng Xưa kia là một vị đại thần, một danh tướng” ậ “tay kiếm cung” ậ thế mà nay sống cuộc đời hiền lành, bình dị “nên dạng từ bi” ậ Đi vãn cảnh chùa, đi thăm thú nh ng danh lam thắng cảnh “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”, ông đã mang theo “một đôi dì”, nh ng ngàng hầu xinh đẹp với “gót tiên đủng đỉnh”…

“Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.”

Ông đã sống hết mình và chơi cũng hết mình “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” là một tứ thơ độc đáo Câu thơ tự trào gợi ít nhất nhiều hóm hỉnh Bụt cười, hay thiên hạ cười? Hay ông Hy Văn tự cười mình ? Đã thoát vòng danh lợi rồi, thì chuyện “được, mất” là lẽ đời, như tích “Thất mã tái ông” mà thôi, cũng chẳng bận tâm làm gì! Chuyện khen, chê” của thiên hạ, xin bỏ ngoài tai, như ngọn gió đông xuân phơi phới thổi qua Có bản lĩnh, có tự tin về tài đức của mình mới có thái độ phủ định như thế, dám sống vượt lên trên mọi thế tục Có biết Nguy n Công Trứ là một nhà nho được đào luyện nơi của Không sân Trình,

Trang 8

một vị đại quan của Triều Nguy n thì mới thấy được một phần nào đó cá tính cốt cách khác đời, một nhân cách khác đời, rất phóng túng, phong tình và tài tình hiếm thấy của ông Không quan tâm đến chuyện

“Được, mất”, bỏ ngoài tai mọi lời thị phi, khen chê, ông đã sống một cách nhi nhiên, hồn nhiên, vô cùng thảnh thơi, vui thú Tuy ngất ngưởng mà trong sạch, thanh cao Đây là 2 câu thơ tuyệt hay trong “Bài ca ngất ngưởng”:

“Khi ca / khi tửu / khi cắc/ khi tùng/

Không phật/ không tiên/ không vướng tục”

Cách ngắt nhịp 2, nghệ thuật hòa thanh (bằng, trắc), lối nhấn, lối di n tả trùng đẹp (khi … không…)

đã tạo cho câu thơ phong phú về nhạc điệu, biểu lộ một phong thái ung dung, yêu đời, ham sống, thanh cao chẳng vướng chút bụi trần Có đọc to và hát lên, có lắng nghe tiếng đàn đáy, nhịp phách, tiếng trống chầu,

ta mới cảm được chất thơ, chất nhạc hòa quyện trong nh ng vần thơ đẹp như thế! Ngất ngưởng mà tài hoa, tài tử

Khổ xếp của bài hát nói chỉ có 3 câu Câu cuối gọi là câu “keo” chỉ có 6 từ Nên ghi đúng như văn bản “Tuyển tập thơ ca trù” ậ NXB Văn học 1987 mới đúng thi pháp:

“Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú, Nghĩa vua, tôi cho vẹn đạo sơ chung,

Đời ai ngất ngưởng như ông!”

Nguy n Công Trứ tự hào khẳng định mình là một danh thần thủy chung, trọn vẹn “nghĩa vua tôi” Ông đã viết trong bài “Nợ tang bồng”:

“Chí tang bồng hẹn với giang san, Đường trung hiếu, chữ quân thân là gánh vác”

Tài năng, công danh mà Nguy n Công Trứ để lại cho đất nước và nhân dân có kém gì Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật ậ nh ng anh tài đời Hán, đời Tống bên Trung Quốc Hai so sánh gần xa, trong ngoài, phương Bắc và phương Nam, tác giả đã kết thúc bài hát nói bằng một tiếng “ông” đĩnh đạc, hào hùng: “Đời ai ngất ngưởng như Ông!” Cái bản ngã phi thường của nhà thơ đã được phô bày cực độ

Tóm lại, với Nguy n Công Trứ, thì phải có thực tài, thực danh, phải “vẹn đạo vua tôi” mới trở thành “tay ngất ngưởng”, “ông ngất ngưởng” được Và cách sống ngất ngưởng của Nguy n Công Trứ thể hiện chất tài

hoa, tài tử, không ô trọc, “không vướng tục”, cũng không thoát li Ngất ngưởng thế mới sang trọng

Cái nhan đề, thi đề “Bài ca ngất ngưởng” của ông Hy Văn rất độc đáo Cách bộc lộ bản ngã của nhà thơ cũng rất độc đáo Một thế kỉ sau, thi sĩ Tản Đà cũng có nhiều bài thơ hát nói, thơ trường thiên đặc chất

“ngông” Một đằng ngất ngưởng mà tài danh, một đằng ngông mà chán đời và lãng mạn

Thơ hát nói của Nguy n Công Trứ đạt đến đỉnh cao nghệ thuật Các câu thơ ch Hán đem lại sự bề thế, uyên bác Chất thơ, chất nhạc phối hợp hài hoa, lôi cuốn, hấp d n

Trong nền thi ca cổ điển Việt Nam, Nguy n Công Trứ, Cao Bá Quát Dương Khuê, Nguy n Khuyến, Tản Đà là nh ng nhà thơ cự phách để lại một số bài nói tuyệt tác Nguy n Công Trứ đã tạo nên một giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng, chất tài tử hòa nhập với chí anh hùng Nợ tang bồng, chí nam nhi Đó là phong cách

Trang 9

nghệ thuật, là cốt cách, là bản sắc thơ hát nói của Nguy n Công Trứ “Bài ca ngất ngưởng” đích thực là “Bài

ca từ đáy lòng” ông Hy Văn cho ta nhiều thú vị

Nguy n Công Trứ và giọng điệu đặc biệt của “Bài ca ngất ngưởng”

Trong Bài ca ngất ngưởng, Nguy n Công Trứ đã tự tổng kết về cuộc đời mình là ngất ngưởng Nhưng dường như không chỉ có một cuộc đời ngất ngưởng mà ngôn ng bài thơ cũng ngất ngưởng không kém Có được điều đó một phần là nhờ giọng điệu đặc biệt của bài thơ

Bài thơ ra đời sau 1848, khi nhà thơ đã cởi trả ấn chốn quan trường, ông đã kể lại cuộc đời nhiều thăng trầm của mình là người văn võ toàn tài và nh ng ngày tháng với cuộc sống nghỉ ngơi, vui chơi cũng rất khác thường

Với thể loại hát nói ậ một thể thơ tự do, phóng khoáng ậ lại được viết theo lối tự thuật, có hình thức tự do,

có sự linh hoạt về vần, nhịp, đối xứng nên Bài ca ngất ngưởngđã có được sự đa giọng điệu, song chủ đạo người đọc v n có thể cảm nhận giọng điệu thơ tự hào, sảng khoái, tự tin pha l n chất hài hước, đùa vui như trêu ngươi, như ngạo đời

Có thể thấy ngay giọng điệu như độc đáo trên xuất hiện trong tín hiệu ngôn ng ngất ngưởng Trừ nhan đề,

có tới 4 lần từ ngất ngưởng được xuất hiện trong bài, đó là câu 4, 8, 12 và câu cuối:

- Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

- Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

- Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

- Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

Dựa vào nghĩa của từ ngất ngưởng ta có thể thấy đây là một thái độ sống đề cao cá nhân, sống gi a mọi người mà như chỉ thấy bản thân, thậm chí đó còn là thái độ khinh đời, ngạo thế, cố tình làm nh ng điều khác thường, trái khoáy để thách thức, trêu ghẹo nh ng người và nh ng gì mình không thích Song dựa vào

cá tính, tài năng, bản lĩnh của Nguy n Công Trứ thì đây là một cách sống tôn trọng sự trung thực, tôn trọng

cá tính, không chấp nhận nh ng ràng buộc quá chặt chẽ của l giáo phong kiến

Từ việc hiểu về thái độ sống của Nguy n Công Trứ, chúng ta nhận thấy sự thống nhất trong bản tự tổng kết cuộc đời ông, các giai đoạn của cuộc đời, ở mọi vị thế, độ tuổi, tất cả đều toát lên chất ngất ngưởng và như thế bao trùm là giọng điệu rất sảng khoái, tự hào mà cũng rất hài hước khi ông kể về một quá khứ lừng l y của Tổng đốc Hải An ngày nào, cũng vô cùng sảng khoái, thích thú như trêu ngươi khi ông tái hiện lại

nh ng say mê riêng tư sau khi đã làm được nh ng việc có ích cho nước cho dân Dám sống đầy phá cách như thế là bởi suốt đời ông v n một lòng trung quân ậ ái quốc Đáng tự hào lắm chứ! Song xét từng thời kì giọng điệu chung này lại có nh ng ý vị riêng

Thứ nhất là trong sáu câu thơ đầu, Nguy n Công Trứ đã ngất ngưởng ở chốn quan trường:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự, Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông, Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Trang 10

Lúc bình Tây, cờ Đại tướng,

Có khi về phủ doãn Thừa Thiên

Bằng lời kể cùng thủ pháp liệt kê, điệp từ, sử dụng nhiều từ Hán Việt, Nguy n Công Trứ đã hào

Nguy n Công Trứ đã tỏ ra tự bằng lòng về mình, ta d dàng nhận ra giọng điệu rất tự hào khi tác giả khoe tài năng hơn người, khoe danh vị xã hội hơn người của mình trong 28 năm ở chốn quan trường Cách khoe của ông Hi Văn không cần khéo léo, ông như phô bày, phô trương tất cả cho thiên hạ thật rõ trong giọng điệu tự cao, tự đại có vẻ cao ngạo, khinh đời Thế nhưng người tiếp nhận v n không thấy khó chịu, ghét bỏ bởi một phần đó là sự thật về tài năng và sự nghiệp của Nguy n Công Trứ , phần khác ta không cảm thấy trong đó sự khoe khoang, sự hợm hĩnh Dường như đó chỉ là một cách để cái tôi cá nhân dám khẳng định ý thức, tài năng của bản thân, vượt lên khuôn khổ thường tình của thiên hạ Thế nên có nhà nghiên cứu đã cho rằng : “Giọng văn hơi khoa trương mà không gây khó chịu là bởi nhà thơ rất có ý thức về tài năng và phẩm hạnh của mình” Vậy bằng giọng điệu tự tin, hài hước như trêu ngươi mà ta thấy quả thật Nguy n Công Trứ đã rất ngất ngưởng khi ở chốn quan trường

Nào phải Nguy n Công Trứ chỉ ngất ngưởng với 28 năm bôn ba chốn quan trường, rời chốn ấy ông v n là

Uy Vi n tướng công thủa nào, v n bản lĩnh, ngang dọc như thủa nào, và hơn hết v n ngất ngưởng rất Nguy n Công Trứ Thế là giọng điệu như bỡn cợt, trêu ngươi v n tiếp tục tuôn trào:

Đô môn giải tổ chi niên, Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Lại bắt đầu bằng câu thơ ch Hán đầy trang trọng về kí ức của dấu mốc trở thành một hưu quan Vậy mà sau giọng điệu trang trọng ấy lại là sự tưng tửng, khoái trí vì sự ngược đời ông mang lại cho thiên hạ: Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng Không thấy đâu yến tiệc linh đình, chẳng thấy đâu tặng phẩm giàu sang, cũng không thấy cả võng giá nghiêm trang Trên đường phố chốn kinh kì ấy là một ông già đã 70 tuổi nghênh ngang cưỡi một con bò cái màu vàng mà con bò này lại được đeo đạc ngựa Không bàn tới nh ng mẩu chuyện tương truyền mà chỉ thế thôi cũng cho thấy đúng là Nguy n Công Trứ với giọng điệu thản nhiên, tưng tửng kể chuyện khác người của mình một cách đầy tự hào, rõ ràng ông như đang trêu ghẹo, khinh thị cả thế gian kinh kì Đúng là chất ngất ngưởng rất Nguy n Công Trứ như lây sang cả con bò vàng của ông

Tiếp tục mạch thơ, thật đột ngột, giọng thơ chuyển biến sang sự nhẹ nhàng, bâng khuâng, sâu lắng với câu thơ đậm chất tr tình khi ông để lại đằng sau cả một thời v y vùng “Nợ tang bồng vay giả giả vay”, giờ đón ông là nh ng tầng mây trắng của núi Đại Nại quê ông:Kìa núi nọ phau phau mây trắng Điều đó khiến cho tay kiếm cung thủa nào phút chốc đã nên dạng từ bi Chút thanh cao mà vô định của thiên nhiên,

sự ngộ Đạo muộn màng của bậc khổ hạnh liệu có tồn tại lâu trong tâm trí một người có tính cách mạnh mẽ như Nguy n Công Trứ? Này đây:

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Trang 11

Thật đúng là chỉ trong thể hát nói phóng túng, tự do mà Nguy n Công Trứ có thể điều chỉnh giọng điệu linh hoạt đến như thế, giờ thì ông lại thủng thẳng, tủm tỉm với lối sống phá cách của mình khi đi chùa lại mang theo cô đầu, đến hiền như Bụt cũng phải cười rằngông ngất ngưởng Đó là quả hiện tượng trái khoáy trong giọng kể thản nhiên, bất cần của chính ông

Vượt lên trên tất cả nh ng dư luận, nh ng l giáo của thể chế phong kiến, vượt ra khỏi cả nh ng trói buộc trong tư cách một nhà nho, Nguy n Công Trứ đã sống theo cách của mình đầy tự do tự tại Có được lối sống như thế bởi ông có nh ng quan niệm sống hết sức nhẹ nhàng: ông không quan tâm đến chuyện được ậ mất của bản thân; không bận lòng về việc khen ậ chê của thiên hạ; có nh ng khi hành lạc nhưng v n

là con người của cuộc đời ậ một cuộc đời không vướng tục! Song quan trọng hơn tất cả cuối cùng Nguy n Công Trứ v n là một nhà nho chân chính bởi lí tưởng ông theo đuổi suốt đời là một lòng trung quân, ái quốc, ông tự khẳng định mình là bề tôi trung thành, tài năng như Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kì, Phú Bật đời Hán, Tống bên Trung Quốc Chính vì vậy, Nguy n Công Trứ dám buông một câu khẳng định chắc nịch đầy

vẻ thách thức: Trong triều ai ngất ngưởng như ông! Điều đó đồng nghĩa với việc nhà thơ khẳng định mình

là một đại thần ngất ngưởng, không ai trong đám quan lại đương thời nhợt nhạt kia như ông, bằng ông Với giọng thơ đầy tự tin, tự hào Nguy n Công Trứ đã đem đến một cái tôi đặc sắc mà v n sắt son một lòng với đất nước

Phải là người có nhân cách, tài năng và bản lĩnh hơn người mới biết sống, dám sống, dám bộc lộ cách sống ấy trước bàn dân thiên hạ Cũng phải là người có tài thơ của bậc Thủ khoa ngày nào mới tuôn trào bao sắc thái cảm xúc về chất ngất ngưởng của mình, hài hước, hóm hỉnh trêu ngươi đấy mà đáng trân trọng, kính nể biết bao Nguy n Công Trứ đã có một cuộc đời thật đáng tự hào như câu đối cuối đời ông viết: “…khắp trời nam bể bắc cũng tung hoành …lấy gió mát trăng trong làm tri thức…”

C Phân tích bài "Bài ca ng t ng ng" của Nguy n Công Trứ

Khi đã nghỉ hưu ở quê nhà, Nguy n Công Trứ viết "Bài ca ngất ngưởng" thể hiện phong cách sống của ông Đây là triết lí sống trong suốt cuộc đời, khi còn là một thư sinh, khi xuất chính hay lúc đã về hưu của ông "Ngất ngưởng" là từ tượng hình có giá trị biểu đạt, di n tả ở một vị trí cao chênh vênh, không ổn định liên hệ vào con người là một lối sống khác người: ngông nghênh, thách thức với mọi người, vượt lên thế tục bình thường !

Mở đầu là câu thơ ch Hán thể hiện lí tưởng nhà Nho: Phận sự của kẻ sĩ là phải coi việc gánh vác trong vũ trụ là bổn phận của mình

Nhà thơ tự xưng mình là ông - Ông Hi Văn - lần lượt làm các việc: thi đỗ Thủ Khoa, khi làm Tham Tán Quân vụ Bộ hình, khi làm Tổng Đốc An Hải, lúc làm Đại Tướng Bình Tây, lúc làm Phủ Doãn Thừa Thiên, nhưng ông không ở lâu chức vụ nào vì luôn luôn bị giáng chức

Sự nghiệp như thế thật không hổ thẹn với chí lớn kẻ làm trai Mặc dầu trên đường công danh có nh ng lúc thăng trầm, nhưng cuối cùng ông cũng được ở phẩm tước khá cao dù cái xã hội ấy, ông gọi là cái "lồng"

Trang 12

Cuộc đời lập nghiệp công danh kéo dài từ năm 1820 - 1848, ông đã tự chứng tỏ cái tài song toàn về văn võ một cách hiển hách lừng danh, đến nỗi ông không che dấu khi tự thuật về mình Một tay ngất ngưởng trên hoan lộ:

"Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng!"

Sau khi làm xong phận sự, ông không ngần ngại cởi trả áo mão triều đình cáo lão về hưu

Quãng đời sau cùng của đời Nguy n Công Trứ là quãng đời không màng danh lợi, hoàn toàn hưởng nhàn theo sở thích cá nhân Với một tâm hồn tự do và một cuộc sống độc lập, ông đã tha hồ ngất ngưởng cưỡi bò vàng đeo nhạc ngựa tiêu dao đây đó khi chùa, khi núi, lại đèo theo đủng đỉnh một đôi dì Cách hưởng nhàn hành lạc của ông ở đây thật đến quá quắt, mà có lẽ khôi hài lập dị của một trang nam tử có một thị hiếu riêng, đến nỗi:

"Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng!"

Lối hưởng lạc này có một sinh khí và một tính chất riêng, đó là lối hưởng lạc nhập tục theo chiều phóng khoáng cá nhân, không giống một ai, không Tiên không Phật cũng không tục, nhưng v n trọn nghĩa vua tôi:

"Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không Tiên, không vướng tục"

Hưởng nhàn hành lạc chỉ là thời kì sau cùng của ông khi làm xong phận sự Ông muốn mọi người hiểu rằng cuộc đời là trung nghĩa Biết bao lần lên bổng xuống trầm trên hoan lộ, vì ganh ghét, vì vu cáo, thế mà v n

gi v ng đức trung quân, ái quốc không hề có một ý tưởng bất mãn

Bởi vậy khi về hưu vui thú tuổi giả, ông sống với một cõi lòng yên vui bình thản, trên không lỗi với vua, dưới không mất lòng dân chúng Cho nên khi Tiền Hải, Kim Sơn, lúc chống gậy đến chốn triều đình nghị quốc quân đại sự Năm Tự Đức thứ 12, ông nghe tin liên quân Pháp, Tây Ban Nha tấn công cửa bể Đà Nẵng, không quản ngại thân già, ông chống gậy đến chốn triều đình dâng sớ lên vua xin cầm quân chống giặc Nhưng vua không cho, vì thấy ông đã quá già nua tuổi tác

Tự xét hiểu mình như thế, nên ông kiêu hãnh ghi nhận về mình:

"Chẳng Trái Nhạc cũng vào phường Hàn Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung,

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"

Phải chăng đó là lối sống mang cái "chí khí" "ngất ngưởng" Chẳng nh ng ông không hề sợ ai chê cười mà còn đầy lòng tự hào về cái "đạo sống ngất ngưởng" đó Tóm tắt lại có bốn cái "ngất ngưởng" làm nổi bật trong đời ông:

- Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng!

- Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng!

- Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng!

- Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

D Bài Ca Ng t Ng ng của Nguy n Công Trứ: Từ văn b n đến h ng tiếp cận (Nguy n Thanh

Tùng)

Trang 13

Nói đến sự nghiệp văn chương của Nguy n Công Trứ, người ta không thể không nhắc đến thơ hát nói Nói đến thơ hát nói Nguy n Công Trứ, người ta lại không thể không nhắc đến Bài ca ngất ngưởng Đây

là tác phẩm tiêu biểu cho cá tính và phong cách văn chương (thơ ca) Nguy n Công Trứ Bởi vậy, tác phẩm được tuyển, d n trong hầu hết các công trình biên soạn, nghiên cứu về ông Nó cũng được đưa vào giảng

chúng tôi xin trình bày ý kiến của mình để độc giả tự so sánh và lựa chọn cho mình cách hiểu hợp lí nhất

1 Vấn đề văn bản và chú giải Bài ca ngất ngưởng

Theo Nguy n Thị Lâm[1], Bài ca ngất ngưởng hiện có 4 dị bản chính: bản Gia phả tập biên (GPTB)[2]; “bản Lê Thước” (LT)[3]; bản Đỗ Trọng Huề, Đỗ Bằng Đoàn (ĐTH)[4]; bản Thái Kim Đỉnh

đến bản TKĐ) Đoàn Lê Giang cũng đã tiến hành biện giải văn bản và đề xuất một “thiện bản” cho Bài ca

cứ vào 4 dị bản này chúng ta sẽ lần lượt biện giải và xác lập văn bản Bài ca ngất ngưởng

1.1 Tiêu đề tác phẩm

Bản GPTB và bản ĐTH chỉ ghi tiêu đề là Ngất ngưởng, bản LT và TKĐ ghi như tiêu đề hiện nay sử

của Nguy n Công Trứ hiện còn chúng tôi nhận thấy, không có bài nào có tên chỉ thể loại của tác phẩm (như bài ca, bài hát, bài thơ, ) mà chỉ đơn giản là nêu nội dung của tác phẩm như: Chí nam nhi, Luận kẻ sĩ, Kiếp

nhân sinh, Con tạo ghét ghen, Nh ng cái tên như thế tuy không đúng với quy luật đặt tên tác phẩm của

nói: mọi quy chuẩn đều bị phá vỡ, ngay từ cách đặt tên Như vậy, hoàn toàn có thể tin được rằng cái tên ghi trong bản Nôm GPTB là có lí nhất Nguy n Thị Lâm cũng tán thành với cách lựa chọn này Cái tên Bài ca

đánh dấu là “bài ca Ngất ngưởng”

1.2 Nội dung tác phẩm

1) Câu 1 + 2

Hầu hết các bản ghi “Vũ trụ nội mạc phi phận sự/ ” Riêng bản TKĐ ghi là “Vũ trụ giai nho chi phận

thuyết phục Ý nghĩa của câu cũng quá cụ thể và hơi tối nghĩa: “Vũ trụ đều là phận sự của nhà Nho” Câu

“Vũ trụ nội mạc phi phận sự” có tính khái quát, tầm vóc hơn Hơn n a, về mặt âm luật, cấu trúc câu này bất ổn! Hai câu này được viết bằng cặp câu thất thường thấy trong thể song thất lục bát, trong đó có hai yếu tố

ứng được hai yêu cầu trên Bên cạnh đó, cách nói hai lần phủ định “mạc phi” (không gì là không) hay hơn hẳn cách nói khẳng định thuần túy “giai” (đều) Nó là tiếng nói khẳng định một cách mạnh mẽ, dứt khoát,

Trang 14

hào hứng Cách nói trốn chủ ng (chủ thể) cũng là cách nói thường thấy của thơ ca trung đại, vừa hàm súc

câu thứ hai, có vấn đề phiên âm: “vào lồng” hay “vào nhòng”? Các văn bản đều viết/ phiên là “vào

(câu 62)? “Vào nhòng” có nghĩa là “vào hạng”, “vào loại” Nhưng, l/nh là hiện tượng ng âm ở ngoài Bắc

Tuy nhiên, nếu là “vào nhòng” cũng có cái hay của nó, nhất là đặt trong văn cảnh (xem phần sau)

2) Câu 3 + 4:

Các bản đều thống nhất với nhau đây cần chú thích thêm về “Tổng đốc Đông”: chỉ việc Nguy n Công

ngày nay) Chế độ coi kiêm này khá thịnh hành thời Nguy n, chẳng hạn như: Tổng đốc Sơn ậ Hưng ậ Tuyên, Tổng Đốc Hà ậ Ninh ậ Thái, Đông chính là chỉ Hải Dương, vì tên thường gọi của tỉnh Hải Dương thời Nguy n là tỉnh Đông Hơn n a, trước đó, trấn Hải Dương còn bao gồm cả Hải Dương, Hải Phòng và

quân sự của tỉnh Hải Dương Như vậy, “tổng đốc Đông” là một chức vụ khá quan trọng, quản lĩnh một

vùng rộng lớn, trọng yếu của đất nước

3) Câu 5 + 6

Câu 5 đa số các bản ghi là “Lúc bình Tây, cờ đại tướng/ ”, riêng GPTB lại chép “Lúc bình Tây, cầm cờ đại tướng” Câu thơ 7 ch đầy đủ, rõ nghĩa Ch “cầm” thể hiện tư thế chủ động, hăng hái của nhà thơ; nó thống nhất với cách viết ở câu 6: “Có khi về, Phủ doãn Thừa Thiên” Câu này nói rõ cái ý: Nguy n Công

dâng sớ xin về nghỉ hưu, vua Tự Đức mới cho ông được thực thụ chức Phủ doãn, như một sự gia ân để khi

hưu)

4) Câu 7 + 8:

Câu 7 đa số các bản chép “Đô môn giải tổ chi niên”, riêng bản TKĐ chép “giải tỏa” “Giải tổ” là một thành

ng , chỉ người bỏ quan về nghỉ Vi ng Vật có câu thơ: “Giải tổ ngạo viên lâm” (Bỏ quan về, sống ngạo ở

“Lạc ngựa ” Nếu muốn dùng “lạc” thì thường người ta dùng “lục lạc” Vì vậy, ở đây “đạc ngựa” thích

ngay tại kinh đô Huế trong ngày ông treo ấn từ quan, theo lệ trí sĩ, để về quê Hai dòng: “Đô môn giải tổ chi

niên/ Đạc ngựa, bò vàng đeo ngất ngưởng”chính là để di n tả ý đó Dòng trên chính là trạng ng chỉ thời

gian cho dòng dưới với tư cách là nòng cốt

Trang 15

5) Câu 9 + 10

Câu 9 đa số các bản chép “Kìa núi nọ phau phau mây trắng” riêng bản TKĐ chép “Kìa lĩnh thượng lơ thơ mây trắng” Ch “lĩnh thượng” bị lạc phong cách trong câu thơ này (phong cách thuần Nôm) Ch “lơ thơ” lại làm cho ý câu thơ trở nên tầm thường Ch “núi nọ” các sách đều giải thích là núi Đại Nài gần thị xã Hà

đến một điển tích rất hay xuất hiện trong văn học trung đại Theo sách Đường thư, Địch Nhân Kiệt đời Đường đi làm Tham quận ở Tinh Châu mà mẹ thì ở Hà Dương Một hôm, ông lên núi Thái Hàng, thấy một đám mây trắng bay xa xa, bảo với nh ng người cùng đi rằng: “Nhà cha mẹ ta ở dưới đám mây trắng ấy” Điển tích này chỉ nỗi lòng nhớ cha mẹ, cũng chỉ nỗi nhớ quê hương Đoạn trường tân thanh của Nguy n Du

có dùng điển tích này: Bốn phuơng mây trắng một màu/ Trông với cố quốc biết đâu là nhà Bởi nhớ nhà

nên cũng muốn về Trương Hàn ngày xưa nhớ rau thuần cá vược nơi quê nhà mà từ quan về Ngày nay,

Nguy n Công Trứ phải chăng cũng có tâm sự ấy?

Câu 10: Bản LT chép “Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi” GPTB chép “ nên dáng từ bi”, TKĐ chép “mà dạng từ bi” “Dạng” hay “dáng” có lẽ cũng chỉ do cách phiên Nôm khác nhau Hơn n a, nó cũng không ảnh

“Thái thượng” được Từ hải giải thích gồm 4 nghĩa: 1) “cũng gọi là „tối thượng”, sách Kinh L (phần Khúc

đức), chú rằng: “Thời Hoàng đế, Nghiêu Thuấn, ch đại có âm là thái” Sớ rằng: “đại thượng, nói cái cao

phụ m u); 3) chỉ “thái cổ”, ng Trinh truyện trong Tấn thư chép: “thời thái cổ xa xăm, dân rất là giản dị”

(du du thái thượng, nhân chi quyết sơ); 4) Niên hiệu (năm 405) của Mộ Dung Siêu nước Nam Yên thời

Về “tái thượng”, thiên Nhân gian sách Hoài Nam tử có chép: “Trong số nh ng người ở trên vùng

biên ải, có một người khá tài giỏi, có con ngựa vô cớ mất vì đi sang đất Hung Nô, người ta đều đến chia

con ngựa tốt gốc Hung Nô, người ta đều đến chúc mừng, bố anh ta nói: Biết đâu đó chẳng phải là họa Nhà

có nhiều ngựa, người con trai thích cưỡi, bị ngã gãy cả chân, người ta lại đến chia buồn, bố anh ta nói: Biết đâu đó chẳng phải là phúc? Một năm sau, người Hung Nô tràn qua biên giới, nh ng kẻ trai tráng đều phải

Ngày đăng: 15/03/2023, 16:16

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w