1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn chương trình ngữ văn lớp 11 tác phẩm “bài ca ngất ngưởng

16 497 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm của các nhà nho Việt Nam và cả các nước thuộc khu vực văn hóa Hán trong thời kì cận đại - những nhà nho ảnh hưởng lối suy nghĩ và cách sống của tầng

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nho giáo là hệ thống tư tưởng lớn khởi nguồn từ Trung Hoa, và có sức lan tỏa mạnh trên hầu hết khu vực văn hóa Á Đông Đời sống văn hóa - chính trị các nước Á Đông hầu như luôn có dấu ấn của tư tưởng Nho giáo Sức lan tỏa của hệ thống học thuyết này không chỉ ở thì quá khứ mà còn nối tiếp ở thì hiện tại và cả trong tương lai

Nhưng, bất kì hệ thống tư tưởng hay học thuyết nào cũng không bao giờ

là một thực thể tĩnh, mà luôn vận động cùng với sự chuyển dịch của đôi cánh thời - không như một nguyên lí chung của mọi sự tại tồn Nho giáo cũng là một

hệ thống tư tưởng luôn vận động qua quá trình phát triển và truyền bá của mình Nhưng, trong suốt cả thời kì văn hóa trung đại (trung cổ phương Đông), Nho giáo vẫn chưa phải là có những đổi thay mang tính chất biến đổi hệ hình tư tưởng, cách tiếp nhận tư tưởng và hành xử của nhà nho vẫn xoay quanh hai thái cực xuất - xử; hành - tàng Nhưng, đến thời cận đại, xã hội phong kiến phương Đông diễn ra quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, đã làm xuất hiện mẫu hình nhà nho mới, “đọc sách thánh hiền nhưng suy nghĩ theo lối thị dân” Và từ đây, đời sống văn học Việt Nam đã bắt đầu có những biến đổi mang tính chất thay đổi hệ hình, xuất hiện những nhà nho với những tư tưởng phi truyền thống Chính điều này

đã tạo ra những thay đổi sâu sắc và thú vị trong văn học

Nếu nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm của các nhà nho Việt Nam (và cả các nước thuộc khu vực văn hóa Hán) trong thời kì cận đại - những nhà nho ảnh hưởng lối suy nghĩ và cách sống của tầng lớp thị dân - mà không định hình được những đặc trưng tư tưởng và thế giới quan của họ, thiết nghĩ sẽ không phát hiện

ra được phần tinh túy và thú vị nhất trong sáng tác thơ văn của các nhà nho này Bởi vì, họ không thuộc típ người hành đạo mà cũng chẳng phải là con người ẩn dật Họ là những con người, những nhà nho tài tử đa tài và đa tình

Trong việc nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm thơ văn của lớp nhà nho tài

tử ở Việt Nam (cụ thể qua ba tác giả là Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ và Tản

Trang 2

Đà), nếu không hiểu những đặc thù tư tưởng và quan niệm nghệ thuật của họ, sẽ không giải mã được những đặc trưng thẩm mỹ cốt lõi nhất trong các sáng tác nghệ thuật Cũng do vậy, người viết chuyên đề cố gắng trình bày những đặc trưng cơ bản trong tư tưởng và quan niệm nghệ thuật của nhà nho tài tử và sự thể hiện trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ để thấy những đổi thay và đóng góp trong tư tưởng và nghệ thuật của lớp nhà nho tài tử Khi thấy được những đặc thù này, người nghiên cứu và giáo viên giảng dạy sẽ đưa tác phẩm đến với

vị trí đích thực của nó trong chân trời nghệ thuật, tiếp nhận tác phẩm đúng với đặc trưng thẩm mỹ vốn có của nó, tránh những cách nhìn phiến diện và thiếu cơ

sở khoa học Và cụ thể nhất, giáo viên sẽ giảng dạy hiệu quả hơn một tác phẩm rất đặc sắc của Nguyễn Công Trứ trong chương trình Ngữ văn lớp 11: tác phẩm

“Bài ca ngất ngưởng”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề nghiên cứu các sáng tác của các nhà nho từ phương diện loại hình tác giả - mẫu người tài tử đã được tiến hành từ nửa sau thế kỉ XX trong một số công trình của nhà nghiên cứu - Giáo sư Trần Đình Hượu như “Nho giáo và văn học nghệ thuật” trên tạp chí “Nghiên cứu nghệ thuật” số 2 năm 1981; và cuốn giáo trình “Lịch sử văn học Việt Nam 1900 - 1930” Đặc biệt, đến năm 1999, công trình “Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam” của PGS Trần Ngọc Vương là công trình đã hệ thống hóa một cách khá hoàn bị lí thuyết về mẫu hình nhà nho tài tử Đây là công trình có nhiều đóng góp lớn cho lĩnh vực nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam và cả các nước Á Đông trên phương diện lí thuyết - lí luận (xin nói thêm rằng công trình “Nhà nho tài tử” vốn là luận án tiến sĩ của Trần Ngọc Vương bảo vệ tại Nga, mà những học giả Trung Quốc và Hàn Quốc trong hội đồng khoa học lúc đó đã cho rằng có thể áp dụng hệ hình lí thuyết mà thầy Vương trình bày trong việc nghiên cứu sáng tác của các nhà nho nước họ)

3 Đối tượng - phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là các sáng tác của Nguyễn Công Trứ, nhất là tác phẩm “Bài ca ngất ngưởng” được trích tuyển trong chương trình

Trang 3

Ngữ văn lớp 11, tập 1 Phạm vi nghiên cứu của chuyên luận là sự thể hiện tư tưởng của lớp nhà nho tài tử trong tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, cùng những

sự đối sánh với tư tưởng của mẫu hình nhà nho ẩn dật và nhà nho hành đạo trong văn học Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của chuyên đề là phương pháp loại hình học tác giả, phương pháp tiểu sử học, thi pháp học, và một số thao tác bổ trợ như phân loại, so sánh, phân tích

5 Đóng góp của đề tài

Đề tài dự kiến sẽ có đóng góp trên phương diện chỉ ra đặc trưng thẩm mỹ gắn với mẫu hình nhà nho tài tử trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ Đây là điều mà những tài liệu định hướng giảng dạy trước nay còn bỏ ngõ

6 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, chuyên đề được chia làm ba chương:

Chương 1: Nhà nho tài tử với tư cách là một hệ hình lí thuyết nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam

Chương 2: Tác phẩm văn chương Nguyễn Công Trứ và sự khai phóng những quan niệm nghệ thuật mới của một nhà nho tài tử điển hình

Chương 3: Sự đổi mới ngôn ngữ và thể loại trong sáng tác của nhà nho tài

tử qua trường hợp Nguyễn Công Trứ

Trang 4

B NỘI DUNG

Chương 1: Nhà nho tài tử với tư cách là một hệ hình lí thuyết nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam

1.1 Cơ sở lịch sử - xã hội

Trong lịch sử của dân tộc Việt Nam ta, từ thế kỉ X đến XV, đời sống tư tưởng có sự đồng nguyên tam giáo, cả Nho - Phật - Đạo cùng tạo thành thế chân vạc trên vũ đài chính trị - tư tưởng và văn hóa Nhưng, từ thế kỉ XV đến XIX, có thể nói rằng chỉ những trí thức nho sĩ là những người nắm giữ huyết mạch của đời đời sống chính trị đất nước Theo Trần Ngọc Vương thì đến đầu thế kỉ XVIII, hai loại hình nhà nho ẩn dật và hành đạo đã “hoàn thiện đến trình độ “cổ điển””[5;63] Đến thế kỉ XVIII, cũng đã xuất hiện đồng loạt những nhà nho với những hoạt động không thể dùng tiêu chuẩn của nho giáo chính thống để đánh giá về họ, nhưng, cũng không thể không nhìn nhận những đóng góp của họ cho

sự phát triển của lịch sử dân tộc

Chúng ta cần xét đến thực tiễn lịch sử Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, mà đặc biệt là từ thế kỉ XVI, khi Mạc Đăng Dung tiếm vị vua

Lê, rồi tiếp đó là tình trạng “lưỡng đầu chế” thời Lê Trịnh và tình trạng Trịnh -Nguyễn phân tranh Chính cục diện chính trị phức tạp đó đã ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm về tính chính thống trong việc lựa chọn minh chủ của mỗi nhà nho, và những con người tinh túy nhất của thời đại đều băn khoăn về cách xử thế Lúc này đã thực sự xảy ra cuộc khủng hoảng ý thức hệ khi những phạm trù

tư tưởng của Nho giáo đã bị biến thành cơ sở cho những tham vọng bá đồ vương của nhiều thế lực Điển hình như khẩu hiệu “phù Lê diệt Trịnh” nhìn qua tưởng như đó là biểu hiện của chữ Trung, nhưng thật ra, đó là tấm màn che đậy tham vọng bá vương của không ít thế lực chính trị

Xuất phát từ tình hình khủng hoảng chính trị và tư tưởng ở đất nước ta từ thế kỉ XV, có không ít những môn sinh cửa Khổng sân Trình đã có những nhận định vượt xa lịch sử, họ không lựa chọn con đường quyết khoa để cầu công danh

mà lựa chọn một lối hành xử gần như không có trong truyền thống Trong đó có

Trang 5

rất nhiều con người xuất sắc nhất của lịch sử đã lấy mẫu hình người anh hùng thời loạn để làm lí tưởng phấn đấu cho mình

Từ thế kỉ XVII, ở nước ta đã xuất hiện một “nền kinh tế đô thị và đời sống văn hóa, tinh thần đô thị”[5; 68] Chính xã hội thị dân đã tạo ra môi trường “văn hóa phi cổ truyền”[5; 69] Chính trong môi trường văn hóa ấy, nhiều cái mới đã được dịp nảy sinh và phát triển mạnh mẽ Thời gian này, xã hội Việt Nam vẫn là

xã hội chuyên chế tập quyền theo mô hình phương Đông nhưng đã bắt đầu xuất hiện những yếu tố có xu hướng phá vỡ các khuôn khổ của xã hội Và, điều cốt yếu chúng tôi muốn thuật lại ở đây là mỗi loại hình nhà nho đều có sự hậu thuẫn của một nền tảng kinh tế nhất định Với nhà nho hành đạo thì đó là những đặc ân được phân chia những lợi tức và tô thuế của nhà nước phong kiến; với loại hình nhà nho ẩn dật thì đó là nền kinh tế tự cung tự cấp theo kiểu “cày lấy ruộng mà

ăn, đào lấy giếng mà uống”; còn với loại hình nhà nho tài tử thì đó là sự hậu thuẩn của nền kinh tế đô thị tuy còn yếu ớt nhưng đã được hình thành và dần lớn mạnh Chính sự khác biệt từ cơ sở kinh tế này đã tạo nên tính đặc thù của loại hình nhà nho tài tử Và theo Phan Ngọc, những con người tài tử lại là những người “học đạo thánh hiền nhưng suy nghĩ theo lối thị dân Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đều tư xưng là tài tử Con người tài tử là điển hình của thời đại mới Con người quân tử bị chế giễu, đạo đức sống khắc kỉ phục lễ bị mạt sát Một trào lưu tư tưởng mới manh nha trong lòng những chàng trai tài giỏi nhất của thời đại”[4; 103]

1.2 Cơ sở tư tưởng triết học

Người tài tử coi Tài và Tình là giá trị của con người chứ không phải là đạo đức như các nhà nho chính thống quan niệm Cũng từ việc đề cao chữ tài và chữ tình, các nhà nho tài tử cũng có cách nhìn nhận mới về các bậc đế vương Các bậc đế vương không còn có quyền hành sinh sát theo kiểu “quân xử thần tử thần bất tử bất trung” với các nhà nho tài tử nữa Giờ đây, các bậc đế vương lại

là cơ sở để các nhà nho tài tử trổ tài, thậm chí họ còn coi đế vương như những quân cờ trong ván cờ của họ Mối bận tâm hàng đầu của họ là thỏa mãn hoài bão

Trang 6

của cá nhân mình Và, sự trung thành của họ với vương quyền là sự trung thành

có điều kiện Đó là một giao kèo giữa người tài tử và vương quyền để người tài

tử phô diễn tài năng, thỏa mãn hoài bão và vương quyền có người củng cố để vững chắc Mà người tài tử thì cậy tài, muốn hành động và đổi thay mọi khuôn khổ, nên sẽ luôn là đối tượng cho sự đề phòng của vương quyền Đế vương và tài tử ở trong một trò chơi đánh đu mà hai bên đều phải nương tựa nhau nhưng phải đề phòng nhau trong một luật chơi khá sòng phẳng

Cũng do là những con người tài hoa nên họ cũng phô diễn một cái tật đáng yêu của mình là đa tình Thậm chí, hoài bão lớn nhất của họ không phải là

“hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân”, ra mắt và được trọng dụng bởi thiên tử,

mà hoài bão lớn nhất là tri ngộ giai nhân trong cuộc đời hữu hạn của mình, như lời thơ Nguyễn Công Trứ:

“Minh quân lương tướng tao phùng dị Tài tử giai nhân tế ngộ nan”.

Như vậy, nhà nho tài tử là những người “muốn được thể hiện hết bản thân mình và cũng muốn nếm trải toàn diện các lạc thú ở đời”[5; 84] Cũng từ sự chế định bởi các thiết chế chính trị và quân sự của vương quyền, các nhà nho tài tử

có xu hướng ngông cuồng, phá phách, “đề cao triết lí hưởng lạc” như quan niệm của Nguyễn Công Trứ:

“Nhân sinh bất hành lạc Thiên tuế diệc vi thương”.

(Đời người mà không hành lạc sống nghìn năm cũng như đứa trẻ chết yểu)

Thật ra, ở đây chúng ta lại thấy một xu hướng khác là tư tưởng của nhà nho tài tử có sự chuyển di từ Nho sang Trang Nhưng, đây sẽ là đối tượng khảo sát của chúng tôi trong một chuyên đề khác

Chương 2: Tác phẩm văn chương Nguyễn Công Trứ và sự khai phóng những quan niệm nghệ thuật mới của một nhà nho tài tử điển hình

2.1 Quan niệm mới về thiên chức của văn chương

Trang 7

Ở đây, trong chuyên đề này, chúng tôi sẽ không làm sáng tỏ những vấn đề đã rõ theo kiểu trình bày lại những thông tin về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Trứ mà ai cũng có thể đọc thấy trong bất kì quyển sách cơ bản nào về nhân vật này Chúng tôi xem đó là những tri thức nền chung,

và chỉ nhắc đến khi cần làm sáng tỏ các luận điểm, để khỏi mất thời gian và công sức của người đọc - thẩm định chuyên luận này

Chúng ta hẵn sẽ không khó khăn gì để tìm kiếm các luận đề có vẻ như liên quan tới văn chương như “văn dĩ tải đạo”, “văn dĩ minh đạo”, “thi dĩ ngôn chí” Nhưng, theo Trần Ngọc Vương, người đang có uy tín và tiếng nói uy quyền vào bậc nhất trong nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam, thì những khái niệm “văn” trong các luận đề ấy không phải đồng nhất với văn học hay sáng tác văn học Giữa chúng có khoảng cách xa vời Lại nữa, các nhà Nho chính thống bị chi phối bởi quan niệm hạ thấp văn chương từ Khổng Tử khi đức thánh khả kính của chúng ta cho rằng “Chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ” Có nghĩa là văn chương là thứ cuối cùng trong đời sống tinh thần của xã hội, vì nó chỉ để phục vụ cho mục đích chơi

Nhưng, người tài tử khi đã xem xem tài năng là cốt tủy của sự khẳng định bản ngã thì việc thể hiện tài năng văn chương luôn là một yêu cầu có tính tiên quyết Do vậy, sáng tác văn chương có một sức hút mãnh lực với các nhà nho tài

tử Nguyễn Công Trứ cũng không nằm ngoài qui luật đó

Với Nguyễn Công Trứ, những tác phẩm văn chương ông để lại cho đời không phải là những tác phẩm cử tử, mà đó là những tác phẩm viết như một cách chơi ngông để khẳng định cái tài và cá tính của mình Những “Hàn nho phong vị phú”, “Nợ phong lưu”, “Nợ tang bồng” và cuối cùng phải kể đến là

“Bài ca ngất ngưởng” đã chứng minh cho một quan niệm mới về thiên chức văn chương của Hi Văn Với những nhà nho tài tử như ông, văn chương không đơn thuần để nói chí, nói đạo mà quan trọng nhất, để thể hiện tài năng và cá tính của mình Bởi trong thơ ông, có những lúc thể hiện một ý chí bao trùm và dung nhiếp thiên hạ, nhưng đó cũng là cái chí phi truyền thống, chí làm một anh hùng thời loạn, kiểu như:

Trang 8

“Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong Chí những toan dời núi lấp sông

Làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ”

(Chí nam nhi)

Và ngay cả cái đạo mà nho giáo truyền thống đề cao, ông cũng từng giễu cợt:

“Mất việc toan giở nghề cơ tắc, tủi con nhà mà hổ mặt anh em Túng đường mong quyết chí cùng tư, e phép nước chưa nên gan sừng sỏ

Cùng con cháu thuở nói năng chuyện cũ, dường ngâm câu lạc đạo vong bần

Gặp anh em khi bàn bạc sự đời, lại đọc chữ vi phân bất phú”

(Hàn nho phong vị phú)

Với những nhà nho tài tử như Nguyễn Công Trứ, văn chương có một vị trí quan trọng vào bậc nhất để thể hiện tài năng là chí hướng của mình: chí được

“thảnh thơi thơ túi rượu bầu” (chúng tôi dùng văn chương với nghĩa là những sáng tác không thuộc thể loại quan phương, không phải là các sáng tác khoa cử mang tính chất cầu công danh) Qua văn chương, bằng văn chương, người tài tử

có thể thị tài, nói lên lí tưởng được du hí, rong chơi của mình:

“Người ỷ ca réo rắt khúc cung thương, Tiếng tiêu lẫn tiếng ca vang đáy nước Sực nhớ kẻ quày ngọn giáo vịnh câu thơ thuở trước Nghĩ sự đời mà cám nỗi phù du!”

Khi các nhà nho tài tử xem rong chơi, thậm chí hành lạc là lí tưởng cuộc đời khi đã “trang trắng” nợ tang bồng, thì văn chương là địa hạt quyết định nhất

để người tài tử khẳng định mình Chính các nhà nho tài tử như Nguyễn Công Trứ là những người đã đẩy văn chương lên một vị trí cao hơn trong đời sống xã hội, hay nói cách khác, trả văn chương về đúng chỗ và gọi đúng tên của nó Bởi với người tài tử, văn chương có vị trí quan trọng bậc nhất trong đời sống tinh

Trang 9

thần chứ không phải là thứ xếp sau cùng như những nhà nho chính thống từng quan niệm

2.2 Lí tưởng người anh hùng thời loạn

Hình tượng người anh hùng thời loạn là một hình tượng có cả quá trình lịch sử phát triển và vận động trong văn học trung đại từ thế kỉ XVII đến giữa thế kỉ XIX Theo Trần Ngọc Vương, giai đoạn này có cả “một chuỗi hình tượng bắt đầu từ hình tượng Khổng Minh trong “Ngọa long cương vãn” và khép lại bởi hình ảnh kẻ đại trượng phu “người anh hùng tư kiếm” trong thơ Nguyễn Công Trứ”[5; 98] Hình tượng này đã kéo vào quỹ đạo của nó những tác phẩm vào loại kinh điển như “Chim trong lồng”, của Nguyễn Hữu Cầu, “Trương Lương hầu phú” với hình tượng Trương Lương của Nguyễn Hữu Chỉnh, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du với hình ảnh Từ Hải, “Hoàn Lê nhất thống chí” của Ngô Gia văn phái với hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ, “Tài tử đa cùng” của Cao Bá Quát

Với riêng Nguyễn Công Trứ, ông sinh năm 1778 và mất năm 1858, có nghĩa là ông lớn lên khi cục diện chính trị trong nước đã đi vào ổn định, đất nước đã đặt dưới quyền kiểm soát của triều Nguyễn Cha Nguyễn Công Trứ là một cựu thần của nhà Lê, từng hưởng ứng chiếu cần vương phò Lê, nhưng chỉ là một viên quan cấp thấp, hầu như không có vai trò gì trong công cuộc phò Lê Hi Văn cũng đứng ngoài phong trào khởi nghĩa của Nguyễn Huệ Rồi năm 1802, khi lần đầu Nguyễn Gia Long ra Bắc, ông đã đón dâng “Thái bình thập sách”, nhưng mãi đến năm 1819 ông mới thi đỗ Giải nguyên Nhưng, sự kiện năm

1802 đã chứng tỏ rằng ông có một tham vọng dựng thành nghiệp lớn

Nguyễn Công Trứ ra làm quan khi triều đình nhà Nguyễn đã xây dựng được nền quân chủ vững vàng của mình, mọi lực lượng đối lập đều đã bị đẩy lùi

và không còn thế lực nào có thể dòm ngó ngôi thiên tử Những biểu hiện phản loạn, dầu nhỏ nhất hay đôi lúc chỉ là những suy diễn từ những căn cứ mù mờ nhất cũng phải nhận những hình phạt thảm khốc Điển hình như cái chết của Đặng Trần Thường, sự việc đóng cùm lên mộ công thần khai quốc Lê Văn

Trang 10

Duyệt, hay chỉ vì những câu thơ có khẩu khí khác thường mà cha con công thần Nguyễn Văn Thành phải trả giá bằng tính mạng Ấy vậy mà trong thơ Nguyễn Công Trứ vẫn có những lúc thể hiện lí tưởng về một anh hùng thời loạn rất điển hình:

“Tài kinh luân xoay dọc xoay ngang

Cơ điều đạc quân ăn quân đánh Gọi một tiếng, người đều khởi kính Dậy ba quan, ai dám chẳng nhường”

(Thơ Tổ tôm)

Ở đây, lại phải nói rằng, nhà nho tài tử lựa chọn đấng quân vương để phò

tá không phải theo quan niệm của những nhà nho cổ điển, mà vượt ra ngoài mọi khuôn phép Với nhà nho tài tử, họ chọn minh chúa bởi đó là những người “biết nghe, biết sử dụng những những gì họ khuyên nhủ”[5; 101] Và có lúc, đã có người muốn vượt ra ngoài khuôn khổ của đạo thần tử để tạo lập nên một cơ đồ riêng, thỏa mãn hoài bão của đời mình, kiểu như Từ Hải:

“Triều đình riêng một góc trời Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà”.

Nhưng, với thời cuộc của Nguyễn Công Trứ, những tham vọng bá vương

là hão huyền, và chỉ có thể đối mặt với kết cục bi thảm kiểu như Cao Bá Quát Tuy vậy, trong thơ Nguyễn Công Trứ vẫn xuất hiện những tứ thơ ngông nghênh vào bậc nhất của một trang anh hùng loạn thế:

“ Giắt lõng giang sơn vào nửa túi Rót nghiêng phong nguyệt cạn lưng bầu”

(Hành tàng)

Vậy rõ ràng, trong tư tưởng của Hi Văn, vẫn có một vị trí cao tột cho hình ảnh người anh hùng thời loạn Có điều, ông đã tìm được mảnh đất màu mỡ để thể hiện tài năng của mình và ông đã sử dụng hết công suất tài trí của mình cho

ba triều vua kế tiếp: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức Nội lực trí tuệ và tư tưởng của ông đã được tận dụng tối đa nên ông không thể và tự biết không thể trở

Ngày đăng: 04/09/2016, 04:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w