1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ mới nhìn từ giác độ quan hệ văn hoá - văn học

27 907 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 383,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thơ mới nhìn từ giác độ quan hệ văn hoá - văn học

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN VĂN HỌC

*****

Hoàng Thị Huế

THƠ MỚI NHÌN TỪ GIÁC ĐỘ QUAN HỆ

VĂN HÓA - VĂN HỌC

Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam

Mã số : 62.22.34.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI H ƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Hà Nội - 2007

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

VIỆN VĂN HỌC HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS VŨ TUẤN ANH

Vào hồi giờ ngày tháng năm 2007

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện VIỆN VĂN HỌC - HÀ NỘI

- Thư viện TRƯỜNG ĐHSP HUẾ

CÂC BĂI BÂO KHOA HỌC ĐÊ CNG BỐ:

1 Cảm thức văn hóa về con người và phương thức biểu hiện của Thơ Mới - Thông báo khoa học ĐH Huế 5/2001

2 Một vài suy nghĩ về giảng dạy Thơ mới ở nhà trường THPT - Kỷ

yếu hội nghị khoa học ĐH Huế 4/2002

Trang 3

3 Thử tm hiểu chất dđn gian trong thơ Nguyễn Bính - Tạp chí nghiên

cứu văn hóa dân gian TT-Huế 12/2002

4 Sắc thâi văn hóa Huế trong thơ của một số nhà Thơ Mới - Thông

báo khoa học ĐH Huế 16/2003

5 Thử lý giải một mô típ chủ đạo trong thơ Nguyễn Bính - Thông báo

khoa học ĐHSP Huế 5/2005

6 Xứ Huế với bài thơ Đây Thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử - Tạp chí

Huế Xưa và Nay 6/2005

7 Bích Khê và cách đánh giá của Hoài Thanh - Tạp ch nghiên cứu

văn học Hà Nội 4/2006

8 Cảm thức văn ha trong ngn ngữ nghệ thuật Thơ mới - Tạp chí văn

hóa nghệ thuật Hà Nội 8/2006

9 Một số thể Thơ mới trong quan hệ với văn hóa 1932-1945 - Kỷ yếu

hội nghị khoa học Đại học KHXH - NV Hà Nội 11/2006

Trang 4

Phần một: MỞ ĐẦU

I MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA ĐỀ TÀI:

1 Chọn đề tài Thơ mới từ giác độ quan hệ văn hóa - văn học chúng

tôi có mục đích tìm một cách tiếp cận mới mẻ để khảo sát một hiện tượng văn học tương đối quen thuộc là Thơ mới, nhằm lý giải được nét riêng sức cuốn hút, sự trường tồn của Thơ mới với thời gian Nếu tiếp cận Thơ mới

bằng cảm quan văn hóa sẽ thấy được tính lịch sử của nó cho phép giải thích phong trào Thơ mới như một hiện tượng có tính quy luật nằm trong

sự vận hành chung của thơ ca dân tộc, còn nếu từ góc nhìn văn học sẽ phần nào hiểu được giá trị nghệ thuật to lớn của no

2 Bên cạnh đó văn học chỉ là một bộ phận của văn hóa nên chịu sự chi

phối của văn hóa Thơ mới vừa lưu giữ những giá trị văn hóa nghìn năm của dân tộc vừa phản ánh những đặc trưng văn hóa thời đại 1932-1945, khác hẳn các giai đoạn văn hóa trước đó, dẫn đến quy định diện mạo khác biệt của Thơ mới so với thơ cũ Thơ mới với những giá trị nghệ thuật to lớn của nó cũng đã chứng minh vai trò sáng tạo văn hóa của văn học Đó là mục đích của chúng tôi khi chọn khảo sát đề tài này

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:

Quá trình nghiên cứu Thơ mới có thể chia thành hai chặng đường, trước 1945 và sau năm 1945

Trước 1945 Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh), Nhà văn hiện đại (1936)

của Vũ Ngọc Phan vai trò của văn hóa 32-45 trong Thơ mới cũng được nhắc đến tuy chưa thật rõ

Từ sau 1945 trong Phê bình văn học thế hệ 1932 (1986) (Thanh Lãng),

bối cảnh văn hoá thời kỳ Thơ mới đã được tái hiện tuy còn nặng tính tư liệu,

liệt kê sự kiện Phan Canh trong Thơ ca Việt Nam thời tiền chiến 1932-1945

cũng có nhắc đến vai trò của tâm lý mới, tư tưởng, lối sống mới đối với sự

Trang 5

ra đời của Thơ mới Trong cuốn Phong trào Thơ mới (1982) của Phan Cự

Đệ, Thơ mới những bước thăng trầm (1993) (Lê Đình Kỵ) cũng cho rằng Thơ mới "có một mối liên hệ rất dễ thấy với truyền thống cũ Con mắt thơ

(1992) của Đỗ Lai Thuý là công trình nghiên cứu có nhiều giá trị thuyết phục, Thơ mới được đặt trong sự so sánh với hai mô hình văn hoá truyền

thống và hiện đại Với Thơ mới bình minh thơ Việt Nam hiện đại (1994)

Nguyễn Quốc Túy đã chỉ ra sự tác động của ba nguồn văn hóa song chỉ

dừng lại ở những ảnh hưởng trên bề mặt tác phẩm Một thời đại trong thi ca (về phong trào Thơ mới 1932-1945) (1997) (Hà Minh Đức chủ biên), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (60 năm phong trào Thơ mới) (1997)

(Huy Cận, Hà Minh Đức chủ biên) cũng có đề cập đến nguồn ảnh hưởng của thơ Pháp, thơ Đường và truyền thống thi ca dân tộc trong Thơ mới

nhưng vẫn chỉ dừng ở nhận xét mà không lý giải Phác thảo quan hệ văn học Pháp với văn học Việt Nam hiện đại (1998) (Hoàng Nhân) ít nhiều có

nhắc đến vai trò của văn hoá đối với Thơ mới song nghiêng về mối quan hệ

giữa hai nền văn học nhiều hơn Từ cái nhìn văn hóa (1999) của Đỗ Lai

Thúy cũng là công trình có nhiều gợi mở trong phương thức tiếp cận văn

học từ văn hóa Trong Những thế giới nghệ thuật thơ (2001), Trần Đình Sử

đã phân loại các khuynh hướng sáng tác kèm theo những quan niệm về thế giới, về con người của các nhà thơ, là những luận điểm có nhiều gợi ý đối

với chúng tôi khi khảo sát đề tài Với Giọng điệu trong thơ trữ tình (2002),

Nguyễn Đăng Điệp cho rằng nên tìm hiểu Thơ mới ở "vị thế" "tâm thế"

"thân phận" nhà thơ trong đời sống xã hội, trong những gì chìm vào phần

trầm tích văn hóa Đây cũng là những gợi ý có giá trị Văn hoá Việt Nam - Nhìn từ những mẫu người văn hoá (2005) Đỗ Lai Thúy khẳng định con

người là sự ngưng kết những chứng tích văn hóa những giá trị trị văn hóa Bên cạnh đó các công trình có những luận điểm có liên quan đến Thơ

mới từ giác độ văn hoá văn học có thể kể đến Sự vận động của cái tôi trữ tình và tiến trình thi ca (Vũ Tuấn Anh - TCVH số 1/1996) Tác giả lý giải sự

Trang 6

ra đời của cái tôi cá nhân Thơ mới do ảnh hưởng của văn hóa Phương Tây cùng với trường tiếp nhận và kinh nghiệm thể loại, con người cá nhân Thơ

mới như một hằng số văn hóa của thời đại Hay Anh hưởng của văn học Pháp đến văn học Việt Nam giai đoạn 1932-1945 (Phan Ngọc - TCVH số 4/1993); Kế thừa truyền thống dân tộc trong đổi mới thơ ca qua kinh nghiệm lịch sử của phong trào Thơ mới (Nguyễn Đăng Mạnh - TCVH số 4/1994); Mã ngữ nghĩa của vốn từ vựng hay văn hoá làng quê trong thơ Nguyễn Bính (Nguyễn Nhã Bản, Hồ Xuân Bình - TCVH số 4/1994); Văn học Pháp và sự gặp gỡ văn học Việt Nam 1930-1945 (Đặng Anh Đào - TCVH số 7/1994); Xuân thu nhã tập một hướng tìm về dân tộc (Nguyễn Bao

- TCVH số 11/1994); Anh hưởng của văn học Pháp và văn học Anh vào văn học Việt Nam từ 1930 (Phan Cự Đệ - TCVH số 10/1986); Nguyễn Bính và khối tình lỡ của người chân quê (Nguyễn Đăng Điệp - TCVH 5/1994); Ảnh hưởng của thơ nước ngoài trong thơ Chế Lan Viên (Nguyễn Xuân Nam - TCVH số 1/1997); Hàn Mặc Tử với André Breton hay Xuân Diệu và Baudelaire (Hoàng Nhân - TCVH số 4/1998); Thơ mới nhìn từ thơ cũ, vấn

đề loại hình học của thơ hiện đại và thơ trung đại (Trần Nho Thìn - TCVH

số 1/2000),Con mắt văn hoá tâm linh phương Đông trong thơ Hàn Mặc Tử của Đoàn Thị Đặng Hương (TCVH 1/2000), Gió Đông gió Tây: Ảnh hưởng

và giao thoa trong văn học Việt Nam hiện đại (TCVH số 1/2001) của Đặng Anh Đào Một số biểu tượng thơ dân gian trong thơ Việt nam hiện đại (Nguyễn Đức Hạnh - TCVH 3/2001) Sự tiếp thu về mặt thi pháp của Thơ mới với thơ Đường (Lê Thị Anh - TCNCVH 11/2005)

Các công trình trên đây cho thấy việc nghiên cứu Thơ mới đang cần một cách tiếp cận mới nhằm phát hiện những tầng nghĩa sâu hơn Những điều chúng tôi trình bày và triển khai trong luận án một phần được bắt nguồn từ những gợi ý quý báu của nhiều công trình, nhiều học giả

III PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Trọng tâm là bộ hợp tuyển Thơ mới 1932 -1945, Tác giả và tác phẩm

Trang 7

(NXB văn học 1997) do Lại Nguyên Ân biên soạn

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

* Thi pháp học: Thi pháp học hiện đại để khảo sát các hình thức nghệ thuật của Thơ mới

* Phương pháp loại hình học: Phân loại, so sánh, khu biệt các hiện tượng thuộc hình thức nghệ thuật

* Phương pháp so sánh hệ thống: Dùng để khảo sát quá trình giao lưu văn hoá, các biểu trưng văn hoá của Thơ mới

V ĐÓNG GÓP MớI CủA LUậN ÁN:

1 Trước đây nghiên cứu văn học thường đóng khung ở phương diện

nghiên cứu văn học từ chính bản thân nó hoặc lý giải văn học bằng các yếu

tố văn hóa xã hội bên ngoài nó Một cách tiếp cận mới sẽ giúp soi sáng một hiện tượng văn học tưởng chừng đã cũ bằng một nhãn quan mới mẻ, khiến

nó vẫn lấp lánh nhiều giá trị Nghiên cứu văn học trong quan hệ với văn hóa

là một khuynh hướng nghiên cứu nhiều triển vọng Luận án này góp thêm một tiếng nói để khẳng định khuynh hướng ấy

2 Luận án nghiên cứu Thơ mới từ giác độ văn hóa văn học nên mở ra

nhiều phát hiện mới do xem xét Thơ mới trên cơ sở vững chắc là bối cảnh văn hóa nó ra đời Từ đó thấy được Thơ mới vừa thể hiện tâm thức dân tộc mang những yếu tố ổn định có thể giúp phân biệt văn học dân tộc này với dân tộc khác vừa là một hiện tượng luôn biến động mang dấu ấn cá nhân đậm nét, thay đổi theo từng tâm trạng thời đại, từng giai đoạn lịch sử nhất định Xem xét Thơ mới từ giác độ văn hóa văn học sẽ khắc phục được cái nhìn tĩnh, chỉ dừng lại ở những biểu hiện bên ngoài mà có thể vừa chỉ ra được những yếu tố bất biến vừa lý giải được những thay đổi, những xu hướng nhiều khi trái ngược nhau trong cùng hiện tượng Thơ mới

3 Thông qua hiện tượng Thơ mới, luận án đã có đóng góp về mặt

Trang 8

phương pháp ở chỗ đã cụ thể hóa mối quan hệ văn hoá văn học vốn còn chung chung trừu tượng, vì vậy luận án có thể trở thành tài liệu tham khảo

về một hướng tiếp cận văn học mới cho những người làm công tác giảng dạy, học tập hoặc những ai quan tâm

VI MỘT SỐ KHÁI NIỆM ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN:

1 Khái niệm văn hóa:

Khái niệm về văn hoá là công cụ - khái niệm, công cụ - nhận thức dùng

để tiếp cận vấn đề nghiên cứu vì vậy chúng tôi chọn định nghĩa về văn hoá của Unesco: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội, văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người những khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sự vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân.’’ (Tuyên bố về những chính sách văn hóa - Hội nghị quốc tế do Unesco chủ trì từ 26 - 7 đến 6 -8 -1982 tại Mêhicô) [163;tr24]

Tiếp cận hiện tượng Thơ mới từ giác độ quan hệ văn hóa văn học, tức khu biệt trong những phương diện những luận điểm của văn hóa mà theo chúng tôi có ảnh hưởng đến văn học, cụ thể là Thơ mới, có thể sẽ có một sự khúc xạ, một độ lệch nào đó

2 Khái niệm Thơ mới:

Ở đây chúng tôi chủ yếu khảo sát Thơ mới giai đoạn 1932-1945 trong

Trang 9

sự quy chiếu với hệ hình văn hóa 1932-1945 tức văn hóa đô thị hiện đại, ảnh hưởng từ phương Tây, là tiếng nói của cái tôi cá nhân, có những đặc trưng nghệ thuật nhất định Như vậy tức nhìn cả sự vận động từ lãng mạn đến tượng trưng, siêu thực, đối lập với thơ cũ ở cách cảm nhận về thế giới, con người, được nhìn như một phong trào (Phong trào Thơ mới) hoặc như một giai đoạn (Thơ mới giai đoạn 1932-1945)

VII CấU TRÚC CủA LUậN ÁN:

Phần MỞ ĐẦU (13 trang) Phần NỘI DUNG gồm 3 chương Chương I : Thơ mới - một hiện tượng văn hóa lớn (42 trang)

Chương II: Thơ mới từ nhãn quan văn hóa và thi pháp (77 trang)

Chương III: Ngôn ngữ nghệ thuật và các biểu trưng văn hóa trong Thơ mới (61 trang)

Phần KẾT LUẬN (6 trang)

Trang 10

Phần hai: NỘI DUNG Chương I

THƠ MớI - MỘT HIỆN TƯỢNG VĂN HOÁ LỚN

1.1 Giới thiệu chung về quan hệ giữa văn hoá và văn học nhìn từ hiện tượng Thơ mới

1.1.1 Quan hệ giữa văn hoá và văn học:

Cơ sở để xác định quan hệ giữa văn hoá - văn học trước tiên dựa vào bản chất đặc trưng của văn hoá và đặc trưng của văn học Văn học là một bộ phận của văn hoá, chịu sự chi phối của văn hoá, có chức năng nhận thức, phản ánh, sáng tạo, truyền tải và lưu giữ văn hoá Các thành tố văn hoá của giai đoạn nào sẽ quyết định diện mạo văn học giai đoạn đó Chính vì vậy văn hoá là cơ sở, là nền tảng để văn học phát triển Ngược lại văn học cũng mang trong mình chức năng văn hoá, nhận thức giá trị văn hoá tốt đẹp của từng thời kỳ để định hướng và phát triển văn hoá

1.1.2 Vấn đề nghiên cứu văn học từ giác độ quan hệ văn hoá - văn học:

Văn học phản ánh "ý thức văn hoá" của một thời kỳ nhất định, mang diện mạo văn hoá của thời điểm nó ra đời đồng thời là sản phẩm của một quá trình văn hóa Vì vậy khi nghiên cứu văn học nhìn từ giác độ quan hệ văn hoá - văn học sẽ lý giải hiện tượng văn học như là sản phẩm của một quá trình đồng thời đánh giá được những giá trị nghệ thuật to lớn của hiện tượng văn học đó từ đặc trưng bối cảnh văn hóa mà nó ra đời Từ đó thấy được vai trò sáng tạo văn hoá của văn học qua những hình tượng nghệ thuật, góp phần khẳng định vai trò vừa lưu giữ, chuyển tải vừa thẩm định và lựa chọn văn hoá của văn học

1.2 Thơ mới trong bối cảnh giao thoa văn hoá Đông - Tây

1.2.1 Sự thay đổi văn hoá từ kiểu văn hoá cổ truyền phương Đông sang kiểu văn hoá hiện đại phương Tây:

Khái niệm "kiểu văn hoá" được dùng ở đây để chỉ từng giai đoạn văn hóa cụ thể trong bối cảnh văn hoá chung của mỗi dân tộc Giai đoạn 32-45

Trang 11

do ảnh hưởng của văn hóa phương Tây nên có sự thay đổi từ kiểu văn hóa

cổ truyền phương Đông sang kiểu văn hóa đô thị hiện đại phương Tây

1.2.2 Sự thay đổi cơ sở văn hoá - cấu trúc lại nền tảng và diện mạo văn hoá:

1.2.2.1 Nền tảng và cấu trúc văn hoá cổ truyền:

Nền tảng diện mạo của văn hoá Việt Nam chủ yếu là văn hoá nông nghiệp - lúa nước Con người sống chủ yếu bằng nghề nông Đơn vị xã hội được tính theo đơn vị làng, con người có tính cộng đồng, sống theo tư tưởng quân bình, không muốn khác người vượt người mà chú trọng sự hài hoà Hài hoà trong quan hệ với tự nhiên và xã hội, tư duy không phải tư duy phân tích mà là tư duy tổng hợp

1.2.2.2 Từ văn minh nông nghiệp cổ truyền sang văn minh phát triển theo xu hướng công nghiệp hiện đại:

Trên lĩnh vực văn hóa vật chất, thực dân Pháp đã đưa vào nước ta

một nền văn minh cơ khí tiến bộ hơn văn minh lúa nước, biến đô thị Việt Nam từ đô thị cổ truyền, trung tâm chính trị văn hóa thành đô thị hiện đại, trung tâm kinh tế Kết quả là “nền kinh tế cổ xưa bị phân giải” nhường chỗ

cho nền kinh tế phát triển theo hướng tư bản

Trên lĩnh vực văn hóa tinh thần, tác động của văn hoá phương Tây

đã tạo sự thay đổi rõ rệt ở bề mặt xã hội, đó là sự thay đổi từ cơ sở văn minh nông nghiệp lúa nước sang văn minh tư sản công nghiệp và cũng là điều kiện dẫn đến sự chuyển đổi hệ tư tưởng, tâm lý xã hội

1.2.3 Sự thay đổi hệ tư tưởng, tâm lý xã hội:

1.2.3.1 Sự thay đổi hệ tư tưởng:

Hệ tư tưởng là cốt lõi của văn hóa là định hướng cơ bản cho đời sống tinh thần xã hội Hệ tư tưởng của dân tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng của ba luồng tư tưởng Nho - Phật - Đạo, mang đặc trưng văn hóa phương Đông

thiên về tổng hợp, nặng cảm tính, tư duy tổng hợp thiên về duy linh, trọng

tĩnh, hướng nội, khép kín nên thành tựu chủ yếu là khoa học xã hội, ít thành tựu về khoa học tự nhiên Anh hưởng của văn hóa phương Tây đã làm chuyển đổi hệ tư tưởng truyền thống phương Đông sang hệ tư tưởng hiện đại phương Tây với tính chất trọng động, duy lý, tức tư duy xác định, khám phá đối tượng một cách cặn kẽ với những giải pháp cụ thể, theo cách phân

Trang 12

tích để chế tạo ra sản phẩm

1.2.3.2 Sự thay đổi về tâm lý xã hội:

Tâm lý của người phương Đông là tâm lý nông dân, chú trọng đến sự hài hòa giữa con người và cộng đồng, thích “cầu toàn”, “trọng tĩnh” Sự thay

đổi sâu sắc cơ sở văn hóa tạo ra một tâm lý mới, từ tâm lý nông dân đã chuyển dần sang tâm lý thị dân, tâm lý cá thể, chú trọng đến quyền lợi của

cá nhân mang dấu ấn văn hóa hiện đại phương Tây

1.3 Thơ mới ra đời như một hiện tượng văn hoá lớn

1.3.1 Cuộc đấu tranh giữa Thơ mới - thơ cũ và bản chất văn hóa của nó:

1.3.1.1 Thơ cũ và đặc điểm của cái tôi trữ tình trong thơ trung đại:

Ảnh hưởng của tư tưởng kinh điển và tôn giáo đã chi phối đặc điểm của thơ ca trung đại Cách nhận thức và phản ánh thế giới của các nhà thơ trung

đại tạo nên những cái tôi trữ tình biết ứng xử trước thời thế, biết vượt lên

mọi biến ảo của cuộc đời, quên đi con người trần tục Con người trong thơ giai đoạn này nặng về lý trí nhiều hơn tình cảm Khi ý thức thị dân phát triển

kiểu cái tôi chú trọng đến “chữ tài, tình” xuất hiện với nhu cầu sống tự nhiên nhưng cũng chỉ dừng lại ý thức về cá tính chứ chưa thật sự là một

“cái tôi cá nhân” như ở Thơ mới sau này

1.3.1.2 Những chuyển mình đầu tiên:

Thơ Tản Đà đánh dấu sự chuyển mình đầu tiên do cốt cách mang nhiều yếu tố thị dân trần tục, làm thơ phá cách vứt điệu luật, quan niệm xem văn chương là một nghề để sinh sống Những yếu tố ấy đã nối Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đến các nhà Thơ mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu sau này Thơ Đông Hồ,

Tương Phố, Á nam Trần Tuấn Khải, thơ dịch của Nguyễn Văn Vĩnh, Tình già của Phan Khôi, Hồ Văn Hảo, Nguyễn Thị Kiêm, các bài diễn thuyết cổ

vũ Thơ mới với những tình cảm lãng mạn bâng quơ mang hơi thở và không khí của thời đại đã góp phần đẩy nhanh sự ra đời của phong trào Thơ mới 1932-1945 Đó là cuộc cách mạng đến tận cùng triệt tiêu cái cũ để thiết lập cái mới, là sự xung khắc quyết liệt giữa hai thế hệ văn hóa, hai nền văn hóa

1.3.2 Giao thoa và tiếp biến:

Trang 13

Cơ sở của cuộc giao thoa văn hóa Đông Tây xảy ra trong Thơ mới bắt

nguồn từ hai nhân tố: Thứ nhất đó là sự kế tục của ý thức cá tính truyền

thống trong văn học trung đại Thứ hai là luồng gió mới từ văn hóa đô thị

phương Tây đã góp phần bứt tung những rào cản đã lung lay để cho ra đời

một “mô hình nhân cách” mới - Cái tôi cá nhân hiện đại Hai nguồn mạch

này, một từ chính yếu tố nội sinh và một từ bên ngoài vào là những nhân

tố có tính chất nền tảng cho sự phát triển của ý thức cá nhân trong Thơ mới Tiếp biến văn hóa là quá trình tiếp xúc và biến đổi văn hóa ở bề sâu dẫn

đến sự thay đổi mô thức văn hóa Thơ mới là sản phẩm của cuộc tiếp xúc

giữa hai mô thức văn hóa nông nghiệp thủ công với công nghiệp tiên tiến

dẫn đến sự thay đổi mô thức văn hóa từ truyền thống sang hiện đại, thay thế

loại hình thơ trung đại bằng loại hình Thơ mới

1.3.3 Thơ mới - từ xung khắc truyền thống đến hòa giải với truyền

thống:

Sự xung khắc của Thơ mới và thơ cũ trên diễn đàn văn học những năm

1920 là biểu hiện của “hiện đại xung khắc với truyền thống” giữa cái tôi

lừng lững đi giữa cộng đồng với cái ta cổ điển, giữa văn hóa phong kiến và

văn hóa hiện đại Sau khi đả phá triệt để thơ cũ, xung khắc gay gắt với thơ

cũ, Thơ mới ra đời trong sự hòa giải hài hòa với truyền thống Sự hòa giải

thể hiện ở cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Cái tôi cá nhân Thơ mới và

cảm quan mới về con người và cuộc sống trong Thơ mới được dung chứa

trong khuôn hình mới, một mô hình tư duy mới mang màu sắc văn hóa hiện

đại Đó là một kiểu phát hiện đời sống, một kiểu giao tiếp nghệ thuật dựa

trên sự kế thừa những thành tựu của thơ ca truyền thống

Chương II THƠ MỚI TỪ NHÃN QUAN VĂN HOÁ VÀ THI PHÁP

2.1 Thơ mới từ nhãn quan văn hóa

“Thể loại phải được người nghiên cứu ghi nhận và thức nhận chúng từ

nhãn quan văn hóa học và thi pháp học thì mới chiếm lĩnh được chúng”

[148;tr2]

Tìm hiểu Thơ mới từ nhãn quan văn hóa và thi pháp tức khảo sát từ văn

Ngày đăng: 04/04/2014, 08:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w