Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứuMục đích: Luận án hướng đến việc mô tả, lý giải và khẳng định: Thơ mới là một loại hình thơ trong tiến trình thơ trữ tình Việt Nam từ khởi thủy đến hiện đạ
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thơ mới, một khái niệm cho đến giờ đã đặt chúng ta vào những phạm trù nghĩa khá đa dạng, cần phải suy xét kỹ lưỡng hơn Bản thân khái niệm này đã hàm chứa trong đó sự tương sánh với Thơ cũ, đồng thời nó cũng mang ý nghĩa
là một thời đoạn trong lịch sử thơ ca dân tộc, Thơ mới còn là một trào lưu, một phong cách, một kiểu – một loại hình thơ Thậm chí, trong suy nghĩ về những động hướng của một nền văn học, thơ ca tiên tiến, Thơ mới còn đặt ra yêu cầu
có tính cốt thiết về tư duy, tâm thế, bản chất của sáng tạo nghệ thuật Luận án,
Thơ mới, nhìn từ góc độ loại hình tập trung vào khía cạnh loại hình, kiểu/ lối
Thơ mới nhằm chỉ ra tư cách loại hình của Thơ mới trong tương quan với những hình thái thơ trước và sau nó
Cùng với sự phát triển của triết học nhân sinh, triết học ngôn ngữ, khoa học xã hội nhân văn, sự du nhập của các lý thuyết, phương pháp nghiên cứu văn học hiện đại, Thơ mới lại có thêm cơ hội để được soi chiếu, thảo luận một cách toàn vẹn hơn Bên cạnh đó, vấn đề thực thể Thơ mới vẫn chưa được mô tả một cách toàn vẹn với sự vắng mặt của những tác giả, tác phẩm bàn nhì, bàn ba, những diễn ngôn góp phần kiến tạo Thơ mới nhưng không có mặt trong các “điện thờ” hay bị xem nhẹ, bị mặc nhiên biến thành các diễn ngôn phụ trợ, làm tôn lên các đỉnh cao Mặt khác những nghiên cứu ở miền Nam thời kỳ 1954 - 1975 về Thơ mới cũng chưa được chú ý thỏa đáng để thấy rằng thành tựu nghiên cứu Thơ mới trong tri thức phổ thông vẫn đầy thiếu khuyết
Nghiên cứu Thơ mới, quy luật sáng tạo của loại hình thơ này (một loại hình thơ phát triển rực rỡ bậc nhất trong lịch sử thơ trữ tình Việt Nam) giúp chúng ta
có cái nhìn chân xác hơn về diễn trình và sự vận động của mỹ học thơ ca dân tộc
Từ đó, hình thành những nhận thức có tính nguyên lý về mỹ học của loại hình thơ trữ tình nói chung
Việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập, thưởng thức Thơ mới cần có những định hướng đa dạng hơn, toàn diện hơn để phù hợp với sự đa dạng, phong phú, tính phức tạp của bản thân Thơ mới
Trang 22 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Luận án hướng đến việc mô tả, lý giải và khẳng định: Thơ mới là một loại hình thơ trong tiến trình thơ trữ tình Việt Nam từ khởi thủy đến hiện đại.Nhiệm vụ của luận án:
- Mô tả lịch sử nghiên cứu vấn đề loại hình Thơ mới
- Giới thuyết về lý thuyết loại hình trong nghiên cứu văn học và thơ ca
- Mô tả và lý giải để minh chứng tư cách loại hình của Thơ mới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thơ mới Việt Nam 1932 – 1945 với tư cách là một loại hình thơ
Phạm vi nghiên cứu: Đặt Thơ mới trong tiến trình thơ Việt Nam từ khởi thủy đến hiện đại, nhận diện loại hình Thơ mới trong sự tương sánh với loại hình Thơ trung đại và một vài hình thái thơ sau Thơ mới
Để khẳng định Thơ mới là một loại hình thơ chúng tôi hình thành một trục
nghiên cứu có tính chất quy chiếu để nhận diện loại hình Thơ mới: Kiểu tư duy Thơ mới
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đem đến những kiến giải có tính tổng quát về Thơ mới trên phương diện là một loại hình thơ, đóng góp vào lịch sử diễn giải, nghiên cứu và định vị Thơ mới Việt Nam 1932 - 1945 trong tiến trình thơ Việt Nam
Xem xét Thơ mới trong tính tự trị của một trường văn học cùng với sự lý giải
từ các thiết chế, bối cảnh tạo nên “chân lý”, “tri thức”, “quyền lực” (M Foucault)
kể cả những “đứt đoạn” mang sử tính của Thơ mới
Từ đề tài, vấn đề lý thuyết loại hình trong nghiên cứu văn học và trong nghiên cứu thơ được giới thuyết mạch lạc hơn
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp loại hình là phương pháp chủ đạo Ngoài ra, luận án còn kết hợp các phương pháp khác như: phương pháp so sánh, các phương pháp nghiên cứu
Trang 3nhân học văn hóa, tâm lý học sáng tạo, xã hội học,
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án được cấu trúc thành 4 chương:
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu Thơ mới từ góc độ loại hình
Chương 2 Vấn đề nghiên cứu loại hình văn học và loại hình thơ
Chương 3 Loại hình Thơ mới, nhìn từ đặc tính kiểu tư duy
Chương 4 Loại hình Thơ mới, nhìn từ cấu trúc kiểu tư duy
Phụ lục: Thơ mới trong bối cảnh phát triển của thơ Đông Á đầu thế kỷ XX
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU THƠ MỚI TỪ
GÓC ĐỘ LOẠI HÌNH 1.1 Nghiên cứu loại hình Thơ mới giai đoạn trước 1945
Đây là giai đoạn có những nghiên cứu đầu tiên về Thơ mới, bắt đầu từ cuộc tranh luận Mới - Cũ trên báo chí và các diễn đàn văn học lúc bấy giờ Từ diễn
đàn của Hội khuyến học Sài Gòn, Nhà học hội Quy Nhơn đến mặt báo Phụ nữ Tân văn, Phong hóa, Ngày nay, Văn học tạp chí, Hà Nội báo, An Nam tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy, Tri tân, Thanh nghị, Công luận,… Thơ mới và Thơ cũ đã
tranh chiến với nhau một cách quyết liệt Các đại diện của Thơ mới như: Phan Khôi, Nguyễn Thị Manh Manh, Lưu Trọng Lư, Nhất Linh, Việt Sinh, An Diễn,
Lê Tràng Kiều, các nhà nghiên cứu như: Hoài Thanh, Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan, Lương Đức Thiệp, Dương Quảng Hàm, Kiều Thanh Quế, đã đưa ra nhiều lí lẽ, luận cứ đụng chạm đến vấn đề loại hình để minh chứng cho sự xuất
hiện Thơ mới Từ mục Tin thơ của Lê Ta trên Phong hóa, Ngày nay đến các công trình dài hơi như: Việt Nam thi ca luận (Lương Đức Thiệp), Thi nhân Việt nam (Hoài Thanh, Hoài Chân), Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan), Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm) vấn đề loại hình Thơ mới đã manh nha được đề
cập đến nhưng còn rất phiến diện Ở vấn đề trung tâm, các tranh luận và nghiên
Trang 4cứu vẫn chưa hình thành một hệ quy chiếu có tính khu biệt để định hình Thơ mới trong tương quan với Thơ cũ Vẫn chưa thấy một lõi mạch xuyên suốt phong trào Thơ mới nhằm định danh loại hình thơ này trong dòng chảy của thơ Việt
1.2 Nghiên cứu loại hình Thơ mới giai đoạn 1945 - 1954
Rất thưa vắng những công trình nghiên cứu về Thơ mới trong giai đoạn này Ngoài những cuộc “nhận đường” trong đó Thơ mới bị kết án là tiêu cực, ủy mị, thiếu ý chí đấu tranh, gần như không có công trình nghiên cứu nào đề cập đến đặc trưng loại hình của Thơ mới Trong những công trình ít ỏi nhắc về Thơ mới
thời kỳ này là bài Nói chuyện thơ kháng chiến của Hoài Thanh Đáng chú ý nhất
ở thời kỳ này là công trình Văn học sử trích yếu của Nghiêm Toản (1949) Với
tính chất “trích yếu” và quan điểm “giai tác bênh vực thi nhân”, Nghiêm Toản chưa thể đi sâu vào vấn đề bản thể của Thơ mới trong tư cách một loại hình thơ
1.3 Nghiên cứu loại hình Thơ mới giai đoạn 1954 - 1975
Nghiên cứu Thơ mới thời kỳ này rất ít ỏi Có thể kể đến Những bước đường
tư tưởng của tôi của Xuân Diệu Đáng lưu ý là bài viết Một vài ý kiến về phong trào “thơ mới” và quyển “Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh (1964) Năm
1966, Phan Cự Đệ viết Phong trào “thơ mới” 1932 - 1945 nhưng chủ yếu phân
tích mặt tích cực và tiêu cực của Thơ mới Cũng cùng quan điểm xem Thơ mới
là tiêu cực còn có quan điểm của Vũ Đức Phúc (Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong văn học Việt Nam hiện đại 1930 - 1954), Hồng Chương (Phương pháp sáng tác trong văn học nghệ thuật) Năm 1969 xuất hiện công trình Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức Công trình
này đề cập đến nhiều thể loại của văn học Việt Nam, nguồn gốc, sự vận động của thể loại Đáng chú ý là các tác giả đã bàn đến những thể thơ, thanh điệu, nhịp điệu và vần trong phong trào thơ mới Vấn đề loại hình Thơ mới với đặc trưng
mỹ học riêng biệt trong thế tương sánh với thơ trước Thơ mới và sau Thơ mới vẫn còn bỏ ngỏ trong giai đoạn này
Nghiên cứu Thơ mới ở miền Nam thời kỳ này tỏ ra sôi nổi hơn Các nhà
nghiên cứu xoay quanh các tờ báo, tạp chí như: Lành Mạnh, Đức Mẹ La Vang, Văn, Văn học, Văn hóa Á châu, Văn hóa tuần san, Phổ thông, Bách Khoa, các nhà xuất bản: Trình bầy, Sống mới, Giao điểm, đã có những số báo, những
Trang 5chuyên đề về các nhà Thơ mới, các chủ điểm thi ca tiền chiến Một số công trình
tiêu biểu đã đề cập đến Thơ mới trên bình diện tổng quát Đáng chú ý là Một thời lãng mạn trong thi ca Việt Nam của Hà Như Chi do Tân Việt xuất bản năm 1958 Năm 1966, Nguyễn Tấn Long viết Việt Nam thi nhân tiền chiến, năm sau (1967) ông cùng Phan Canh viết Khuynh hướng thi ca tiền chiến tập trung vào các tác
giả và vấn đề hình thành thơ tiền chiến như là một biến cố văn học Năm 1967,
Thanh Lãng hoàn thành công trình Bảng lược đồ văn học Việt Nam: Ba thế hệ của nền văn học mới 1862-1945 - 2 tập do nhà xuất bản Trình bày ấn hành Năm
1972, Thanh Lãng cho in Phê bình văn học thế hệ 1932, Phong trào Văn hoá
xuất bản Riêng về nghiên cứu Thơ mới với tư duy loại hình đã được Thanh
Lãng trình bày trong Quyển hạ của Bảng lược đồ văn học Việt Nam Năm 1969, Bằng Giang có một công trình khá cô đọng: Từ thơ mới đến thơ tự do, do Phù sa
xuất bản Trong công trình này, cùng với việc nhận diện: Thế nào là thơ? Thế nào là thơ hay? Tiếp cận thơ như thế nào? Ông cũng đã xác định nguyên nhân
ra đời của Thơ mới? Năm 1970, Phạm Công Thiện công bố công trình Ý thức bùng vỡ, do Phạm Hoàng xuất bản Cuốn sách này có một bài viết rất ngắn của
Phạm Công Thiện về Thơ mới nhưng vấn đề đặt ra lại khá lý thú Ông cho rằng Thơ mới là một sự thất bại của thơ ca Việt Từ những nghiên cứu này, các vấn đề của loại hình Thơ mới được hé mở
1.4 Nghiên cứu loại hình Thơ mới giai đoạn từ 1975 đến nay
Thơ mới đã có ngày về huy hoàng trên một đất nước thống nhất, đặc biệt là
sau bước ngoặt đổi mới (1986) Từ năm 1989, Lê Đình Kỵ tái bản Thơ mới những bước thăng trầm (xuất bản lần đầu năm 1964) nhận định về bản mệnh của Thơ mới Năm 1992, xuất hiện Con mắt thơ của Đỗ Lai Thúy, phê bình phong
cách học Thơ mới với những đỉnh cao rực rỡ của loại hình thơ ca này Năm
1993, xuất hiện công trình Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca: 60 năm phong trào thơ mới do Huy Cận, Hà Minh Đức biên soạn trên cơ sở các tham
luận của Hội thảo kỷ niệm 60 năm phong trào Thơ mới Năm 1994, Nguyễn
Quốc Túy hoàn thành công trình Thơ mới, bình minh thơ Việt Nam hiện đại
Trong công trình này tư duy loại hình của Nguyễn Quốc Túy thể hiện ở chỗ ông chỉ ra những đặc điểm chứng minh Thơ mới là bình minh thơ Việt Nam hiện đại
Trang 6Năm 1996, Nguyễn Quốc Túy công bố luận án PTS: Nhìn lại vấn đề đánh giá thơ mới trong 60 năm (1932 - 1992), trong đó xem xét lại tất cả các đánh giá,
nhận định về Thơ mới từ khi ra đời đến 1992 Nghiên cứu về loại hình Thơ mới
phải nhắc đến những công trình, bài viết của Trần Đình Sử Từ Thi pháp thơ Tố Hữu đến Những thế giới nghệ thuật thơ, từ bài viết phân định loại hình Thơ lãng mạn với Thơ cổ điển, Thơ cách mạng đến bài Thơ mới và sự đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam, Trần Đình Sử đã nêu lên những vấn đề có tính cốt lõi để
nghiên cứu Thơ mới như một hệ thống thi pháp mới phân biệt với thi pháp thơ cổ
điển Năm 1999, Phan Huy Dũng nghiên cứu vấn đề Kết cấu thơ trữ tình (nhìn
từ góc độ loại hình) Từ phương diện kết cấu, Phan Huy Dũng đã góp thêm một góc nhìn về loại hình Thơ mới Tập trung vào vấn đề Giọng điệu trong thơ trữ tình như một tiêu chí nhận diện phong cách, Nguyễn Đăng Điệp sau khi phân
chia thơ Việt Nam thành ba loại hình và nhận diện giọng điệu: thơ dân gian, thơ trung đại, thơ hiện đại, hướng đến nắm bắt chủ âm của Thời đại Thơ mới Nhìn Thơ mới từ những giá trị kết tinh, năm 2003, Chu Văn Sơn xuất bản công trình
Ba đỉnh cao thơ mới Đây là công trình nghiên cứu công phu về Xuân Diệu,
Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử, có những gợi ý quan trọng cho việc nghiên cứu
loại hình Thơ mới Ba tiểu luận: Xuân Diệu - tù nhân của chữ tình/ Nguyễn Bính
- và “kiếp con chim lìa đàn”/ Hàn Mặc Tử - chàng thi sĩ khao khát cái tột cùng,
đem đến nhãn quan về loại hình Thơ mới từ hệ quy chiếu của tư duy/ mỹ cảm thơ, chất thơ mà chúng tôi sẽ triển khai sau này Tập trung vào các khuynh hướng, thể loại, ý thức tự do, đề tài nổi bật, soi chiếu dưới góc nhìn văn hóa còn
có một số luận án của: Nguyễn Hữu Hiếu Hoàng Sĩ Nguyên, Hoàng Thị Huế, Mai Thị Liên Giang, Nguyễn Văn Thắng, Đặng Thị Ngọc Phượng, Năm 2012, nhân 80 năm phong trào Thơ mới, nhiều hoạt động khoa học đã diễn ra trên
phạm vi cả nước Đáng lưu ý là Hội thảo: Thơ mới và Tự lực văn đoàn, 80 năm nhìn lại và Tọa đàm: 80 năm phong trào Thơ mới thu hút được rất đông đảo các
học giả quan tâm Vấn đề loại hình Thơ mới lại được đặt ra trong các bài viết của
Phan Trọng Thưởng (Thơ mới - Một hiện tượng lịch sử có tính khu vực), Trần Đình Sử (Mấy vấn đề thi pháp Thơ mới như là một cuộc cách mạng trong thơ Việt), Hà Minh Đức (Thơ tình trong phong trào Thơ mới 1932 - 1945), Đỗ Lai Thúy (Thơ mới thành công và thất bại của thành công),…
Trang 71.5 Tiểu kết
Sau khi đã khảo sát các nghiên cứu về Thơ mới từ khi sinh thành đến nay, chúng tôi nhận thấy, trong tư duy, ý thức của giới nghiên cứu, vấn đề loại hình Thơ mới đã từng bước được nêu lên Giai đoạn trước 1945, do chưa có hệ thống công cụ, nên nghiên cứu vấn đề loại hình Thơ mới chỉ mới manh nha, còn phiến diện Giai đoạn 1945 – 1954, 1954 – 1975 tư duy nghiên cứu loại hình Thơ mới từng bước được tạo lập với một số công trình của Nghiêm Toản, Phan Cự Đệ, Hà Như Chi, Thanh Lãng,… nhưng vấn đề vẫn sơ sài, chưa hệ thống Từ 1975 đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về Thơ mới đã bàn sâu hơn về các khía cạnh loại hình của Thơ mới Thuật ngữ loại hình cũng đã được sử dụng phổ biến hơn, nhưng hệ tiêu chí phổ quát cho loại hình Thơ mới rất tiếc vẫn chưa xuất hiện
CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LOẠI HÌNH VĂN HỌC VÀ LOẠI HÌNH THƠ 2.1 Loại hình học văn học: những tiền đề lịch sử và nhận thức
Loại hình học (tiếng Anh: typology, tiếng Pháp: typologie) là khoa học nghiên
cứu về loại hình Nghiên cứu loại hình văn học người ta sẽ không nghi ngờ gì khi khởi đầu bằng những công trình thời cổ đại của Aristote - người đã hình thành nguyên lý cơ bản cho tư duy loại hình trong thời đại của ông Nghiên cứu văn học trong tư cách là một loại hình nghệ thuật ngôn từ, đặc biệt với Thơ trữ tình -
một biệt ngữ, Mỹ học của Hegel đã gợi mở nhiều tư duy loại hình quan trọng
Ông chú ý đến “cái nên thơ”, “cách biểu đạt nên thơ”, đi vào từng khía cạnh chung riêng, phổ biến và đặc thù như: “Tính chất chung của thơ trữ tình”, “Các phương tiện đặc biệt của thơ trữ tình” Có thể nói, công trình lý luận mỹ học đồ
sộ này của Hegel là một trong những cẩm nang quan trọng để hình thành tư duy loại hình khi giải quyết vấn đề loại hình Thơ mới Một công trình kinh điển khác
thực hiện trên cơ sở loại hình học là Hình thái học truyện cổ tích của V.IA
Propp Ngay những dòng đầu tiên của công trình ông đã cho rằng: “Hình thái học
có nghĩa là học thuyết về hình thức” Đó là hình thức có thể nắm bắt được khi một đối tượng - một nhóm đối tượng, tương đồng với nhau, ổn định, bất biến, không lệ thuộc vào không gian địa lý và thời gian lịch sử Một đại diện ưu tú của
chủ nghĩa cấu trúc là C.Lévi Strauss, khi tiến hành Nghiên cứu thần thoại theo
Trang 8phương pháp cấu trúc với phương pháp xếp chồng các khảo dị (chiều dọc), tổ
hợp các thần thoại khác nhau trong không gian địa lý, xuyên/liên văn hóa, đồng
đại và lịch đại (chiều ngang) để tìm ra tính phổ biến trong cấu trúc của truyện
thần thoại, Lévi Strauss đã gợi lên rất nhiều suy nghĩ về mặt phương pháp luận
Một đại biểu ưu tú khác của chủ nghĩa cấu trúc là IU Lotman với công trình Cấu trúc văn bản nghệ thuật đã đem đến những minh giải về loại hình học như là
khoa học hướng tới việc giải quyết mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, tìm
ra những quy luật mang tính bất biến chi phối hình thái tồn tại của một giống - loài nhất định Văn học nói chung và Thơ trữ tình, Thơ mới nói riêng cũng không phải là một ngoại lệ Những nhận thức của chúng tôi về loại hình học, loại hình
thơ cũng được bổ túc nhiều hơn nhờ những công trình nghiên cứu về Thi học và Ngữ học của R Jakovson, Hình thái học của nghệ thuật của M Cagan, Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học của M.B Khravchenko, Thi pháp văn học Nga cổ của D.X Likhachev, các bài viết, giới thiệu lý thuyết, phương pháp loại hình của Phan Trọng Thưởng (Giao lưu văn học và sân khấu), Nguyễn Văn Dân (Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Lý luận văn học so sánh), Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học), Lại Nguyên Ân (150 thuật ngữ văn học), Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (Từ điển văn học - bộ mới).
Như vậy, loại hình học văn học là khoa học nghiên cứu những tương đồng mang tính quy luật của các hiện tượng văn học Một loại hình văn học, loại hình
thơ luôn vận động, tồn tại trong hai không gian Một không gian của lịch sử và một không gian nội thể Nghiên cứu loại hình có hai ngả rất rõ như thế, một hướng nghiên cứu lịch sử ra đời của các loại hình và một hướng nghiên cứu sự biến chuyển bên trong của các loại hình Nghiên cứu của chúng tôi thiên về nội quan, xem xét sự biến chuyển về đặc tính và cấu trúc của kiểu tư duy Thơ mới Tuy nhiên, ngoại quan vẫn tồn tại thường trực khi không tách rời Thơ mới ra khỏi tổng thể mà nó thuộc về - mỹ học thơ Việt
2.2 Từ lý thuyết đến thực tiễn ứng dụng
Loại hình học và phương pháp loại hình trong nghiên cứu văn học ở Việt
Nam đã được ứng dụng trong một số công trình của Trần Đình Sử - Những thế
Trang 9giới nghệ thuật thơ, Nguyễn Hữu Sơn - Loại hình tác phẩm Thiền uyển tập anh, Trần Ngọc Vương - Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ, Trần Đình Sử trong tác phẩm Những thế giới nghệ thuật thơ đã thể hiện cái nhìn loại hình của mình khi phân chia thơ trữ tình thành các loại hình trữ tình cổ điển, lãng mạn, tượng trưng, cách mạng Trần Ngọc Vương nghiên cứu nhà Nho tài tử (trên tinh thần
những phân loại về kiểu nhà nho của Trần Đình Hượu) chính là biểu hiện của tư duy loại hình với nhưng tiêu chí để phân loại đối tượng,… Căn cứ vào khả năng quy tụ lực lượng, xu thế vận động, những chủ đề, đề tài phổ biến, cách thức thể
hiện,… có thể nhận thấy một số hướng phân loại loại hình cơ bản sau đây: Loại hình tác giả/ Loại hình tác phẩm/ Loại hình nhân vật/ Loại hình kết cấu/ Loại hình phong cách/ Loại hình trào lưu/ Loại hình giọng điệu/ Loại hình âm điệu/ Loại hình nhịp điệu/ Loại hình câu thơ,…
2.3 Nghiên cứu loại hình thơ
Loại hình thơ có thể được tiến hành nghiên cứu trên một hệ quy chiếu: xếp chồng những tác phẩm thơ để tìm ra những trùng hợp nhất định làm nên tính
tương đồng (Chiều dọc) Khảo sát trong không gian, thời gian với tất cả các tác
phẩm thơ đang vận động trong đời sống văn học nhằm xác định tính phổ quát
chính là thao tác theo chiều ngang Sự tương đồng ngẫu nhiên trong quan niệm
về chất thơ, trong cách thiết kế thi ảnh, trong cách thức tổ chức văn bản ngôn từ nghệ thuật, trong việc ưu tiên lựa chọn phương tiện cho sự biểu hiện,… làm nên
sự tương đồng trong tư duy nghệ thuật mà chúng tôi gọi là kiểu tư duy thơ Kiểu
tư duy Thơ mới được soi chiếu ở hai bình diện lớn: Đặc tính và Cấu trúc với các thành tố: Quan niệm về chất thơ, Cách kiến tạo thế giới nghệ thuật (cách kiến tạo thi ảnh), Các phương tiện đặc thù cấu tạo thi giới,…
Trang 10khả năng nghiên cứu loại hình văn học Mục 2.3 tập trung vào các công trình nghiên cứu trực tiếp về loại hình thơ để đúc kết những tri thức, phương pháp luận hữu ích cho việc nghiên cứu loại hình Thơ mới
CHƯƠNG 3 LOẠI HÌNH THƠ MỚI, NHÌN TỪ ĐẶC TÍNH KIỂU TƯ DUY
3.1 Tư duy thơ là gì?
Từ những phân tích trên thực tế sáng tạo, chúng tôi cho rằng, tư duy thơ là quá trình sáng tạo nhằm tạo ra loại văn bản ngôn từ giàu hình ảnh, nhạc tính,
có sức gợi cảm cao Tư duy thơ có thể diễn ra trong ý thức và vô thức, hướng tới
việc tổ chức thế giới theo ý hướng chủ quan của chủ thể sáng tạo, xây dựng thế giới nghệ thuật thơ như là sản phẩm của một quá trình “hoạt hóa”, “năng sản” đặc thù, nhận diện bằng hình thái ngôn từ gợi cảm, giàu hình ảnh, nhịp điệu và nhạc tính Tư duy thơ mang tính chủ quan, thuộc về cá thể nhưng không biệt lập với các mẫu thức tư duy/ mỹ cảm của cộng đồng, dân tộc và thời đại
Các thành tố cấu trúc nên thi phẩm như một chỉnh thể nghệ thuật là hình tượng thế giới - không thời gian nghệ thuật, con người, cái tôi trữ tình, các phương diện hình thức nghệ thuật như văn bản ngôn từ (văn bản, đoạn, khổ, câu thơ, cú pháp, các biện pháp tu từ,…), giọng điệu, nhịp điệu, âm điệu, thanh âm, nhạc tính thậm chí cả những “khoảng trắng” trong thơ Tất cả những thành tố này, trong mối quan hệ mật thiết của chúng, làm nên “chức năng thi ca” (R Jakovson), hiệu quả thi ca - đảm bảo tư cách loại hình thơ của một ‘‘diễn từ’’
3.2 Tính dân tộc và thời đại trong kiểu tư duy Thơ mới
Nói đến tính dân tộc trong Thơ mới thực chất là đi tìm những “mẫu gốc” của tinh thần dân tộc được thể hiện trong trong hình thức thơ ca, trong thi cách, thi điệu, nói lên đời sống, sự tiến triển của bản sắc dân tộc trong hình thái Thơ mới
Sự hài hòa, trọng âm, lấy tình làm bản vị hay tính linh hoạt có thể được nhận ra
trong thể lục bát của Thơ mới Lục bát của Thơ mới chứ không phải là lục bát truyền thống, không phải bình mới rượu cũ Cái mới sinh ra từ một “điệu hồn” đã không còn nguyên trạng như xưa, từ những quan niệm và thị hiếu thẩm mỹ đã có nhiều biến cải với tiền kiếp Từ sự dịch chuyển cảm hứng, thể cách trong thơ Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, đến Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử,
Trang 11Chế Lan Viên, hay sự ròng nguyên Mùa cổ điển như Quách Tấn,… người ta vẫn
nhận ra cốt cách dân tộc trong thể lục bát, trong tình yêu thương và khát khao chia sẻ, hòa nhập Truyền thống lấy tình cảm làm bản vị, duy tình ấy rõ ràng trở thành một sợi chỉ xuyên suốt diễn trình thơ ca Việt Nam Tương tự như thế, không thể phủ nhận sự ảnh hưởng của Thơ mới Việt Nam 1932 - 1945 từ thơ Pháp thế kỷ XIX Có nhiều điểm tương đồng trong tư duy, mỹ cảm của các thi sĩ Thơ mới với các nhà thơ Pháp như Ch Baudelaire, A Rimbaud, Verlaine, Mallarmé,… Nhưng chính trong sự gặp gỡ ấy, người ta vẫn nhận ra sự khác biệt thuộc về hai dân tộc, hai nền văn hóa có bản sắc không trộn lẫn Đặc tính dân tộc như một thứ “vốn” để thi sĩ “thích ứng” với ngoại lai dù đấy là Trung Hoa hay phương Tây
Câu chuyện về nền văn học mới theo hướng hiện đại hóa đầu thế kỷ XX có thể được xem là biểu hiện của một cuộc chuyển biến về hệ giá trị của cá nhân và thời đại Điểm quan trọng cốt lõi nhất trong sự dịch chuyển của hệ thống giá trị nằm ở chính quá trình chuyển biến từ con người siêu cá nhân thời trung đại sang con người cá nhân, cá thể thời hiện đại Con người cá nhân thời trung đại dường như chỉ là một “tiểu ngạch”, một yếu tố ngoại biên, phi chính thống Đôi khi nó hiện lên như là những ẩn ức được giải tỏa,… Tuy nhiên, các điển phạm luân lý, đạo đức không thể ngăn chặn hay triệt tiêu được những yếu tố phi quan phương này Con người luôn muốn vươn tới và chiếm lĩnh các giá trị ở phía trước, thỏa mãn những đòi hỏi cần thiết để duy trì sự an sinh Con người cá nhân không phải
là sản phẩm có tính “độc quyền” của văn minh phương Tây, của “tinh thần tư
bản”, nhưng sự dịch chuyển từ tính chất ngoại biên trở thành chủ lưu của thời đại lại chỉ có thể được quyết định bởi quá trình giao lưu và tích hợp ấy Đó chính
là bước ngoặt quan trọng nhất để nền văn học mới ra đời Nền văn học của những giá trị hiện tại, của con người cá nhân hiện tại, mang khát vọng được thành thật trong từng giây phút của sự hiện hữu
3.3 Thơ mới - diễn ngôn của con người cá nhân trong môi trường đô thị kiểu phương Tây
Đối với Thơ mới, đặc tính cá nhân của kiểu tư duy là vấn đề bản thể Thơ mới
là một diễn ngôn kiến tạo thực tại mới, kinh nghiệm mới của con người cận hiện đại Rõ ràng, mâu thuẫn xã hội, văn hóa, ý thức, tư duy và mỹ cảm đã lập nên
Trang 12một vách ngăn, một đứt gãy địa tầng làm cho diễn trình thơ trữ tình Việt Nam không phải là một nhất phiến nguyên diện, duy loại hình hay sự độc tôn của một diễn ngôn từ khởi thủy
Tri thức, chân lý và quyền lực là 3 nhân tố phát huy hiệu lực của diễn ngôn Chân lý không phải là sản phẩm tiên nghiệm, nó được xã hội nỗ lực tạo ra, hình thành một thứ tri thức thuộc về xã hội đó, bối cảnh đó Thơ mới mang trong nó chân lý của thời đại mới Để tạo ra chân lý dĩ nhiên song hành với nó là quá trình loại trừ những chân lý cũ, tri thức cũ Sự loại trừ trong đối thoại của hai diễn ngôn Thơ mới và Thơ cũ tại ranh giới của nó chính là hệ giá trị của con người cá nhân tư sản trong đô thị kiểu phương Tây và kẻ tài tử trong môi trường đô thị phong kiến Cái tôi loại trừ cái ta, cái cá biệt loại trừ cái phổ quát, cái đối lập loại
trừ cái đồng nhất, cái có thể là loại trừ cái hãy là,…
Kiểu tư duy Thơ mới chính là trung tâm hình thành tri thức, chân lý và quyền lực của Thơ mới - một hệ giá trị nhân văn, nhân bản phản ứng lại với hệ giá trị
cũ Như cách diễn đạt của Trần Đình Sử đó là “chiến lược phát ngôn của nhà văn” hướng tới việc kiến tạo một ý thức hệ, một quy ước khác về giá trị, tri thức
Kiểu tư duy Thơ mới được cấu trúc nên bởi các thành tố: quan niệm về chất thơ, cách kiến tạo thi giới, tạo lập thi ảnh, các chất liệu và phương tiện nổi bật để tạo thành diễn ngôn Thơ mới, Cuộc đấu tranh Mới - Cũ chính là “trường tranh
đấu” của hai kiểu tư duy, hai hệ hình mỹ cảm, trong đó Thơ cũ là hệ hình thẩm
mỹ đã không còn đủ sức để khẳng định chân lý và quyền lực của mình Kiểu tư duy hướng đến “mỹ học đồng nhất” (IU Lotman) của Thơ trung đại đã bị tan vỡ trong thế cuộc của thời cận hiện đại Con người cận hiện đại không thấy yên ổn với sự đồng nhất ấy, họ thấy trong họ, cái ái tình không chỉ là hôn nhân, mà trăm ngàn dáng điệu, cung bậc (ý Lưu Trọng Lư) Vì thế, tư duy Thơ mới đã bung ra,
từ đồng nhất đến đối lập Đối lập như một thiết chế bên trong để kiến tạo “cái khác” Cái tôi Thơ mới đối lập với tha nhân, ngoại vật để khẳng định bản ngã của mình Thơ mới là một loại hình thơ, một diễn ngôn, một huyền thoại hay là một
“ký hiệu” bởi lẽ nó biểu đạt/ biểu nghĩa trong sự vận hành, đối thoại của nó
3.4 Từ Thơ trung đại đến Thơ mới: sự dịch chuyển của những đặc trưng loại hình
Trang 13Thứ nhất: Từ Thơ trung đại đến Thơ mới đã chứng kiến quá trình dịch chuyển
từ tư duy, mỹ cảm siêu cá thể sang cá thể - một cá thể phát hiện ra chính mình trong cuộc hội ngộ với Tây phương
Thứ hai: Trong Thơ mới, cùng với sự xuất hiện của hệ giá trị cá nhân là quá
trình dịch chuyển từ lớp biểu tượng cộng đồng sang biểu tượng cá nhân
Thứ ba: Tư duy và mỹ cảm Thơ mới phản ứng lại Thơ trung đại để duy trì
quá trình dịch chuyển từ đặc tính quy ước của mỹ học đồng nhất sang tính phi quy ước của mỹ học đối lập
Thứ tư: Kiểu tư duy Thơ mới là hình thái của một tiến trình dịch chuyển từ tư
duy liên tục sang tư duy đứt đoạn biểu hiện trong vai trò của các thao tác tư duy: suy tưởng, liên tưởng và tưởng tượng
Thứ năm: Từ Thơ trung đại đến Thơ mới đánh dấu quá trình dịch chuyển của
tu từ học trong ngôn ngữ thơ trữ tình Việt Nam
3.5 Từ Thơ mới đến những hình thái thơ sau Thơ mới
Cách mạng Tháng Tám đã chấm dứt vai trò nguyên súy của Thơ mới để kiến tạo một loại hình thơ khác, một đế vương khác của thi đàn: Thơ cách mạng Có thể thấy rất rõ kiểu tư duy Thơ cách mạng thiên về phản ánh luận, nhất nguyên luận Chủ thể sáng tạo của Thơ cách mạng là nhà thơ - chiến sĩ, thơ là vũ khí chiến đấu Chất thơ của Thơ cách mạng là cảm hứng lãng mạn cách mạng, chủ thể của Thơ cách mạng là con người đoàn thể - cá nhân hòa mình để trở thành đoàn thể Thơ cách mạng rõ ràng đã khác Thơ mới ở phạm trù trung tâm đó là:
mỹ học cá nhân và mỹ học cộng đồng/ đoàn thể Tuy nhiên, có thể nhận ra trong Thơ cách mạng những dấu vết của Thơ mới: thể loại, câu thơ điệu nói, chất liệu ngôn ngữ đời thường
Cũng có thể nói tới một tiểu loại hình thơ khác trong môi trường đô thị miền Nam với những tên tuổi như: Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Thanh Tâm
Tuyền, Tô Thùy Yên, Trần Thy Nhã Ca, Tạ Tỵ, Quách Thoại, Cung Trầm Tưởng, Hoài Khánh, Nguyên Sa,… Thơ đô thị miền Nam 1954 - 1975 vẫn tồn tại các loại hình thơ đã có tiền sử vinh quang trong Thơ trung đại và Thơ mới và xuất hiện tâm thức hậu hiện đại trong thơ Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng.
Sau giải phóng (1975), đặc biệt là sau đổi mới (1986), văn học nghệ thuật nói chung và thơ nói riêng lại chứng kiến thêm một lần dịch chuyển hệ hình thẩm
mỹ Từ điểm nhìn Thơ mới, có thể nhận ra, chủ thể sáng tạo trong Thơ đương đại
Trang 14trở về nhận diện cái tôi cá nhân thời Thơ mới như một “vốn” (P Bourdieu) để thực hiện cuộc hành trình xa hơn về phía cái tôi bản thể Cái tôi bản thể không chỉ đặt mình trong tương quan với tha nhân, ngoại vật mà quan trọng hơn hết là soi mình vào các giá trị phổ quát của con người để tri nhận lí lẽ của sự hiện hữu Chủ thể sáng tạo thơ hôm nay vừa thấy mình được tự do trong môi trường toàn cầu hóa, lại vừa ám ảnh bởi muôn vàn truy bức, trập trùng những “bức tường”, những giới hạn mà nỗ lực vượt qua nó đã làm hoang mang loài người ở kỷ nguyên này Khi nhân loại kéo đổ những bức tường, khi thế giới đang phẳng ra từng ngày, con người lại thấy chẳng còn trung tâm nào, chẳng còn đỉnh cao nào
để ngưỡng vọng, tôn thờ hay ít nhất là để tự tín Một thế giới đổ vỡ, một kỷ đại thiếu vắng đức tin, một chân trời trập trùng giới hạn là tâm thức của con người đương đại Trong bộn bề, sôi nổi của sáng tác thơ ca, chúng ta nhận ra hai hướng vận động khá rõ, về bản chất là không tách rời, nhưng đã hiển lộ trong thực hành
nghệ thuật của các tác giả giai đoạn này Hướng thứ nhất: đổi mới, đào sâu, mở rộng nội dung thể tài, có thể nhận ra ở thơ Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Đoàn
Thị Lam Luyến, Phạm Thị Ngọc Liên, Dư Thị Hoàn, Xuân Quỳnh, Trương Nam
Hương, Đồng Đức Bốn, Mai Văn Phấn giai đoạn đầu,… Hướng thứ hai, cách tân ráo riết về hình thức nghệ thuật Hướng này nổi lên trong thơ Dương Tường, Lê
Đạt, Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn giai đoạn sau, kéo dài đến các nhà thơ trẻ hiện nay,… Chất thơ đương đại gói lại là kinh nghiệm bản thể trong sự tương tác đa chiều với thực tại Đồng thời, bản thể không phải là cá thể
mà là đa thể/ đa ngã Cái tôi cá thể Thơ mới khát khao biểu tỏ, khát khao chia
sẻ, còn cái tôi trữ tình trong thơ đương đại là cái tôi không được chia sẻ, ưu tư
vì cô độc Chất thơ là kinh nghiệm bản thể nên tư duy Thơ đương đại là tư duy
đa thể, đứt đoạn, phân khúc, lập thể hướng tới sự đa nguyên Nó đứt đoạn trong chính sự cô độc, bất khả sẻ chia Có thể điểm chứng bằng trường hợp
Nguyễn Quang Thiều; Mai Văn Phấn; Văn Cầm Hải; Vi Thùy Linh, Nguyễn Ngọc Tư,…
3.6 Tiểu kết