Mối quan hệ văn hoá Tày - Việt dưới góc độ thẩm mỹ qua một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản
Trang 1xã hội hiện đại, những vấn đề về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
của một cộng đồng tộc người cũng như của cả quốc gia dân tộc có vai
trò vô cùng quan trọng để tham gia đối thoại với các nền văn hoá, văn
minh trong khu vực và ở mức độ nào đó có thể xa hơn, rộng hơn Bởi
giá trị khác biệt của mỗi nền văn hoá sẽ càng được nổi bật hơn trong
quan hệ giao lưu, trao đổi, tương tác văn hóa
Do đó, theo chúng tôi, hướng so sánh văn hoá - văn học dân gian
giữa tộc người chủ thể Kinh (Việt) với các tộc người khác cần được
tiếp tục khảo cứu trên diện rộng Một sự hứa hẹn có thể sẽ là các so
sánh Việt - Chăm, Việt – Hoa, Việt – Khơme…để từ đó có thể khẳng
định rõ bản sắc văn hoá Việt từ điểm nhìn văn hoá tộc người và lực
hút của chủ thể Việt đối với toàn thể cộng đồng dân tộc trong vai trò
quy tụ các thành phần dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, như nhà dân
tộc học Phan Hữu Dật đã nói: Văn hoá Kinh (Việt) đã thực sự là tài
sản chung của các tộc người anh em trên nhiều lĩnh vực và thông qua
người Kinh, tiếng Kinh các tộc người khác có dịp tiếp thu các thành
tựu văn hoá văn minh nhân loại để từng bước tham gia vào đời sống
văn hoá quốc tế
Một lần nữa, chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm: nghiên cứu lịch
sử văn hoá của người Tày, hay của các tộc người anh em khác cũng
chính là để chúng ta hiểu rõ người Việt và nền văn hoá Việt
Mở đầu
1 lý do chọn đề tμi:
1.1 Giá trị thời sự của đề tài: Xu thế trở về cội nguồn để khẳng
định những giá trị văn hoá truyền thống là hướng đi mang tính tất yếu của thời đại Xuất phát từ đặc trưng văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng, hướng nghiên cứu mối quan hệ văn hoá tộc người trong cộng đồng Việt Nam cần được sự quan tâm đặc biệt của nhiều
ngành nghiên cứu Trong đó, mối quan hệ văn hoá Tày - Việt là mối
quan hệ đặc biệt, cần phải được bảo lưu và phát triển
1.2 Giá trị lý luận của đề tài: Truyện kể dân gian là thể loại
tiêu biểu phản ánh sâu sắc cuộc sống, xã hội cùng với truyền thống văn hoá của các tộc người và của cả dân tộc Vì thế, khai thác, giải mã truyện kể dân gian để tìm ra những giá trị văn hoá truyền thống tiềm ẩn qua nhiều lớp nghĩa sẽ giúp chúng ta trong việc tìm hiểu nghiên cứu, phát huy các giá trị văn hóa trong một đất nước đa dân tộc, đa văn hóa Nghiên cứu văn hoá - văn học dân gian của người
Tày cũng như người Việt qua sự tiếp xúc, giao thoa, tiếp biến ngôn
ngữ, dung hợp văn hoá nhân chủng theo cả hai chiều Tày - Việt và
Việt - Tày là hướng nghiên cứu có ý nghĩa nhiều mặt
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào đi theo hướng nghiên cứu này Vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài
"Mối quan hệ văn hoá Tày – Việt dưới góc độ thẩm mỹ qua một
số kiểu truyện kể dân gian cơ bản" cho luận án của mình
2 Lịch sử vấn đề:
2.1 Vấn đề nghiên cứu so sánh văn hóa dân tộc ở Việt Nam và nghiên cứu so sánh văn hoá Tày- Việt: Các vấn đề về văn hóa các
tộc người trong bối cảnh Đông Nam á, lịch sử nghiên cứu văn hoá tộc người và quan hệ văn hoá Tày – Việt đã được làm nổi rõ trong luận án này Chúng tôi đã khảo cứu các công trình nghiên cứu văn
Trang 2hóa tộc người tiêu biểu của Đặng Nghiêm Vạn, Phan Hữu Dật, Ngô
Đức Thịnh… Trong các công trình đó, hầu như mối quan hệ giữa tộc
chủ thể – tộc người Kinh (Việt) với một tộc người khác trong khối
cộng đồng theo quan hệ giao lưu, tiếp biến về văn hoá mới chỉ được
điểm thoáng qua chứ chưa được khảo sát một cách cụ thể
2.2 Nghiên cứu so sánh văn học dân gian Tày - Việt: Chúng
tôi đã nhấn mạnh đến nguyên lý lý luận chung và lịch sử nghiên cứu
truyện kể dân gian Tày, Việt dưới góc nhìn mối quan hệ văn hoá tộc
người Việc nghiên cứu văn học dân gian miền núi theo các mối quan
hệ loại hình lịch sử tộc người và lấy tộc người Tày làm đối tượng đã
được mở đầu bằng công trình của Vi Hồng vào năm 1979 Tiếp tục
hướng đi của Vi Hồng, Vũ Anh Tuấn triển khai nghiên cứu truyện kể
dân gian Tày trong Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa một số típ truyện kể
dân gian Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam (1991)… Còn lĩnh vực so
sánh văn học dân gian của người Kinh (Việt) thực sự đã có nhiều
thành tựu đi đúng quỹ đạo của truyền thống nghiên cứu so sánh trong
ngành folklore học thế giới
Qua phân tích đánh giá sơ bộ mỗi công trình, mỗi chặng đường,
luận án đã đi đến khẳng định: lịch sử vấn đề nghiên cứu so sánh văn
hóa Tày - Việt từ góc độ văn hóa tộc người, lịch sử nghiên cứu truyện
kể dân gian Tày, Việt để lại những bài học sâu sắc về nhiều phương
diện Nhưng phải nói rằng, vẫn còn thiếu những công trình chuyên
sâu đặt vấn đề so sánh truyện kể dân gian Tày, Việt từ góc nhìn văn
hóa tộc người, trong bối cảnh Đông Nam á, ứng dụng cách đọc bằng
type và motif Nhiệm vụ của luận án chúng tôi là góp phần làm đầy
mảng trống đó
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu: dùng truyện kể dân gian như một đối
tượng thẩm mỹ để hướng vào nghiên cứu những vấn đề về các quan
Qua sự khảo sát và lý giải những vấn đề đặt ra trong luận án, chúng tôi đã cố gắng nhận diện sự vận động mang dấu ấn tộc người một cách đậm nét trong những hình thức sinh hoạt đan xen phức tạp
từ ngôn ngữ đến văn hoá, thể hiện truyền thống, tâm lý và lịch sử xã hội của cả cộng đồng tộc người với những nét tương đồng lắng đọng trong hiện thực của cuộc sống và trong tâm thức của mỗi tộc người Giữa vô số sự đan cài phức tạp đó, qua nghiên cứu đã có thể khẳng
định: nguồn gốc lịch sử và đặc trưng văn hoá chung của nhóm ngôn ngữ Tày – Thái là điểm nhấn quan trọng khi nghiên cứu tộc người bản
địa – tộc người Tày trong thời gian và không gian văn hoá Việt Nam
Đặc biệt là, mối quan hệ theo xu hướng hòa hợp giữa tộc người Tày với tộc người chủ thể Kinh (Việt) mang tính tất yếu, được thẩm định
về mặt thời gian qua các truyện kể dân gian
Trên thực tế, lịch sử cũng đã khẳng định: nhiều tộc người trong khối Bách Việt xưa đều đã bị Hán hoá, nhưng tộc người Tây Âu - Âu Việt, trong đó có tộc người Tày cổ, đã gặp sức hút của Lạc Việt và sức cuốn của Đại Việt cùng liên kết hoà hợp trong suốt cả tiến trình dựng nước và giữ nước để tạo nên sức mạnh trường tồn
5 Trên bình diện chung, luận án này của chúng tôi cũng chỉ có
thể bước đầu giải quyết được một vấn đề, một góc độ, bởi văn hoá tộc người ở Việt Nam rất đa dạng Vẻ đẹp và giá trị của từng sản phẩm văn hóa tộc người có thể tạo nên những đam mê bất ngờ cho những ai thực sự muốn khám phá, muốn nhận diện cho được sự biến đổi văn hoá từ truyền thống đến hiện đại trong giao lưu hội nhập trên những bình diện mới giữa các quốc gia dân tộc hiện nay Với cách hiểu đó, chúng tôi hy vọng luận án của mình sẽ có ý nghĩa thiết thực cho nghiên cứu văn hoá và nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam theo hướng tiếp cận mở của nghiên cứu liên ngành giữa văn học dân gian – dân tộc học – sử học và ngôn ngữ học Trong điều kiện phát triển của
Trang 3sống tâm linh Tất cả đều đã được chúng tôi tổng hợp trong quá trình
khảo sát, phân tích, đối chiếu với mong muốn làm sáng tỏ
4 Văn hoá cơ tầng Việt cổ, văn hoá của người Việt cổ và Tày cổ
là nền văn hoá được xác lập trên cơ tầng văn hoá Đông Nam á cổ với
dấu ấn là sự ra đời các nhà nước đã từng được chứng minh có mối
quan hệ lịch sử, từ Văn Lang đến Âu Lạc Đặc biệt với Âu Lạc, đây là
sự biểu hiện đỉnh cao của văn hoá Việt cổ có vai trò nổi bật của mối
giao thoa Tày – Việt Bắt đầu từ mối giao thoa, từ sức mạnh của liên
minh Tày – Việt và về sau, chính sức mạnh này đã trở thành lực hút
quy tụ các tộc người anh em khác trên địa bàn “phên dậu” của Thăng
Long - Đại Việt Vì thế, sự áp đặt của văn hoá Hán đã không thể ngăn
được sự trỗi dậy của văn hoá Việt truyền thống Đối trọng với sự mưu
toan loại bỏ văn hoá Việt là sức sống bền bỉ và quật khởi của văn hoá
dân gian, là sự tồn tại lâu bền của các mối quan hệ văn hoá tộc người
từ ngàn năm, tích tụ thành sức mạnh vật chất, được bộc lộ trên hai
phương diện: đấu tranh xã hội là những cuộc khởi nghĩa; và đấu tranh
ý thức hệ là những truyền thuyết anh hùng dân tộc
Tất nhiên, khi xét quan hệ riêng Tày– Việt hay Kinh (Việt) –
Tày phải nhận thức rõ mối quan hệ văn hoá Tày – Việt cũng nằm
trong phổ hệ của mối quan hệ Việt Mường – Tày Thái, có nghĩa là
trong văn hoá của người Kinh (Việt) có yếu tố của văn hoá Mường và
trong văn hoá Tày có yếu tố của văn hoá Thái Từ những mối quan hệ
đa chiều đã sản sinh ra những biểu tượng mang đậm dấu ấn văn hoá
tộc người như biểu tượng Sơn Tinh của cả Mường và Việt, hoặc biểu
tượng Rùa của cả Tày và Thái Đặc biệt là, khối cư dân Việt Mường,
Tày Thái nói chung và khối cư dân Việt – Tày nói riêng, trải qua hàng
ngàn năm lịch sử đã phát triển theo mạch vừa tụ cư, định cư, vừa di
cư lan toả
hệ tương đồng, giao lưu, tiếp biến văn hoá tộc người Tày – Việt Trên cơ sở đó, lý giải nguyên nhân của việc xuất hiện các kiểu và các lớp trong một kiểu truyện trong môi trường tương đồng và tiếp xúc văn hoá dân gian, nhằm chỉ ra những quy luật phát triển của quá trình tiếp xúc - hội tụ trong mối quan hệ văn hoá tộc người
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: đánh giá và làm sáng tỏ cái hay cái
đẹp của những hình tượng thẩm mỹ trong truyện kể dân gian và nghiên cứu nó như một hiện tượng văn hoá trong mối quan hệ văn hoá giữa tộc người Tày với tộc người Kinh (Việt) Qua đó, chúng tôi muốn làm nổi bật mối quan hệ văn hoá Tày – Việt theo diễn trình lịch
sử, trên cơ sở khảo sát ở các cấp độ: hệ thống đề tài, cấu trúc tác phẩm, nhân vật và motif trong ba kiểu truyện cơ bản sau:
*Kiểu truyện về người anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ *Kiểu truyện về người anh hùng sáng tạo văn hoá
*Kiểu truyện về người anh hùng chiến trận chống giặc ngoại xâm
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu: truyện kể dân gian Tày, Việt với sự
lựa chọn những kiểu truyện cơ bản, đồng thời cũng có nghĩa là những kiểu truyện tiêu biểu
4.2 Phạm vi nghiên cứu: tập trung vào mối quan hệ văn hoá
Tày - Việt qua một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản, do vậy sẽ không thể bao quát được tất cả mọi thể loại của văn học dân gian Tày
và Việt Hầu hết các kiểu truyện được sử dụng làm đối tượng khảo sát
đều nằm trong thể loại thần thoại, truyền thuyết hoặc thần thoại đã chuyển hoá thành truyền thuyết Chúng tôi coi truyền thuyết Tày, Việt là trung tâm và đặt truyền thuyết trên trục liên kết với hai chiều tiếp nối thần thoại, đón nhận cổ tích theo hướng dân tộc hoá, lịch sử hoá và anh hùng hoá
Trang 45 Nguồn tư liệu khảo sát: là 378 truyện của người Kinh
(Việt), hơn 200 truyện của người Tày và các công trình nghiên cứu
khác có liên quan đến đề tài luận án
6 Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi áp dụng những
phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp so sánh loại hình - lịch sử
theo các mối quan hệ văn hóa tộc người giữa hai góc độ ngữ văn - dân
tộc học; phương pháp thống kê, phân loại, phương pháp phân tích
logic và phân tích lịch sử, phương pháp tổng hợp liên ngành
7 những đóng góp mới của luận án: Luận án có những
đóng góp mới trên các phương diện về sưu tầm tư liệu, về nội dung và
hàm lượng khoa học, cũng như phương pháp Cụ thể là: với luận án
này, lần đầu tiên đã có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về mối
quan hệ văn hoá Tày – Việt dưới góc độ thẩm mỹ qua khảo sát, so
sánh một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản Luận án có ý nghĩa
khẳng định mặt mạnh của hướng nghiên cứu liên ngành và đối chiếu
so sánh, mới cả về nội dung học thuật và phương pháp, đóng góp cho
sự đổi mới việc giảng dạy văn học dân gian Việt Nam ở cấp đại học
và trên đại học Trong công việc giảng dạy Tiếng Việt và văn hoá
Việt Nam cho người nước ngoài, các kết quả nghiên cứu của luận án
sẽ có tác dụng giúp sinh viên nước ngoài hiểu rõ hơn bản chất văn
hoá Việt Nam trong quá trình hội nhập
8 Kết cấu: Luận án gồm 200 trang chính văn Ngoài phần Mở
đầu và Kết luận, luận án được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu
quan hệ văn hóa Tày - Việt qua truyện kể dân gian.(33 trang)
Chương 2: Mối quan hệ văn hoá Tày – Việt qua khảo sát so sánh
kiểu truyện người anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ.(43
trang)
Tính quy luật phổ biến trong quá trình sáng tạo văn hoá Tày – Việt qua cách phân tích trên chính là: mọi sự lựa chọn, thể hiện mỗi hình tượng hay sự lặp lại của các motif cũng như sự lý giải các sự kiện, tình huống, biến cố trong truyện kể dân gian Tày, Việt đều được chế định bởi chức năng tộc người của văn hoá và là kết quả mối quan
hệ văn hóa tộc người theo chiều hướng từ đồng hình đến giao lưu và ngày càng có sự tiếp biến sâu sắc
3 Mối quan hệ văn hoá Tày – Việt đã được xác lập ngay từ sự
hội tụ ban đầu của ngôn ngữ và văn hoá thời sơ sử Để bảo tồn văn hoá của mỗi tộc người, nền văn hoá dân gian, chủ yếu dùng phương thức truyền miệng thông qua nghệ thuật ngữ văn dân gian, (khác với nền văn hoá được bảo lưu qua chữ viết của Trung Hoa và khác cả với nền văn hoá kiến trúc đền đài của ấn Độ), các nghệ sĩ dân gian Tày
và Việt đã nhanh chóng thức nhận về văn hoá, thức nhận về thẩm mỹ dân gian, để từ đó sáng tạo những câu chuyện mang giá trị văn hoá bằng lời kể, bằng diễn xướng…Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi lại đi theo chiều ngược lại: giải mã thẩm mỹ qua giải mã ngôn ngữ, và giải mã ngôn ngữ qua giải mã văn hoá Tất nhiên, ngôn ngữ được nhận diện ở đây phải được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa hẹp là một từ; còn nghĩa rộng là biểu tượng, là motif, là cấu trúc ngôn ngữ, cấu trúc tác phẩm Chúng tôi coi một văn bản truyện kể vừa là một cấu trúc ngôn ngữ vừa là một cấu trúc nghệ thuật có tính lịch sử Kết quả của các thao tác khoa học đó đã cho thấy rõ một quy luật: sự biến đổi lịch
sử văn hoá tộc người đã phản ánh vào sự biến đổi của thể loại và nhóm thể loại Đó chính là nhân tố chính quyết định sự chuyển hoá của các chiều hiện thực có tính lịch sử – thẩm mỹ trong văn học dân gian, từ hiện thực của thế giới ngoại tại không ngừng vận động đến hiện thực được hình dung tưởng tượng và hiện thực hóa trong đời
Trang 5cấu tạo cốt truyện và trong việc tái tạo những motif đặc trưng của
kiểu truyện Nhiều chứng cứ về sự giao lưu văn hoá giữa hai tộc người
như tín ngưỡng thờ đá, thờ rùa, tục mặc áo lông chim, tục đãi dâu
không đãi rể của người Tày đã được lặp lại trong nhiều truyện kể
của người Kinh
2.3 Giải mã mối quan hệ văn hoá Tày – Việt qua khảo sát,
so sánh kiểu truyện người anh hùng chiến trận chống giặc ngoại xâm,
chúng tôi đã nhấn mạnh sự vận động mang tính quy luật tạo thành
kiểu truyện phù hợp với tiến trình lịch sử hoà hợp dân tộc để cùng
chống xâm lăng của các tộc người trên đất nước Việt Nam nói chung
và của hai tộc người Tày, Kinh (Việt) nói riêng Có thể nói cả người
Tày và người Việt trong sự hòa đồng của mối giao hoà tương tác đã
cùng sáng tạo nên những hình tượng nhân vật chiến trận vừa mang
giá trị văn hoá tộc người, vừa mang giá trị văn hoá dân tộc, vừa đậm
chất thần thoại với ý chí đánh giặc của người anh hùng, vừa ngời chất
lịch sử thẩm mỹ của truyền thuyết trong quá trình lịch sử hoá nhân
vật huyền thoại và huyền thoại hoá các nhân vật lịch sử Theo chúng
tôi, mức độ tổng hợp và khái quát giá trị văn hoá tộc người của nhiều
thời đại đã được nhân lên trong sự tương tác, trao truyền các motif,
các biểu tượng văn hoá của kiểu truyện về nhân vật anh hùng chiến
trận của cả hai tộc người Trái tim và khối óc của cả cộng đồng dân
tộc đã tạo nên sức mạnh, vẻ đẹp và chiều sâu cho mỗi hình tượng
nhân vật của kiểu truyện Tinh thần chống giặc ngoại xâm của cả hai
tộc người cũng như của cả dân tộc Việt Nam đã được chuyển giao
qua nhiều thế hệ trong việc lưu truyền lan toả các mẫu kể về người
anh hùng chiến trận trên cơ sở của một ý thức chung là lòng yêu
nước, tự hào dân tộc, hoà hợp đoàn kết để cùng chống kẻ thù chung
Đó cũng chính là chức năng giáo dục của truyền thuyết được tiếp
nhận dưới góc độ văn hoá thẩm mỹ
Chương 3: Mối quan hệ văn hoá Tày – Việt qua khảo sát so sánh
kiểu truyện người anh hùng văn hoá.(56 trang)
Chương 4: Mối quan hệ văn hoá Tày–Việt qua khảo sát so sánh kiểu
truyện người anh hùng chiến trận chống giặc ngoại xâm.(41 trang)
Chương 1 Tổng quan Cơ sở lý luận vμ thực tiễn của việc nghiên cứuquan hệ văn hóa tμy – việt qua
truyện kể dân gian
Việc nghiên cứu quan hệ văn hóa Tày - Việt qua truyện kể dân gian thực chất là nghiên cứu so sánh văn hóa của hai tộc người trên cứ liệu truyện kể như là một loại hình tiêu biểu, đặc biệt của văn hóa dân gian Do đó, có một số vấn đề lý luận và thực tiễn cần được giải quyết trước khi tiến hành việc nghiên cứu so sánh này Cụ thể đó là:
1.1 Tổng quan về lý thuyết văn hoá tộc người:
1.1.1 Tộc người, văn hoá tộc người và văn hoá của tộc người:
Sau khi điểm qua một vài định nghĩa của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đã đưa ra định nghĩa của mình về các khái niệm trên như
sau: Tộc người là một chủ thể mang tính cộng đồng, sáng tạo nên
ngôn ngữ và văn hóa mang đặc trưng của tộc người đó với ý thức tự
giác tộc người Văn hoá tộc người được hiểu theo nghĩa rộng nhất là
tập hợp những phương thức hoạt động riêng biệt với những kết quả cụ thể của một cá nhân cũng như của cả một cộng đồng tộc người Nói
một cách đơn giản nhất văn hoá tộc người là những cái ban đầu, cái gốc, còn văn hoá của tộc người là văn hoá thường được làm giàu thêm bởi sự tiếp xúc, giao lưu
1.1.2 Chức năng tộc người của văn hoá: Căn cứ vào những
khái niệm cơ bản về văn hoá tộc người như đã phân tích ở phần trên,
Trang 6chúng tôi quan niệm chức năng tộc người của văn hoá có thể khái
quát lại trong sáu từ, đó là bảo tồn, chọn lọc và điều tiết các giá trị
văn hoá tộc người
Chúng tôi cho rằng, chức năng tộc người của văn hoá chính là
điểm nhìn, là trường nhìn, là sự chọn lọc, là cách thể hiện của các tác
giả dân gian, của người sáng tạo từ chính lập trường của họ Điểm
nhìn là không gian, trường nhìn là sự bao quát cả thời gian, không
gian và sự lựa chọn theo tính chủ quan trong việc biểu hiện quan
niệm về con người, về cuộc sống Sự lựa chọn đó làm cho văn học dân
gian trở thành người bạn đồng hành khăng khít và đặc thù của lịch
sử (chữ dùng của Marxim Gorki) Chính sự tác động (chọn lọc, bảo
tồn, điều tiết) của chức năng tộc người của văn hoá vào văn hoá thẩm
mỹ (folklore – văn hoá - văn học dân gian theo quan niệm của Đinh
Gia Khánh) đã quyết định các giá trị đặc thù của văn học dân gian
1.2 Phác hoạ quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá Tày – Việt
trong lịch sử:
1.2.1 Tiếp biến văn hoá tộc người, tiếp biến văn hoá Tày –
Việt: Thuật ngữ “acculturation” được dịch ở Việt Nam là “hỗn dung
văn hoá”, “đan xen văn hoá”, “thâu hoá văn hoá”, “tiếp biến văn hoá”
hoặc “tương tác văn hoá” Nếu đặt văn hóa các tộc người Việt Nam
trong bối cảnh Đông Nam á, chúng ta có thể hình dung văn hóa Việt
Nam một cách sống động, nhận thấy rõ các tộc người có văn hóa
mang bản sắc riêng đồng thời lại giao lưu, tiếp biến, làm giàu cho văn
hóa của cả cộng đồng dân tộc mà người Việt là chủ thể Xét trên bình
diện văn hoá tộc người thì văn hoá của người Việt, người Tày cũng
như văn hoá của các tộc người anh em khác đã trở thành những thành
phần hữu cơ của nền văn hoá Việt Nam qua sự liên kết và điều tiết
duy nguyên thuỷ mang giá trị cội nguồn Luận án đã chỉ rõ: hệ thống truyện kể về Tài Ngào, Pựt Luông của người Tày trong tổng thể hỗn hợp các yếu tố văn hoá tộc người và ẩn chứa tiềm tàng trong lòng thần thoại vẫn giữ tính nguyên sơ chưa mang tính chuyên môn hoá như trong thần thoại của người Kinh (Việt) Các yếu tố Hán hóa cũng
đã được tiếp nhận và chuyển hoá tùy thuộc vào cách lựa chọn, điều tiết riêng theo chức năng tộc người, tác động vào diện mạo và chiều sâu văn hoá thẩm mỹ của từng tộc người ở giai đoạn này, thuộc tính
đồng hình trong quan hệ văn hoá tộc người Tày – Việt vẫn là nét trội
Từ điểm nhìn mối quan hệ văn hoá tộc người, để phân tích đối sánh
và lý giải, chúng tôi đã đi đến kết luận: kiểu truyện về người anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ trong truyện kể dân gian Tày, Việt đã chuyển tải một quá trình tích hợp bền bỉ các giá trị văn hoá tộc người riêng trên cơ tầng một nền văn hoá chung – văn hóa nông nghiệp lúa nước gắn với việc sùng bái tự nhiên, coi trọng tín ngưỡng phồn thực và với tâm thức cội nguồn sinh ra từ một bào thai, cái trứng, quả bầu
2.2 Giải mã mối quan hệ văn hoá Tày – Việt qua khảo sát, so sánh kiểu truyện người anh hùng văn hoá chúng tôi đã khẳng định sự
tiếp nối lịch sử của việc tái hiện nhân vật người anh hùng văn hoá với
đánh giá: kiểu truyện về nhân vật anh hùng văn hoá trong truyện kể dân gian Tày, Việt từ thần thoại đến truyền thuyết là một sự tiếp nối
có cơ sở lịch sử, đã góp phần tạo nên nhiều cứ liệu làm sáng tỏ mối quan hệ văn hoá tộc người Đó là quá trình phát triển bắt nguồn từ sự tương đồng loại hình của kiểu truyện và kiểu nhân vật người anh hùng văn hóa tạo nên bước khởi đầu quan trọng trên con đường giao lưu, tương tác văn hoá giữa hai tộc người Phân tích bốn kiểu nhân vật anh hùng văn hoá - hình tượng nổi bật trong truyện kể dân gian Tày, Việt,
chúng tôi đã tìm ra được sự tương đồng và khác biệt trong hình thức
Trang 7Nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ văn hoá Tày – Việt được phản
ánh, tích hợp, lưu giữ trong kho tàng truyện kể dân gian, luận án của
chúng tôi đã xác định con đường tiếp cận giữa hai góc độ ngữ văn –
dân tộc học để khai thác một đối tượng vừa mang đặc trưng văn học
vừa mang đặc trưng văn hoá với tính nguyên hợp là truyện kể dân
gian Tày, Việt Thông qua việc phân tích các hình tượng nhân vật và
bóc tách giải mã các motif, các biểu tượng văn hoá trên cơ sở nhận
diện sự vận động và biến đổi của cốt truyện, sự diễn hoá của các
motif qua không gian và thời gian mang đặc trưng của thể loại, được
quy định bởi chức năng tộc người của văn hoá, luận án đã làm nổi rõ
mối quan hệ văn hoá Tày – Việt trong tiến trình lịch sử dựng nước và
giữ nước của cả dân tộc
2 Luận án đã tập trung khảo sát, so sánh ba kiểu truyện cơ bản
trong kho tàng truyện kể dân gian Tày, Việt gắn liền với ba giai đoạn
quan trọng của tiến trình phát triển mối quan hệ văn hoá giữa hai tộc
người Đó là giai đoạn khởi đầu của kỷ nguyên huyền thoại, tiếp theo
sau là giai đoạn của quá trình dựng nước, sáng tạo văn hoá, rồi tới quá
trình giữ nước, chống giặc ngoại xâm qua Văn Lang - Âu Lạc đến
Đại Việt Vai trò bản địa của tộc người Tày dần dần bị sức hút của vai
trò bản địa mang tính chủ thể của người Kinh (Việt) chi phối ở ngay
tại vùng châu thổ Bắc Bộ
Mối quan hệ văn hoá Tày – Việt dưới góc độ thẩm mỹ đã được
chúng tôi triển khai, phân tích trong luận án trên ba phương diện giải
mã văn hoá như sau:
2.1 Giải mã mối quan hệ văn hoá Tày- Việt qua khảo sát so
sánh kiểu truyện về người anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ
trên hai hướng tiếp cận là tiếp cận hình thức cấu tạo cốt truyện và tiếp
cận motif để phân tích sự tương đồng dị biệt, ảnh hưởng lẫn nhau giữa
hai tộc người ngay từ trong những thiên thần thoại còn đậm chất tư
của chức năng tộc người của văn hoá, thông qua những tương đồng, tiến tới giao lưu, tiếp biến văn hoá giữa các tộc người
1.2.2 Những phác hoạ về quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá Tày - Việt trong lịch sử: Do cùng ở trong một khu vực lịch sử dân
tộc, lại sống gần kề nhau nên các cư dân của hai tộc Việt ở phía Bắc Việt Nam là Âu Việt (Tây Âu) và Lạc Việt đã có mối giao hoà từ lâu
đời Mối hoà hợp, giao hoà đầu tiên giữa các cư dân Tày cổ và Việt cổ
đã được phản ánh khá rõ trong truyền thuyết mang đầy tính huyền
thoại về thời Hồng Bàng Thị qua truyện Lạc Long Quân - Âu Cơ
Đỉnh cao của mối giao hoà Tày – Việt được đánh dấu bằng sự ra đời nhà nước Văn Lang Đây chính là cơ sở của sự hình thành nhà nước
Âu Lạc Nhà nước Âu Lạc đã trở thành biểu tượng minh chứng cho sự hoà nhập hai khối Tây Âu và Lạc Việt
Trong lịch sử của mối giao lưu Tày- Việt, chúng tôi nhận thấy
có hai thời điểm có tính xác định thể hiện rõ nhất sự tiếp biến văn hoá của hai tộc người Đó là thời hình thành nhà nước Âu Lạc với vai trò thủ lĩnh của Thục Phán An Dương Vương Sau đó, là thời kỳ liên minh toàn diện ngót một thế kỷ của vương triều nhà Mạc để tồn tại ở Cao Bằng Qua hai thời điểm đó, những dấu ấn cụ thể của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa của hai tộc người đã lưu lại trong ngôn ngữ (đặc biệt là sự hoàn thiện chữ Nôm Tày), trong các motif của truyện kể dân gian Tày, Việt Quan hệ liên minh Tày – Kinh (Việt) trong suốt chiều dài lịch sử từ thời dựng nước đến các thế kỷ sau này của thời kỳ giữ nước, phát huy sức mạnh Đại Việt trong các cuộc kháng chiến từ khởi nghĩa Hai Bà Trưng, chống Tống, đánh Nguyên, kháng Minh, đuổi Thanh đến hai cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc đã góp phần tạo nên sức mạnh của một cộng đồng dân tộc yêu nước
Trang 8Từ lý luận và thực tiễn về tiếp biến văn hóa trên, giới nghiên cứu
từ lâu đã xác định tầm quan trọng của việc nghiên cứu so sánh văn
hóa với yêu cầu hiểu biết đúng đắn nền văn hóa của một tộc người
trong tổng thể nền văn hoá dân tộc mang nghĩa quốc gia
1.3.Vai trò của truyện kể dân gian trong văn hóa tộc người:
1.3.1 Vai trò của văn học dân gian trong văn hóa tộc người:
Văn học dân gian là một thành phần của cấu trúc văn hóa Việt Nam
thống nhất Văn học dân gian do đó cũng thực hiện chức năng văn
hóa tộc người với những đặc trưng riêng của nó
1.3.2 Truyện kể dân gian và văn hóa tộc người: Do ưu thế loại
hình, truyện kể dân gian có khả năng phản ánh khá toàn diện mọi mặt
cuộc sống của con người trong các ứng xử khác nhau như ứng xử với
môi trường tự nhiên và xã hội, nhằm hướng tới một cuộc sống tốt đẹp
hơn cho dù mới chỉ là trong ước vọng Truyện kể dân gian, cũng như
mọi hiện tượng văn học dân gian khác vừa là hiện tượng sinh hoạt
mang chứa nội dung văn hoá, vừa là hiện tượng thẩm mỹ, phản ánh
hiện thực bằng các hình tượng văn học Nghiên cứu truyện kể dân
gian theo cách tiếp cận giải mã văn hoá dân gian từ ngọn nguồn văn
hoá theo các mối quan hệ loại hình văn hoá tộc người có thể sẽ mang
lại những giá trị mới
1.4.Tiếp cận truyện kể dân gian Tày, Việt theo tinh thần folklore
học:
1.4.1 Phân tích kiểu truyện và motif: Một trong những phương
pháp nghiên cứu đặc thù đối với truyện kể dân gian là phương pháp
phân tích kiểu truyện và motif Sau khi phân tích một số quan niệm
của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi đã đưa ra cách
định nghĩa của mình như sau: Kiểu truyện hay type là tập hợp những
truyện kể về cùng một đề tài, có cùng một kiểu cấu trúc mà trong đó
khổng lồ thể hiện ý chí đánh giặc quật cường vừa mang chất lịch sử thẩm mỹ của truyền thuyết anh hùng với nguyên mẫu là các nhân vật lịch sử được huyền thoại hoá hay các nhân vật thần thoại được lịch sử hoá Sự đan xen, hoà quyện của các motif thần thoại, motif truyền
thuyết và motif cổ tích đã làm cho kiểu truyện có sức hấp dẫn kỳ lạ
Kết luận
1 Trong tiến trình lịch sử tư tưởng, văn hoá Việt Nam, mỗi tộc
người không ngừng củng cố, bồi đắp mối quan hệ tộc người qua quá trình quy tụ, tích hợp những giá trị văn hoá truyền thống và tiếp nhận
có chọn lọc những giá trị văn hoá mới của các tộc người khác Quá trình cố kết nội bộ trong mỗi cộng đồng tộc người có cùng nguồn gốc lịch sử, có quan hệ ngôn ngữ mật thiết, có phương thức tập quán làm
ăn và phong tục, tín ngưỡng giống nhau, tồn tại song song với quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá Mối quan hệ văn hoá giữa các tộc người là kết quả tổng hợp của các mối quan hệ khác như quan hệ ngôn ngữ, quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội Trong
đó, mối quan hệ văn hoá giữ vai trò hạt nhân
Về mối quan hệ văn hoá Tày – Việt, có thể nói đây là mối quan
hệ nguồn gốc, bền chặt, có chiều sâu, lâu đời về mặt thời gian và gắn với nhau về số phận lịch sử Cả hai tộc người đều có chung một mô hình ngôn ngữ theo quan hệ cội nguồn và quan hệ tiếp xúc giữa nhóm ngôn ngữ Việt - Mường và Tày - Thái, cùng có chung một mô hình văn hoá lúa nước Các cứ liệu lịch sử, ngôn ngữ học, dân tộc học, khảo cổ học, văn hoá - văn học dân gian đã chứng minh rằng trong văn hoá Kinh (Việt) đậm chất Tày và trong văn hoá Tày cơ cấu cổ truyền đã bị phá vỡ để tiếp nhận văn hoá Kinh (Việt) trong sự giao lưu Tày – Việt và Việt – Tày mang tính tất yếu, tự nguyện, sâu sắc
Trang 9hoá người anh hùng Lớp truyện thứ hai thường tập trung thể hiện vẻ
đẹp hào hùng và tài năng kỳ lạ của người anh hùng trong chiến trận
Lớp truyện thứ ba gắn sự hoá thân của nhân vật vào việc giải thích địa
danh, hay giải thích một niềm tin tín ngưỡng với lòng biết ơn, ngưỡng
mộ người anh hùng Truyện kể Thánh Dóng là mẫu kể tiêu biểu của
cấu trúc dạng thứ hai đã được tạo thành qua một quá trình thu hút
nhào nặn, chắt lọc các thần thoại, truyền thuyết của nhiều địa
phương được dân tộc hóa
Dạng 3: Cấu trúc hệ thống của chuỗi truyện kể về Nông Trí Cao
và Dương Tự Minh trong đối sánh với Thánh Dóng Theo chúng tôi,
sự tái hiện hình tượng ba nhân vật điển hình tiêu biểu trong kiểu
truyện người anh hùng chiến trận Tày, Việt đã được dựa theo một
kiểu kết cấu chung của truyền thuyết anh hùng
4.3.Những motif đặc trưng của kiểu truyện: là motif bà mẹ và sự
thụ thai sinh nở thần kỳ, motif đánh giặc, motif hoá thân thần kỳ
Trong đó, motif về bà mẹ và sự sinh nở thần kỳ đã khơi mở một loạt
các motif kế tiếp để khẳng định tính chất kỳ vĩ trong mỗi hình tượng
nhân vật anh hùng Còn sự lặp lại motif đánh giặc trên lưng ngựa
chiến trong nhiều mẫu kể thần thoại, truyền thuyết và cổ tích đã
khẳng định hiện thực lịch sử chống giặc ngoại xâm giữ một vai trò
quan trọng tác động tích cực tới sự sáng tạo dân gian Sự hoà đồng
trong tâm lý tất dẫn đến sự hoà đồng trong việc lựa chọn, thể hiện các
motif để cấu tạo nên hình tượng người anh hùng chống giặc ngoại
xâm ở cả truyện kể Tày và Việt Nếu motif đánh giặc góp phần khắc
họa ý chí đánh giặc của người anh hùng, làm cho sự nghiệp của người
anh hùng toả sáng thì motif hoá thân sau khi đánh giặc lại làm cho
hình tượng nhân vật anh hùng chiến trận trở nên bất tử
Tiểu kết chương 4: Hình tượng người anh hùng chiến trận trong
truyện kể dân gian Tày, Việt vừa mang đậm chất thần thoại kỳ vĩ
xuất phát từ một hạt nhân cốt lõi ban đầu Cốt truyện trong truyện kể
dân gian là một hệ thống những sự kiện, giữ vị trí là một bộ phận
quan trọng nhất của một truyện kể Motif là yếu tố nhỏ nhất của
truyện kể dân gian, có khả năng lưu truyền một cách bền vững và
đồng thời có giá trị tạo nghĩa, gây ấn tượng mạnh
1.4.2 Truyện kể dân gian Tày, Việt từ điểm nhìn mối quan hệ văn hoá tộc người: có hai hình thức tiếp cận: một là, tiếp cận theo
motif để giải mã các biểu tượng, các cách thể hiện, theo sự điều tiết
của các chức năng tộc người của văn hoá; hai là, tiếp cận hình thức
cấu tạo cốt truyện với các vấn đề liên quan đến đề tài, chủ đề nhân vật
chính dưới sự chi phối của chức năng tộc người của văn hoá
Tiểu kết chương 1: Những vấn đề tổng quan về lý thuyết văn
hoá tộc người và mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn hoá tộc người nói chung, quan hệ văn hóa Tày – Việt nói riêng trên bình diện văn hoá quốc gia dân tộc thống nhất đã được khảo cứu ở những khía cạnh có liên quan trực tiếp đến đề tài của luận án Đồng thời, chúng tôi cho rằng trong chiều sâu tâm linh và trong tâm thức dân gian của người Tày cổ và Việt cổ thì sự lựa chọn lịch sử đã tạo nên sự gắn bó bền chặt Tày – Việt Người Tày và người Việt cùng hòa hợp một cách
tự nhiên, tự nguyện trong việc tạo dựng đất nước
Chương 2 Mối quan hệ văn hoá Tμy- Việt qua khảo sát
so sánh kiểu truyện người anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ
Chương này nhằm làm nổi rõ mối quan hệ văn hoá Tày – Việt
được tái hiện trong sự tương đồng loại hình ngay từ những thiên thần
Trang 10thoại mang tính khởi nguyên của cả hai tộc người qua hai hướng tiếp
cận sau:
2.1 Tiếp cận hình thức cấu tạo cốt truyện: Chúng tôi khảo sát kiểu
truyện này trong hệ đề tài về nguồn gốc thế giới, sức mạnh sáng tạo
vũ trụ của các thần trong thần thoại của người Kinh và hệ thống
truyện kể về Tài Ngào và Pựt Luông của người Tày
2.1.1 Các dạng kết cấu truyện kể của người Việt: Nhìn chung
các truyện kể của người Việt về người anh hùng kiến tạo thế giới,
kiến tạo vũ trụ có kết cấu phần lớn là ngắn gọn, cốt truyện đơn giản
Các kết cấu thường gặp như: kết cấu dạng truyện một thần - một nhân
vật - một tuyến hành động; kết cấu dạng truyện: hai nhân vật - thần
(trở lên) - nhiều hành động – nhiều sự kiện; kết cấu dạng truyện có sự
kết hợp thần thoại - truyền thuyết, nhân vật nửa nhiên thần, nửa nhân
thần trong các truyện kể về Lạc Long Quân - Âu Cơ
2.1.2 Các dạng kết cấu truyện kể của người Tày: Do nhiệm vụ
đặt ra là dùng truyện kể dân gian Tày và Việt để soi sáng những đặc
điểm so sánh văn hoá tộc người nên ở kiểu truyện đầu tiên trong
truyện kể của người Tày, chúng tôi lựa chọn khảo sát hệ thống truyện
kể về Tài Ngào và Pựt Luông, những truyện có liên quan trực tiếp đến
công cuộc kiến tạo, khai sáng vũ trụ Trong đó có các dạng kết cấu cụ
thể: kết cấu đơn giản nhất là những truyện kể về nhân vật Tài Ngào;
kết cấu phức tạp hơn nằm trong dạng truyện kể về Pựt Luông - vị nữ
thần kiến tạo khai sáng và Pựt Luông – Bụt – nhân vật nửa truyền
thuyết, nửa cổ tích Qua đối sánh với truyện kể của người Kinh,
chúng tôi nhận thấy có sự tương đồng trong quan hệ văn hóa giữa hai
tộc người Tày – Việt được lưu giữ lại trong những thiên truyện đó
2.2 Tiếp cận theo motif: Để làm rõ hơn hình tượng nhân vật
trong truyện kể dân gian thì phải dựa vào hệ thống motif và đặt số
phận của nhân vật vào trong thời gian sự kiện và không gian sắp đặt
sánh những truyện kể tiêu biểu về các nhân vật văn hoá điển hình nhất của hai tộc người Tày, Việt như Lạc Long Quân - Âu Cơ, Pú Lương Quân - Slao Cải và Thục Phán - An Dương Vương, chúng tôi
đã chỉ ra những tương đồng và dị biệt trên cơ sở lý giải bằng các cứ liệu lịch sử, văn hóa, xã hội của hai tộc người
Chương 4 Mối quan hệ văn hoá Tμy – Việt qua khảo sát,
so sánh kiểu truyện người anh hùng chiến trận
chống giặc ngoại xâm 4.1.Sự vận động mang tính quy luật, tạo thành kiểu truyện: Sự
tương đồng của chủ đề chống xâm lăng trong nhiều truyện kể dân gian các dân tộc cũng như sự tạo thành kiểu truyện về nhân vật anh hùng chiến trận là sản phẩm tất yếu của thời đại trong giai đoạn đã hình thành quốc gia Điều làm nên sự khác biệt trong cốt truyện của người Tày và người Việt chính là chức năng tộc người của văn hoá, là
sự lựa chọn, thể hiện bảo tồn bản sắc Tày, bản sắc Việt để cùng tạo nên bản sắc của cả dân tộc trong cuộc chiến chống xâm lăng, giữ nước thời Văn Lang - Âu Lạc
4.2 Kết cấu của kiểu truyện người anh hùng chiến trận trong truyện kể dân gian Tày, Việt: Chúng tôi phân loại kết cấu của kiểu truyện người anh hùng chiến trận thành ba dạng sau:
Dạng 1: dạng đơn giản Đó là các truyện Miếu nữ tướng, Rồng
đá quan làng, Thác bản chàng…Trong hệ thống truyền thuyết kể về nhân vật Dương Tự Minh sau này của người Tày cũng có dạng này ở các mẫu kể: Tương truyền về Giếng Dội, Tại sao gọi là sông Giang Tiên…
Dạng 2: dạng phát triển đầy đủ, thường có cấu trúc từ hai lớp trở
lên Lớp truyện thứ nhất thường chứa đựng motif cốt lõi về sự thần