MỤC LỤC MỤC LỤC 1 DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT 2 DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ 3 CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NHNO&PTNT CHI NHÁNH TRUNG YÊN4 1 1 Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống NHNo&PTNT Việt N[.]
Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam
Năm 1988: Ngân hàng Phát triển Nông thôn Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Ngày 30/07/1994 tại Quyết định số 160/QĐ-NHNN, Thống đốc NHNN chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam cụ thể hóa bằng văn bản số 927/TCCB/Ngân hàng Nông nghiệp ngày 16/08/1994 xác định: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham mưu và Cấp trực tiếp kinh doanh Đây thực sự là bước ngoặt về tổ chức bộ máy của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam và cũng là nền tảng cho hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam sau này.
Ngày 07/03/1994 tại Quyết định số 90/TT của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam hoạt động theo mô hình Tổng công ty Nhà nước với cơ cấu tổ chức bao gồm: Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, bộ máy giúp việc bao gồm bộ máy kiểm soát nội bộ, các đơn vị thành viên bao gồm cac đơn vị hạch toán phụ thuộc, hạch toán độc lập, đơn vị sự nghiệp, phân biệt rõ chức năng quản lý va chức năng điều hành, Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm Tổng Giám đốc.
Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền, Thống đốc NHNN Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành NHNo&PTNT Việt Nam NHNo&PTNT Việt Nam hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các TCTD và chịu sự quản lý trực tiếp của NHNN Việt Nam
Năm 2000, cùng với việc mở rộng kinh doanh trên thị trường trong nước,NHNo&PTNT Việt Nam tích cực mở rộng quan hệ quốc tế va kinh doanh đối ngoại,nhận được sự tài trợ của các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế như WB, ADB, IFAD, khai có hiệu quả 50 dự án nước ngoài với tổng số vốn trên 1.300 triệu USD chủ yếu đầu tư vào khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Năm 2001 là năm đần tiên NHNo&PTNT Việt Nam triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu Bên cạnh mở rộng kinh doanh trên thị trường trong nước, năm 2002, NHNo&PTNT Việt Nam tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế Đến cuối năm
2002, NHNo&PTNT Việt Nam là thành viên của APRACA, CICA va ABA, trong đó Tổng Giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam là thành viên chính thức Ban điều hành của APRACA và CICA.
Tính đến năm 2004, sau 4 năm triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu giai đoạn 2001- 2010, NHNo&PTNT Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tình hình tài chính đã được lành mạnh hơn qua việc cơ cấu lại nợ và tăng vốn điều lệ, xử lý trên 90% nợ tồn đọng Mô hình tổ chức từng bước được hoàn thiện nhằm tăng cường năng lực quản trị điều hành Bộ máy lãnh đạo từ Trung ương đến chi nhánh được củng cố, hoàn thiện, quyền tự chủ trong kinh doanh được mở rộng hơn. Đến cuối năm 2005, vốn tự có của NHNo&PTNT Việt Nam đạt 7.720 tỷ VNĐ, tổng tài sản có trên 190 ngàn tỷ, hơn 2000 chi nhánh trên toàn quốc và 29.492 cán bộ nhân viên (chiếm 40% tổng số CBCNV toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam), ứng dụng công nghệ hiện đại, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hoàn hảo.
Từ năm 2006 bằng những giải pháp mang tính đột phá và cách làm mới NHNo&PTNT Việt Nam thực sự khởi sắc Đến cuối năm 2007, tổng tài sản đạt 325.802 tỷ đồng tương đương với 20 tỷ USD gấp gần 220 lần so với ngày đầu thành lập Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 242.102 tỷ đồng trong đó cho vay nông nghiệp nông thôn chiếm trên 70% với trên 10 triệu hộ gia đình, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 36% với gần 3 vạn doanh nghiệp dư nợ Tổng nguồn vốn 295.048 tỷ đồng và gần như hoàn toàn la vốn huy động. Đến nay, có thể nói NHNo&PTNT Việt Nam là NHTM hàng đầu, giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong đầu tư vốn phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng như đối với các lĩnh vực khác của nền kinh tế Việt Nam.
Quá trình hình thành và phát triển của NHNo&PTNT chi nhánh Trung Yên
Sở giao dịch I (SGD I) là một bộ phận của Trung tâm điều hành NHNo&PTNT Việt Nam và là một chi nhánh trong hệ thống NHNo, có trụ sở tại số 4 đường Phạm Ngọc Thạch, quận Đống Đa - Hà Nội.
Sở giao dịch I NHNo&PTNT được thành lập theo quyết định số 15/TCCB ngày 16/03/1991 của Tổng giám đốc NHNo Việt Nam với chức năng chủ yếu là đầu mối để quản lý các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và thực hiện thí điểm văn bản, chủ trương của ngành trước khi áp dụng cho toàn hệ thống, trực tiếp thực hiện cho vay tròn địa bàn
Hà Nội, cho vay đối với các công ty lớn về nông nghiệp như: Tổng công ty rau quả, công ty thức ăn gia súc Ngày 01/04/1991, SGD I chính thức đi vào hoạt động
Từ ngày 14/4/2003, Sở giao dịch I đổi tên thành Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long Theo quyết định số 17/QĐ/HĐQT-TCCB, ngày 12/02/2003 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị NHNo&PTNT Việt nam về việc chuyển và đổi tên Sở giao dịch NHNo&PTNT I thành Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long;
Chi nhánh NHNo&PTNT Trung Yên được thành lập từ năm 2000, là chi nhánh cấp 2 trực thuộc Sở giao dịch NHNo&PTNT I sau là chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long.
Trụ sở: 17T4 Trung Hòa – Nhân Chính, Thanh Xuân – Hà Nội Điện thoại: 04.62818222
Fax : 04.62818228 Email: agribanktrungyen@gmail.com
Từ ngày 01/04/2008 Chi nhánh NHNo&PTNT Trung Yên đã trở thành chi nhánh cấp I trực thuộc trung ương Chịu mọi sự quản lý của Ngân Hàng No&PTNT Việt Nam Sự ra đời của chi nhánh đã thể hiện quyết tâm của hội đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam trong chiến lược củng cố và giữ vững thị trường nông thôn, tiếp cận nhanh và từng bước chiếm lĩnh thị trường thành thị đánh dấu bước phát triển về lượng và chất của hệ thống NHNo&PTNT trên địa bàn Hà Nội Mặc dù thời gian hoạt động chưa hẳn dài nhưng chi nhánh Trung Yên cũng đã đạt được một số thành hệ thống điện tử hiện đại – an toàn- tin cậy đạt hiệu quả với chuẩn mực quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tính đến nay, chi nhánh Trung Yên đã có 4 phòng giao dịch trực thuộc, cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, nhanh chóng với mức lãi suất và phí dịch vụ cạnh tranh nhằm đáp ứng các yêu cầu của mọi đối tượng khách hàng, mở rộng cơ hội kinh doanh, từng bước nâng cao và giữ uy tín cũng như thương hiệu của chi nhánh trên thị trường.
Tổ chức mạng lưới kinh doanh và bộ máy quản lý của NHNo&PTNT Trung Yên
Cơ cấu tổ chức
Qua quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh, hiện tại số lượng cán bộ công nhân viên của ngân hàng là 87người Trong đó, Ban lãnh đạo của NHNo&PTNT chi nhánh Trung Yên gồm 1 giám đốc và 3 phó giám đốc phụ trách mảng công việc khác nhau,số còn lại làm việc tại 6 phòng nghiệp vụ và 4 phòng giao dịch của chi nhánh.
1.1 Phòng Kế hoạch-Kinh doanh.
1.2 Phòng Hành chính- Nhân sự.
1.3 Phòng Kế toán- Ngân quỹ.
1.4 Phòng Kiểm tra, kiểm soát nội bộ.
1.7 Phòng giao dịch Nguyễn Tuân.
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của ngân hàng No&PTNT chi nhánh Trung Yên.
Chức năng, nhiệm vụ cơ bản trong bộ máy quản lý
Ban Giám đốc: Gồm 1 Giám đốc và 3 Phó Giám đốc với các nhiệm vụ: tổ chức, chỉ đạo, điều hành các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan Đồng thời quản lý, kiểm tra, đôn đốc nhân viên dưới quyền thực hiện đúng theo chế độ chính sách Nhà nước đề ra.
PHÒNG KẾ HOẠCH – KINH DOANH
PHÒNG HÀNH CHÍNH VÀ NHÂN SỰ
PHÒNG KẾ TOÁN NGÂN QUỸ
PHÒNG KIỂM TRA, KIỂM SOÁT NỘI BỘ
PHÒNG DỊCH VỤ VÀ MARKETING
PHÒNG ĐIỆN TOÁN các phòng kế hoạch kinh doanh, phòng kế toán – ngân quỹ, phòng hành chính- tổ chức và phòng giao dịch.
1.3.2.2 Phòng Kế hoạch- Kinh doanh.
- Nghiên cứu, đề xuất chiến lược khách hàng, chiến lược huy động vốn tại địa phương.
- Xây dựng kế hoạch kinh doanh ngắn hạn, trung và dài hạn theo định hướng kinh doanh của NNHNo&PTNT
- Tổng hợp, theo dõi các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh và quyết toán kế hoạch của chi nhánh.
- Tổng hợp phân tích hoạt động kinh doanh quý, năm Dự thảo các báo cáo sơ kết, tổng kết.
- Đầu mối thực hiện thông tin phòng ngừa rủi ro, xử lý rủi ro tín dụng.
- Tổng hợp báo cáo chuyên đề theo quy định.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long giao
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng, phân loại khách hàng và đề xuất các chính sách ưu đãi đối với từng loại khách hàng nhằm mở rộng theo hướng đầu tư tín dụng khép kín: sản xuất, chế biến tiêu thụ, xuất khẩu và gắn tín dụng sản xuất, lưu thông và tiêu dùng.
- Phân tích kinh tế theo nghành, nghề kỹ thuật, danh mục khách hàng lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao.
- Tiếp nhận và thực hiện các chương trình dự án thuộc nguồn vốn trong nước, nước ngoài Trực tiếp làm dịch vụ ủy thác nguồn vốn thuộc chính phủ, bộ, ngành khác và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước.
- Xây dựng và thực hiện các mô hình tín dụng thí điểm, thử nghiệm trong địa bàn đồng thời theo dõi, đánh giá, sơ kết, tổng kết, đề xuất giám đốc.
- Thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân và đề xuất hướng giải quyết.
- Giúp giám đốc chỉ đạo, kiểm tra hoạt động tín dụng của các chi nhánh trực thuộc trên địa bàn.
- Tổng hợp báo cáo và kiểm tra chuyên đề theo quy định.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc chi nhánh giao.
- Phân tích kinh tế theo ngành, nghề kỹ thuật, danh mục khách hàng lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao.
- Thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín dụng theo phân cấp ủy quyền.
- Thẩm định các dự án, hoàn thiện hồ sơ trình ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn việt nam theo phân cấp ủy quyền.
- Tiếp nhận và thực hiện thẩm định các chương trình dự án thuộc nguồn vốn trong nước, nước ngoài
- Giúp giám đốc chỉ đạo, kiểm tra hoạt động thẩm định dự án của các chi nhánh trực thuộc trên địa bàn.
- Tổng hợp báo cáo và kiểm tra chuyên đề theo quy định.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc chi nhánh giao.
1.3.2.3 Phòng Kế toán- Ngân quỹ.
- Trực tiếp hạch toán kế toán, hạch toán thống kê và thanh toán theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam, ngân hàng nhà nước.
- Xây dựng chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết toán kế hoạch thu, chi tài chính, quỹ tiền lương của chi nhánh trình NHNo&PTNT Việt Nam phê duyệt.
- Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng theo quy định của ngân hàng nông nghiệp trên địa bàn.
- Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạch toán, kế toán, quyết toán và các báo cáo theo quy định.
- Thực hiện các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định.
- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài nước.
- Quản lý sử dụng thiết bị thông tin, điện toán phục vụ nghiệp vụ kinh doanh theo quy định của NHNo&PTNT.
- Chấp hành chế độ báo cáo, thống kê và kiểm tra chuyên đề.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc chi nhánh giao.
- Quản lý và sử dụng các quỹ theo quy định của ngân hàng nông nghiệp trên địa bàn.
- Chấp hành quy định về an toàn kho quỹ và định mức tồn quỹ theo quy định.
- Quản lý sử dụng thiết bị thông tin, điện toán phục vụ nghiệp vụ kinh doanh theo quy định của NHNo&PTNT.
- Chấp hành chế độ báo cáo, thống kê và kiểm tra chuyên đề.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc chi nhánh giao.
1.3.2.4 Phòng hành chính- Nhân sự
- Xây dựng chương trình công tác hàng tháng, quý của chi nhánh và có trách nhiệm thường xuyên đôn đốc việc thực hiện chương trình đã được giám đốc chi nhánh phê duyệt.
- Xây dựng và triển khai chương trình giao ban nội bộ chi nhánh.
- Tư vấn pháp chế trong việc thực thi các nhiệm vụ cụ thể về giao kết hợp đồng, hoạt động tố tụng, tranh chấp dân sự, hình sự, kinh tế, lao động, hành chính liên quan đến cán bộ, nhân viên và tài sản của chi nhánh
- Thực thi pháp luật có liên quan an ninh trật tự, phòng cháy, nổ tại cơ quan.
- Lưu trữ các văn bản pháp luật có liên quan đến ngân hàng và văn bản định chế của ngân hàng nông nghiệp.
- Đầu mối giao tiếp với khách đến làm việc, công tác tại chi nhánh.
- Trực tiếp quản lý con dấu của chi nhánh; thực hiện công tác hành chính văn thư, lễ tân, phương tiện giao thông, bảo vệ, y tế của chi nhánh.
- Thực hiện công tác cơ bản, sửa chữa, tài sản cố định, mua sắm công cụ lao động, quản lý nhà tập thể, nhà khách nhà nghỉ của cơ quan.
- Thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền quảng cáo tiếp thị theo chỉ đạo của ban lãnh đạo chi nhánh.
- Đầu mối trong việc chăm lo đời sống vật chất, văn hoá tinh thần và thăm hỏi ốm đau, hiếu, hỷ cán bộ, nhân viên.
- Thực hiện nhiệm vụ khác khi được giám đốc chi nhánh giao.
- Xây dựng quy dịnh lề lối làm việc trong đơn vị và mối quan hệ với tổ chức đảng, công đoàn, chi nhánh trực thuộc trên địa bàn.
- Đề xuất mở rộng mạng lưới kinh doanh trên địa bàn.
- Đề xuất định mức lao động, giao khoán quỹ tiền lương đến các chi nhánh trực thuộc theo quy chế khoán tài chính của NHNo&PTNT Việt Nam.
- Thực hiện công tác quy hoạch cán bộ, đề xuất cử cán bộ, nhân viên đi công tác, học tập trong và ngoài nước Tổng hợp theo dõi thường xuyên cán bộ, nhân viên được quy hoạch, đào tạo
- Đề xuất, hoàn thiện và lưu trữ hồ sơ theo đúng quy định của nhà nước, đảng, ngành ngân hàng trong vịêc bổ nhiệm, miễn nhịêm, khen thưởng kỷ lụât cán bộ nhân viên trong phạm vi phân cấp uỷ quyền của tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam.
- Trực tiếp quản lý hồ sơ cán bộ trực thuộc chi nhánh quản lý và hoàn tất hồ sơ, chế độ đối với cán bộ nghỉ hưu, nghỉ chế độ theo quy định của nhà nước, của ngành ngân hàng.
- Thực hiện công tác thi đua khen thưởng của chi nhánh
- Chấp hành công tác báo cáo thống kê, kiểm tra chuyên đề.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc chi nhánh giao.
1.3.2.5 Phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ
- Kiểm tra công tác điều hành của chi nhánh đơn vị trực thuộc theo nghị quyết của hội đồng quản trị, chỉ đạo của tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam và giám đốc chi nhánh NNNo&PTNT Trung Yên.
- Kiểm tra giám sát việc chấp hành quy trình nghiệp vụ kinh doanh theo quy định của pháp luật, ngân hàng nông nghiệp.
- Giám sát việc chấp hành các quy định của khách hàng nhà nước về đảm bảo an toàn trong hoạt động tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
- Kiểm tra độ chính xác của báo cáo tài chính, báo cáo cân đối kế toán việc tuân thủ các quy tắc chế độ chính sách kế toán theo quy định của nhà nước, ngành ngân hàng.
- Báo cáo tổng giám đốc NHNo&PTNT việt nam, giám đốc chi nhánh kết quả kiểm tra và đề xuất biện pháp xử lý, khắc phục khuyết điểm, tồn tại.
- Giải quyết đơn thư, khiếu tố liên quan đến hoạt động của chi nhánh NHNo&PTNT Trung Yên vi phân cấp ủy quyền của tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam.
- Thực hiện báo cáo chuyên đề và các nhiệm vụ khác do giám đốc chi nhánhNHNo&PTNT Trung Yên, trưởng ban kiểm tra, kiểm toán nội bộ giao
- Tổng hợp, thống kê và lưu trữ số liệu, thông tin liên quan đến hoạt động của chi nhánh.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TẠI NHNo &
Các sản phẩm kinh doanh chủ yếu của chi nhánh
- Sản phẩm tín dụng: Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay thì hiện tại sản phẩm tín dụng của chi nhánh gồm có cho vay tiêu dùng, cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay kinh doanh chứng khoán, cho vay du học, cho vay đi lao động nước ngoài, cho vay bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh, cho vay lưu vụ, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay mua sắm tài sản cố định, đầu tư dự án.
- Sản phẩm huy động vốn gồm: Tiền gửi không kì hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi có kì hạn, tài khoản tiền gửi có kì hạn.
- Sản phẩm bảo lãnh trong nước bao gồm: Bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh hoàn thanh toán, bảo hiểm bảo hành công trình, thiết bị, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh khác.
- Sản phẩm thanh toán quốc tế: Mở L/C, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, nhờ thu, chuyển tiền, chiết khấu bộ chứng từ.
- Sản phẩm dịch vụ: Dịch vụ kiều hối, dịch vụ chi trả Western Union, dịch vụ thẻ, dịch vụ thu- chi hộ, dịch vụ trả lương qua thẻ, dịch vụ chuyển tiền trong nước, dịch vụ séc, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ tài khoản, dịch vụ thanh toán đa biên, dịch vụ mua bán ngoại tệ.
- Sản phẩm ngân hàng điện tử: SMS Banking, Atransfer, Vntopup.
Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế xã hội có nhiều diễn biến phức tạp do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, giá cả nguyên liệu và lương thực thị trường thế giới không ổn định, giá vàng trong nước tăng giảm thất thường, tỷ giá ngoại tệ trên thị trường tự do có lúc tăng cao, chỉ số giá hàng tiêu dùng không ổn định, chỉ số lạm phát có thời điểm trên hai chữ số,… tác động mạnh tới nền kinh tế nói chung và làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân tranh gay gắt hơn cả về chính sách lãi suất, chính sách khuyến mãi và chiến lược khách hàng,… Ý thức được những khó khăn trên, để hoạt động của ngân hàng luôn ổn định và phát triển, chi nhánh thường xuyên đánh giá phân tích tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn nhằm nâng cao chất lượng các nghiệp vụ hoạt động, hạn chế rủi ro có thể xảy ra và đạt hiệu quả cao trong kinh doanh Đồng thời được sự hỗ trợ của ban giám đốc và các phòng ban của NHNo&PTNT Thăng Long, sự quan tâm chỉ đạo của Quận Thanh Xuân cùng với sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ công nhân viên của NHNo&PTNT Trung Yên đã đạt được một số kết quả như sau:
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh giai đoạn 2007- 2011 Đơn vị: triệu đồng
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng kết quả kinh doanh của chi nhánh Đơn vị: triệu đồng
Năm Tổng thu Tổng chi Chênh lệch thu- chi
Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh
Mặc dù hoạt động trong môi trường có sự cạnh tranh khá cao của nhiều ngân hàng thương mại trên địa bàn, nhưng chi nhánh vẫn đạt được một số kết quả nhất định, chất lượng hoạt động ngày càng được nâng cao, lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước, tạo cơ sở mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong thời gian tới Cụ thể: Năm 2011, lợi nhuận ngân hàng đạt 36,077 triệu đồng, tăng 15,46 triệu đồng và 174% so với năm 2007; năm 2010 tăng 153,02% so năm 2007 Đặc biệt trong năm 2008 và năm 2009, dù nền kinh tế thế giới đang rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính thì lợi nhuận ngân hàng thu được vẫn tăng 109,5% và 119,4%.
Thực trạng công tác quản lý đầu tư tại ngân hàng
2.2.1 Hoạt động đầu tư phát triển tại ngân hàng.
2.2.1.1 Quy mô vốn đầu tư phát triển.
Tất cả các doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng muốn triển khai thực hiện được các hoạt động đầu tư tại đơn vị mình thì trước tiên phải huy động được vốn Ngay từ đầu, ngân hàng đã xác định nguồn vốn có ý nghĩa quyết định đến việc kinh doanh, là cơ sở để triển khai các hoạt động đầu tư đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới công nghệ và phát triển nguồn nhân lực,… do vậy, việc huy động và sử dụng vốn đầu tư luôn được chi nhánh NHNo&PTNT Trung Yên đặc biệt quan tâm chú trọng.
Bảng 3: Cơ cấu vốn đầu tư Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
1 Đầu tư vào CSVC và đổi mới công nghệ 2.543 3.322 3.930
2 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực 56,12 92,75 138,20
3 Đầu tư vào hoạt động Marketing 6,52 9,13 11
4 Đầu tư mở rộng, đa dạng sản phẩm 9,25 15,62 19
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh
Vốn đầu tư của chi nhánh tăng liên tục của các năm, năm sau luôn lớn hơn năm trước, trong đó, vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và đổi mới công nghệ Hoạt động đầu tư này luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 96% tổng vốn đầu tư hàng năm Đầu tư phát triển nguồn nhân lực cũng là một hoạt động đầu tư được ban lãnh đạo chi nhánh đặc biệt quan tâm Nguồn vốn cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực luôn có xu hướng tăng cao qua các năm: Năm 2009 là 56,12 triệu đồng, năm 2010 là 92,75 triệu đồng và đến năm 2011 là 138,20 triệu đồng, chiếm 3,37% tổng vốn đầu tư năm 2011 Tuy nhiên, tỷ trọng vốn đầu tư vào hoạt động Marketing còn khá khiêm tốn khoảng 2,5% tổng vốn đầu tư hàng năm Vì vậy, chi nhánh cần có những biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư hợp lý, tăng cường đầu tư cho hoạt động phát triển nguồn nhân lực và Marketing nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của chi nhánh trên thị trường.
2.2.1.2 Đầu tư vào cơ sở vật chất và đổi mới công nghệ
Trải qua hơn nhiều năm năm xây dựng và trưởng thành, Chi nhánh Trung Yên đã tự tin vững bước trong công cuộc đổi mới, hoà mình với sự phát triển vượt bậc của hệ thống điện tử hiện đại - an toàn - tin cậy đạt hiệu quả với chuẩn mực quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Với tầm nhìn xa của ban lãnh đạo ngân hàng trong hoạt động đầu tư cơ sở vật chất đổi mới công nghệ đã đem lại những hiệu quả rõ rệt, tính đến nay Chi nhánh Trung Yên đã có 4 Phòng giao dịch trực thuộc, cung cấp các sản phẩm dịch vụ Ngoài ra hệ thống cơ sở vật chất khang trang, hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường làm việc của CBCNV Trang thiết bị đầy đủ đáp ứng nhu cầu hiện đại hoá Ngân hàng.
Biểu đồ 1: Vốn đầu tư cơ sở vật chất và đổi mới công nghệ giai đoạn 2009 – 2011
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh
Qua biểu đồ trên ta thấy chi nhánh không ngừng cải tiến cơ sở vật chất và đổi mới công nghệ Trong năm 2011, tổng vốn đầu tư và tài sản của chi nhánh NHNo&PTNT Trung Yên là 3.930.389.306 VNĐ, bao gồm các khoản mục như sau:
Mua sắm công cụ lao động: 58.800.000 VNĐ
Chi thuê tài sản : 3.862.172.300 VNĐ
Chi các vật liệu khác : 9.417.006 VNĐ
So với năm 2010, vốn đầu tư vào cơ sở vật chất của chi nhánh tăng 118%, so với năm 2009 tăng 154% Do nhận thức được tầm quan trọng của đổi mới công nghệ,ban lãnh đạo của chi nhánh đã quyết tâm khắc phục mọi khó khăn để tiến hành đổi mới công nghệ Mục tiêu của đầu tư đổi mới công nghệ là nâng cao chất lượng sản phẩm,nâng cao năng suất của đơn vị Trong quá trình hoạt động, Chi nhánh đã áp dụng hàng loạt các dự án công nghệ có tầm quan trọng như: dự án kết nối thẻ Visa, MasterCard,
Success, cung cấp dịch vụ SMS, dự án tư vấn chiến lược phát triển công nghệ thông tin và sản phẩm dịch vụ tới năm 2015.
2.2.1.3 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Nhận thức sâu sắc trình độ cán bộ có ý nghĩa quyết định đến chất lượng hoạt động kinh doanh, NHNo&PTNT Trung Yên đặc biệt quan tâm đến hoạt động đầu tư đào tạo và đào tạo lại cán bộ, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ thông qua việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn, nâng cao nghiệp vụ.
Biểu đồ 2: Vốn đầu tư phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2009 – 2011
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Để nâng cao nguồn nhân lực, chi nhánh đã liên tục đầu tư đào tạo, cải thiện không chỉ về số lượng mà còn về chất lượng nhân lực trong những năm qua Năm
2011, chi nhánh đầu tư trên 138 triệu đồng, tăng 149% so với năm 2010, tăng 246% so với năm 2009.
Việc phân công, bố trí cán bộ một cách hợp lý giữa các phòng, các bộ phận vừa đảm bảo hoàn thành khối lượng công việc, vừa sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ, bố trí cán bộ gắn chặt với công tác đào tạo, luân chuyển cán bộ.
Về công tác quản trị, điều hành, bổ nhiệm các chức danh điều hành gồm các trưởng phòng, phó phòng phù hợp với trình độ, nghiệp vụ, khả năng đáp ứng công việc của từng người tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ chung Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác chỉ đạo điều hành, thực hiện phân công, phân nhiệm rõ người rõ việc, đảm bảo sự đoàn kết, nhất trí cao trong nội bộ, xây dựng được ý thức, phong cách làm việc mới.
Từng bước giao khoán cho các phòng nghiệp vụ và các Phòng giao dịch, thực hiện giao chỉ tiêu cho từng CBCNV, thực hiện trả lương theo mức độ hoàn thành công việc trong năm 2011, tổng số tiền đã chi cho nhân viên là: 113.205.887 VNĐ.
- Lương và phụ cấp : 97.346.400 VNĐ
- Các khoản trích theo lương: 15.859.487 VNĐ
+ Nộp Bảo hiểm xã hội : 9.491 VNĐ
+ Nộp Bảo hiểm y tế : 1.265.576 VNĐ
+ Nộp kinh phí công Đoàn : 5.102.088 VNĐ
2.2.1.4 Đầu tư vào hoạt động Marketing
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường như hiện nay, để có thể đứng vững trên thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh với các đối thủ, thì việc xây dựng một chiến lược Marketing hiệu quả, phù hợp với thực tế là một đòi hỏi thiết yếu đối với các NHTM nói chung và NHNo&PTNT Việt Nam nói riêng.
Biểu đồ 3: Vốn đầu tư vào hoạt động Marketing giai đoạn 2009 – 2011
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh
Theo số liệu thống kê, năm 2011, chi nhánh đã bỏ ra hơn 11 triệu đồng để triển khai hoạt động Maketing, tăng 120% so với năm 2010 và tăng 168% so với năm 2009. Mặc dù có xu hướng tăng tích cực song hoạt động Maketing đối với chi nhánh NHNo&PTNT Trung Yên vẫn chỉ được xem như là một công cụ hỗ trợ hoạt động kinh doanh, chủ yếu nhằm đạt mục tiêu kinh doanh trong năm hơn là một định hướng cạnh tranh của Ngân hàng Chi nhánh mới chỉ tập trung vào truyền thông đại chúng (ATL) mà chưa quan tâm, đầu tư thích đáng vào các hoạt động Marketing khác như: Truyền thông BTL, kênh phân phối dịch vụ khách hàng, R&P, Logistics Ngoài ra, ngay cả đối với chiến dịch truyền thông ATL, chi nhánh còn triển khai thiếu đồng bộ, thiếu sự phội hợp với các hoạt động Marketing khác.
2.2.1.5 Đầu tư mở rộng, đa dạng dịch vụ sản phẩm.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chi nhánh NHNo&PTNT Trung Yên không ngừng phát triển cả về quy mô, công nghệ và sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, các nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của khách hàng.
Biểu đồ 4: Vốn đầu tư mở rộng, đa dạng dịch vụ sản phẩm giai đoạn 2009 – 2011
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh
Trong năm 2011, tổng vốn đầu tư vào đa dạng sản phẩm, dịch vụ của chi nhánh tăng 121% so với năm 2010 và tăng 205% so với năm 2009 Tuy vậy, tính đa dạng về sản phẩm và dịch vụ mà ngân hàng sử dụng vẫn còn thấp Tuy nhiên, năm 2010 cũng là năm đánh dấu những nỗ lực vượt bậc của ngân hàng trong việc mở rộng mạng lưới chấp nhận thể Chi nhánh đã đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại để tạo cho khách hàng không gian sử dụng thẻ dễ dàng, tiện lợi
Ngân hàng đã kết nối thanh toán thẻ Visa, Banknetvn vào thời điểm xu hướng thanh toán qua thẻ đang ngày càng trở nên phổ biến Với ưu thế về mạng lưới chấp nhận thanh toán (ATMIPOS) rộng khắp toàn quốc, việc thanh toán thẻ Visa, Banknetvn của ngân hàng sẽ đem lại cho khách hàng sự tiện lợi tối đa.
Một số hạn chế trong công tác quản lí đầu tư tại ngân hàng
3.1.1 Hạn chế trong hoạt động đầu tư phát triển
3.1.1.1 Về công tác huy động vốn đầu tư
Nguồn vốn tăng nhưng chưa ổn định, xét về cơ cấu nguồn vốn huy động, vốn huy động dài hạn chiếm tỷ tọng thấp, vốn huy động bằng USD thấp Ngân hàng huy động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi do ngân hàng chưa đa dạng hoá được các loại hình dịch vụ và nặng về dịch vụ ngân hnàg truyền thống , việc huy động vốn chủ yếu dựa vào công cụ lãi suất.
Trong những năm vừa qua, hoạt động ngân hàng nước ta đã có những chuyển biến sâu sắc Quy mô kinh doanh ngày càng mở rộng cả về số lượng lẫn phạm vi, các loại hình kinh doanh đa dạng và phong phú hơn Từ đó, việc tiếp thị các sản phẩm ngân hàng là rất cần thiết Nếu không có Marketing thì hoạt động của ngân hàng sẽ bị trì trệ và mất tính cạnh tranh trên thị trường Vì thế chiến lược Marketing đã được chi nhánh quan tâm chú trọng đến nhưng tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động này chưa tương xứng.
Các chiến lược Marketing mới được triển khai thực hiện một cách riêng biệt mà chưa có sự phối hợp đồng bộ nên hiệu quả chưa cao, chưa khai thác triệt để hiệu quả của các hoạt động Mặt khác, chi nhánh chưa có một phòng ban chuyên trách về Marketing mà chỉ có tổ bộ phận về quan hệ khách hàng Vì vậy, hoạt động Marketing chưa được tiến hành một cách chuyên nghiệp và có chiến lược phù hợp với chi nhánh
3.1.1.3.Về hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đầu tư phát triển nhân lực, chi nhánh đã chú trọng vào công tác đào tạo và phát triển Tuy nhiên, công tác này vẫn chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn Sở dĩ như vậy là do phương pháp thực hiện chưa được tiến hành một cách bài bản, hệ thống như thiếu một tầm nhìn dài hạn xuyên suốt các hoạt động khác nhau, thiếu hoạch định kế hoạch, thiếu sự đồng bộ,…
Thêm vào đó, chi nhánh chưa có một chiến lược kinh doanh dài hạn chính thức như xuất phát điểm cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực Và do vậy, càng không thể nói tới sự phù hợp của chiến lược quản lý nguồn nhân lực, chiến lược đào tạo, phát triển nguồn nhân lực với chiến lược kinh doanh.
3.1.2 Hạn chế trong công tác thẩm định
3.1.2.1 Về tổ chức thẩm định
Có thể nói cho đến nay ngân hàng chưa có phòng thẩm định dự án riêng, công tác thẩm định dự án đầu tư chưa có sự tách biệt, nghiệp vụ thẩm định vẫn được lồng ghép với nghiệp vụ tín dụng Một CBTD phải kiêm rất nhiều việc từ tiếp nhận hồ sơ vay vốn, tiếp xúc khách hàng, thẩm định phương án vay vốn, giải ngân và thu nợ, đây là trách nhiệm nặng nề đối với cán bộ tín dụng và cũn là nguy cơ phát sinh rủi ro tín dụng Khối lượng công việc lớn như vậy cộng thêm số các dự án thẩm định ngày càng tăng khiến cho các cán bộ không có đủ thời gian để thu thập thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình thẩm định, từ đó làm giảm tính chính xác của các kết quả thẩm định.
3.1.2.2 Về phương pháp thẩm định
Trong quá trình thẩm định chưa có sự kết hợp các phương pháp thẩm định với nhau Mặt khác, trong việc sử dụng từng phương pháp cũng có nhiều hạn chế:
Phương pháp so sánh các chỉ tiêu là phương pháp phổ biến mà cán bộ thẩm định sử dụng nhiều nhất, tuy nhiên việc so sánh đôi khi còn mang tính giản đơn Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư hoặc các chỉ tiêu về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu, nhân công, chưa có sự so sánh với các dự án tương tự,các định mức kinh tế-kĩ thuật của ngành Các chỉ tiêu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc so sánh giữa các năm với nhau chứ chưa đối chiếu với các doanh nghiệp trong cùng ngành Các tiêu chuẩn về công nghệ thiết bị cũng chưa có hệ thống các chuẩn mực thích hợp để kiểm tra, đối chứng
Phương pháp dự báo vẫn chưa được áp dụng một cách khoa học các thông tin về cung cầu sản phẩm, giá cả, chất lượng công nghệ… mới chỉ được thu thập qua các phương tiện thông tin đại chúng, các nguồn thông tin này nhiều khi không thực sự đầy đủ và cập nhật Mặt khác, ngân hàng cũng chưa áp dụng các phương pháp toán học hiện đại để phân tích và dự báo cung cầu thị trường Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng công tác dự báo, làm giảm độ chính xác của các chỉ tiêu hiệu quả.
Các phương pháp phân tích rủi ro chưa được chú trọng một cách đúng mức Một dự án đầu tư khi đi vào hoạt động có thể gặp rất nhiều các loại rủi ro khác nhau như: Rủi ro về cung cấp các đầu vào, đầu ra; rủi ro do chậm tiến độ thi công; rủi ro về cung cấp dịch vụ, công nghệ, kĩ thuật, rủi ro về tài chính, rủi ro bất khả kháng,…Tuy nhiên, cán bộ thẩm định ít khi dành nhiều thời gian và công sức đi sâu đánh giá từng loại rủi ro để từ đó có hướng tư vấn, cùng chủ đầu tư tìm các biên pháp phòng ngừa.
Cùng với phương pháp phân tích rủi ro, phân tích độ nhạy cũng được coi là một trong những phương pháp phân tích hiện đại Tuy vậy, vẫn chưa được ngân hàng sử dụng nhiều, nếu có cũng chỉ dừng lại ở việc phân tích độ nhạy một chiều Việc lựa chọn yếu tố dao động, khoảng dao động phụ thuộc nhiều vào sự đánh giá chủ quan của cán bộ thẩm định chứ không được quy định cụ thể trên cơ sở tổng kết các dự án đặc trưng ở các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau.
3.1.2.3 Về nội dung và quy trình thẩm định.
Mặc dù công tác thẩm định dự án tại ngân hàng đã thực hiện đúng quy trình do NHNo&PTNT Việt Nam ban hành, tuy nhiên việc tuân thủ theo quy trình đó chỉ mang tính hình thức bên ngoài Trên thực tế, các nội dung trong quy trình chỉ được thẩm định một cách sơ sài và chưa đầy đủ Xuất phát từ đặc trưng của một ngân hàng thương mại giống như nhiều ngân hàng khác, chỉ quan tâm nhất khi xem xét một khoản vay đó là khả năng trả nợ, nguồn trả nợ và thời gian trả nợ Do đó quá trình thẩm định dự án hầu như chỉ tập trung đánh giá khía cạnh tài chính cũng như khả năng trả nợ của chủ đầu tư, các nội dung khác mới chỉ được đánh giá một cách chung chung, sơ sài, không được quan tâm một cách đúng mức
3.1.2.4 Về trang thiết bị phục vụ công tác thẩm định
Từ khi đi vào hoạt động ngân hàng đã luôn chú trọng áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ nói chung và công nghệ ngân hàng nói riêng Hệ thống máy tính nối mạng được trang bị cho các phòng ban đã góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh, nâng cao chất lượng cung cấp số liệu, nâng cao chất lượng thẩm định dự án Tuy nhiên việc áp dụng còn nhiều hạn chế, một phần do dữ liệu của Ngân hàng Trung ương không được cập nhật thường xuyên, mặt khác do Agribank chưa thiết lập được ngân hàng dữ liệu riêng cho mình.
3.1.2.5 Về mạng lưới thông tin
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc thu thập mọi thông tin về khách hàng thông qua các biện pháp thu thập trực tiếp hay gián tiếp song cơ sở thông tin được dùng để phân tích thẩm định dự án chủ yếu vẫn dựa trên các tài liệu mà khách hàng gửi đến Trong nhiều trường hợp các nguồn thông tin này không thực sự khách quan Hơn thế nữa, để tăng tính thuyết phục cho dự án, doanh nghiệp trong quá trình lập báo cáo khả thi có xu hướng tìm mọi cách làm giảm chi phí hoạt động của dự án xuống mức thấp nhất Các báo cáo tài chính được sử dụng để phân tích, thẩm định khách hàng vay vốn cũng không thực sự đủ độ tin cậy bởi có nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc Thêm vào đó các báo cáo tài chính, kết quả kinh doanh thường kỳ của doanh nghiệp nộp cho ngân hàng có nhiều loại khác nhau dẫn đến khó hệ thống chuẩn hoá thông tin.
Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý đầu tư tại ngân hàng
3.2.1 Các giải pháp nâng cao hoạt động đầu tư phát triển
3.2.1.1 Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư Để có lượng vốn lớn phục vụ quá trình đầu tư, đổi mới công nghệ và phát triển nguồn nhân lực,… Chi nhánh cần đa dạng hóa các nguồn vốn huy động Để giải quyết vấn đề này, chi nhánh cần chủ động đa dạng hóa cơ cấu vốn để không phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay Một số cách tăng vốn mà chi nhánh có thể áp dụng trong giai đoạn tới là:
Tăng vốn điều lệ từ việc xin cấp vốn bổ sung từ ngân sách nhà nước, thu hồi nợ tồn đọng, nợ đã hoạch toán ngoại bảng và đã được nhà nước cấp nguồn xử lý,… hoặc tăng lợi nhuận giữ lại Đây là lợi nhuận ngân hàng đạt được trong năm nhưng không chia cho các cổ đông mà giữ lại để tăng vốn Phương pháp này giúp ngân hàng không bị phụ thuộc vào thị trường vốn nên tránh được chi phí huy động vốn Tuy nhiên, chỉ áp dụng khi ngân hàng làm ăn có lãi liên tục và đều đặn hằng năm.
Tăng vốn cấp hai bằng việc tiếp tục phát hành trái phiếu với lãi suất cạnh tranh. Thời hạn phát hành trái phiếu NHNo&PTNT tối đa là 60 ngày Việc phát hành trái phiếu nhằm đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, tăng thêm nguồn vốn dài hạn đầu tư cho các dự án.
Ngoài ra, có thể tổ chức đánh giá lại tài sản cố định Đa số các tài sản của ngân hàng đều là bất động sản nên đây là giải pháp chủ động, nhanh chóng và hiệu quả nhằm tăng vốn cấp hai Nếu tài sản cố định của chi nhánh được đánh gía lại thì vốn cấp hai của chi nhánh sẽ tăng lên đáng kể
3.2.1.2 Đầu tư xây dựng các chiến lược Marketing phù hợp với chi nhánh
Trên cơ sở học hỏi những kinh nghiệm từ các ngân hàng hiện đại trên thế giới, ngân hàng cần tiến hành hoàn thiện, điều chỉnh phù hợp với hoạt động Marketing của ngân hàng mình, với tình hình kinh tế.
Mở rộng và nâng cao công tác đào tạo chuyên viên Marketing ngân hàng, tổ chức các buổi hội thảo, trao đổi kinh nghiệm trong nội bộ ngân hàng, mời các chuyên gia Marketing về giảng dạy, cử các cán bộ có kinh nghiệm về Marketing theo học những khóa học đào tạo chuyên ngành Marketing ngân hàng ở nước ngoài.
Xác định rõ vai trò của hoạt động Marketing đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, từ đó chủ động trong việc chi cho hoạt động Marketing, tránh tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động Marketing giữa Hội sở chính và chi nhánh Vì vậy, chi nhánh nên thành lập một phòng ban chuyên trách về hoạt động Marketing cho đơn vị mình
3.2.1.3 Chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực dài hạn
Phát triển nguồn nhân lực luôn là một nội dung quan trọng trong hoạt động đầu tư phát triển của chi nhánh Để nâng cao, phát triển hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực, chi nhánh cần có một chiến lược dài hạn và bài bản Chi nhánh nên đầu tư tổ chức hoạt động đào tạo dựa trên quy trình đào tạo lý thuyết gồm bốn giai đoạn: Đánh giá nhu cầu đào tạo, thiết kế chương trình đào tạo, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo.
Chú ý khâu tuyển chọn lao động đầu vào chặt chẽ, minh bạch, đưa ra những tiêu chí phù hợp và sát với nhu cầu tuyển dụng Đồng thời tiêu chuẩn hoá và nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên Cụ thể:
- Về tiêu chuẩn mỗi cán bộ, tùy theo vị trí công tác, yêu cầu công việc mà đòi hỏi kiến thức, kĩ năng về chuyên môn khác nhau Do đó, tiêu chuẩn hóa cán bộ phải cụ thể đối với từng loại công việc, đáp ứng yêu cầu phát triển trong từng thời kỳ.
- Do yêu cầu công việc khác nhau, những tiêu chuẩn lao động trong từng bộ phận cũng khác nhau, chi nhánh cần xác định cụ thể trách nhiệm và mức độ phức tạp của công việc để có chế độ lương thưởng phù hợp hơn nhằm khuyến khích, thu hút lao động có chất lượng Hạn chế chế độ lương “cào bằng”, phải có những chính sách thưởng riêng cho từng cán bộ có đóng góp tích cực để khuyến khích động viên họ hoàn thành tốt nhiệm vụ và gắn bó lâu dài với ngân hàng.
3.2.2 Các giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng
3.2.2.1 Giải pháp về mặt tổ chức và qui trình thẩm định
Một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong công tác thẩm định dự án của ngân hàng thời gian qua là chưa có sự chuyên môn hoá trong khâu tổ chức thẩm định Do đó trong thời gian tới ngân hàng cần có phòng thẩm định riêng, có nhiệm vụ chuyên trách thẩm định các dự án trung và dài hạn, có sự độc lập với phòng tín dụng và quản lý nợ vay Việc tổ chức bố trí như vậy sẽ giúp cho mỗi cán bộ thẩm định giảm bớt khối lượng công việc Ngân hàng cũng lưu ý tuyển chọn thêm các cán bộ có kinh nghiệm về thẩm định kinh tế-kỹ thuật dự án Mặt khác ngân hàng nên quy định chi tiết hơn về trách nhiệm cũng như quyền lợi của cá nhân các cán bộ thẩm định Đồng thời cần thường xuyên rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ.
Ngân hàng nên tạo lập một cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn trong quá trình thẩm định giữa các bộ phận trong ngân hàng nhằm nâng hiệu quả công việc Phòng thẩm định cần phối hợp chặt chẽ với phòng tín dụng, phòng giao dịch, phòng nghiệp vụ khác để thu thập được các thông tin chính xác về khách hàng, về dự án vay vốn.
3.2.2.2 Các giải pháp về nội dung và phương pháp thẩm định Đối với nội dung thẩm định khách hàng vay vốn, việc đánh giá các thông tin về khách hàng vay vốn là một việc không đơn giản, bởi không phải lúc nào tình hình tài chính của các doanh nghiệp cũng được công khai Do vậy trước mắt ngân hàng cần yêu cầu các báo cáo tài chính của doanh nghiệp nộp lên phải được kiểm toán Bên cạnh đó ngân hàng cũng nên tăng cường thiết lập mối quan hệ với các cơ quan chức năng nhằm có những đánh gía đầy đủ hơn về doanh nghiệp Để đưa ra những kết luận chính xác hơn về tình hình của doanh nghiệp, ngân hàng cũng nên áp dụng các phương pháp khác nhau trong phân tích tài chính doanh nghiệp như: phương pháp phân tích tỷ lệ, phương pháp đối chiếu logic… Đối với nội thẩm định phương diện kỹ thuật: Cán bộ thẩm định cần quan tâm hơn đến phân tích khía cạnh kỹ thuật của dự án Thực chất họ rất khó có thể làm tốt được điều này, bởi lẽ ngân hàng hiện nay chưa có nhiều cán bộ có chuyên môn cả về nghiệp vụ lẫn kỹ thuật, đa số họ đều tốt nghiệp từ các trường khối kinh tế Ngân hàng cũng chưa có một hệ thống chỉ tiêu về kinh tê- kỹ thuật chuẩn phục vụ cho công tác thẩm định dự án Do đó để trợ giúp cho cán bộ thẩm định đánh giá kỹ thuật, ngân hàng cần sớm nghiên cứu ban hành những chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản phù hợp với từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể làm cơ sở để cán bộ thẩm định tham chiếu Trong trường hợp những dự án quá phức tạp, ngân hàng nên thuê các chuyên gia có chuyên môn phù hợp thẩm định nội dung kỹ thuật nhằm rút ngắn thời gian thẩm định. Đối với nội dung phân tích thị trường: Cán bộ thẩm định cần phân tích sâu hơn về phương diện thị trường của dự án Ngân hàng cũng cần áp dụng các phương pháp hiện đại trong phân tích và dự báo cung- cầu sản phẩm Hiện có nhiều phương pháp dự báo cung- cầu đã được nghiên cứu áp dụng trong thực tế, như phương pháp ngoại suy thống kê, phương pháp định mức, phương pháp hệ số co giãn… cán bộ thẩm định có thể căn cứ vào số lượng và chất lượng thông tin thu thập được mà lựa chọn phương pháp tính cho phù hợp, hoặc kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nhằm làm tăng tính chính xác cho các kết quả dự báo. Đối với nội dung phân tích độ an toàn của dự án thông qua phân tích rủi ro, nội dung này cho đến nay hầu như vẫn chưa được cán bộ thẩm định đề cập đến trong các báo cáo thẩm định của ngân hàng, đây là một khiếm khuyết rất lớn mà ngân hàng cần sớm khắc phục Trước mắt ngân hàng có thể nghiên cứu áp dụng ngay phương pháp phân tích độ nhạy và phân tích theo kịch bản Còn trong tương lai, khi ngân hàng đã có hệ cơ sở dữ liệu phong phú, các máy tính và phần mềm hiện đại, có thể áp dụng thêm phương pháp phân tích theo kịch bản.
3.2.2.3 Giải pháp về trang thiết bị Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế hiện đại nói chung và đòi hỏi của ngành ngân hàng nói riêng, Agribank cần tăng cường đầu tư đổi mới trang thiết bị phục vụ cho công tác thẩm định sao cho mỗi cán bộ đều được trang bị một máy vi tính và toàn bộ hệ thống được nối mạng LAN cũng như mạng ADSL… Có thể nói thẩm định dự án là một công việc khá phức tạp, khối lượng công việc lớn đòi hỏi nhiều thời gian và công sức của cán bộ thẩm định Bởi vậy việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại trong công tác thẩm định là rất cần thiết, có thể giúp cho mỗi cán bộ thẩm định tiết kiệm được nhiều thời gian và sức lực Do đó trong tương lai ngân hàng cần đẩy mạnh ứng dụng các phần mềm trong phân tích, dự báo như Crustal Ball kết hợp với Excell hoặc đặt thiết kế một chương trình hỗ trợ nghiệp vụ thẩm định từ các công ty trong và ngoài nước.