TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 8/2013 ĐỀ TÀI [ VẤN ĐỀ SỞ HỮU CHÉO TẠI VIỆT NAM ] Nhóm thực hiện 1 Nghiêm Phúc Hiếu 2 Nguyễn Thị Thu Hà 3 Tôn Thất Khánh Hoàng 4 Lê Thị Hữu 5[.]
Quy định về vốn điều lệ của tổ chức tín dụng
Vốn điều lệ là nguồn vốn ban đầu ngân hàng có được khi mới hoạt động và được ghi vào bản điều lệ hoạt động của ngân hàng Theo quy định của pháp luật, tổ chức tín dụng (TCTD) chỉ được phép hoạt động khi vốn điều lệ thực tế lớn hơn vốn điều lệ tối thiểu (vốn pháp định) Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 quy định mức vốn pháp định cho các TCTD đến ngày 31/12/2010 là 3.000 tỷ đồng, ngân hàng nước ngoài chi nhánh là 15 triệu USD, ngân hàng chính sách và ngân hàng phát triển là 5.000 tỷ đồng, ngân hàng đầu tư, ngân hàng hợp tác và quỹ tín dụng nhân dân trung ương là 3.000 tỷ đồng, công ty tài chính là 500 tỷ đồng, và công ty cho thuê tài chính cũng có những quy định về vốn phù hợp với loại hình hoạt động.
150 tỷ đồng Mục đích của nghị định trên là sàng lọc lại hệ thống ngân hàng, chỉ có những cá thể mạnh mới tồn tại.
Quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR)
Hệ số an toàn vốn (Vốn tự có / Tổng tài sản “có” rủi ro quy đổi - Capital Adequacy Ratio
CAR (Capital Adequacy Ratio) là chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng lực tài chính của các ngân hàng, giúp đánh giá khả năng vốn của ngân hàng trong việc đảm bảo an toàn tài chính Chỉ số CAR thể hiện khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi ro như rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản Việc duy trì CAR ở mức an toàn giúp nâng cao uy tín và bảo vệ sự ổn định của hệ thống ngân hàng Do đó, CAR đóng vai trò thiết yếu trong việc đánh giá sức khỏe tài chính của ngân hàng và tuân thủ các quy định về an toàn vốn theo tiêu chuẩn quốc tế.
Theo Điều 4 của Thông tư 13 có hiệu lực từ ngày 1/10/2010, các Tổ chức Tín dụng (TCTD), trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sở vốn tự có so với tổng tài sản "Có" rủi ro Ngoài việc tuân thủ tỷ lệ an toàn vốn theo quy định riêng lẻ, các TCTD còn phải duy trì tỷ lệ này ít nhất 9% trên cơ sở hợp nhất, bao gồm vốn, tài sản của TCTD và các công ty trực thuộc nhằm đảm bảo sự ổn định tài chính và tuân thủ các yêu cầu về an toàn vốn theo quy định của pháp luật.
Tỷ lệ an toàn vốn được nâng lên 9% thay vì 8%, phù hợp với thực tế các ngân hàng thương mại hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Việc điều chỉnh này giúp các ngân hàng tuân thủ tốt hơn 25 nguyên tắc thanh tra cơ bản của Ủy ban Basel, góp phần nâng cao an toàn và ổn định hệ thống tài chính.
Quy định về giới hạn tín dụng
Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng (trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài) xây dựng chính sách nội bộ về xác định khách hàng và nhóm khách hàng liên quan, cùng các giới hạn tín dụng tương ứng Tiêu chí để xác định “nhóm khách hàng có liên quan” dựa trên quan hệ sở hữu, quản trị, điều hành hoặc thành viên, như cá nhân sở hữu trên 25% hoặc pháp nhân sở hữu trên 50% vốn điều lệ của khách hàng khác, hoặc người giữ chức danh chủ tịch, tổng giám đốc trong doanh nghiệp khác, hoặc các công ty hợp danh và thành viên của họ Các ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc tuân thủ giới hạn tín dụng do phải cập nhật và quản lý thông tin về khách hàng và nhóm khách hàng liên quan, đặc biệt khi lượng khách hàng ngày càng lớn và hệ thống quản lý dữ liệu chưa đủ sẵn sàng Ngoài ra, việc chia sẻ và quản lý thông tin giữa các chi nhánh trong cùng ngân hàng còn phức tạp do thiếu hệ thống mạng nội bộ kết nối toàn quốc một cách hoàn chỉnh.
Các giới hạn về tín dụng áp dụng đối với khách hàng có thể tóm tắt như sau:
Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có, đảm bảo hạn chế rủi ro tín dụng cá nhân Đối với nhóm khách hàng có liên quan, mức giới hạn tổng dư nợ không vượt quá 50% vốn tự có của ngân hàng, giúp kiểm soát rủi ro liên ngành và duy trì sự ổn định tài chính Những nguyên tắc này nhằm tăng cường an toàn cho hệ thống ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư.
Tổng mức cho vay và bảo lãnh đối với một khách hàng không vượt quá 25% vốn tự có, đảm bảo hạn chế rủi ro tín dụng cá nhân Đối với nhóm khách hàng có liên quan, tổng hạn mức này không được vượt quá 60% vốn tự có, giúp kiểm soát rủi ro tập thể và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính Các quy định này nhằm duy trì sự ổn định và bền vững trong hoạt động cho vay và bảo lãnh của tổ chức tài chính.
TCTD không được phép cấp tín dụng không có bảo đảm, nhằm hạn chế rủi ro tài chính và bảo vệ an toàn ngân hàng Các ngân hàng thương mại cũng không được cung cấp các khoản tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp mà TCTD nắm quyền kiểm soát, nhằm tránh xung đột lợi ích Ngoài ra, TCTD không được cấp tín dụng cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán mà TCTD kiểm soát, để đảm bảo tính minh bạch và tránh rủi ro liên quan đến thị trường chứng khoán Cuối cùng, việc cho vay không bảo đảm nhằm đầu tư chứng khoán cũng bị hạn chế nhằm giảm thiểu rủi ro tài chính và bảo vệ quyền lợi của ngân hàng.
Quy định về góp vốn, mua cổ phần
Các tổ chức tín dụng (TCTD) chỉ được sử dụng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, quỹ đầu tư hoặc TCTD khác, theo quy định tại Điều 129 Luật TCTD 2010 Mức góp vốn hoặc mua cổ phần trong một doanh nghiệp hoặc quỹ đầu tư không vượt quá 11% vốn điều lệ của đối tác, và tổng mức góp vốn của TCTD trong tất cả các doanh nghiệp hoặc quỹ đầu tư không vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của chính TCTD đó Ngoài ra, TCTD còn có thể cấp vốn điều lệ cho các công ty trực thuộc hoặc góp vốn vào các dự án đầu tư thông qua hình thức ủy thác vốn cho các pháp nhân, tổ chức, doanh nghiệp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo quy định pháp luật.
Theo Luật Tổ chức tín dụng 2010, các tổ chức tín dụng không được phép góp vốn hoặc mua cổ phần của các doanh nghiệp, bao gồm cả các TCTD khác, để tránh tình trạng sở hữu chéo trong ngành ngân hàng, qua đó đảm bảo tính minh bạch và ổn định tài chính.
Tỷ lệ về khả năng chi trả
TCTD phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả như sau:
Đảm bảo tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản “Có” có thể thanh toán ngay tại mọi thời điểm và các tài sản “Nợ” sẽ đến hạn thanh toán trong vòng 1 tháng tới Đây là yêu cầu quan trọng nhằm duy trì khả năng thanh toán linh hoạt và ổn định tài chính của doanh nghiệp Việc duy trì tỷ lệ này giúp giảm thiểu rủi ro thanh khoản và đảm bảo khả năng đáp ứng các khoản nợ đáo hạn trong ngắn hạn Chính sách tỷ lệ tối thiểu 25% góp phần nâng cao uy tín tín dụng và cải thiện bối cảnh tài chính vững mạnh cho công ty.
Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” có thể thanh toán ngay trong vòng 7 ngày làm việc tới và tổng tài sản “Nợ” phải thanh toán trong cùng khoảng thời gian Điều này đảm bảo khả năng thanh khoản và cân đối tài chính, giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động ổn định trong ngắn hạn Việc duy trì tỷ lệ này là yếu tố quan trọng để đáp ứng yêu cầu thanh toán nhanh chóng và đảm bảo sự bền vững của doanh nghiệp trên thị trường.
Những quy định từ Ngân hàng Nhà nước nhằm giám sát chặt chẽ hoạt động của các Tổ chức Tài chính Ngân hàng (TCTD) nhằm đảm bảo sự an toàn cho hệ thống ngân hàng Việc tuân thủ các quy định này giúp giảm thiểu rủi ro và tăng tính minh bạch trong hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, thực hiện đầy đủ các quy định đòi hỏi các TCTD phải chi tiêu một khoản chi phí đáng kể Trong khi đó, sở hữu chéo được xem là một cơ chế giúp các ngân hàng đáp ứng các yêu cầu pháp lý này, đồng thời tiết kiệm chi phí hoạt động.
VẤN ĐỀ SỞ HỮU CHÉO TẠI VIỆT NAM
Khái niệm, lịch sử ra đời
Sở hữu chéo, còn gọi là cross-ownership hoặc cross-holding theo luật Anglo-American, luật Wechseloeitigo Beteiliguo của Đức và luật pháp Pháp, thường được hiểu là hình thức đầu tư tương hỗ hoặc tham gia góp vốn lẫn nhau giữa các công ty Hiện tượng này phản ánh việc các doanh nghiệp khác nhau sở hữu cổ phần lẫn nhau để đạt được mục đích chiến lược hoặc phát triển công ty, mang lại lợi ích kinh tế đôi bên cùng có lợi Theo các nhà nghiên cứu như A Alberto Onetti và Alessia Pisoni (2009), sở hữu chéo tại Đức đặc trưng bởi việc các công ty trong lĩnh vực công nghiệp và tài chính giữ cổ phần lâu dài của nhau Scher (2001) đồng thời nhấn mạnh rằng, ở Nhật Bản, sở hữu chéo thường liên quan đến việc hai hoặc nhiều công ty nắm giữ cổ phần của nhau nhằm mục tiêu phát triển và mở rộng hoạt động, góp phần vào chiến lược tăng trưởng chung của các doanh nghiệp.
Phân loại sở hữu chéo trên thế giới
Sở hữu chéo trong hệ thống kinh tế đa dạng, bao gồm các mối quan hệ giữa ngân hàng, doanh nghiệp sản xuất, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư, đặc biệt rõ nét giữa ngân hàng và doanh nghiệp Sở hữu chéo được phân thành hai loại chính dựa trên mối quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc không có mối quan hệ này: theo chiều dọc và theo chiều ngang Loại sở hữu chéo theo chiều dọc chủ yếu liên quan đến cổ phần của các công ty có mối quan hệ công ty mẹ-con, trong khi loại theo chiều ngang liên quan đến cổ phần giữa các công ty không có mối quan hệ mẹ-con Dựa trên cấu trúc, sở hữu chéo gồm hai loại chính và năm dạng cụ thể, trong đó, sở hữu chéo trực tiếp là dạng đơn giản nhất, còn sở hữu chéo phức tạp dựa trên sở hữu trực tiếp, gồm các dạng như tuyến tính, hình chuông, bức xạ và mắt lưới Trong thực tế ở Việt Nam, việc xác định chính xác loại sở hữu chéo thường không cần thiết, do sự pha trộn và phức tạp của các hình thức này.
Vấn đề sở hữu chéo ở Việt Nam
2.3.1 Phân loại sở hữu chéo ở Việt Nam
Theo nguồn Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy ban Kinh tế Quốc hội: có thể chia sở hữu chéo trong ngân hàng thành 6 nhóm:
Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các Ngân hàng liên doanh: LaoVietBank, BIDC, VRB,…
Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM: Ngân hàng Tokyo Mitsubishi UBJ – Vietinbank, Ngân hàng Mizuho – Vietinbank,…
Cổ đông tại các NHTM là các Công ty quản lý quỹ
Sở hữu của NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần.
Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần
Sở hữu NHTM cổ phần bởi các tập đoàn, tổng Công ty Nhà nước và tư nhân.
Trong các mối quan hệ chồng chéo, đặc biệt đáng chú ý là mối quan hệ giữa ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lẫn tư nhân Các mối liên hệ này đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc tài chính và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Hiểu rõ về mối quan hệ giữa các thành phần này giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và thúc đẩy sự cân đối, bền vững của hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp Các mối quan hệ đối tác giữa các ngân hàng và các tập đoàn, tổng công ty cũng cần được quản lý rõ ràng để tránh xung đột lợi ích và tăng cường minh bạch trong hoạt động.
2.3.2 Các nhân tố thúc đẩy việc sở hữu chéo trong hệ thống NHTM ở Việt Nam
Sở hữu chéo xuất phát từ yêu cầu có thực của đời sống kinh tế - xã hội và dưới sự thúc đẩy của một vài nhân tố
Nhân tố thứ nhất : Những lỗ hổng trong luật quản lý ban hành và sự giám sát lỏng lẻo của cơ quan có thẩm quyền.
Chính sách quản lý và hệ thống thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng chưa đạt hiệu quả cao trong bối cảnh các tổ chức tín dụng phát triển nhanh về số lượng và quy mô, đồng thời hội nhập quốc tế sâu rộng Mặc dù đã có nhiều đổi mới về quy định và chuẩn mực an toàn hoạt động ngân hàng hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế, nhưng vẫn còn chậm so với các hệ thống ngân hàng trong khu vực và tụt hậu so với tiến bộ quốc tế Hệ thống giám sát và hành pháp hiện còn mang tính sơ khai, tạo ra những lỗ hổng lớn trong công tác quản lý ngân hàng.
Luật các tổ chức tín dụng và thông tư quy định giảm tỷ lệ sở hữu cá nhân và tổ chức nhằm thúc đẩy tính đại chúng của ngân hàng, đồng thời hạn chế nguy cơ mất an toàn hệ thống do sở hữu chéo hoặc sở hữu lớn gây lũng đoạn ngân hàng Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn những lỗ hổng, khi những người muốn sở hữu tỷ lệ cao hơn quy định có thể thực hiện thông qua các người thứ ba mà không cần đứng tên chính chủ.
Điều 118 của Luật Doanh nghiệp quy định rõ ràng các thành viên HĐQT, ban kiểm soát, ban tổng giám đốc cùng các người liên quan phải công bố tỷ lệ sở hữu cổ phần và lợi ích có liên quan, dù lớn hay nhỏ, nhằm đảm bảo minh bạch thông tin Ngoài ra, Luật Thuế yêu cầu doanh nghiệp tự công bố tất cả lợi ích thuế liên quan đến ban tổng giám đốc, nhằm chống chuyển giá và nâng cao trách nhiệm công bố thông tin Các quy định pháp lý này nhằm giúp cổ đông, nhà đầu tư và thị trường giám sát chặt chẽ vấn đề sở hữu chéo và lợi ích liên quan Tuy nhiên, thực tế trên thị trường lại cho thấy chưa có doanh nghiệp hoặc cá nhân nào thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công bố, cũng như không có cơ chế giám sát và xử phạt rõ ràng đối với vi phạm trong lĩnh vực này.
Luật các tổ chức tín dụng hiện hành quy định rõ ràng về giới hạn sở hữu cổ phần, cụ thể một cổ đông cá nhân không được vượt quá 5% vốn điều lệ của ngân hàng, trong khi cổ đông tổ chức không được sở hữu quá 15%, trừ những trường hợp đặc biệt Thêm vào đó, cổ đông và các người liên quan không được sở hữu quá 20% vốn điều lệ, nhằm đảm bảo sự kiểm soát chặt chẽ trong lĩnh vực ngân hàng Tuy nhiên, việc giám sát thực hiện các quy định này còn lỏng lẻo, tạo điều kiện cho các đối tượng lợi dụng vốn ảo để thâu tóm ngân hàng trái phép.
Việc luật quản lý còn nhiều lỗ hổng dẫn đến sự mập mờ trong thông tin sở hữu trên sổ sách của ngân hàng, gây khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin về các tổ chức tín dụng mua cổ phần của nhau Rất ít ngân hàng công khai tỷ lệ đầu tư vào các tổ chức tín dụng khác, và chỉ có một số ít như Vietcombank, Vietinbank cung cấp thông tin chính thức Thậm chí, các số liệu này có thể chưa phản ánh đầy đủ thực tế về quyền sở hữu giữa các ngân hàng.
Chính phủ, cơ quan quản lý và NHNN đã ban hành các quy định yêu cầu tăng vốn điều lệ tối thiểu cho các ngân hàng thương mại cổ phần nhằm đảm bảo an toàn và ổn định hệ thống tài chính Các ngân hàng đã phải liên tục mở rộng vốn để đáp ứng yêu cầu về vốn tối thiểu theo luật định là 1.000 tỷ đồng vào năm 2008 và 3.000 tỷ đồng vào năm 2010, theo Nghị định 141-CP/2006 và Thông tư 13/2010-TT/NHNN về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Các quy định này nhằm nâng cao năng lực tài chính của ngân hàng, đảm bảo khả năng chống chịu rủi ro và tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý hiện hành.
Theo Quyết định 13/2008/QĐ-NHNN, các ngân hàng thương mại phải đảm bảo vốn điều lệ tối thiểu trên 100 tỷ đồng cho mỗi chi nhánh mở tại TP HCM và Hà Nội, nhằm nâng cao năng lực hoạt động và quản lý rủi ro Đối với các chi nhánh tại các tỉnh thành khác, mức vốn điều lệ tối thiểu là 50 tỷ đồng, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh tế từng địa phương Việc tuân thủ quy định này giúp tăng cường tính bền vững và ổn định của hệ thống ngân hàng trong nước.
Khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào năm 2007, các cơ quan quản lý nhà nước và ngành Ngân hàng dự đoán rằng sẽ có làn sóng các ngân hàng nước ngoài gia nhập thị trường Việt Nam sau khi ngành Ngân hàng mở cửa, tạo cơ hội thúc đẩy cạnh tranh và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng trong nước.
Năm 2011, các ngân hàng thương mại trong nước đã đua nhau tăng vốn điều lệ nhằm đảm bảo năng lực tài chính và giữ vững thị phần trước sự cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng nước ngoài xâm nhập thị trường Việt Nam Yêu cầu tăng vốn chủ yếu xuất phát từ quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu còn nhỏ bé so với các ngân hàng trong khu vực và thế giới Điều này dẫn đến cuộc đua tăng vốn điều lệ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, làm nóng cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng nhỏ khát vốn Trong khi các ngân hàng lớn nhanh chóng mở rộng vốn để tăng cường năng lực tài chính và chiếm lĩnh thị phần, các ngân hàng nhỏ thường tìm cách tăng vốn qua luân chuyển vốn, phát hành cổ phần, dẫn đến sở hữu chéo và thâu tóm ngân hàng bởi các nhóm cổ đông lớn Thêm vào đó, việc chuyển đổi ngân hàng nông thôn thành ngân hàng thương mại cổ phần đô thị và các đề xuất sáp nhập ngân hàng nhỏ nhằm tạo ra những ngân hàng lớn hơn chưa được thực thi đúng hạn Các ngân hàng còn phải mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch để huy động vốn và cho vay nhanh chóng, nhưng điều kiện tăng vốn còn thiếu chặt chẽ đã tạo điều kiện cho hiện tượng sở hữu chéo, góp vốn liên hoàn giữa ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng hoặc doanh nghiệp Việc cho phép ngân hàng mua cổ phiếu ngân hàng khác và các cổ đông sở hữu cổ phần đa ngân hàng là cần thiết, song cần có các quy định nghiêm ngặt hơn giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần và quyền tham gia quản lý của các cá nhân, nhằm chấm dứt tình trạng ngân hàng do một hoặc hai cổ đông chi phối.
Nhân tố thứ hai: Lợi ích nhóm.
Các nhà quản lý có quyền lực kinh tế chính trị trong việc phân vùng kinh doanh và kiểm soát các tập đoàn nhà nước, tạo điều kiện cho việc thành lập ngân hàng thương mại cổ phần dưới danh nghĩa tư nhân nhưng thực chất do thân tín của lãnh tụ làm chủ Những ngân hàng này sau đó xây dựng các công ty đầu tư hoặc cơ sở tài chính để vay tiền từ ngân hàng mẹ, và tiếp tục tìm kiếm các dự án tài trợ trên giấy, chủ yếu là các dự án ảo về chế biến, thương mại hoặc bất động sản với giá trị ước tính cao nhằm vay vốn lớn Cuối cùng, các khoản tiền này thường trở lại túi của những cá nhân có quyền lực kinh tế chính trị, tạo thành vòng quay lợi ích bất chính.
Nhân tố thứ ba: Quy mô phát triển
Trong những năm qua, ngành ngân hàng đã chứng kiến tốc độ phát triển nhanh, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước Nhiều tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đã tăng cường đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng, nắm giữ cổ phần lớn và trở thành cổ đông chiến lược của các ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
2.3.3 Tác động của sở hữu chéo đến hệ thống ngân hàng ở Việt Nam
Sở hữu chéo có tác động hai chiều đối với nền kinh tế và các chủ thể tham gia như tập đoàn, ngân hàng, doanh nghiệp Tiến sĩ Võ Trí Thành nhấn mạnh rằng, nếu nằm trong giới hạn hợp lý, sở hữu chéo có thể mang lại lợi thế về quy mô và kiểm soát chuỗi giá trị cho doanh nghiệp Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay đang đối mặt với những rủi ro nghiêm trọng do mạng lưới sở hữu chéo phức tạp, đặc biệt là có thể gây ra căng thẳng nợ xấu và làm chệch hướng quá trình tái cấu trúc ngân hàng Nhìn chung, sở hữu chéo mang đến cả lợi ích lẫn rủi ro, nhưng tác động tiêu cực đến Việt Nam rõ rệt hơn.
2.3.3.1 Tác động tích cực: Sở hữu chéo ở một mức độ nhất định sẽ mang lại lợi ích cho các chủ thể
Sở hữu chéo giúp tăng nguồn vốn cho hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tác trao đổi kinh nghiệm, nguồn nhân lực, tài chính và công nghệ Đây là một chiến lược hiệu quả thúc đẩy hợp tác liên doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường của doanh nghiệp Việc sở hữu chéo còn góp phần tối ưu hóa nguồn lực, giảm thiểu rủi ro tài chính, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững trong môi trường kinh doanh cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Sở hữu chéo giúp hình thành một cấu trúc sở hữu và quản trị ổn định trong các doanh nghiệp và ngân hàng Điều này giúp các chủ thể tận dụng nguồn vốn từ các đối tác, mở rộng quy mô sản xuất và tận dụng cơ hội kinh doanh để nâng cao khả năng cạnh tranh Sở hữu chéo còn giúp hình thành danh mục đầu tư tối ưu, tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản trị tài chính cũng như quản trị doanh nghiệp nói chung.
CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT SỞ HỮU CHÉO
Tách bạch sở hữu và giám sát đối với NHTMNN
Để đảm bảo hiệu quả giám sát ngân hàng thương mại nhà nước, cần tách bạch rõ ràng giữa quyền sở hữu và quản lý của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) NHNN cần có sự độc lập trong quá trình giám sát hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN), nhằm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý Việc phân định rõ ràng vai trò sở hữu và quản lý giúp hạn chế xung đột lợi ích và thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng quốc gia.
Việc giám sát các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) luôn phải thực hiện một cách nhất quán và chặt chẽ như các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) khác, không có ngoại lệ nào trong việc tuân thủ các quy định bảo đảm an toàn hoạt động Các NHTMNN cần được kiểm soát chặt chẽ nhằm ngăn chặn tâm lý ỷ lại do tổn thất từ vi phạm khung giám sát, đặc biệt trong các dự án vay vốn của các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước, để tránh sự phụ thuộc vào sự cứu trợ của Chính phủ và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động ngân hàng.
Việc giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước tại các Ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) mang lại hai lợi ích chính Thứ nhất, giảm áp lực buộc các NHTMNN phải thực hiện cho vay chỉ định, thúc đẩy hoạt động ngân hàng trở nên linh hoạt hơn Thứ hai, khi có sự giám sát chặt chẽ hơn từ các cổ đông bên ngoài không thuộc Nhà nước, các NHTMNN sẽ nâng cao việc tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, góp phần thúc đẩy sự minh bạch và ổn định của hệ thống ngân hàng.
Giải pháp giảm sở hữu chéo
Các DNNN và NHTMNN phải thoái vốn khỏi NHTMCP để giảm thiểu rủi ro liên quan đến mối quan hệ ủy quyền và liên hệ sở hữu chéo Các giao dịch vay vốn giữa các bên này thường vi phạm khung giám sát, gây nguy cơ mất an toàn hoạt động của NHTM Chính phủ cần yêu cầu DNNN và NHTMNN đang nắm giữ cổ phần của NHTMCP thoái vốn, tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi để hạn chế các khoản vay, đầu tư qua lại không hợp lệ, giảm thiểu rủi ro và nâng cao tính minh bạch trong hệ thống ngân hàng.
Việc thúc đẩy hoạt động mua bán sáp nhập (M&A) giữa các ngân hàng có thể giảm thiểu tình trạng sở hữu chéo và thúc đẩy tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Các ngân hàng có cùng chủ sở hữu sau hợp nhất cần được tập trung về một chủ để nâng cao tính minh bạch và hiệu quả hoạt động Ví dụ về hợp nhất của ba ngân hàng Tín Nghĩa, Đệ Nhất và Sài Gòn cho thấy khả năng thành công của các giải pháp này, tuy nhiên việc xử lý tài sản xấu sau hợp nhất vẫn là bước cần thiết tiếp theo Thực tế, các hoạt động như Eximbank mua STB đôi khi làm trầm trọng thêm xu hướng góp vốn chéo giữa các ngân hàng Để đảm bảo hiệu quả của quá trình tái cấu trúc, cần minh bạch hóa toàn diện các giao dịch M&A và công bố rõ ràng người sở hữu cuối cùng của các ngân hàng sau giao dịch M&A nên được khuyến khích theo hai hướng chính: tăng tính đại chúng trong sở hữu để phân tán quyền lực, hoặc củng cố vai trò của nhà đầu tư chiến lược khi hoạt động theo hình thức thâu tóm nhằm mục tiêu xử lý nợ xấu, tài sản kém chất lượng, và nâng cao hiệu quả quản trị Đồng thời, việc chuyển giao công nghệ mới cả cứng và mềm sẽ giúp nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
X, người sở hữu sau cùng với tỷ lệ 49,9% cổ phần, của NH Y hoàn toàn kiểm soát NH Y.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Khoản chi phí xã hội tăng thêm không quá lớn và cần thiết để hạn chế tác động của SHC Việc này giúp nâng cao hiệu quả giám sát các ngân hàng thương mại, từ đó góp phần xây dựng một hệ thống ngân hàng ổn định, an toàn và minh bạch hơn.
NHTM an toàn đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ vốn hiệu quả cho nền kinh tế Để nâng cao tính hiệu quả của các chế tài, cần tăng mức xử phạt vi phạm về công bố thông tin Ngoài ra, việc đảm bảo hoạt động kiểm toán độc lập và kiểm sát hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là yếu tố then chốt, trong đó NHNN giám sát các cổ đông và tổ chức liên quan của các tổ chức tín dụng, như những cổ đông nắm giữ từ 5% cổ phần hoặc các liên kết của nhóm cổ đông đó.
Kinh nghiệm kiểm soát sở hữu chéo của các nước trên thế giới
Sở hữu chéo cổ phần tại Nhật Bản vẫn được duy trì như một phương thức duy trì sự liên kết trong hoạt động kinh doanh của các công ty cổ phần (CTCP) Pháp luật Nhật Bản không cấm hoàn toàn việc sở hữu chéo cổ phần, nhưng đưa ra các quy định nghiêm ngặt nhằm kiểm soát và hạn chế những bất cập có thể phát sinh từ hình thức này Việc duy trì sở hữu chéo góp phần thúc đẩy mối quan hệ liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo sự minh bạch và quản lý chặt chẽ theo quy định pháp luật.
Từ năm 1981, Luật Thương mại Nhật Bản đã quy định rõ ràng về việc cấm công ty con sở hữu cổ phần của công ty mẹ, trừ các trường hợp đặc biệt Ngoài ra, Luật Công ty cũng nghiêm cấm việc thực hiện quyền biểu quyết của cổ đông là các công ty sở hữu chéo ngược chiều, đặc biệt trong các trường hợp sở hữu chéo có dấu hiệu chi phối thực chất doanh nghiệp Bên cạnh đó, luật còn quy định các giới hạn về sở hữu và nghĩa vụ báo cáo nhằm kiểm soát tình trạng độc quyền và tác động gián tiếp của sở hữu chéo cổ phần, nhằm duy trì cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.
Kể từ ngày 1/4/2000, Nhật Bản đã chuyển sang chế độ hạch toán theo giá thị trường cho hàng hóa tài chính, thay thế cho chế độ nguyên giá, dẫn đến các ngân hàng thương mại và công ty sở hữu chéo cổ phần bị lỗ do định giá cổ phần theo thị trường Các chủ thể này đã nhận thức được rằng sở hữu chéo gây ra tăng trưởng lợi nhuận âm và bắt đầu điều chỉnh tỷ lệ sở hữu cổ phần chéo Từ năm 2000, nhiều ngân hàng và công ty đã bán tháo khối lượng lớn cổ phần, khiến nhiều cổ phiếu sụt giảm mạnh, gây sức ép đáng kể cho thị trường chứng khoán và xã hội nói chung.
Năm 2001, Nhật Bản đã ban hành Luật Hạn chế Ngân hàng sở hữu cổ phần nhằm quy định rõ về tổ chức và hoạt động của các tổ chức mua cổ phần sở hữu của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng dài hạn Luật này cũng điều chỉnh hoạt động của quỹ nông lâm trung ương và liên minh quỹ tín dụng, nhằm thúc đẩy sự ổn định và minh bạch trong lĩnh vực ngân hàng.
Sở hữu chéo cổ phần vẫn được duy trì tại Nhật Bản, tuy nhiên, pháp luật nước này đã ban hành nhiều quy định chặt chẽ nhằm hạn chế các tồn tại và rủi ro liên quan đến thực hành này Các quy định khắt khe được thiết lập nhằm đảm bảo tính minh bạch và ổn định trong hoạt động của các doanh nghiệp, góp phần ngăn chặn các vấn đề tiềm ẩn như kiểm soát độc quyền và xung đột lợi ích Điểm đáng chú ý là Nhật Bản đã liên tục cập nhật các quy định pháp luật để phù hợp với thực tiễn phát triển kinh doanh, qua đó giữ vững môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng.
Các tập đoàn chaebol của Hàn Quốc nổi bật với mối quan hệ sở hữu chéo phức tạp giữa các công ty thành viên trong nội bộ và giữa các tập đoàn với nhau, mặc dù luật thương mại quy định rõ giới hạn cổ phần đối với các công ty con và công ty mẹ Theo đó, các công ty con không được phép nắm giữ cổ phiếu của công ty mẹ và công ty mẹ không được sở hữu quá 40% cổ phần của công ty con Mặc dù sở hữu chéo bị hạn chế, các công ty vẫn có thể đầu tư vốn vào các công ty khác và chuyển vốn cổ phần cho bên thứ ba, hình thức này thường được gọi là "mô hình kim tự tháp" và rất phổ biến tại Hàn Quốc.
Vấn nạn nghiêm trọng nhất ở các công ty niêm yết thuộc các Chaebol là sự bất khả thay thế của những người nắm cổ phần khống chế (CEO), vì vị trí của họ phụ thuộc vào nhóm người ủng hộ còn nắm giữ các vị trí quản lý tại các công ty con, đảm bảo họ luôn trúng cử tại Đại hội cổ đông Thứ hai, nhiều công ty thiếu rõ ràng trong phân định chức năng quản trị của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, đặc biệt trước năm 1997, khi HĐQT chủ yếu gồm các "người trong cuộc"; kể từ sau cuộc khủng hoảng năm 1998, yêu cầu về thành viên độc lập trong HĐQT mới được áp dụng để nâng cao tính minh bạch Thứ ba, vấn đề thiếu minh bạch trong quản lý doanh nghiệp vẫn tồn tại, khi trước đây Hội đồng quản trị tự quyền chỉ định kiểm toán viên bên ngoài, dẫn đến nghi ngờ về tính độc lập; hiện nay, các công ty đã thành lập các ủy ban có kiểm toán viên nội bộ, thành viên độc lập và các chủ nợ tham gia lựa chọn hoặc đề xuất kiểm toán viên bên ngoài nhằm gia tăng tính minh bạch trong hoạt động doanh nghiệp.
Sự thiếu lành mạnh trong cơ cấu vốn của các tập đoàn chaebol do quản lý trực tiếp từ gia đình sáng lập gây ra, khiến không có cơ chế điều hành hiệu quả Các công ty hoạt động hiệu quả bắt buộc phải hỗ trợ các công ty yếu thông qua đầu tư vào bảo lãnh chéo theo chỉ đạo của cổ đông sáng lập Chính sách "giải quyết nội bộ" này làm yếu các công ty mạnh và dẫn đến tình trạng thiếu cân đối về cơ cấu vốn, làm mập mờ hiệu quả kinh doanh giữa các công ty trong cùng chaebol, bất kể kết quả hoạt động của từng công ty.
Ngành tài chính ngân hàng của Việt Nam cần học hỏi từ các tập đoàn chaebol của Hàn Quốc để tránh mắc phải những sai lầm đã từng xảy ra Để đạt được sự phát triển bền vững, các ngân hàng, cổ đông và chính phủ cần nỗ lực phối hợp chặt chẽ, trong đó đặc biệt chú trọng vào việc tăng cường vai trò quản lý của cổ đông Việc phân định rõ ràng vai trò của Hội đồng quản trị và Ban điều hành là yếu tố then chốt nhằm đảm bảo quản lý hiệu quả Ngoài ra, cần thiết lập các quy định cụ thể về mức độ bảo lãnh và sở hữu chéo nội bộ các ngân hàng để tránh rủi ro và rối loạn hệ thống tài chính.