Nếu như từ những năm 1998-2000, tỷ lệ ương cá Tra bột lên cá giống ựạt từ 30-70% thì ựáng lẽ với những kinh nghiệm ương tắch luỹ từ nhiều năm, các tiến bộ kỹ thuật mới ứng dụng vào sản x
Trang 1SUY GIAỹM CHAÁT LỷÔỳNG CON GIOÁNG CAÙ TRA
Hiện trạng và giải pháp
Vương Học Vinh *
ừ sau năm 1997, các nhà khoa học thuỷ sản
ựã ứng dụng kết quả sinh sản nhân tạo cá
Ba Sa vào sản xuất giống cá Tra thành công với
quy trình sản xuất ựơn giản và hiệu quả, cùng với
việc ương cá Tra bột 24 giờ tuổi thành con giống
với tỷ sống từ 30-70% Việc này ựã mở ra cho
nghề cá đBSCL một bước ngoặt mới Các cơ sở
sản xuất cá Tra giống hiện nay (trên 80 trại ở An
Giang, đồng Tháp ) ựã sẵn sàng cung cấp ựủ số
lượng cá bột, cá giống cho yêu cầu sản xuất của xã
hội Tuy nhiên, có một thách thức lớn cho các nhà
sản xuất giống và người nuôi cá, ựó là:
+ Giá thành cá Tra bột 24 giờ tuổi sụt giảm
nghiêm trọng (nếu ở năm 1998, giá cá bột 24 giờ
tuổi có giá thành từ 50-80 ựồng /1 con mà người
mua phải ựăng ký trước hoặc phải ựấu giá mới có
ựược, thì ngày nay chỉ giá thành chỉ còn 1-3 ựồng
một con và các cơ sở cũng không có nhiều người
ựến ựặt hàng như trước ựây nữa)
Chất lượng con giống ngày nay ựã Ộcó vấn ựềỢ
Nếu như từ những năm 1998-2000, tỷ lệ ương cá
Tra bột lên cá giống ựạt từ 30-70% thì ựáng lẽ với
những kinh nghiệm ương tắch luỹ từ nhiều năm,
các tiến bộ kỹ thuật mới ứng dụng vào sản xuất, tỷ
lệ sống trong khâu ương giống tất phải tăng lên
nhiều lần nhưng hiện nay chỉ có một số ắt hộ ương
cá ựạt từ 10-25% và thậm chắ có nhiều ựợt uơng bị
Ộmất trắngỢ hay chỉ còn 1-2% đó là chưa kể trong
quá trình ương, người nuôi cá phải sử dụng nhiều
loại thuốc phòng và trị bệnh hơn
Câu hỏi ựặt ra có phải ựang có sự suy thoái về
chất lượng con giống cá Tra?
để trả lời chắnh xác câu hỏi trên cần phải có những nghiên cứu ựiều tra và phân tắch ADN di truyền; và câu trả lời chắc sẽ có trong vài năm tới
Có một thực tế ựang xảy ra ở rất nhiều cơ sở sản xuất giống từ vài năm gần ựây là:
* Nuôi vỗ cá bố mẹ một cách cầm chừng, thậm chắ không cho cá bố mẹ ăn
Trong chăn nuôi ai cũng biết nếu con bố mẹ không ựược nuôi và chăm sóc tốt thì chất lượng con giống của thế hệ sau sẽ kém Một thực tế ựang diễn ra ựối với ựàn cá Tra bố mẹ ở một số cơ sở sản xuất giống hiện nay là cho ăn cầm chừng, thậm chắ cắt mồi (không cho ăn suốt một thời gian dài)
vì với giá bán cá Tra bột hiện nay (thị trường chỉ chấp nhận từ 1-3 ựồng/con) người sản xuất chỉ ựủ tiền mua thuốc kắch dục tố, trả tiền thuê công nhân, ựiện nước,Ầ Vì vậy, càng ựầu tư nuôi vỗ cá bố mẹ bao nhiêu thì càng lỗ bấy nhiêu Như vậy các nhà sản xuất cá Tra bột ựang lâm vào Ộvòng lẩn quẩnỢ
* Cận huyết trong di truyền Thông thường, ở ựộng vật thường tồn tại những thể ựột biến mang các alene lặn có hại, khi có sự giao phối giữa các cá thể có quan hệ huyết thống gần gũi (cùng huyết thống) các alene ựột biến này
sẽ chuyển qua trạng thái ựồng hợp tử làm giảm sức sống, tỷ lệ chống chịu môi trường, bệnh tật,Ầ Chắnh vì hiện tượng này (con người cũng là một ựộng vật bị chi phối bởi qui luật trên, nên pháp luật
ở các nước thường nghiêm cấm sự kết hôn trong
họ hàng ở phạm vi bốn ựờiẦ) Trong sinh sản nhân tạo tỷ lệ cận huyết của một quần ựàn rất thường xảy ra (do chúng ta vô tình không chú ý hoặc có sự hạn chế về ựàn cá bố mẹ)
Tỷ lệ cận huyết trong chăn nuôi ựược tắnh như sau:
T
Giá bán
cá bột giảm Không nuôi vỗ cá bố mẹ
Chất lượng con giống không tốt
Sinh saũn nhaân taỉo caù tra
* Giảng viên BM Thuỷ sản, Khoa Nông
nghiệp-TNTN E-mail: vhvinh@agu.edu.vn
Trang 2Nf Nm
F
8
1 8
1
+
=
∆
Trong đĩ:
F : tỷ lệ cận huyết
Nm: số lượng con đực trong quần đàn tham gia
sinh sản
Nf: số lượng con cái trong quần đàn tham gia
sinh sản
Di truyền chọn giống đĩng một vai trị quan
trọng để nâng cao chất lượng vật nuơi ở thế hệ sau
Cĩ nhiều phương pháp chọn giống: chọn lọc cá thể
(individual selection), chọn lọc gia đình (family
selection), chọn lọc kết hợp (combined selection)
Người viết cĩ “may mắn” tham gia từ những
ngày đầu sinh sản nhân tạo cá Tra và thực hiện
cơng việc chọn giống cá Tra bố mẹ ở một Trại
nghiên cứu thực hiện từ tháng 6/1997
Chúng tơi đã chọn 500 cá giống 60 ngày tuổi
vượt đàn từ 5 đợt ương (5 bầy – gia đình gồm 2
con đực và 1 con cái)
Năm 1998, sau 12 tháng nuơi chọn lại 50%
trong tổng đàn là 250 con (cá lớn, khơng dị hình )
Năm 1999 chọn lần 2, 150 con (60 cá đực, 90
cá cái) làm đàn cá bố mẹ hậu bị cho trại
Kết quả từ cơng tác tuyển chọn giống
Năm 2000, sử dụng cá đực F1 ở tháng 10-11
dương lịch (dl) khi đàn cá đực cĩ nguồn gốc hoang
dã khơng cịn tinh trùng ở cuối vụ sinh sản
Năm 2001, đàn cá hậu bị đã tham gia sinh sản
17 triệu cá bột
Năm 2002, đàn cá trên đã phát triển thành đàn
cá chủ lực, tham gia sinh sản 49 triệu con cá bột
Năm 2003, đàn cá này đã tham gia sinh sản
được 55 triệu cá bột
(Chưa kể số cá bột thừa do giao khơng hết,
hoặc cho thêm các hộ nuơi)
Một số kết quả khác về mặt kỹ thuật:
+ Hệ số thành thục cá cái đạt >8%
+ 15% cá cái tái thành thục trong mùa sinh sản
đạt từ 2-3 lần
+ Cá thành thục sớm (tháng 2) và thời gian sinh
sản kéo dài (đến tháng 11) hơn cá cĩ nguồn gốc
hoang dã 3 tháng/ năm
+ Cá cĩ hiệu ứng kích dục tố tốt hơn cá cĩ
nguồn gốc hoang dã (với cùng một liều thuốc, cá
cĩ nguồn gốc sinh sản nhân tạo rụng trứng đồng
loạt và đúng thời gian hơn)
+ Chất lượng con giống của trại đã được
“khẳng định” là tốt, giá bán cao hơn các trại khác
từ 15-30%
Với những kết quả trên cho thấy ưu thế lai trong di truyền chọn giống Trại này đã trở thành một trong những cơ sở sản xuất cá Tra bột “uy tín” hàng đầu ở ðồng bằng sơng Cửu Long
Tuy nhiên xét ở gĩc độ cận huyết trong di truyền của thế hệ F1 ở trại Trên cơ sở chọn giống (cá đực 10 con; cá cái 5 con ban đầu năm 1997) chúng ta cĩ cơng thức tính tỷ lệ cận huyết như sau:
Nf Nm
F
8
1 8
1 +
=
% 7 , 3 037 , 0 80
3 40
1 80
1
=
≈
= +
Với tỷ lệ 3,7% cận huyết nếu lấy thế hệ con của đàn cá này làm đàn cá bố mẹ thì đặc tính tốt của đàn F2 sẽ giảm 3,7% so với F1 đĩ là chưa kể các ảnh hưởng xấu khác do các alene lặn gặp nhau thành đồng hợp tử mang lại mà chúng ta chưa được biết
Nhưng nếu tính theo phương pháp thống kê thì với tỷ lệ tốt là 96,3% tức độ tin cậy trên 95% thì việc làm giống cũng khơng cĩ gì phải lo lắng Tuy nhiên nếu tiếp tục sử dụng cá thế hệ tiếp theo để làm đàn bố mẹ thì những vấn đề về cận huyết, … khĩ cĩ thể tránh được
ðây chỉ là một đơn vị mà chúng tơi cĩ điều kiện theo dõi từ đầu năm 1997, cịn ở các cơ sở sản xuất giống khác (số lượng đàn cá bố mẹ ban đầu, cách lựa chọn cá hậu bị, …) vẫn cĩ thể cĩ những trại cĩ điều kiện tốt hơn nhưng nếu ở những nơi khơng chú ý việc chọn giống từ đầu thì hiện tượng cận huyết, nội phối (inbreeding) là điều khơng tránh khỏi
Cĩ một thực tế trong năm 2005 ở một số hộ nuơi cá thương phẩm, cá đực 7-8 tháng tuổi trọng lượng 500-600gr/con khi vuốt xoang bụng cĩ sẹ trắng đục chảy ra và cá cái cĩ trọng lượng 1kg đang mang trứng ở giai đoạn III
Thành thục sớm ở thể trọng nhỏ là một trong những tiêu chí của hiện tượng cận huyết
Nhưng để kết luận đàn cá giống là đồng huyết hay chưa thì chưa đủ cơ sở khoa học mang tính thuyết phục Như đã trình bày ở phần trên trong
Cá cái F1 có hệ số thành thục > 10%
Trang 3khâu ương mà tỷ lệ sống thấp, cá nhiều bệnh tật
trong quá trình nuôi (tất nhiên có nhiều nguyên
nhân khác) nhưng ựó là một trong những hiện
tượng báo ựộng về suy thoái chất lượng con giống
cá Tra
Mùa vụ sinh sản cá Tra năm 2005 ựã kết thúc
trong khi chờ ựợi các kết luận khoa học của các
nhà khoa học, các ựề tài nghiên cứu của các Viện,
Trường, vấn ựề cấp bách hiện nay là những giải
pháp mang tắnh khoa học giúp cho các cơ sở sản
xuất giống, người nuôi cá có vụ nuôi tới thắng lợi,
một hệ thống sản xuất mang tắnh bền vững và hiệu
quả
Với mong ước ựó chúng tôi có những giải pháp
ựề nghị như sau:
1- đầu tiên là với các cơ sở sản xuất giống: đã
qua rồi thời Ộhoàng kimỢ mà các cơ sở sinh sản
nhân tạo cá Tra (năm 1998 Ờ 2000) chỉ cần vài
trăm m2 diện tắch với vài mươi bồn chứa cá bố mẹ,
một hệ thống cấp, lọc nước, ấp trứng giản ựơn
một ỘtrạiỢ có thể cung cho thị trường từ vài mươi
ựến trăm triệu cá Tra bột , thu về từ trăm triệu ựến
tỉ ựồng/ trong mùa sinh sản Tuy nhiên, trong thời
ựại kinh tế thị trường cạnh tranh Ộkhốc liệtỢ hiện
nay thì năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm
là vấn ựề sống còn của ựơn vị.Trên cơ sở khoa học
về cận huyết trong di truyền để giảm tỷ lệ cận
huyết trong di truyền chọn giống một cách ựơn
giản nhất là tăng số lượng cá bố mẹ trong quần ựàn
(tăng mẫu số của phép chia) Nhưng trong tình
hình hiện nay với giá cá Tra bột 1-3 ựồng/con, việc
tăng số lượng cá bố mẹ trong ựàn là một giải pháp
không khả thi (bởi vì trong khi các ựàn cá bố mẹ ở
các trại sản xuất ựang bị cắt mồi thì việc mua thêm
cá là ựiều không tưởng)
Một giải pháp khác là trao ựổi giống giữa các
trại (ựa dạng hoá nguồn gen di truyền) là ựiều nên
làm ựể sản xuất bền vững, nhưng khi thực hiện
phải tốn chi phắ vận chuyển, hao hụt Vì vậy giải
pháp chúng tôi cho là khả thi nhất là sử dụng tinh
trùng cá ựực tốt ựể trao ựổi giữa các trại hay các Trung Tâm Giống thủy sản
Ngoài ra, nên tuyển chọn nghiêm nhặt lại ựàn
cá hiện có (loại các cá sinh sản không tốt, có nguy
cơ về ựồng huyết ) và nuôi vỗ cá bố mẹ
Bên cạnh ựó việc mở rộng qui mô trại theo dạng khép kắn hoàn chỉnh từ sinh sản nhân tạo, ương cá giống, nuôi cá thương phẩm, ựể lấy ngắn nuôi dài, ựồng thời giới thiệu, chứng minh Ộthương hiệuỢ sản phẩm của mình là một việc cần thiết nên suy nghĩ và thực hiện
2 - đối với Trại giống thủy sản mà chúng tôi ựã giới thiệu ở phần trên thì ựàn cá bố mẹ nầy vẫn ựang tham gia sinh sản tốt Nhưng có một trở ngại
là cá trong ựàn ựã tương ựối lớn (trung bình > 10 kg/con) trong quá trình sinh sản nhân tạo các thao tác cũng có trở ngại và ựiều chúng ta chưa kinh nghiệm ựể ựoán biết là ựàn cá còn tham gia sinh sản tốt bao nhiêu năm nữa Tuy nhiên, với ưu thế
về cơ sở vật chất và lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật; chúng tôi tin trại sẽ thực hiện tốt công tác chọn giống trong di truyền Một vấn ựề cần thông tin thêm là trại ựang còn lưu giữ ựàn cá bố mẹ có nguồn gốc hoang dã, và ựây là nguồn vốn qúi ựể chúng ta có thể thực hiện công tác ựa dạng hoá nguồn gen trong di truyền sau này
3 Ờ đối với các nhà ương giống cá Tra nên chọn những cơ sở sản xuất giống ựảm bảo về chất lượng; ựừng so ựo về giá bởi vì nếu như giá mua
cá bột có tăng thêm 5 ựồng/con mà tỷ lệ sống trong khâu ương tăng 5% thì chúng ta ựã lãi trong sản xuất, hơn nữa với cá giống chất lượng tốt thì uy tắn, thương hiệu tất sẽ tăng theo, ựó là chưa kể ựến những lợi ắch khác cho người nuôi cá thương phẩm
và xã hội.
Caù caùi coù theă troỉng nhoũ mang trỏùng ôũ giai ựoaỉn III
- IV