1. Trang chủ
  2. » Tất cả

sáng kiến kinh nghiệm hóa học thcs

64 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sáng kiến kinh nghiệm Hóa học THCS
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học sinh THCS sẽ là thế hệ tri thức trẻ của mỗi quốc gia, dân tộc; là lực lượng chính trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức và ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào cuộc sống n

Trang 1

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến

BĐKH đã và đang diễn ra trên toàn cầu với sự tác động ngày càng lớn, đây là thách thức to lớn mà con người phải đối mặt trong thế kỷ 21 và sự tác động lớn hay nhỏ của

nó tùy thuộc vào sự nhìn nhận, khả năng thích ứng và hành động cụ thể của con người Nhận thức rõ những ảnh hưởng to lớn và nghiêm trọng do BĐKH gây ra, nguyên thủ các quốc gia trên thế giới đã nhất trí kí vào bản thỏa thuận chống biến đổi khí hậu toàn cầu Bản thỏa thuận chống biến đổi khí hậu toàn cầu đã được chính thức thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hiệp Quốc COP21 ở Paris (Pháp) lúc 17 giờ 30 giờ Paris,

tức 23 giờ 30 giờ Việt Nam ngày 12/12/2015 Đây là một thỏa thuận lịch sử vì lần đầu

tiên tất cả 196 bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về chống biến đổi khí hậu (UNFCCC) đã đi đến một thỏa thuận buộc tất cả các nước cắt giảm lượng phát thải khí carbon Bản thoả thuận một phần mang tính ràng buộc pháp lý, một phần mang tính

tự nguyện Mục tiêu quan trọng nhất của thỏa thuận này là giữ mức tăng nhiệt độ toàn cầu trong thế kỷ này dưới 2 độ C, rồi tiếp đó cùng thúc đẩy nỗ lực để xuống còn 1,5 độ

C so với thời kỳ tiền công nghiệp

Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới chịu tác động nặng nề nhất của BĐKH Theo kịch bản về BĐKH do Bộ TN&MT xây dựng và công bố năm 2016, mực nước biển dâng trung bình ở Việt Nam cao hơn so với toàn cầu, đến năm 2050 với kịch bản nước biển dâng ở mức trung bình cao, toàn dải ven biển Việt Nam sẽ dâng cao 22

cm, đến năm 2100 là 56 cm Khi mực nước biển dâng 100 cm có khoảng 38,9% diện tích đồng bằng sông Cửu Long và 16,8% đồng bằng sông Hồng sẽ bị ngập úng, sẽ có 22 triệu người mất nhà và ¾ diện tích đất nông nghiệp ở đồng bằng ngập trong biển nước, đây là vựa lúa lớn của cả nước đóng vai trò hết sức quan trọng đối với an ninh lương thực của đất nước và khu vực Trong những năm gần đây các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa lớn bất thường, nhiệt độ trung bình tăng cao, hạn hán, xâm nhập mặn, dịch bệnh ngày càng phức tạp đều có liên quan đến BĐKH và trong tương lai những ảnh hưởng này được dự báo ngày càng nặng nề hơn nếu con người không có giải pháp để thích ứng với BĐKH Việt Nam chịu nhiều thiên tai liên quan đến BĐKH do vị trí địa

lý và địa hình, cũng như sự phát triển kinh tế và tăng dân số, đặc biệt tại vùng đồng bằng

Trang 2

và dọc bờ biển ngày càng dễ bị ảnh hưởng và chịu rủi ro vì những đột biến và căng thẳng khí hậu ngày càng gia tăng

Từ thực tế đó, vấn đề thích ứng với BĐKH đã trở thành mục tiêu thiên niên kỷ và được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp các ngành và toàn xã hội Trong những năm qua Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách, chương trình ứng phó với BĐKH như Chiến lược quốc gia về BĐKH và giảm nhẹ thiên tai Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 2/12/2008) Để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của ngành Giáo dục giai đoạn 2011 - 2015 và phê duyệt Dự án "Đưa các nội dung ứng phó với BĐKH vào chương trình Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2011 - 2015" Nhằm định hướng cho việc triển khai thực hiện nhiệm vụ trên một cách có hiệu quả, Bộ Giáo dục

và Đào tạo đã xây dựng bộ tài liệu giáo dục ứng phó với BĐKH tích hợp vào các môn học: Vật lí, Hóa học…

Trang 3

Ngành giáo dục với sứ mệnh cao cả trong nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội, với mạng lưới rộng khắp cả nước, với đội ngũ giáo viên hùng hậu, với chương trình giáo dục, phương pháp giáo dục đóng vai trò to lớn và tầm ảnh hưởng sâu rộng đến việc nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng thích ứng với BĐKH cho thế hệ trẻ

Nhằm bắt kịp với xu thế hội nhập toàn cầu, ngành giáo dục Việt Nam đang ngày một hội nhập cùng thế giới Hiểu rõ tầm quan trọng của giáo dục hiện đại là đào tạo ra những con người có thể bắt kịp xu thế hội nhập toàn cầu Là một người giáo viên giảng dạy môn Hoá học, tôi thấy trách nhiệm của mình là phải hình thành cho các em thấy được tác hại của hoá chất đối với môi trường Từ đó các em mới có trách nhiệm bảo vệ môi trường, giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu, giữ gìn vệ sinh nơi các em đang sinh sống và học tập Hay nói cách khác môn Hoá học là bộ môn có nhiều khả năng để tích hợp giáo dục môi trường, giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu vào bài giảng Do vậy, chương trình và nội dung dạy học môn Hoá học chứa đựng nhiều nội dung liên quan đến kĩ năng sống và có khả năng tích hợp giáo dục kĩ năng sống cao

Kĩ năng sống đặc thù, thể hiện ưu thế của môn Hoá học là giao tiếp - hợp tác, tiếp sau là kĩ năng nhận thức, bao gồm kĩ năng nhận thức thế giới xung quanh, tự nhận thức,

ra quyết định,… Khả năng giáo dục kĩ năng sống của môn Hoá học không chỉ thể hiện trong nội dung môn học mà còn được thể hiện qua phương pháp dạy học của giáo viên

Để hình thành các kiến thức và rèn luyện kĩ năng mà chương trình đặt ra với học sinh, người giáo viên phải vận dụng nhiều phương pháp dạy phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Thông qua các hoạt động học tập, được phát huy trải nghiệm, rèn

kĩ năng hợp tác, bày tỏ ý kiến cá nhân, đóng vai,… học sinh có cơ hội rèn luyện, thực hành nhiều kĩ năng sống cần thiết

Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài này muốn gửi đến các đồng nghiệp một vài kinh nghiệm nhằm mục đích nâng cao giáo dục toàn diện cho học sinh, đồng thời góp một

phần nhỏ để bảo vệ môi trường được hiệu quả hơn Đó là lí do tôi chọn đề tài: “Tích hợp rèn kĩ năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong dạy học Hoá học cấp THCS”

Trang 4

II Mô tả giải pháp

1 Giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

Trên toàn cầu, Việt Nam là quốc gia xếp thứ sáu chịu ảnh hưởng nặng nề do biến đổi khí hậu Mỗi năm, các diễn biết thời tiết ngày càng phức tạp và không thể dự báo trước được gây ra tỷ lệ tử vong và thiệt hại cho cơ sở hạ tầng rất cao, chẳng hạn như trường học và trung tâm y tế, và tác động xấu đến sinh kế của nhóm dân số thiệt thòi ở thành thị và nông thôn Các tác động ảnh hưởng do khí hậu ảnh hưởng đến hơn 74% dân

số, đặc biệt là những nhóm người nghèo thiếu khả năng phục hồi trước những thiệt hại lớn sau thảm họa thiên tai, trong khi việc đô thị hóa đã làm tăng các khoảng cách của các gia đình di cư bị hạn chế tiếp cận với các dịch vụ xã hội Trẻ em đặc biệt bị ảnh hưởng bởi những thảm họa thiên nhiên này

Biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề trọng tâm của toàn nhân loại, khi mà

cả thế giới đang đứng trước nhiều nguy cơ hủy diệt như sóng thần, động đất, núi lửa, hạn hán, bão tố, lũ lụt hay sự nóng lên của trái đất, ô nhiễm môi trường, thiếu cây xanh, dịch bệnh gia tăng Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay, sự phát triển của Việt Nam hoàn toàn không nằm ngoài tác động của những vấn đề mà nhân loại đang từng ngày từng giờ phải đối mặt như biến đổi khí hậu Nhận thức và hành động đối với biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề quan trọng được đặt ra một cách bức thiết đối với mọi tầng lớp dân cư nhằm hướng đến xây dựng và phát triển môi trường bền vững, đảm bảo sự sống của mọi loài sinh học trong đó có con người

Học sinh THCS sẽ là thế hệ tri thức trẻ của mỗi quốc gia, dân tộc; là lực lượng chính trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức và ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào cuộc sống nhằm cải thiện, nâng cao mức sống của cá nhân, gia đình và xã hội;

là đội ngũ đã có sự chín muồi về tri thức, nhận thức, có đủ khả năng để hành động trước các tình huống xảy ra trong đời sống xã hội một cách khoa học, hợp pháp nhất và là lực lượng lao động trẻ có khả năng thích ứng, ứng phó cao trước các tình huống phức tạp diễn ra xung quanh cuộc sống của họ Vì vậy, đối với vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay, giáo dục học sinh để trở thành những người có nhận thức sâu sắc và hành động mạnh

mẽ nhất

Trang 5

Hình 1 Trái Đất – cái nôi của sự sống

Là một trường nằm ở phía đông nam của tỉnh Nam Định, tuy chưa chịu ảnh hưởng nhiều từ biến đổi khí hậu như sự nóng lên của trái đất, ngập lụt do nhiều nguyên nhân như ô nhiễm môi trường do bụi công nghiệp, bụi của các phương tiện giao thông, vấn

đề rác thải, cây xanh … Nhưng dưới sự chỉ đạo của Sở ĐT Nam Định, Phòng

GD-ĐT Nghĩa Hưng, trường THCS Nghĩa Hưng cũng đã có nhiều hành động để ứng phó với vấn đề biến đổi khí hậu như tuyên truyền, giáo dục lồng ghép trong các môn học, đặc biệt là môn Hoá học, Sinh học và Địa lí… Từ đó giáo dục cho các em những kĩ năng sống được trang bị thích ứng với các điều kiện khác nhau của cuộc sống

Một cuộc khảo sát với 352 học sinh của trường đã được tôi thực hiện Kết quả cho thấy: phần lớn học sinh đều nhận thấy các biểu hiện của biến đổi khí hậu xung quanh cuộc sống của mình Những dấu hiệu ban đầu theo nhận định của học sinh để biết về vấn đề biến đổi khí hậu được xác định như sau: học sinh biết đến biến đổi khí hậu chiếm

tỷ lệ cao nhất là thông qua việc xem ti vi, nghe đài (44,6%); tiếp đến là thông qua việc đọc sách báo (13,6%); nhận thức qua các môn học của bản thân (10,2%); nhận biết thông qua cộng đồng (9,4%) và một số các dấu hiệu khác (5,1%) như tuyên truyền viên giới thiệu, thông qua mạng xã hội, thông qua người thân, nhà thờ, nhà chùa,… Nhưng con

số đáng buồn nhất đó là các em chưa có nhận thức hoặc hiểu biết về BĐKH còn chiếm

tỉ lệ khá cao (17,9%) (Hình 2)

Trang 6

Hình 2 Nguồn nhận biết về biến đổi khí hậu

Điều này đã chứng minh rằng, học sinh THCS tuy còn nhỏ tuổi nhưng cũng giống như các thành phần xã hội khác, các em cũng rất quan tâm đến môi trường sống của chính mình, bởi biến đổi khí hậu có những ảnh hưởng và tác động sâu sắc lên đời sống của mỗi chúng ta Rõ ràng, lối sống ấy thể hiện khả năng và trách nhiệm của mỗi cá nhân với cộng đồng, xã hội và thế giới quan bên ngoài của các em

Tôi tiếp tục nghiên cứu về các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng biến đổi khí hậu, kết quả ghi nhận được như sau: có tới 48% học sinh được khảo sát trả lời là do ô nhiễm môi trường, 9 % là do ô tô, xe máy; 15% là do sử dụng thước trừ sâu, phân bón hoá học; 7% trả lời là do “tự nhiên”, 21% là khó trả lời; và một số nguyên nhân khác (thiếu

ý thức cộng đồng, xả rác thải ) (Hình 3) Các nguyên nhân đó được các em cảm nhận qua tình hình biến đổi khí hậu thông qua một số chỉ báo cụ thể đó là: “mưa nắng thất thường”; tiếp đó là các em nhận biết thông qua dấu hiệu “Ngập nước nhiều hơn, lũ lụt nhiều hơn”, “ mưa nhiều hơn”, do “trời nóng hơn”, “rét hơn”… phần lớn các em đền thấy khí hậu biến đổi ngày càng phức tạp theo chiều hướng tiêu cực

Xem tivi 44,6%

Chưa hiểu về BĐKH 17,9%

Trang 7

Hình 3 Nguyên nhân biến đổi khí hậu

Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội qua các thế hệ, giúp cho mỗi cá nhân tích lũy kiến thức, kỹ năng, hình thành văn hóa, đạo đức

và đóng góp trí lực giúp xã hội bảo toàn và phát triển nền văn hóa Giáo dục cung cấp cho con người hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo, kỹ năng hoạt động thực tiễn, nâng cao trình độ học vấn, phát triển năng lực của mỗi cá nhân

và hình thành lối sống văn hóa Qua giáo dục con người tham gia một cách có ý thức trong công cuộc xây dựng và phát triển cộng đồng, là nhân tố tích cực phát triển xã hội

đi đôi với BVMT sống Phát triển giáo dục luôn được Đảng và Nhà nước xem là quốc sách hàng đầu được thể hiện trong chiến lược phát triển đất nước qua nhiều thời kì

Ở Việt Nam, hệ thống giáo dục được phát triển rộng khắp đất nước từ cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đến các trường trung cấp, cao đẳng, đại học với nhiều loại hình đa dạng Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2019 - 2020 cả nước có 5,5 triệu trẻ mầm non, 17 triệu học sinh bậc phổ thông và 1,5 triệu sinh viên chính quy Tổng số giáo viên, giảng viên khoảng 1,2 triệu người và đội ngũ cán bộ quản lý 154 nghìn người Đây là lực lượng đông đảo chiếm gần 28% dân số cả nước và đây sẽ là đội ngũ tuyên truyền viên hoạt động rộng khắp, có hiệu quả góp phần tuyên truyền cho gia đình, cộng đồng khắp các vùng miền tổ quốc về vấn

đề môi trường nóng bỏng này một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất Bên cạnh đó, các cơ

Ô nhiễm môi trường 48,29%

Thuốc trừ sâu, phân bón HH 15,05%

Trang 8

sở giáo dục của Việt Nam là nơi có điều kiện để thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về thích ứng với BĐKH và Chiến lược quốc gia về BĐKH

Hình 4 Việt Nam là một trong các quốc gia chịu tác động của biến đổi khí hậu rất lớn

Hoạt động giáo dục, đào tạo, tăng cường năng lực và nâng cao nhận thức về BĐKH trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực Hoạt động này được thực hiện thông qua các khóa tập huấn, hội nghị, hội thảo, diễn đàn, sự kiện có liên quan Các hoạt động tuyên truyền, vận động liên quan đến tăng cường thích ứng với BĐKH đã được triển khai thông qua các phương tiện thông tin đại chúng

Trong chương trình giáo dục Việt Nam đã từng bước đề cập đến vấn đề BĐKH, hậu quả của BĐKH, tuy nhiên chưa tập trung đến đào tạo kỹ năng thích ứng với BĐKH Việc khai thác các nội dung này chủ yếu tập trung vào việc nâng cao năng lực nhận thức của học sinh, sinh viên, trong khi đó việc hình thành kỹ năng tham gia BVMT, kỹ năng thích ứng trong điều kiện khí hậu thay đổi, thái độ hành vi ứng xử thân thiện với môi trường chưa đạt như mong muốn Ở các trường phổ thông, chưa hình thành môn học riêng, chưa có tài liệu giảng dạy riêng, do đó chưa được chú trọng và đầu tư một cách đầy đủ về cơ sở vật chất, đào tạo giáo viên chuyên sâu Việc lồng ghép một số nội dung môn học chưa mang tính logic, thậm chí quá tải, do đó việc dạy và học khó đạt hiệu quả như mong muốn Vì vậy, cần nghiên cứu phương thức và nội dung triển khai giáo dục

về thích ứng với BĐKH đối với từng bậc học phù hợp là vấn đề rất cần thiết và cấp thiết

Trang 9

Thực trạng giáo dục lồng ghép kĩ năng sống trong trường THCS hiện nay:

Trong trường phổ thông, việc giáo dục kỹ năng sống (KNS) cho học sinh (HS) được thể hiện ở nhiều mặt, từ hoạt động trên lớp, hoạt động ngoại khóa đến các hình thức giáo dục khác

Giáo dục KNS cho HS không phải là mới, song nội dung nào được đưa vào giáo dục trong nhà trường và giáo dục như thế nào để mang lại hiệu quả lại đang là vấn đề cần quan tâm

Hiện nay, việc thiếu KNS, thiếu tự tin, tự lập và lối sống khép kín với thực tại, đắm chìm trong “thế giới ảo” của game đang là những cản trở lớn cho sự phát triển của một

bộ phận thanh, thiếu niên khiến không ít phụ huynh, các thầy, cô giáo phải phiền lòng Qua tìm hiểu tại một số đơn vị trường cho thấy, mặc dù ở một số môn học, các hoạt động ngoại khóa, giáo dục KNS đã được nhà trường đề cập đến, tuy nhiên, do nội dung, phương pháp, cách thức truyền tải chưa phù hợp với tâm sinh lý của HS nên hiệu quả lồng ghép chưa cao, kết quả mang lại chưa khả quan

Tại các trường THCS, cùng với việc lồng ghép giáo dục KNS trong các môn Giáo dục công dân, Địa lý, Sinh học, Hoá học hằng tháng, nhà trường vẫn dành thời lượng trong các tiết sinh hoạt đầu giờ, sinh hoạt dưới cờ để định hướng, giáo dục KNS cho HS nhưng hiệu quả giáo dục KNS vẫn chưa cao Nguyên nhân của thực trạng này là do thiếu nhân lực và kinh phí để tổ chức Bên cạnh đó, thời gian để HS thực hành ít, một bộ phận giáo viên vẫn nặng về dạy văn hóa, chưa thực sự quan tâm đến giáo dục KNS cho các

em

Sau nhiều năm thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, lồng ghép chương trình giáo dục KNS vào các giờ học, nhà trường đã thực hiện có hiệu quả nội dung này và tự tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa để HS nhà trường được trải nghiệm thực tế Tuy nhiên, để tổ chức một hoạt động ngoại khóa trang bị cho HS kiến thức KNS

là việc làm không đơn giản, khi nguồn kinh phí không cho phép, thời gian có hạn Cùng với đó, không phải giáo viên nào cũng có kỹ năng, năng lực điều hành, tổ chức các hoạt động giáo dục KNS cho HS

Trang 10

Hình 5 Học sinh tham gia lao động bảo vệ môi trường trên trục đường xã

2 Giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến

2.1 Giáo dục kĩ năng sống

UNESCO đã đề xướng mục tiêu học tập: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” Trường học chúng ta hiện đang nặng về học để biết,

nghĩa là chỉ đạt được một trong bốn mục tiêu của UNESCO

Ngân hàng thế giới gọi thế kỉ XXI là kỉ nguyên của kinh tế dựa vào kĩ năng (Skills

Based Economy) Năng lực của con người được đánh giá trên 3 góc độ: kiến thức, kĩ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa Giáo dục nước ta hiện nay, đang cố gắng

chuyển dần từ đánh giá kiến thức của học sinh sang đánh giá phẩm chất và năng lực làm việc của học sinh Nói một cách dễ hiểu, người học không chỉ học kiến thức mà quan trọng hơn là rèn luyện kĩ năng hành động liên quan đến kiến thức đó Peter M Senge

từng nói “vũ khí cạnh tranh mạnh nhất là học nhanh hơn đối thủ” Rõ ràng muốn tăng

cường năng lực cạnh tranh, rút ngắn khoảng cách ứng dụng khoa học công nghệ, thì phải biết cách dạy và cách học Giáo dục sẽ mãi mãi tụt hậu nếu chỉ chăm chú nhồi nhét kiến thức của nhân loại vào đầu học sinh mà quên đi sứ mạng quan trọng là giáo dục

Trang 11

phẩm chất sống, năng lực học tập và sử dụng kiến thức, chẳng hạn năng lực tự học, biết cách tự học là đồng nghĩa với mọi thứ đều biết

Trước đây, nhà trường là nơi duy nhất để ta tiếp nhận kiến thức Ngày nay, thế giới càng trở nên phẳng hơn nhờ sách vở, internet và các phương tiện truyền thông làm cho mọi người đều có thể tiếp cận thông tin, dữ liệu một cách bình đẳng, mọi lúc, mọi nơi Như vậy, để tiếp nhận kiến thức không phải là quá khó khăn trong thời đại ngày

nay mà quan trọng là biến kiến thức đó thành kĩ năng, nói như M.A Đanhilop: “kĩ năng chính là kiến thức trong hành động” Từ biết, đến hiểu, đến làm việc chuyên nghiệp với

năng suất cao là một khoảng cách rất lớn không phải ai cũng thực hiện được, cần có

những bứt phá chuyển thói quen thành kĩ năng Hầu hết các thói quen hình thành một

cách vô thức và khó kiểm soát Trong khi đó kĩ năng được hình thành một cách có ý thức do quá trình luyện tập Dạy học tích hợp sẽ là nền tảng giúp phát triển năng lực cho học sinh để các em biết cách bảo vệ cuộc sống và sống có trách nhiệm với cộng đồng

2.1.1 Quan niệm về kỹ năng sống:

Có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng sống:

Theo quan niệm của tổ chức y tế thế giới (WHO): Kỹ năng sống là những kỹ

năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong các tình huống hằng ngày để tương tác có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày

Theo UNICEF, kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp học sinh thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng và tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng

Theo Tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), kĩ

năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (Learning to know) gồm

các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn

đề, nhận thức được hậu quả, ; Học làm người (Learning to be) gồm các kĩ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,…; Học để sống với người khác (Learning to live together) gồm các kĩ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm

Trang 12

(Learning to do) gồm kĩ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,…

Nói tóm lại, nói tới kỹ năng sống không đơn giản chỉ ở nhận thức mà cao hơn nữa con người còn biết tích cực vận dụng những kiến thức đã học vào xử lý các tình huống thực tiễn có hiệu quả, qua đó giúp con người sống vui vẻ, có ý nghĩa hơn Hay,

kĩ năng sống là khả năng tự làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

2.1.2 Đặc trưng cơ bản của kĩ năng sống

Kĩ năng sống là khả năng con người biết cách sống phù hợp và hữu ích

Kĩ năng sống là khả năng con người dám đương đầu với những tình huống khó

khăn trong cuộc sống và biết cách vượt qua

Kĩ năng sống là kĩ năng tâm lý xã hội, con người biết quản lý bản thân mình và

tương tác tích cực với người khác, với xã hội

2.1.3 Phân loại kĩ năng sống: Có nhiều cách phân loại kĩ năng sống, tùy theo

từng quan niệm về kĩ năng sống

Theo UNESCO, WHO và UNICEF, có thể xem kĩ năng sống gồm các kĩ năng cốt lõi sau:

- Kĩ năng giải quyết vấn đề (problem solving);

- Kĩ năng suy nghĩ/tư duy phê phán (critical thingking);

- Kĩ năng giao tiếp hiệu quả (effective communication skills);

- Kĩ năng ra quyết định (decision-making);

- Kĩ năng tư duy sáng tạo (creative thinking);

- Kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân (interpersonal relationship skills);

- Kĩ năng tự nhận thức/tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị (selfawareness building skills, incl, selfawareness Self-estem and self-confidence, and values analysis);

- Kĩ năng thể hiện sự cảm thông (empathy);

Trang 13

- Kĩ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc (coping with stress and emotions) Trong giáo dục ở Vương quốc Anh, kĩ năng sống được chia thành 6 nhóm chính là:

- Hợp tác nhóm;

- Tự quản;

- Tham gia hiệu quả;

- Suy nghĩ/tư duy bình luận, phê phán;

- Suy nghĩ sáng tạo;

- Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề

Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm vừa qua, kĩ năng sống thường được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:

- Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các kĩ năng sống cụ thể: tự nhận thức xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm hỗ trợ, tự rọng, tự tin,…

- Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm các kĩ năng sống cụ thể như: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẩn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác,

- Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, bao gồm các kĩ năng sống cụ thể như: tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề,…

Trên đây chỉ là một số các cách phân loại kĩ năng sống Tuy nhiên mọi cách phân loại chỉ là tương đối Trên thực tế kĩ năng sống thường không tách rời hoàn toàn nhau

mà có liên quan chặt chẽ với nhau

2.1.4 Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông:

Kĩ năng sống là một phần quan trọng của cuộc sống cá nhân trong xã hội hiện đại

Trang 14

“Ý nghĩa của cuộc sống không phải ở chỗ nó đem đến cho ta điều gì mà ở chỗ ta

có thái độ đối với nó ra sao, không phải ở chỗ điều gì xảy ra với ta, mà ở chỗ ta phản ứng với những điều đó như thế nào.”

– Lewis L Dunmington –

Kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội: Có thể nói rằng kĩ năng sống chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực lành mạnh Người có kĩ năng sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của mình Ngược lại, người thiếu kĩ năng sống thường bị vấp váp, dễ thất bại trong cuộc sống

Kĩ năng sống không những thúc đẩy sự phát triển của cá nhân mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo vệ quyền con người Việc thiếu kĩ năng sống của cá nhân là một nguyên nhân làm nảy sinh các vấn

đề xã hội Việc giáo dục kĩ năng sống sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội và giảm các vấn đề xã hội Giáo dục kĩ năng sống còn giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người quyền công dân được ghi trong luật pháp Việt Nam và quốc tế

2.1.5 Giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ:

Giáo dục kĩ năng sống càng trở nên cấp thiết đối với thế hệ trẻ, bởi vì: Các em chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là những người quyết định sự phát triển của đất nước trong những năm tới Nếu không có kĩ năng sống các em sẽ không thực hiện tót trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước

Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước

mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc vè xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động… Đặc biệt là trong bối cảnh quốc

tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen giữa các yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn đặt vào hoàn cảnh để lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực Nếu không được giáo dục

kĩ năng sống, nếu thiếu kĩ năng sống, các em sẽ dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực và lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách

Trang 15

Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ một cách cần thiết, giúp các em thực hiện hành vi có trách nhiệm đối với gia đình, bản thân, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa và lành mạnh

2.1.6 Giáo dục kĩ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông:

Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, với bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và

xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống rõ ràng là phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông Phương pháp giáo dục kỹ năng sống, với các phương pháp và kỹ thuật tích cực như: hoạt động nhóm, giải quyết vấn đề, nghiên cứu trường hợp điển hình, đóng vai, trò chơi, dự án, tranh luận, động não, hỏi chuyên gia, viết tích cực,…cũng là phù hợp với định hướng về đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông

Như vậy, kĩ năng sống góp phần thúc đẩy cá nhân và xã hội, ngăn ngừa được các

vấn đề tiêu cực nảy sinh trong xã hội, bảo vệ sức khỏe và quyền con người Các cá nhân

thiếu kĩ năng sống là một nguyên nhân nảy sinh nhiều vấn đề lệch chuẩn Người có kĩ năng sống biết cách bảo vệ mình trước những yếu tố bất lợi của cuộc sống, biết xây

dựng các mối quan hệ tốt đẹp, nhân văn và từ đó góp phần làm giảm tệ nạn xã hội, làm cho xã hội phát triển, văn minh

Tóm lại, việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ thông

là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông Vì vậy việc giáo dục kĩ năng sống đang dần trở thành nhu cầu cấp thiết mà các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo,

các tổ chức xã hội cần trang bị cho các em, để các em có được cách sống chủ động, linh hoạt, biết chia sẻ, yêu thương, thích ứng được với các vấn đề trong môi trường sống và học tập của các em, cũng như với các vấn đề mang tính cấp bách trên toàn cầu Để các

em có thể trở thành những con người được rèn luyện đầy đủ các kỹ năng đáp ứng được các yêu cầu của cuộc sống trong thời đại mới

Trang 16

Hình 6 Học sinh tham gia lao động bảo vệ môi trường

2.2 Một số nội dung về biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là thuật ngữ được dùng để chỉ sự thay đổi của khí hậu do tác động chủ yếu của con người làm thay đổi các thành phần của khí quyển trái đất Sự thay đổi này kết hợp với các yếu tố biến động tự nhiên của tự nhiên dẫn tới các biến đổi của khí hậu qua các thời kỳ Nói một cách dễ hiểu, biến đổi khí hậu chính là sự thay đổi của hệ thống khí hậu từ sinh quyển, khí quyển, thủy quyền tới thạch quyển trong hiện tại và tương lai Trước đây BĐKH diễn ra trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên, tuy nhiên thời gian gần đây, BĐKH xảy ra do tác động của các hoạt động của con người như việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong giao thông vận tải và sản xuất công nghiệp, thải ra môi trường khí nhà kính (ví dụ như khí CO2)

2.2.1 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu

Tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu xuất phát từ 2 nhóm là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, những tác động của con người vào môi trường tự nhiên chính là nguyên do gây nên biến đổi khí hậu Theo đó, việc gia tăng khí

Trang 17

CO2 do hoạt động sản xuất công nghiệp, phá rừng, sử dụng nguồn nước cũng như các loại khí độc hại khác là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên

Bên cạnh đó, các yếu tố khách quan trong đó có sự thay đổi trong chính nội tại của

tự nhiên bao gồm sự thay đổi trong hoạt động mặt trời, của quỹ đạo trái đất, sự dịch chuyển của các châu lục… cũng tác động không nhỏ gây nên tình trạng này

Nguyên nhân lớn nhất dẫn đến hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay đó

là do các hoạt động của con người Theo tính toán của các nhà khoa học, con người đang khiến nhiệt độ Trái Đất tăng nhanh hơn 170 lần so với tự nhiên Những hoạt động này bao gồm:

Quá trình công nghiệp hóa: Trong quá trình sản xuất công nghiệp, con người đã

liên tục xả khói bụi, khí SO2, NO2, CO, CO2,…ra môi trường Những loại khí này có tác dụng giữ nhiệt, gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính, khiến nhiệt độ Trái Đất ngày một tăng cao Không những thế, các loại khí này còn góp phần tạo ra những cơn mưa axit, gây nguy hại cho con người và động thực vật

Phá rừng: Rừng được ví như lá phổi xanh của trái đất, giúp hút khí CO2 và thải ra

O2 Khi bị chặt phá, lượng khói bụi và khí CO2 thải ra không được xử lý từ đó gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính Bên cạnh đó, phá rừng cũng khiến lũ lụt, sạt lở xảy ra nhiều hơn

Hình 7 Một số nguyên nhân gây biến đổi khí hậu

Trang 18

Sử dụng các phương tiện giao thông: Phương tiện giao thông phục vụ cho nhu

cầu di chuyển của con người ngày càng tăng cao Trong quá trình hoạt động, các phương tiện liên tục xả khói bụi, làm thay đổi thành phần tự nhiên của không khí và dẫn đến ô nhiễm môi trường, góp phần gia tăng hiệu ứng nhà kính

Sản xuất năng lượng: Những vụ rò rỉ, nổ hạt nhân, quá trình đốt nhiên liệu hóa

thạch trong sản xuất năng lượng tạo ra hàng tấn khí bụi và khí nhà kính, góp phần trực tiếp làm thay đổi hệ thống khí quyển cũng như nhiệt độ

2.2.2 Hậu quả của BĐKH ở Việt Nam

Các hiện tượng thời tiết cực đoan và tình trạng nước biển dâng đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, thậm chí đe doạ sự tồn vong của nhiều quốc gia, cộng đồng dân cư Theo báo TTXVN/Vietnam+, ngày 06/02/2022, trong năm 2021, Việt Nam đã xảy ra 9 cơn bão, 3 áp thấp nhiệt đới trên biển Đông, 139

Trang 19

trận động đất nhẹ, 326 trận mưa đá, dông lốc, sét; 174 trận mưa lớn, lũ cục bộ, trong đó

9 trận lũ ống, lũ quét, 163 vụ sạt lở bờ sông, 11 đợt nắng nóng và 19 đợt không lạnh, gió

mùa Đông Bắc

Tính đến ngày 10/11/2021, thiên tai đã làm 108 người chết, mất tích, 95 người bị thương; 306 nhà sập đổ hoàn toàn, 8.953 nhà bị hư hỏng, tốc mái; 374.672 con gia súc, gia cầm bị chết, cuốn trôi; 176.590 ha lúa, rau màu và 14.146 ha cây trồng bị thiệt hại;

298 km đê, kè, kênh mương hư hỏng, sạt lở; 511km đường giao thông sạt lở Ước tính giá trị thiệt hại hơn 5.244 tỷ đồng

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh khí hậu trong khuôn khổ Hội nghị lần thứ 26 các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc

về Biến đổi khí hậu (COP26) (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Trang 20

2.3 Dạy học tích hợp

2.3.1 Tích hợp là gì?

Một cách tổng quát nhất, theo từ điển Tiếng Việt, tích hợp được giải thích là việc dồn hợp chung lại Một cách định nghĩa rõ ràng hơn được nhà nghiên cứu Đỗ Chu Ngọc đưa ra cho “tích hợp” là sự phối kết các tri thức thuộc một nhóm môn học có sự tương

đồng vào một lĩnh vực chung Cụ thể hơn trong lĩnh vực giáo dục, tích hợp được định

nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị, thậm chí là trong một tiết học hoặc một bài tập nhiều

Trang 21

mảng kiến thức và kỹ năng liên quan với nhau nhằm mục đích tăng cường hiệu quả giáo dục đồng thời cũng nâng cao chất lượng và tiết kiệm thời gian học tập cho người học

2.3.2 Dạy học tích hợp là gì?

Dạy học tích hợp là một quan niệm dạy học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh những năng lực cần thiết, đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức vào giải quyết có hiệu quả những tình huống thực tiễn Theo đó, giáo viên sẽ lồng ghép những nội dung giáo dục vào các môn học có sẵn, thông qua các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức

và hướng dẫn, học sinh không chỉ biết cách thu thập, chọn lọc và xử lý thông tin mà còn chủ động nên lên vấn đề, vận dụng các kiến thức và kỹ năng vào giải quyết các vấn đề liên quan đến học tập và thực tiễn cuộc sống Dạy học tích hợp giúp cho việc học tập của học sinh trở nên ý nghĩa hơn, phát triển được những năng lực cần thiết như năng lực giải quyết vấn đề, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

2.3.3 Phương pháp dạy học tích hợp là gì?

Phương pháp dạy học tích hợp là cách thức giáo viên hướng dẫn, tổ chức học sinh chủ động, phối hợp và khai thác tri thức, kĩ năng đã có từ vốn sống, vốn văn hóa, từ các phân môn khác ứng dụng vào phân môn đang giảng dạy nhằm mục đích nâng cao hiệu quả tiết học theo yêu cầu, mục đích đề ra

Các phương pháp dạy học được biên soạn theo nguyên tắc, quan điểm tích hợp bao gồm:

+ Phương pháp giảng giải, thảo luận, đàm thoại, nhóm

+ Phương pháp tham quan, khảo sát, điều tra, nghiên cứu thực địa

+ Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục

+ Phương pháp hoạt động thực tiễn

+ Phương pháp giao bài tập về nhà

+ Phương pháp đóng vai

+ Phương pháp động não

+ Phương pháp tiếp cận kĩ năng sống

+ …

Trang 22

2.3.4 Đặc điểm của dạy học tích hợp là gì?

- Dạy học tích hợp hướng tới người học

Đặc điểm này yêu cầu người học là chủ thể của hoạt động học Người học phải tự học, tự nghiên cứu khám phá kiến thức Người học không chỉ đặt mình vào kiến thức có sẵn ở trong bài dạy mà còn phải đặt mình vào tình huống thực của cuộc sống, từ đó tự phát hiện ra điều chưa biết, điều cần tìm hiểu, tức là khám phá kiến thức cho bản

thân Dạy học tích hợp chú trọng đến kết quả học tập của người học, hướng người học

vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống thực tiễn Điều này yêu cầu quá trình học tập phải đảm bảo hiệu quả và chất lượng để thực hiện nhiệm vụ đưa ra

- Dạy học tích hợp hướng tới mục tiêu phát triển năng lực

Trong dạy học tích hợp, người học phải phát huy tối đa năng lực của mình Đó là

sự tích cực, chủ động tìm tòi kiến thức của người học Giáo viên chỉ là người tổ chức và hướng dẫn, khuyến khích người học tự chiếm lĩnh kiến thức bằng chính hành động của mình Trong quá trình giải quyết vấn đề người học có thể rút ra những kiến thức chưa khoa học, chưa chính xác Học sinh cũng có thể căn cứ vào kết luận của giáo viên để tự rút kinh nghiệm và thay đổi về cách học của mình cho phù hợp, nhận ra những điểm sai

và biết sửa sai đó là biết cách học

Trong dạy học tích hợp, người học được yêu cầu phải tự thể hiện mình, hình thành

và phát triển năng lực hợp tác với nhóm, với lớp Sự hợp tác nhóm sẽ đưa ra các cách giải quyết mới mẻ, sáng tạo, thúc đẩy các thành viên khác hứng thú tham gia vào giải quyết vấn đề

Trang 23

Đặc điểm của dạy học tích hợp là gì?

- Dạy học tích hợp kết hợp giữa lý thuyết và thực hành

Đây là quá trình dạy học qua đó người học hình thành năng lực học tập nhằm đáp ứng được mục tiêu của chủ đề, bài học Người học cần được phát triển các năng lực tương ứng với mục tiêu của chương trình môn học Do đó, việc dạy kiến thức lí thuyết không chỉ ở mức độ hàn lâm mà cần phải hỗ trợ cho việc phát triển các năng lực thực hành ở mỗi người học Người dạy cần định hướng, giúp đỡ, tổ chức và điều chỉnh, động viên các hoạt động của người học đồng thời khuyến khích người học nảy sinh nhu cầu, tạo hứng thú để đưa ra kết quả mới

- Dạy học tích hợp đặt người học vào tình huống thực tế

Trong dạy học tích hợp, người học được vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học vào giải quyết những tình huống thực tiễn Người học phải quan sát, thảo luận nhiệm vụ đặt ra theo suy nghĩ của cá nhân, tự lực tìm cách giải quyết để khám phá những điều mình chưa hiểu mà không phải thụ động tiếp thu những tri thức từ giáo viên cung cấp Người học cần phải tiếp nhận tình huống học tập qua các phương tiện dạy học, phân tích tình huống để phát hiện mối quan hệ bản chất của sự vật, hiện tượng

Hoạt động dạy học tích hợp cũng cần có sự kiểm soát, củng cố những nhận thức

của người học Việc kiểm soát được thực hiện qua thông tin của hoạt động tự đánh giá, điều chỉnh Việc đánh giá năng lực của người học phải dựa vào việc người học đã vận dụng các kiến thức đã học vào việc thực hiện giải quyết các tình huống phức hợp trong cuộc sống Việc đánh giá được thực hiện ở từng cá nhân người học dựa trên mức độ hoàn thành công việc theo các tiêu chí đánh giá của chủ đề, môn học

2.3.5 Mục tiêu của dạy học tích hợp là gì?

Dạy học tích hợp giúp người dạy xác định rõ mục tiêu, lựa chọn những nội dung quan trọng khi tổ chức dạy học Những nội dung quan trọng thường là những nội dung cốt yếu trong học tập vì chúng thiết thực cho việc vận dụng vào cuộc sống thực và chúng

là nền tảng cho các hoạt động học tập tiếp theo Từ đó giáo viên có thể tạo điều kiện để nâng cao kiến thức cho học sinh khi cần thiết

Dạy học tích hợp phát triển ở học sinh năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp

và giúp cho việc học trở nên có ý nghĩa hơn đối với học sinh so với việc dạy học hay

Trang 24

giáo dục một cách riêng rẽ Thực tế hiện nay, nhiều điều nhà trường dạy cho người học nhưng chưa thực sự cần thiết cho cuộc sống, ngược lại có những năng lực cơ bản chưa

có đủ thời gian để hình thành và rèn luyện

Dạy học tích hợp dạy cho học sinh cách sử dụng kiến thức trong bối cảnh thực tiễn Thay vì nhồi nhét cho người học nhiều kiến thức đủ loại lí thuyết, phương pháp này nên chú trọng vào luyện tập cho người học năng lực vận dụng các kiến thức, kĩ năng

đã học vào tình huống thực tiễn, có ích cho cuộc sống cá nhân và có năng lực sống tự lập.Dạy học tích hợp thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức đã học Trong quá trình học tập, từ nội dung khác nhau của mỗi môn học, người học phải khái quát các khái niệm đã học một cách có hệ thống trong phạm vi từng môn học hay giữa các môn học với nhau Thông tin càng phong phú, càng đa dạng thì tính hệ thống phải càng cao, từ

đó các em mới làm chủ thực sự được kiến thức và dễ dàng vận dụng kiến thức đã học khi gặp phải những tình huống bất ngờ, thách thức trong cuộc sống

Như vậy, dạy học tích hợp là một quan điểm dạy học nhằm mục tiêu phát triển

phẩm chất và năng lực người học để người học có thể vận dụng các kiến thức, kĩ năng

đã học vào giải quyết các tình huống thực tiễn Dạy học tích hợp phát triển tính tích cực học tập của học sinh, góp phần trong việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

2.3.6 Hình thức và mức độ dạy học tích hợp

Có nhiều quan điểm về hình thức dạy học tích hợp đã được nghiên cứu và công

bố Trong khuôn khổ bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về mức độ dạy học tích hợp theo tài liệu Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh của hai tác giả Trần Thị Thanh Thủy và Nguyễn Công Khanh.Theo đó, có 3 hình thức tích hợp trong dạy học gồm: lồng ghép/liên hệ, vận dụng kiến thức liên môn và hòa trộn, cụ thể như sau:

Lồng ghép/liên hệ: Đó là cách tổ chức đưa các nội dung, vấn đề liên quan đến thực tiễn, xã hội vào nội dung chủ đạo của bài học của môn học Ở hình thức này, các môn học vẫn được dạy riêng rẽ Tuy nhiên, GV có thể nhận ra mối quan hệ giữa kiến thức môn học chủ đạo với nội dung của các môn học khác và tiến hành lồng ghép các kiến thức đó ở những nội dung, hoạt động thích hợp

Trang 25

Vận dụng kiến thức liên môn: Hoạt động dạy học được tiến hành xung quanh các chủ đề mà ở đó người học phải vận dụng các kiến thức từ nhiều môn học khác nhau để giải quyết vấn đề đã đặt ra Mối quan hệ giữa các môn học khác nhau trong chủ đề được thể hiện qua sơ đồ “mạng nhện” Theo đó, nội dung các môn học vẫn được dạy học riêng biệt để đảm bảo tính hệ thống; ngoài ra, trong chủ đề hội tụ, nội dung này vẫn đƣợc tiến hành qua sự kết nối giữa các môn học khác nhau bằng cách vận dụng kiến thức liên môn

Dạy học tích hợp có thể tiến hành ở nhiều thời điểm trong quá trình bài học Các

chủ đề gắn với nhu cầu của người học, thực tiễn tạo ra nhiều cơ hội để tổ chức dạy học lồng ghép Sơ đồ “xương cá” thể hiện mối quan hệ giữa kiến thức của các môn học (trục chính) với những kiến thức của những môn học khác (các nhánh)

Hòa trộn: Quá trình dạy học là tiến trình “không môn học”, có nghĩa là nội dung kiến thức của bài học gồm nội dung của nhiều môn học khác nhau Do vậy, nội dung của chủ đề tích hợp sẽ không được dạy ở những môn học riêng rẽ Hình thức này là tổng hợp kiến thức của hai hay nhiều môn học Ở hình thức tích hợp này, GV cần phối hợp nội dung học tập của các môn học khác nhau qua tình huống tích hợp, xoay quanh mục tiêu chung của các môn học để tạo thành chủ đề học tập phù hợp

Trang 26

Hình 8 Trong giờ học Hoá của học sinh trường THCS Nghĩa Hưng

2.3.7 Sự cần thiết của dạy học tích hợp trong dạy học Hoá học

Dạy học tích hợp nhấn mạnh đặc biệt đến việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh, để HS có khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp hay cá nhân trong những tình huống khác nhau Có rất nhiều

lí do để tiến hành dạy học tích hợp bởi lẽ, quỹ thời gian để HS ngồi trên ghế nhà trường là

có hạn, nền giáo dục toàn diện dựa trên sự đóng góp của nhiều môn học, hơn nữa tri thức cuộc sống thì không ngừng tăng lên… Bởi vậy, dạy học tíc hợp sẽ: góp phần thực hiện mực tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường phổ thông; hình thành và phát triển năng lực của người học; huy động được vốn kinh nghiệm của người học để việc học qua sách vở không xa rời cuộc sống thực tiễn, đồng thời tạo ra sự “tư duy hệ thống”, để suy nghĩ của

HS không bị rời rạc khép kín Khi đứng trước các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống,

Trang 27

môn Hóa học cấp THCS nhằm giáo dục học sinh, giúp các em nâng cao nhận thức và

có những việc làm cụ thể, tích cực trong việc bảo vệ môi trường hiện tại cũng như trong tương lai

3 Một số định hướng về tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH trong môn Hóa học cấp THCS

3.1 Mục tiêu về giáo dục ứng phó với BĐKH trong môn Hóa học

3.1.1 Về kiến thức

- Biết được những biểu hiện của BĐKH: Trái Đất ngày càng nóng lên, các hiện tượng thời tiết cực đoan diễn ra ngày càng nhiều và trên diện rộng; mực nước biển ngày càng dâng cao

- Biết được một số nguyên nhân gây BĐKH:

+ Sự tác động tiêu cực của con người vào các thành phần tự nhiên làm thay đổi các thành phần trong không khí Biết được một số chất hoá học gây BĐKH

+ Sự phát triển kinh tế – xã hội, nhất là phát triển công nghiệp và giao thông vận tải, gây ô nhiễm môi trường, tăng hiệu ứng nhà kính

3.1.2 Về kĩ năng: Giúp học sinh biết được:

- Một số dấu hiệu của BĐKH, một số chất hoá học gây BĐKH

- Cách xử lí một vài trường hợp nhằm giảm nhẹ nguyên nhân và ứng phó với BĐKH đơn giản trong đời sống sản xuất và học tập hoá học ở trường phổ thông

- Sử dụng một số nhiên liệu, chất đốt, tài nguyên thiên nhiên hợp lí, góp phần ngăn chặn BĐKH

Trang 28

3.1.3 Về thái độ

- Học sinh có thái độ tích cực như: Hứng thú học tập bộ môn hoá học; Ý thức trách

nhiệm với bản thân, với xã hội và cộng đồng; phát hiện và giải quyết vấn đề một cách khách

quan, trung thực trên cơ sở phân tích khoa học; Ý thức vận dụng những tri thức hoá học đã

học vào cuộc sống và vận động người khác cùng thực hiện

- Tăng cường giáo dục được coi là “chìa khóa” hiệu quả để cá nhân và cộng đồng

ứng phó với những thách thức của BĐKH Điều quan trọng là cần đổi mới phương pháp

và các hình thức tổ chức giáo dục, không hạn chế giáo dục BĐKH trong các bài học khô

cứng mà cần tăng cường các hoạt động thiết thực, sinh động ngoài giờ lên lớp

- Giáo dục BĐKH là một trong những nội dung của giáo dục vì sự phát triển bền vững,

giúp người học hiểu và biết được những tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu, đồng thời

khuyến khích thay đổi hành vi để ứng phó với BĐKH

3.2 Khả năng tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH trong môn Hóa học

Các khả năng giáo dục ứng phó với BĐKH thông qua môn Hoá học

3.2.1 Hoạt động giáo dục BĐKH có thể tiến hành thông qua 2 hoạt động chủ yếu:

- Giáo dục BĐKH thông qua chương trình giảng dạy của môn học trong nhà trường

- Giáo dục BĐKH thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và hoạt động xã hội

3.2.2 Thông qua chương trình giảng dạy môn hoá học có 3 khả năng để tích

hợp giáo dục BĐKH :

- Nội dung chủ yếu của bài học hay một số nội dung môn học có sự trùng hợp với

nội dung GDBĐKH Thí dụ: Oxi, ozon, clo, các oxit của lưu huỳnh, không khí, nước,

nguồn hiđrocacbon thiên nhiên

- Một số nội dung của bài học hay một số phần nhất định của môn học có liên quan

trực tiếp với nội dung giáo dục BĐKH Thí dụ: phân bón hoá học, hợp chất của cacbon

- Ở một số nội dung của môn học, bài học khác, các ví dụ, bài tập được xem như là

một dạng vật liệu dùng để khai thác các nội dung giáo dục BĐKH Đối với môn hoá học

chủ yếu ở dạng này, thí dụ: công nghiệp silicat, sản xuất HNO3, ăn mòn kim loại

Trang 29

3.2.3 Thông qua hoạt động ngoại khóa có nhiều hình thức để tổ chức như hoạt

động tham quan, hoạt động Câu lạc bộ về giáo dục BĐKH, tổ chức các đêm diễn: Thời trang về giáo dục BĐKH Tổ chức các hoạt động xã hội như tham gia các chiến dịch như: Không khí trong sạch, Màu xanh quê em, Tiết kiệm nước

3.3 Các nguyên tắc cơ bản khi tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH thông qua môn Hoá học ở trường THCS

Quá trình khai thác các kiến thức giáo dục BĐKH cần phải đảm bảo 3 nguyên tắc

Giới thiệu các địa chỉ tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH trong môn Hóa học cấp THCS

Trang 30

9 Chương 5 – Bài 36: Nước Thành phần – Tính chất –

Vai trò của nước Bộ phận và liên hệ

LỚP 9

1

Chương 1 – Bài 2:

Một số oxit quan trọng

Lưu huỳnh đioxit – Sản

Trang 31

Axit cacbonic – Muối

Chu trình cacbon trong tự

Trang 32

14

Chương 4 – Bài 52:

Tinh bột và Xenlulozơ

Ứng dụng của tinh bột và xenlulozơ Bộ phận và liên hệ

15

Chương 4 – Bài 54:

Polime

Ứng dụng và sản xuất một

số vật liệu polime Bộ phận và liên hệ

Để quá trình giáo dục phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu đạt

hiệu quả, khi tiến hành tích hợp cần đảm bảo những nguyên tắc sau:

- Đảm bảo mục tiêu bài học;

- Chương trình và nội dung bài học không được quá tải;

- Nội dung môn học không được phá vỡ;

- Lựa chọn nội dung tích hợp gần gũi đúng thực tế, không gò ép;

- Có sự liên hệ với thực tiễn địa phương

3.4 Hình thức tổ chức

3.4.1 Các phương thức tích hợp

- Tích hợp toàn phần: được thực hiện khi hầu hết các kiến thức của môn học,

hoặc nội dung của một bài học cụ thể, cũng chính là các kiến thức về giáo dục ứng

phó với BĐKH

- Tích hợp bộ phận: được thực hiện khi có một phần kiến thức của môn học

hoặc bài học có nội dung về giáo dục ứng phó với BĐKH

- Hình thức liên hệ: liên hệ là một hình thức tích hợp đơn giản nhất khi chỉ

có một số nội dung của môn học có liên quan tới nội dung về giáo dục ứng phó với

BĐKH, song không nêu rõ trong nội dung của bài học

3.4.2 Các hình thức tổ chức DHTH:

- Hình thức thứ nhất: Thông qua các bài học trên lớp Các hoạt động của giáo

viên bao gồm:

Ngày đăng: 07/03/2023, 16:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Kế hoạch năm học 2021-2022 của trường THCS Nghĩa Hưng – Nghĩa Hưng – Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch năm học 2021-2022 của trường THCS Nghĩa Hưng – Nghĩa Hưng – Nam Định
Năm: 2021-2022
2. Kế hoạch dạy học năm học 2021-2022 của bộ môn Hóa học 8, 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch dạy học năm học 2021-2022 của bộ môn Hóa học 8, 9
3. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Hóa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Hóa học
5. Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học tích cực của tác giả Trần Khánh Ngọc – Giáo viên ĐHSP Hà Nội – người sáng lập ra dạy học tích cực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học tích cực
Tác giả: Trần Khánh Ngọc
8. Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Hóa học 8,9 – NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Hóa học 8,9
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
9. Các thông tin trên mạng internet, CNTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thông tin trên mạng internet
10. Ban Chấp hành Trung ương, Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương, Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2013
11. Nguyễn Khắc Viện (1995), Từ điển Tâm lí học, Nxb Thế giới, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tâm lí học
Tác giả: Nguyễn Khắc Viện
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1995
12. Luật giáo dục (2005). NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội
Năm: 2005
13. Trịnh Văn Biều (2008), “Hoạt động nhóm trong dạy học hóa học ở trường phổ thông”, Tạp chí khoa học, Đại học sư phạm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động nhóm trong dạy học hóa học ở trường phổ thông
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Nhà XB: Tạp chí khoa học, Đại học sư phạm TP HCM
Năm: 2008
14. GS. TSKH Nguyễn Cương (chủ biên), TS Nguyễn Mạnh Dung. Phương pháp dạy học hóa học (tập 1) – NXB Đại Học Sư Phạm, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hóa học (tập 1)
Tác giả: GS. TSKH Nguyễn Cương (chủ biên), TS Nguyễn Mạnh Dung
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
Năm: 2010
15. Nguyễn Xuân Trường (chủ biên). Hóa học 10- nâng cao. NXB Giáo Dục Việt Nam, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa học 10- nâng cao
Nhà XB: NXB Giáo Dục Việt Nam

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w