1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

công nghệ chế biến lương thực

28 1,3K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Nghệ Chế Biến Lương Thực
Tác giả Nguyễn Thị Kim Chi, Nguyễn Ngọc Anh Phương, Trần Ngọc Tuyền, Tô Thị Thùy Trang, Nguyễn Minh Mẫn
Người hướng dẫn THS. Trần Quang Dũng
Trường học Trường Đại Học Công Nghệ Sài Gòn
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Sài Gòn
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

công nghệ chế biến lương thực

Trang 1

1 Nguyễn Thị Kim Chi

2 Nguyễn Ngọc Anh Phương

3 Trần Ngọc Tuyền

4 Tô Thị Thùy Trang

5 Nguyễn Minh Mẫn

GVHD: THS.TRẦN QUANG DŨNG

Trang 2

*LỜI MỞ ĐẦU

Là một quốc gia nông nghiệp, với một lực lượng lao động chiếm khoảng 70% số người trong độ tuổi lao động Hiện nay, nông nghiệp đang có nhiều thay đổi, kỹ thuật sản xuất ngày càng được hiện đại hóa, cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm được nâng lên phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng trong nước và xuất khẩu Điều đó tạo nên sức thu hút đối với các doanh nghiệp nước ngoài

Các mặt hàng rau củ phát triển theo hướng xuất khẩu như café, hạt điều, lúa…,và hứa hẹn nhanh chóng đạt được giá trị cao Những yêu cầu của ngành này, về cả thiết bị lẫn chuyên môn, đều rất quan trọng

Các sản phẩm từ sữa có rất nhiều triển vọng phát triển, nhờ vào nhu cầu sử dụng trong nước ngày càng tăng, hơn 20% mỗi năm, vượt xa mức sản xuất công nghiệp quốc nội Hiện nay 80% nhu cầu về sữa (nguyên liệu đầu vào) được cung cấp bởi nguồn sữa bột nhập khẩu các nguồn nguyên liệu liên quan

Chất lượng cuộc sống ngày một cải thiện và sự phát triển của nhiều hộ gia đình khá giả tạo điều kiện thuận lợi cho việc du nhập các thực phẩm phương Tây vào Việt Nam, đó là những thực phẩm mang tính hiện đại và chất lượng

Trước hoàn cảnh khó khăn của đất nước những năm vừa qua ( dịch bệnh, thời tiết thất thường, khủng hoảng kinh tế thế giới),ngành thực phẩm vẫn đạt được mức tăng trưởng tích cực Hiện nay, ngành công nghiệp thực phẩm Việt Nam đạt 20% PIB (tổng sản lượng nội địa), và nhu cầu thực phẩm trong nước nhận định tăng khoảng 12% mỗi năm

Theo những số liệu từ Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu nông – lâm – thuỷ sản đạt mức 19.53 tỷ $ (nông sản đạt 11,83 tỷ $, lâm sản đạt 3.3 tỷ

$, thuỷ sản đạt 4.4 tỷ $) Cuối năm 2011, đề ra mục tiêu đạt khoảng 23 tỷ $ tổng kim ngạch xuất khẩu

Việt Nam là một quốc gia xuất khẩu sản phẩm lương thưc thực phẩm quan trọng trên thế giới, đứng thứ 2 về xuất khẩu gạo, với năng suất 5.3 tấn/1 hecta Việt Nam là nước sản xuất cà phê Robusta lớn nhất, và là nước thứ 2 thế giới sản xuất hỗn hợp Arabica/Robusta (sau Brazil) Đồng thời đây cũng là đất nước đứng đầu về sản xuất hạt điều và xếp vị trí thứ 5 trong lĩnhvực sản xuất trà Việt Nam sở hữu năng lực sản xuất rất mạnh về nguồn thủy sản, là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng nuôi trồng thuỷ sản ( kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản 2010 lên tới 3.98 tỷ $)

Một vài số liệu xuất khẩu của ngành trong 9 tháng đầu năm 2011:

- Sắn và các sản phẩm từ sắn: 747 triệu $ xuất khẩu (cao hơn 92,6% so với cùng kỳ năm trước) Giá xuất khẩu đạt 355.5 triệu $/tấn (hơn 28.9%) Nước nhập khẩu lớn nhất là Trung Quốc

Trang 3

(92.7%)

- Café: 2.2 tỷ $ với gần một triệu tấn, tăng 8.9% khối lượng sản xuất và 66.5% mức tăng trưởng so với cùng kỳ Giá trị xuất khẩu đạt 2.208 $/tấn (tăng 54.2%/năm)

- Trà: 153 triệu $, tăng lên 7.5%/ năm, xuất khẩu 99 000 tấn trà

- Hạt điều: 1.1 tỷ $ ( tăng 38.6% so với cùng kỳ)

- Tiêu: 663 triệu $ ( tăng 100% so với cùng kỳ)

LÚA GẠO: KẾT QUẢ KHÍCH LỆ TRƯỚC KHI HẬU THẤT THƯỜNG

Lúa gạo: kết quả khích lệ trước hiện trạng khí hậu thất thường

Theo Hiệp hội lương thực Việt Nam, năm 2011, sản xuất lúa gạo trong nước đạt 41.6 triệu tấn, hơn 1.52 triệu tấn so với năm 2010

Trong 9 tháng đầu năm 2011, Việt Nam xuất khẩu gần 5.8 triệu tấn lúa gạo, thu về 2.81 tỷ $ Trong quý đầu tiên, Việt Nam đã ký hợp đồng xuất khẩu hơn 1 triệu tấn lúa gạo sang các nước Indonesia, Philipine, Banglades, và Cuba

Hiện nay, Philipine là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, với gần 1.5 -1.8 tấn/năm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam sang các nước châu Phi và các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất

Theo VFA (hội lương thực thực phẩm Việt Nam), năm 2011, tổng khối lượng gạo xuất khẩu vượt qua mức 5 triệu tấn, tăng 17.57% về khối lượng và 24.71% giá trị so với năm 2010

Trong giai đoạn 2006-2010, giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 10.6 tỷ $ (tương đương 26.7 triệu tấn gạo)

Tuy nhiên, Đông Nam Á bao gồm cả Việt Nam đã chịu ảnh hưởng nặng nề do lũ lụt trong trong hai tháng 9 và tháng 10 Rất nhiều cánh đồng bị ảnh hưởng nghiêm trọng ( ở các nước Thái Lan, Việt Nam, Campuchia và Lào gần 1.5 triệu hecta ruộng lúa bị phá hủy hoặc đang gặp nguy hiểm), gây nên sự tăng giá trên thị trường lúa gạo

Phát triển nền nông nghiệp chất lượng

Sản xuất nông nghiệp của Việt Nam đang phát triển theo xu hướng mới (phân tích các khái niệm

về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học theo tiêu chuẩn VietGAP - Vietnam Good Agricultural Practices)

Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã phê duyệt kế hoạch phát triển rau quả theo tiêu chuẩn an toàn Hiện nay, Hồ Chí Minh có 9 hợp tác xã và 33 tổ hợp sản xuất rau quả an toàn

Trang 4

Trong giai đoạn 2011-2015, hơn 90% tổ chức và cá nhân tham gia chương trình sản xuất rau quả

an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP

VietGAP là gì?

Năm 2008, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ký kết tiêu chuẩn VietGAP

VietGAP ( Vietnam Good Agricultural Pratices) là Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam, đựa trên tiêu chuẩn HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point) của AseanGAP Các nhà sản xuất phải ghi lại các hoạt động của họ, bảo đảm việc kiểm tra sản xuất và thu hoạch (kiểm soát nội bộ) trên nhiều tiêu chuẩn về y tế chất lượng ( thuốc trừ sâu được sử dụng, thời gian giữa điều trị và thu hoạch, tổ chức phân tích nguồn gốc )

Nông nghiệp Sinh học của Việt Nam đang bắt đầu trong quá trình xây dựng, có nhiều dự án nhằm khuyến khích thực hiện theo hướng sản xuất này Ngày 24/9/2010, ở Hà Nội, Hội nông dân Việt Nam ( Vietnam Farmes Union) đã tổ chức cuộc họp với chủ đề quay xung quanh thực hiện dự án 5 năm về phát triển khuôn khổ về sản xuất và thương phẩm hóa sản phẩm sinh học nông nghiệp Theo dự án này, 155 khóa đào tạo về sinh học nông nghiệp được tiến hành, 88 nhóm nông dân sản xuất sản phẩm từ sinh học nông nghiệp cũng được tạo thành trong 9 tỉnh Những sản phẩm thuộc dự án rất đa dạng: rau củ, gạo, cam, vải, bưởi, trà, cá…Những rau củ đầu tiên sản xuất theo chương trình sinh học nông nghiệp được bán trong các siêu thị lớn như Big C (

Hà Nội)

Hướng đến ngành công nghiệp chế biến & Đào tạo tốt hơn cho nông dân

Ngành nông nghiệp thu hút những nguồn vối đầu tư, cũng như giúp đỡ từ phía chính phủ để phát triển, chiếm khoảng 50-60% tổng nguồn vốn đầu tư trong lĩnh vực Tổng cộng có khoảng 2.25 tỷ

$ nguồn hỗ trợ từ chính phủ trong giai đoạn 2010-2015

Song song với việc phát triển, chính sách đào tạo nông dân vừa được ban hành Mục tiêu của chính sách đặt ra nhằm thực hiện có hiệu quả việc tái cơ cấu nông nghiệp ở Việt Nam, cải thiện đời sống của người nông dân Năm 2011, gần 800 000 nông dân đến từ các tỉnh trong cả nước than gia lớp huấn luyện này

Bắt đầu từ năm 2010, chương trình huấn luyện, đào tạo dành riêng cho người lao động ở nông thôn đã bước đầu thực hiện Chính phủ đã bỏ ra gần 260 tỷ đồng để thực hiện dự án này Trong giai đoạn 2011-2015, 5.2 triệu nông dân và khoảng 500 000 làng xã đã nhận được nguồn tài trợ này, và đến giai đoạn 2016-2020, con số này tăng lên đến 6 triệu nông dân

Trang 5

Bước chuyển quan trọng nhất của ngành này là vấn đề tài chính Việt Nam là nước đang cố gắng phát triển nền công nghiệp chế biến nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu của sản phẩm nông nghiệp ( phát triển công nghệ đóng gói, đông lạnh, …)

Tiêu biểu như vào tháng 6/2011, nhà máy chế biến đậu nành đã khánh thành ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Nhà máy thuộc sở hữu của Công ty TNHH Bunge Việt Nam (Công ty con của Bunge Limited của Mỹ) Nhà máy chế biến 1 triệu tấn đậu nành mỗi năm, phục vụ cho thị trường quốc

tế và Đông Nam Á ( khoảng 600 tấn dầu nành thô được sản xuất ra hằng ngày và khoảng 200

000 tấn dầu nành mỗi năm)

Tăng trưởng nhập khẩu thực phẩm từ nước ngoài

Là một quốc gia nông nghiệp nhập khẩu thực phẩm từ nước ngoài ngày một tăng ở Việt Nam đang là vấn đề quan trọng cần xem xét Các số liệu thống kê cho thấy sự tăng trưởng đáng ghi nhận về các sản phẩm thực phẩm và nông nghiệp nhập khẩu trong năm 2010 Năm 2009, giá trị nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp lên tới 1.5 tỷ $

Báo cáo chi tiết của Bộ công nghiệp và thương mại cho thấy trong 2 tháng đầu năm 2010, doanh thu nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm đạt 280 triệu $, tăng 56% so với cùng kỳ năm ngoái Theo từng nhóm sản phẩm, nhập khẩu gạo tăng 152%, rau củ tăng 127%, dầu thực vật tăng 96%, những sản phẩm ngũ cốc, tinh bột, sữa tăng 99% và cuối cùng là thực phẩm cá và thịt tăng 79%

Bộ giải thích nguyên nhân của hiện tượng trên là do sự cải thiện và nâng cao nhu cầu cuộc sống của đại bộ phận người dân Việt Nam, nhất là ở những thành phố lớn như Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh Nơi đây nhu cầu sử dụng thực phẩm chất lượng và hàng nhập khẩu từ cá nước phát triển ( Pháp, Mỹ, Úc…) ngày càng cao

Qua đó chúng ta thấy được Việt Nam là thị trường hấp dẫn thu hút các nhà nhập khẩu lương thực – thực phẩm Và nhất là nhu cầu nội địa tiêu dùng lương thực – thực phẩm nhập khẩu trên một

bộ phận lớn người nước ngoài sinh sống và du lịch ở Việt Nam là rất cao

Nhu cầu trang thiết bị tăng cao

Nông nghiệp nước ta sử dụng các máy có nguồn gốc từ các nước xã hội chủ nghĩa ( đặc biệt là Trung Quốc và Liên Xô cũ) hoặc mua những máy đã qua sử dụng từ nước tiên tiến khác như Nhật Bản Trong ngành chế biến thực phẩm, phần lớn trang thiết bị được nhập khẩu từ Châu Âu

Trang 6

kế hoạch này, chính phủ sẽ tài trợ những nguồn vốn tài chính để hỗ trợ về mặt thuế đất nông nghiệp cho nông dân nhằm đầu tư mạnh mẽ hơn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, và đưa ra chính sách nhằm thu hut các nhà đầu tư trong tương lai

Các nhóm sản phẩm hướng tới bao gồm các dự án về trồng lúa, ngủ cốc, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lực, công nghệ bảo quản và chế biến sản phẩm nông nghiệp

Ngoài ra, do hạn chế về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là những trang bị phục vụ cho thu hoạch và bảo quản, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả sau thu hoạch Để giảm thiểu thiệt hại, chính phủ nhấn mạnh vấn đề hiện đại hóa ngành Đến năm 2020, một trong những mục tiêu đặt ra cho ngành trồng lúa là sử dụng hơn 50% máy móc cho thu hoạch và phải có khả năng lưu trữ đến 4 triệu tấn lúa trong điều kiện tốt nhất nhờ vào hệ thống kho lưu trữ hiện đại

Nhu cầu trang bị cho lĩnh vực tưới tiêu ở Việt Nam cũng rất quan trọng, đặc biệt là trong xây dựng hệ thống bơm nước Hiệp hội doanh nghiệp Pháp tại Việt Nam (CCIFV) đã kêu gọi và hỗ trợ chuyên gia sang Pháp để mua và học hỏi các kinh nghiệm sử dụng phân bón và tưới tiêu

*đồng bằng song cửu long

Hiện nay, vùng ĐBSCL sản xuất mỗi năm trên 20,7 triệu tấn lúa, chiếm 53,4% sản lượng lúa và 90% lượng gạo xuất khẩu cả nước; sản lượng mía trên 5 triệu tấn, diện tích cây ăn quả khoảng 290.000 ha, hàng năm cho sản lượng khoảng 2,5 triệu tấn, trong đó có nhiều sản phẩm nổi tiếng như cam sành, bưởi, quít, xoài, vú sữa, măng cụt, sầu riêng

cả nước Kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn vùng khoảng 2,5 tỉ USD, chiếm 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước

Với nguồn nguyên liệu phong phú, số lượng lớn, Nhưng nhìn chung, ngành công nghiệp chế biến của vùng còn yếu kém; quy mô nhỏ, chưa tương xứng với nguồn nguyên liệu và yêu cầu phát triển kinh tế của vùng Theo các ngành hữu quan, công nghiệp chế biến và xuất khẩu nông thủy -

Trang 7

sản của vùng ĐBSCL nhìn chung phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn nguyên liệu của địa phương Xuất khẩu thủy sản tăng trưởng chậm; sản phẩm chủ yếu xuất ở dạng thô; nhiều sản phẩm làm ra giá thành còn cao, sức cạnh tranh thấp; hệ số sử dụng công suất chế biến thủy sản đông lạnh và chế biến rau quả đạt thấp; các cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản chưa phát triển Ngoài ra, công suất xay xát và chế biến gạo xuất khẩu chưa tương ứng với nguồn nguyên liệu của địa phương, công nghệ xay xát lạc hậu tiêu tốn nhiều năng lượng, tỷ lệ hao hụt cao Công nghiệp chế biến của vùng chủ yếu gồm: Ngành xay xát lương thực với số lượng cơ sở được phân bố ở hầu hết các tỉnh, thành với nhiều nhà máy có công suất khác nhau, theo số liệu thống kê, sản lương xay xát toàn vùng năm 2009 đạt 7 triệu 883 ngàn tấn Chế biến thủy sản có 133 nhà máy với tổng công suất 690.000 tấn / năm Mặc dù chế biến thủy sản -

là ngành công nghiệp mũi nhọn, luôn chiếm tỷ trọng và có tốc độ tăng trưởng cao trong vùng, nhưng sản phẩm chế biến chỉ dừng lại ở mức là cá tra phi lê, tôm đông lạnh, mực đông lạnh

…TS Nguyễn Việt Thắng, Viện trưởng , Viện Nghiên cứu thủy sản Bình An cho rằng toàn bộ con cá tra đều sử dụng được, ngoài việc làm phi lê xuất khẩu thì xương, da, bong bóng, mỡ cá… đều chế biến thành những sản phẩm hữu ích Ông Thắng còn cho biết, hiên nay Viện của ông đang nghiên cứu, tận dụng những phụ phẩm con trá để chế biến các mặt hàng như: nước mắm cao cấp, dầu ăn và nhất là sản xuất sản phẩm collagen cao cấp làm từ da cá tra …chắn chắc với những sản phẩm trên sẽ tạo ra giá trị gia tăng lớn từ con các tra

Theo các nhà kinh tế, nguyên nhân công nghiệp chế biến ở ĐBSCL chậm phát triển và không thu hút được các nhà đầu tư là do chất lượng quy hoạch và định hướng chung cho phát triển mang tính kinh tế vùng còn thấp; thiếu chiến lược chung và thiếu đồng bộ và tính liên kết, làm cho việc khai thác các nguồn lực, nhất là các nguồn lực đất đai sử dụng chưa hợp lý Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, thiếu hụt nguồn nhân lực cao, năng lực cạnh tranh thấp

Với nguồn nguyên liệu phong phú, số lượng lớn, Nhưng nhìn chung, ngành công nghiệp chế biến của vùng còn yếu kém; quy mô nhỏ, chưa tương xứng với nguồn nguyên liệu và yêu cầu phát triển kinh tế của vùng Theo các ngành hữu quan, công nghiệp chế biến và xuất khẩu nông thủy - sản của vùng ĐBSCL nhìn chung phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn nguyên liệu của địa phương Xuất khẩu thủy sản tăng trưởng chậm; sản phẩm chủ yếu xuất ở dạng thô; nhiều sản phẩm làm ra giá thành còn cao, sức cạnh tranh thấp; hệ số sử dụng công suất chế biến thủy sản đông lạnh và chế biến rau quả đạt thấp; các cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản chưa phát triển Ngoài ra, công suất xay xát và chế biến gạo xuất khẩu chưa tương ứng với nguồn nguyên liệu của địa phương, công nghệ xay xát lạc hậu tiêu tốn nhiều năng lượng, tỷ lệ hao hụt cao Công nghiệp chế biến của vùng chủ yếu gồm: Ngành xay xát lương thực với số lượng cơ sở được phân bố ở hầu hết các tỉnh, thành với nhiều nhà máy có công suất khác nhau, theo số liệu thống kê, sản lương xay xát toàn vùng năm 2009 đạt 7 triệu 883 ngàn tấn Chế

Trang 8

biến thủy sản có 133 nhà máy với tổng công suất 690.000 tấn / năm Mặc dù chế biến thủy sản -

là ngành công nghiệp mũi nhọn, luôn chiếm tỷ trọng và có tốc độ tăng trưởng cao trong vùng, nhưng sản phẩm chế biến chỉ dừng lại ở mức là cá tra phi lê, tôm đông lạnh, mực đông lạnh

…TS Nguyễn Việt Thắng, Viện trưởng , Viện Nghiên cứu thủy sản Bình An cho rằng toàn bộ con cá tra đều sử dụng được, ngoài việc làm phi lê xuất khẩu thì xương, da, bong bóng, mỡ cá… đều chế biến thành những sản phẩm hữu ích Ông Thắng còn cho biết, hiên nay Viện của ông đang nghiên cứu, tận dụng những phụ phẩm con trá để chế biến các mặt hàng như: nước mắm cao cấp, dầu ăn và nhất là sản xuất sản phẩm collagen cao cấp làm từ da cá tra …chắn chắc với những sản phẩm trên sẽ tạo ra giá trị gia tăng lớn từ con các tra

Theo các nhà kinh tế, nguyên nhân công nghiệp chế biến ở ĐBSCL chậm phát triển và không thu hút được các nhà đầu tư là do chất lượng quy hoạch và định hướng chung cho phát triển mang tính kinh tế vùng còn thấp; thiếu chiến lược chung và thiếu đồng bộ và tính liên kết, làm cho việc khai thác các nguồn lực, nhất là các nguồn lực đất đai sử dụng chưa hợp lý Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, thiếu hụt nguồn nhân lực cao, năng lực cạnh tranh thấp

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lương Lê Phương cho rằng: ĐBSCL muốn phát triển nông nghiệp

và thủy sản phải đầu tư theo chiều sâu và quy mô lớn Trong đầu tư sản xuất cần cơ giới hóa để nông dân giảm sức lao động trên đồng ruộng, tăng hiệu quả sử dụng đất, giảm thất thoát sau thu hoạch Lấy nuôi trồng chủ yếu là nuôi cá tra, tôm càng xanh, tôm sú đang đem lại giá trị cao Trong thủy sản, cần đầu tư các nhà máy chế biến Tuy nhiên, hiện nay có tỉnh vượt số lượng nguồn cung nguyên liệu, một số nhà máy đi vào tình trạng không có nguyên liệu, không có thị trường tiêu thụ Từng tỉnh nên cân đối nguồn nguyên liệu, nếu đảm bảo nguồn nguyên liệu mới xây dựng nhà máy Nhưng điều quan trọng là xác định được thị trường tiêu thụ ở đâu

Ông Bùi Ngọc Sương, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang, cho biết: ĐBSCL đang còn hàng loạt các vấn đề cần thống nhất chung về mặt nhận thức để có những bước đi thích hợp và sự điều chỉnh kịp thời Ngành công nghiệp chế biến vùng ĐBSCL trong thời gian tới có nhu cầu đầu tư quy mô lớn, có trình độ công nghệ cao, gắn liền với phát triển vùng nguyên liệu Do đó, đòi hỏi phải có quy hoạch về chiến lược phát triển hợp lý, đúng đắn; bảo đảm kết hợp tốt, hài hòa lợi ích của từng địa phương; phát huy tốt lợi thế toàn vùng Song song với xây dựng các cơ sở chế biến tập trung ở vùng nguyên liệu lớn, cần khuyến khích phát triển các cơ sở sản xuất có quy mô vừa

và nhỏ Phát triển công nghiệp chế biến trọng tâm vào ngành chế biến lúa gạo, thủy sản, thịt, hoa quả, nước giải khát ; nhanh chóng giảm sản phẩm sơ chế, tăng cường các sản phẩm chế biến sâu

Cụ thể như đối với chế biến lúa gạo các tỉnh trong khu vực nên có chính sách khuyến khích và

ưu tiên dể thu hút các nhà đầu tư có thiết bị, công nghệ nâng cao tỷ lê thu hồi gạo, hình thành các trung tâm chế biến lớn có công nghệ liên hoàn khép kín từ khâu sấy khô, bảo quản, chế biến đồng bộ như:bóc võ, xát trắng,lau bong, tách tắm và tách hạt có màu để sản xuất ra gạo có chất lượng cáo cho xuất khẩu Kêu goi các nhà đầu tư xây dưng hệ thống xy-clo tồn trữ lúa gạo ở các tỉnh trong điểm lúa như: Kiên Giang, An Giang, Cần Thơ… với công suất 2 triệu tấn Về chế thủy sản cũng vậy các tỉnh trong vùng phải tiếp tục kêu gọi đầu tư các nhà máy chế biến thủy sản

Trang 9

đồng lạnh có công nghệ hiện đại tại các vùng có nguồn nguyên liệu lớn như: An Giang, Kiên Giang , Cà Mau…Đặc biệt khuyến khích đầu tư xây dựng các nhà máy thủy sản đống hộp, các nhà máy chế biến sâu nhằm tận dụng các loại phụ phẩm của thủy sản để tạo ra giá trị gia tăng cao Về chế biến rau quả, trước mắt sẽ tiếp tục nâng cao hiệu quả và tận dụng công suất chế biến của các nhà máy hiện có ở An Giang và Kiên Giang ĐBSCL còn đang kêu gọi đầu tư thêm các nhà máy rau quả đóng hộp, chế biến nước giải khát … để tiêu thụ nguồn nguyên liệu hoa quả lớn trong vùng./

*thế mạnh phát triển lương thưc của ĐBSH và ĐBSCL

1 Sự giống nhau

a Về vị trí và quy mô

- Cả 2 đồng bằng đều là châu thổ rộng nhất nằm ở hạ lưu 2 hệ thống sông lớn nhất của nước ta

- Đây là 2 vùng trọng điểm lương thực, thực phẩm quan trọng nhất của đất nước

+ Lúa là cây trồng chủ đạo

+ Diện tích canh tác lớn nhất

+ Sản lượng nhiều nhất với năng suất cao nhất

- Là 2 vùng có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nhu cầu ăn trong nước và xuất khẩu

b Về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

- Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

- Đất đai của 2 đồng bằng này nhìn chung là đẩt phù sa màu mỡ do sông ngòi bồi đắp

- Khí hậu nhiệt đới, nắng lắm, mưa nhiều tạo điều kiện tốt cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển

- Có các sông lớn chảy qua với lưu lượng nước phong phú

- Giáp với vùng biển rộng lớn, có nguồn lợi biển đa dạng, phong phú với nhiều bãi cá có giá trị

về mặt kinh tế

c Về điều kiện kinh tế - xã hội

- Là các vùng dân cư trù phú, nguồn lao động dồi dào, có kinh nghiệm trồng lúa, chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, hải sản

- Có nhiều cơ sở chế biến nguyên liệu từ nông nghiệp, ngư nghiệp

- Trên 2 đồng bằng có hệ thống đô thị, trong đó có những đô thị vào loại lớn nhất của cả nước (Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ…)

2 Sự khác nhau

a Về vị trí và quy mô

- Đồng bằng sông Hồng nằm trong địa bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng

Trang 10

- Về một số chỉ tiêu đồng bằng sông Cửu Long có ưu thế hơn

+ Diện tích tự nhiên của đồng bằng sông Cửu Long lớn hơn đồng bằng sông Hồng 2,5 lần (4 triệu ha so với khoảng 1,5 triệu ha)

+ Diện tích trồng cây lương thực gấp gần 3 lần

+ Sản lượng lương thực quy thóc của đồng bằng sông Cửu Long lớn hơn rất nhiều so với đồng bằng sông Hồng

+ Bình quân lương thực quy thóc theo đầu người của đồng bằng sông Cửu Long cao hơn so với đồng bằng sông Hồng

b Về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

- Do không có hệ thống đê điều nên đồng bằng sông Cửu Long hàng năm vẫn được bồi đắp phù

sa, không giống như đồng bằng sông Hồng

- Đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều đất hoang hoá hơn

- Đất ở đồng bằng sông Cửu Long bị nhiễm phèn, nhiễm mặn là chủ yếu, trong khí đó ở đồng bằng sông Hồng là đất bạc màu

- Khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long là khí hậu mang tính chất xích đạo, có 2 mùa (mưa, khô)

rõ rệt Ở đồng bằng sông Hồng, khí hậu nhiệt đới gió mùa có một mùa đông lạnh Điều đó ảnh hưởng tới cơ cấu cây trồng và thời vụ nông nghiệp

- Về mùa khô, đồng bằng sông Cửu Long thiếu nước ngọt, đất bị nhiễm mặn

- Hệ thống sông ngòi ở đồng bằng sông Hồng thường gây ra lũ lụt vào mùa hạ

- Nguồn lợi biển ở đồng bằng sông Cửu Long phong phú hơn

c Về điều kiện kinh tế - xã hội

- Dân cư ở đồng bằng sông Hồng đông đúc hơn, với mật độ dân số đứng đầu cả nước, nguồn lao động có nhiều kinh nghiệm trồng lúa nước

- Trình độ thâm canh ở đồng bằng sông Hồng cao hơn Hệ thống sử dụng ruộng đất lớn hơn Vì vậy, năng suất ở đây thuộc vào hàng đứng đầu trong cả nước

- Đồng bằng sông Hồng được khai thác từ lâu đời, trong khi đó ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ

có khoảng vài trăm năm nay

*ĐBSCL LÀ VỰA LÚA LỚN NHẤT NC TA

1 Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm lúa lớn nhất nước ta do những thuận lợi sau đây:

a Tài nguyên thiên nhiên:

- Tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực quan trọng nhất làm cho đồng bằng trở thành vựa lúa lớn nhất của cả nước

Trang 11

- Các loại tài nguyên quan trọng nhất:

+ Đất đai: Diện tích 4 triệu ha, trong đó diện tích trồng lúa khoảng 2,8 triệu ha Bình quân đất trồng lúa theo đầu người gấp 3 lần so với đồng bằng sông Hồng

Đất phù sa màu mỡ do được phù sa sông Tiền, sông Hậu bồi đắp Đặc biệt là dải phù sa ngọt dọc theo sông Tiền, sông Hậu là loại đất tốt nhất để trồng lúa

+ Khí hậu mang tính chất cận xích đạo, nhiệt độ cao, biên độ nhiệt ít dao động trong năm Có một mùa mưa, một mùa khô, ít có bão, thời tiết ổn định là điều kiện cho cây lúa có thể phát triển quanh năm (có thể phát triển 3 vụ lúa: vụ đông xuân, vụ hè thu và vụ mùa)

+ Nguồn nước dồi dào Tổng lượng nước của hệ thống sông Cửu Long rất lớn Hệ thống kênh rạch chằng chịt Nước có ý nghĩa lớn đối với việc thau chua, rửa mặn Sông ngòi, kênh rạch còn

là con đường giao thông thuận tiện

b Đồng bằng sông Cửu Long là nơi đông dân Đây là nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu

thụ tại chỗ quan trọng Đó là tiềm năng lớn để phát triển sản xuất

c Đồng bằng sông Cửu Long đang được đầu tư, cải tạo về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kĩ

thuật để biến vùng này trở thành vùng trọng điểm lúa hàng hoá lớn nhất của cả nước và đáp ứng nhu cầu xuất khẩu

+ Đất mặn chiếm >18%, phân bố dọc duyên hải

Khó khăn đối với đất đai canh tác là thiếu dinh dưỡng, nhất là các nguyên tố vi lượng, đất quá chặt, khó thoát nước

- Tình trạng thiếu nước trong mùa khô dẫn tới sự xâm nhập sâu của nước mặn vào đất liền làm tăng cường độ chua mặn trong đất

- Địa hình thấp tạo ra nhiều ô trũng, nhất là phần hạ lưu châu thổ Mực nước trong các cửa sông lên xuống rất nhanh những lưỡi nước mặn ngấm dần vào trong đất Các ô trũng khó cải tạo

- Tình trạng chậm phát triển của các ngành kinh tế, kết cấu hạ tầng, trình độ dân trí chưa cao

3 Phương hướng khắc phục:

- Sử dụng hợp lý và cải tạo tự nhiên

- Nước là vấn đề hàng đầu trong việc cải tạo tự nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long

Trang 12

- Sử dụng nguồn nước ngọt trong các dòng sông để thau chua, rửa mặn kết hợp với việc tạo ra các giống lúa chịu được phèn, mặn trong điều kiện tưới nước bình thường

- Mở rộng diện tích canh tác trên cơ sở cải tạo dần diện tích đất phèn, đất mặn thành các vùng phù sa để trồng cói, lúa, cây ăn quả

- Phá thế độc canh, tăng cường hệ số sử dụng ruộng đất hiện nay hệ số sử dụng ruộng đất ở đây còn rất thấp Phần lớn diện tích canh tác là ruộng 1 vụ Ruộng 2 vụ chưa nhiều, ruộng 3 vụ còn

ít Nếu giải quyết tốt vấn đề thuỷ lợi, diện tích lúa có thể tăng 1 triệu ha so với diện tích gieo trồng hiện nay

- Đẩy mạnh các biện pháp thâm canh và phát triển công nghiệp chế biến

*nhu cầu lương thực

Con người cần lương thực thực phẩm để duy trì cơ thể của con người và đảm bảo những hoạt động khác nhau của các bộ phận trong cơ thể con người Nếu thức ăn đủ chất dinh dưỡng, được cấu trúc theo một tỉ lệ hợp lý, cơ thể sẽ khỏe mạnh; ngược lại, thì cơ thể sẽ yếu đuối

Nguồn thức ăn có thể được phân thành 3 loại chức năng: Thức ăn để xây dựng cơ thể, bao gồm protid, muối khoáng, nước; Thức ăn để cung cấp năng lượng cho cơ thể, bao gồm hydrocacbon

và chất mỡ; Thức ăn có tác dụng điều hòa, bao gồm protid, enzyme, muối, nước và vitamin Thức ăn và chức năng của chúng

Trang 13

Nhu cầu về khối lượng, chất lượng và tác dụng của lương thực thực phẩm

 Mục đích của việc cung cấp lương thực thực phẩm cho con người như xây dựng cơ thể: tạo các

tế bào mới bảo đảm sự phát triển của cơ thể (trẻ em đang lớn) hoặc thay thế các tế bào già (ở cơ thể trưởng thành); Bù đắp năng lượng đã mất đi cho các hoạt động sống và lao động

 Sự cần thiết của lương thực thực phẩm thể hiện ở hai mặt là lượng và chất

Nếu nhu cầu lương thực thực phẩm được tính bằng calo, thì lượng calo cần thiết ở mỗi người sẽ khác nhau phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính, lao động, khí hậu

Ngoài ra, thức ăn phải đủ các yêu cầu về protid, glucid, lipid, vitamin và chất khoáng Trong đó, protid được xem là một chỉ tiêu quan trọng nói lên mức sống của một gia đình, một cộng đồng, một quốc gia Theo chỉ tiêu này, mức sống của các khu vực trên thế giới rất khác nhau

Khu vực Tổng năng lượng cung cấp hàng

ngày (kcal) Lượng calo có từ nguồn gốc động vật trong khẩu

Bảng 1 Nguồn thức ăn động vật trong khẩu phần ăn hàng ngày

Đối tượng Nhu cầu năng lượng trong ngày (kcal)

Lượng protid cần cung cấp

Trang 14

Bảng 2 Nhu cầu protid ở các độ tuổi khác nhau

 Suy dinh dưỡng, bội dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng xảy ra khi trong khẩu phần ăn của con người không đủ lượng và chất, dẫn đến dần dần mất khả năng thực hiện các hoạt động cần thiết để phát triển cơ thể (sự kém dinh dưỡng rồi suy dinh dưỡng) cũng như các hoạt động kinh tế-xã hội

Trong khẩu phần ăn hàng ngày của người dân ở các nước phát triển có 90 gam đạm (ít nhất là 50% đạm động vật); Ở các nước đang phát triển, lượng đạm chỉ khoảng 40-50 gam (đạm động vật chỉ khoảng 15%)

Sự suy dinh dưỡng có thể xảy ra ngay cả đối với trẻ em ở các gia đình khá giả Trong 6 tỉ dân trên thế giới có 3 tỉ người đang thiếu ăn, trong đó số đói ăn thường xuyên đến 800 triệu người, phần lớn tập trung ở những nước kém phát triển

Một số hậu quả của sự suy dinh dưỡng: sức khỏe kém, bệnh tật, thiếu protid sẽ dễ bị rối loạn tiêu hóa, khả năng đề kháng của cơ thể kém; Sụt cân (nặng giảm 40% trọng lượng so với cơ thể bình thường, vừa giảm 25%), giảm chiều cao, vành sọ Ngoài ra, còn ảnh hưởng tới sự phát triển của trí tuệ; Đối với trẻ em, đặc biệt trẻ em dưới 5 tuổi, thường dẫn đến chết yểu, những biểu hiện đối với chúng là ăn ít, bị nhiễm độc, và những bệnh tật như tiêu chảy, sởi và cúm Hằng năm trên thế giới có từ 12 đến 20 triệu dân chết yểu do suy dinh dưỡng hoặc những bệnh bình thường, không báo trước

Ở người lớn nếu suy dinh dưỡng lâu năm sẽ bị tổn thương nhiễm trùng, làm việc năng suất yếu, suy nghĩ kém lành mạnh Các bà mẹ đang mang thai bị suy dinh dưỡng thường sẩy thai, đẻ non,

đẻ thiếu cân, bị thiếu máu và dễ bị chết (10% bà mẹ ở Ấn Độ bị chết do thiếu máu) Theo số liệu của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới): 1/3 dân số thế giới đang bị thiếu đạm, trong đó 300 triệu người bị thiếu máu nặng Năng suất lao động và tuổi thọ trung bình giảm

Bội dinh dưỡng là hậu quả của việc dùng thức ăn có nhiều năng lượng, việc ăn uống, sinh hoạt không hợp lý làm thân thể béo phì Khoảng 15% nhân dân các nước phát triển gặp tình trạng bội dinh dưỡng do ăn nhiều

Tại Mỹ có hơn 50% dân số dư cân, 25% thật sự béo phì và cho dù khoa học y dược của Mỹ phát triển nhưng mỗi năm nước này vẫn có 30 vạn người tử vong do có liên quan đến béo phì, trong

đó số người bị chết trẻ chiếm tỉ lệ cao Nhiều năm nay đã xuất hiện với tỉ lệ cao bệnh đái đường

ở lứa tuổi 11 trong những trẻ béo phì

Tại TPHCM, trẻ dưới 5 tuổi bị béo phì chiếm tỉ lệ 2,9% và ngoại thành 0,5% (số liệu năm 1996, chưa kể tỉ lệ 2,8% dư cân của trẻ ngoại thành có nguy cơ sẽ thành béo phì)

Béo phì đã được tổ chức Y tế thế giới (WHO) coi là một thách thức của thiên niên kỷ tới và là một trong "tứ chứng nan y" của loài người: AIDS, ung thư, béo phì và ma túy

Hậu quả của bội dinh dưỡng-béo phì: Nguy cơ của các bệnh mãn tính như tiểu đường, cao huyết

áp, tim mạch, một số loại ung thư, rối loạn hô hấp, thoái hóa xương khớp, sỏi mật, gan nhiễm

Ngày đăng: 02/04/2014, 16:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ hệ thống xử lý bằng phương pháp lọc sinh học ngập nước - công nghệ chế biến lương thực
Sơ đồ h ệ thống xử lý bằng phương pháp lọc sinh học ngập nước (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w