PHẦN THỨ BA ðặc trưng vùng trong một số hiện tượng văn hóa Ngô ðức Thịnh 382 Chương 14 Về vùng "thể loại" văn hoá Ở các chương trên, chúng tôi ñề cập tới các vùng văn hoá mang tính chất tổng thể, tạm[.]
Trang 1PHẦN THỨ BA
ðặc trưng vùng trong một số hiện tượng văn hóa
Trang 2Chương 14
Về vùng "thể loại" văn hoá
Ở các chương trên, chúng tôi ñề cập tới các vùng văn hoá mang tính
chất tổng thể, tạm gọi là vùng văn hoá tổng thể, còn trong chương này,
chúng tôi ñi sâu hơn phân tích tính chất vùng của các hiện tượng văn hoá riêng lẻ, chẳng hạn như truyền thuyết, sử thi, diễn xướng, âm nhạc,
phong tục, nghi lễ, kiến trúc, Èm thực , gọi là vùng thể loại văn hoá
Còng cần nói thêm rằng, không phải tất cả các hiện tượng văn hoá ñều chứa ñựng nhân tố phân biệt không gian ñịa lý như nhau, mà tuỳ theo từng loại hình văn hoá, tính vùng thể hiện nhiều Ýt khác nhau
Trước khi ñi vào phân tích các hiện tượng văn hoá cụ thể, chúng tôi thấy cần thiết phải ñưa ra mét quan niệm lý thuyết của mình về vùng thể
loại văn hoá Vùng thể loại văn hoá là một không gian ñịa lý nhất ñịnh,
mà ở ñó từng thể loại văn hoá (truyền thuyết, sử thi, dân ca, sân khấu,
âm nhạc, Èm thực, kiến trúc ) biểu hiện tính tương ñồng, thống nhất của mình thông qua nội dung, kết cấu, các sắc thái biểu hiện, phương thức lưu truyền ðể tạo nên các hiện tượng và thể loại văn hoá mang
"tính vùng", chúng ta phải xem xét ñến các nhân tố môi trường, mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử của chủ nhân, ñến các nhân tố giao lưu văn hoá giữa các tộc người
Phần trên chúng tôi nói tới khái niệm "hiện tượng văn hoá" và "thể
loại văn hoá" Với cái gọi là hiện tượng văn hoá thì chắc không cần bàn
cãi gì thêm, có chăng chỉ là khái niệm "thể loại văn hoá", vậy thể loại văn hoá là gì? Trước nhất, chúng tôi mượn khái niệm thể loại từ thể loại
văn học dân gian, như truyện cổ, truyền thuyết, sử thi, ca dao, dân ca
Do vậy, khi bàn về tính vùng của các thể loại văn học dân gian này thì không có vấn ñề gì phải bàn cãi Tuy nhiên, khi sử dụng khái niệm thể loại cho các hiện tượng văn hoá khác ngoài văn học dân gian, như kiến trúc, nhà cửa, Èm thực, âm nhạc, sân khấu thì nên hiểu nó như là những hiện tượng văn hoá mà thôi
Trang 3Sau ñây, chúng tôi lùa chọn giới thiệu một số hiện tượng, thể loại văn hoá, coi như là những thí dụ ñể tìm hiểu về vấn ñề "vùng thể loại" văn hoá
Vùng truyền thuyết và nghi lễ
Nước ta, nhất là vùng Bắc Bộ, nơi ñược coi là cái nôi hình thành dân tộc, hình thành quốc gia cổ ñại và văn hoá truyền thống của người Việt, thì tâm thức lịch sử luôn thấm ñượn trong các sáng tác dân gian, nhất là trong truyền thuyết Các truyền thuyết này vừa mang tính lịch sử vừa mang tính huyền thoại, tuy nhiên với quần chúng nhân dân, ñó là lịch sử ñích thực, nên nó gắn liền với các nghi lễ, phong tục, hình thành nên một
hiện tượng văn hoá mang tính tổng thể: Truyền thuyết - nghi lễ
Ở ðồng bằng và trung du Bắc Bộ, có thể kể ra các vùng truyền thuyết
- nghi lễ tiêu biểu sau: Vùng truyền thuyết - nghi lễ Hùng Vương, vùng
truyền thuyết - nghi lễ Thánh Gióng, vùng truyền thuyết - nghi lễ Sơn Tinh - Tản Viên, vùng truyền thuyết - nghi lễ Hai Bà Trưng, vùng truyền thuyết - nghi lễ ðức Thánh Trần, Vùng truyền thuyết - nghi lễ Hoa Lư
Ở miền Trung, chúng ta có thể kể ñến vùng truyền thuyết - nghi lễ Lam
Sơn, vùng truyền thuyết - nghi lễ Quang Trung ở Bình ðịnh Sau ñây
chúng tôi xin giới thiệu một số vùng truyền thuyết và nghi lễ
Vùng truyền thuyết - nghi lễ Tản Viên
Vùng truyền thuyết - nghi lễ Tản Viên bao gồm một vùng khá rộng lớn, gồm Tam Thanh, Thanh Sơn, Sông Thao (Phú Thọ) thuộc tả ngạn sông Thao (Sông Hồng) và Sơn Tây (Hà Tây) thuộc hữu ngạn Tất nhiên, ngoài vùng kể trên, theo quy luật lan toả của các hiện tượng Folklore, những truyền thuyết và phong tục liên quan tới Tản Viên có thể tìm thấy trên phạm vi rộng hơn, tuy nhiên những ñịa phương kể trên ñược coi là nhân lõi, ñiển hình của vùng truyền thuyết và nghi lễ Tản Viên Nhiều nhà sưu tầm ñã công bố những truyền thuyết, huyền thoại về Sơn Tinh - Thuỷ Tinh ở Ba Vì và các vùng phụ cận, cũng như các phong tục liên
quan (ðoàn Công Hoạt, 1969)
Trên ñịa phận Sơn Tây quanh nói Ba Vì vẫn còn lưu giữ các diễn
Trang 4xướng nghi lễ liên quan ñến Tản Viên, như tục ñánh cá thờ trên khúc
sông Tích, từ cầu Vang (ðường Lâm) ñến cầu Ái Mỗ (Trung Hưng) Trên ñoạn sông Tích, mọi người ñều có thể tham gia ñánh cá, miễn là khi bắt ñược cá chép to thì góp vào cỗ gồm 99 ñuôi cá ñể thờ Thánh Tản, biểu tượng cho quân của Thuỷ Tinh trong cuộc chiến tranh giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh Còn các ñịa phương khác, như ở làng Tông Lệnh thì lại ñánh cá lăng, cá quất và làm tiệc gỏi cúng Tản Viên Gắn với sự tích Tản Viên - Sơn Tinh còn có nhiều tục lệ, nghi lễ khác nữa, như làng Liệp Tuyết có tục Múa Rô tổ chức 36 năm một lần, làng Vân Ta có trò Tứ Dân (Trò Triếng), tái hiện việc công chóa Ngọc Hoa rước lụa tiến Vua cha, tục cướp kén mang tính phồn thực của nghi lễ nông nghiệp, làng Sơn ðồng có nghi lễ săn thịt thó ñể cúng Thánh Tản
Trên ñịa phận Phú Thọ, các nghi lễ liên quan tới thờ cúng Tản Viên khá phong phú, như tục chơi ñu ở xã Minh Phương vào mồng 6 tháng giêng hàng năm, tục chọi trâu ở Hoàng Cương (Thanh Hoà) vào 7 tháng giêng, hội phết ỏ Sơn Huy (Lâm Thao), tái hiện sự tích luyện quân của Tản Viên, tục ñua chải ở xã Thạch ðồng (Tam Thanh), tượng trưng cho việc ñưa tiễn Tản Viên về núi Tản, tục ñập trâu, mổ lợn ñể Tản Viên tế trận, tục tế cầu trận gắn với truyền thuyết quân Tản Viên có lần bị thua rót qua ñây ñược dân ra ñộng viên uý lạo; tục múa săn trong lễ thức cúng
lễ Tản Viên
Tiêu biểu hơn cả là các trò diễn Rước chóa gái tái hiện sự tích Sơn
Tinh ñưa Ngọc Hoa từ Phong Châu về nhà chồng, tổ chức khá quy mô từ
30 tháng chạp tới 8 tháng giêng, do làng Triệu Phú (tên nôm là Trẹo) và làng Hy Cương (tên nôm là Vi) ñứng ra tổ chức, do vậy trò này còn ñược
gọi là Vi Trẹo rước chóa gái Cuộc trình diễn này có thể tóm lược như
sau: Tối ngày 30 tháng chạp, ông Từ làng Vi cầm con gà ñến cây hương khấn ba lần, tượng trưng cho việc Sơn Tinh giả làm tiếng gà gáy sáng ñánh thức quân canh Hùng Vương mở cửa thành cho Sơn Tinh vào dâng
lễ cưới
Tiếp ñó, ông Từ vừa ñi vừa hú từ cây hương ở ñền Cả ñến ñền Thượng, dân làng theo sau ñều hú theo, xen lẫn cả tiếng trống, kèn Nghi
Trang 5thức này tượng trưng cho ñám cưới Mỵ Nương bị quân Thuỷ Tinh ñến ñánh phá, làm tán loạn, Ngọc Hoa công chóa phải hú lên ñể gọi chồng Ngày 5 và 7 tháng giêng diễn ra các cuộc rước, dâng lễ gồm hình nhân,
ñồ mã voi, ngựa Các làng tham gia rước ñều bày lễ ở ñình ñể ñón tiếp Sơn Tinh Ngày 8 tháng giêng, diễn ra trò rước Chóa gái, trong ñó nội
dung chính là trò bách nghệ khôi hài Người dân ở ñây giải thích rằng
diễn các trò vui này ñể Ngọc Hoa công chóa quên nỗi buồn phải xa nhà, khiến Nàng cùng tham gia múa hát, do vậy Sơn Tinh mới ñưa ñược nàng
về Núi Tản Cùng trò diễn xướng này còn có một số làng khác tổ chức trò rước chóa gái một cách ñộc lập, như làng Vân Luông diễn trò thả thuyền giấy tượng trưng cho thuyền ñón dâu qua sông, làng Khuê Thượng làm lễ cúng trên bờ sông, rồi cho chèo chiếc thuyền qua lại trên sông ba lần, từ bến làng Khê (Bất Bạt) sang bến làng Bợ (Tam Thanh), tượng trưng cho việc Tản Viên từ Ba Vì về Núi Hồng lễ bố vợ
Trò Tản Viên ñánh Thục cũng là hệ thống trò diễn tiêu biểu liên quan
tới Tản Viên - Sơn Tinh, Vua Hùng, do các làng Sơn Vi (làng Vân), làng
Á Nguyên và làng Trúc Khê phối hợp tổ chức Cuộc trình diễm gồm ba màn :
Màn 1 :Nhận lệnh của Hùng Vương ñi ñánh Thục, Tản Viên ñến làng
Vân cùng vị thần làng luyện quân, thông qua các nghi lễ ñánh cầu, ñánh
phết diễn ra trong 3 ngày, sau ñó ñốt pháo ra lệnh xuất quân
Màn 2 : Khi nghe Sơn Vi ñốt pháo lệnh, dân làng Á Nguyên khua trống chiêng reo hò ñể ñánh ñộng làng Trúc Phê nghe thấy
Màn 3 : Trước khi vào hội Trúc Phê ñã chuẩn bị sẵn sàng, khi nghe tiếng trống chiêng, reo hò của Á Nguyên, họ lập tức hối hả làm bánh dày, xôi nếp ñể ñem ra ñình dâng Tản Viên, với ý nghĩa là lương thực ñể
Tản Viên ñi ñánh giặc Từ trò diễn ñó dân gian mới có câu : "Sơn Vi ñốt
ống lệnh, Á há miệng, Trúc Phê ñâm" hay "Trúc Phê có lệ bánh dầy, Bên
Á há miệng, bên này chày ñâm"(ðịa chí Vĩnh Phú , 1985)
Vùng truyền thuyết - nghi lễ Thánh Gióng
Vùng truyền thuyết - nghi lễ Thánh Gióng nằm ở trung châu ñồng
Trang 6bằng Bắc Bộ, giới hạn bằng ba mặt sông : Sông Hồng, Sông Cầu và sông đuống, tạo thành một tam giác mà ba ựỉnh là Phù đổng - Sóc Sơn - Nói Trân Những ựịa danh, sự tắch, truyền thuyết liên quan tới Thánh Gióng phân bố chủ yếu trong cái tam giác ựó ựã ựược Cao Huy đỉnh phân thành bốn loại : 1) Những di tắch ựánh dấu nơi sinh ra Gióng, như Vừon
Cà, nơi Mẹ Dóng ựầu thai Gióng, đổng Xuyên, nơi Mẹ Gióng ở sau khi
bị ựuổi khỏi làng, Trại Nòn, nơi ựẻ ra Gióng với di vật liềm ựá cắt rốn, thống ựá ựể tắm và châng ựá cho Gióng nằm, 2) Những nơi rèn vũ khắ của Gióng, như Mai Cương, Phù đổng, Y Na, 3) Những nơi có người theo Gióng ựi ựánh giặc, như Y Na, Hà Lỗ, Cầu Bài, Hà Nham, Lệ Chi, Ngườm, Cán, Hội Xá, Trung Mầu, Phù đổng 4) Những nơi có dấu tắch con ựường Gióng xuất quân ựi ựánh trận và quay trở về hoá, như Phù đổng, Phù Lưu, Phù Tảo, Làng Cháy, Núi Trâu, Phả Lại, đầm Thất
gian, Bãi Bùng, Làng Cáo, Làng Mã, Sóc Sơn (Cao Huy đỉnh, 1998)
Trong một không gian ựịa lý vừa kể trên, biết bao truyền thuyết, di tắch, nghi lễ, phong tục ựã và ựang ựược truyền tụng trong nhân dân về Thánh Gióng và chiến công của người anh hùng chống giặc đó là
những vết chân ngựa Gióng ựể lại ở quanh Làng Gióng, từ làng Gióng
ựến Sóc Sơn, mà Trần Quóc Vượng ựã "giải mã" là những ao hồ của một
hệ thống thuỷ lợi cổ, những bụi tre ngà là vũ khắ của Gióng ựánh giặc và
hoa tre trong ngày lễ hội, là chiếc liềm ựá, thống ựá, châng ựá gắn với sự
tắch ra ựời của Gióng, những vườn cà ở Làng Gióng ựã từng nuôi Gióng lơn lên như thổi ựể ựi ựánh giặc đặc biệt là hệ thống sự tắch mà nhân dân các ựịa phương trên còn kể lại về sự tham gia, ựón nhận, sự gắn bó làng mình với chiến công và cuộc ựời của Gióng, như sự tắch trẻ con làng Hội Xá ựang chăn trâu, thấy ựoàn quân Gióng ựi qua còng xin nhập
vào ựoàn quân của Gióng, sự tắch Ông cần vồ ở Trung Mầu ựang ựập ựất
ở ruộng cũng theo Góng ựi ựánh giặc, sau ựược dân lập ựền thờ, nay cứ tới Hội Gióng dân làng lại rước Ông lên dự hội, rồi sự tắch bà bán nước vối, sự tắch các thợ rào (rèn) rèn ngựa và khắ giới cho Gióng, sự tắch nước giếng làng Bưởi Nồi ựỏ là do Gióng ngồi nghỉ ăn trầu, sự tắch ựổi tên làng Khèn thành làng Mát
Trang 7Trung tâm của diễn xướng sự tắch Thánh Gióng là hệ thống lễ hội, trong ựó Hội Gióng ở làng Phù đổng là lớn nhất và tiêu biểu nhất Hội
Gióng mở vào ngày mồng chắn tháng tư hàng năm : "Mồng bảy hội
Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chắn ựâu ựâu trở về hội Gióng" Có lẽ
Ýt thấy một lễ hội nào ở nước ta lại diễn ra cuộc tổng diễn xướng mang
tắnh chất anh hùng ca ựến như vậy đó là lễ rước nước từ ựền thờ Mẹ Gióng về "rửa khắ giới của Gióng trước khi ra trận", lễ rước cỗ chay dâng Gióng và cuộc diễn của phường Ải Lao, lễ rước khám ựường trước
khi Gióng ra trận, tục trai gái ựuổi bắt, diễu cợt nhau trên bãi sông
đuống, một cổ tục mang tắnh phồn thực; lễ rước cờ từ ựền Mẫu tới ựền
Thượng mở ựầu ngày hội chắnh, diễn xướng phường Ải Lao săn hổ, ựặc
biệt hơn cả là diễn xướng ba trận ựánh giặc Ân của Gióng với quy mô
thật hùng tráng Kết thúc hội Gióng là các nghi lễ rửa hội và rước cắm
cờ
Trong ngày hội Phù đổng diễn ra, các làng xung quanh ựều về dự hội hay tổ chức các nghi thức ở làng mình liên quan ựến sự tắch về Ông Gióng Như vậy là, cũng như hiện tượng Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Trần Hưng đạo các hiện tượng lịch sử, huyền thoại, truyền thuyết, nghi lễ, phong tục ựan kết lại với nhau, phân bố tập trung trong một không gian ựịa lý nhất ựịnh, tạo nên cái gọi là vùng truyền thuyết - nghi
lễ Tất nhiên, trong việc hình thành nên các vùng truyền thuyết và nghi lễ này bao giê cũng có nơi ựóng vai trò là trung tâm, có nơi là ngoại vi do quá trình lan toả của truyền thuyết và nghi lễ
Vùng dân ca, âm nhạc
Có thể nói trong rất nhiều hiện tượng văn hoá thì dân ca là một thể loại mang tắnh vùng một cách rõ rệt và ựặc trưng hơn cả Nói cách khác, mỗi loại hình dân ca ựều có một vùng phát xuất và truyền bá nhất ựịnh,
như Vùng dân ca Quan họ, vùng Hát Xoan, vùng Hát Ghẹo, vùng Hát
Dậm Quyển Sơn, vùng Hát đúm Hải Phòng, vùng Hát văn và nghi lễ lên ựồng, vùng hát Chèo Tầu, vùng Hát Then, vùng Hò Huế, vùng Hát Giặm Nghệ Tĩnh, vùng hát Trống quân, vùng hát Bài Chòi, vùng múa hát Sắc Bùa, vùng múa hát Bả Trạo Trong các hình thức dân ca kể trên, diễn
Trang 8xướng hát là chủ ựạo, tuy nhiên, cũng có trường hợp kết hợp với múa, như Hát văn, hát Dậm, Hát Chèo Tàu, hát Sắc Bùa, Bả Trạo Phần lớn các hình thức diễn xướng kể trên ựều gắn với nghi lễ tắn ngưỡng và lễ hội Sau ựây, chúng tôi xin giới thiệu một số vùng dân ca :
Vùng dân ca Quan Họ
Nói ựến dân ca Quan họ là người ta nghĩ ngay ựến vùng Kinh Bắc
xưa, tức là vùng Bắc Ninh ngày nay, nên dân gian thường gọi là Quan họ
Bắc Ninh Tuy nhiên, cho ựến trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Bắc
Ninh chỉ có 49 làng Quan họ, có lẽ ựó là các làng Quan họ gốc, phân bố
ở 4 huyện : Tiên sơn có 17 làng Quan Họ, thị xã Bắc Ninh có 10 làng, Yên Phong có 17 làng, Việt Yên có 5 làng Như vậy, nếu tắnh từ phắa bắc các làng Quan họ thì có Sen Hồ (Việt Yên), ựến các làng phắa nam là Ngang Nội (Tiên Sơn) theo ựường chim bay là 17 - 18 km Từ phắa ựông
là Tiên Ngoài (Tiên Sơn) ựến phắa tây là đồng Mơi (Yên Phong) rộng khoảng 14 - 15 km Tuy nhiên, không phải tất cả các làng nằm trong cái khung không gian lãnh thổ này cũng ựều là các làng Quan họ 49 làng Quan họ về cơ bản nằm gọn vào vùng này Trong các làng Quan họ như
vậy, thì vùng quanh thị xã Bắc Ninh là tập trung hơn cả (địa chắ Hà Bắc,
1982)
Có tục kết bạn giữa các làng Quan họ, có khi lâu dài từ ba bốn thế hệ
trở lên Các làng Quan họ kết bạn với nhau, ngoài việc qua lại tổ chức hát trong các dịp lễ hội, còn có quan hệ tình cảm, gắn bó, giúp ựỡ, thăm
hỏi nhau Các nghệ nhân của các làng kết nghĩa coi nhau là liền anh, liền
chị, thân thiết như anh em
Tuy không có lễ hội nào là lễ hội Quan họ, nhưng hát Quan họ là một trong những sinh hoạt văn hoá chủ yếu của các lễ hội ựầu xuân của vùng Quan họ đó là các hội đình, hội Chùa, hội đền, bên cạnh các nghi lễ tắn ngưỡng là các sinh hoạt văn hoá mang tắnh phong tục, trong ựó hát Quan
họ là sinh hoạt lôi cuốn người dự hội Hát Quan họ là hát ựôi, hát ựối ựáp giữa nam và nữ, giữa bên nam và bên nữ Nội dung hát Quan họ tập trung vào chủ ựề tình nghĩa, tình yêu, quan hệ nam nữ trong môi trường
Trang 9của ngày hội xuân đó cũng là thể hiện ở góc ựộ nghệ thuật tắnh phồn thực, một chủ ựề chắnh của tất cả các lễ hội mùa xuân, mùa của gieo trồng và sinh sản
Dân ca Quan họ có nhiều làn ựiệu, nghe nói có tới 200 làn ựiệu khác nhau Lời hát là thể thơ 6/8, cũng có khi là thể thơ 4 chữ, lời thơ mượt
mà, chải chuốt, ựiêu luyện, do vậy, cùng với diễn xướng trong khung cảnh trữ tình ựã cuốn hót, làm say lòng người nghe
Những năm gần ựây, người ta ựã ựể công phục hồi cách hát Quan họ
làng của các nghệ nhân dân gian, trước nhất ở các làng Quan họ gốc, bên
cạnh ựó cũng phát triển các hình thức Quan họ sân khấu và quan họ ựài
(hát thông qua truyền thanh, truyền hình) của những người hát Quan họ chuyên nghiệp hay nghiệp dư, tạo nên những sắc thái ựa dạng của dân ca Quan họ Bắc Ninh
Vùng hát Xoan
Hát Xoan chỉ có ở vùng Phú Thọ, trong ựó, tập trung và thịnh hành nhất ở 17 xã, nằm trong ựịa giới của 6 huyện của tỉnh, như Phù Ninh, Tam Nông, Lâm Thao, đoan Hùng, Vĩnh Tường và Lập Thạch Tương truyền, Hát Xoan có từ thời Hùng Vương, gắn với sự tắch Vua Hùng ựi kinh lý qua thôn Phú đức, nghỉ lại, ựã dạy trẻ con hát các bài hát dân ca, sau thành lệ, cứ vào 30 tháng chạp, dân làng mở hội, dâng lễ thịt bò và
bánh nẳng, hát Xoan ựể ghi nhớ công ơn Vua Hùng Như vậy, ở ựây,
vùng Hát Xoan cũng trùng hợp với vùng truyền thuyết -nghi lễ Vua Hùng
Những làng có Hát Xoan thường tổ chức thành phường Xoan, họ
Xoan, ựứng ựầu là mét Ông trùm, có 4 - 5 kép và 12 ựến 15 ựào Ông
trùm thường là người nhiều tuổi, có uy tắn, thuộc bài bản, nhất là các bài xoan chữ nôm Các kép có thể nhiều tuổi, ựã có vợ con, nhưng thường có một hai kép hát còn nhỏ tuổi (10 - 12 tuổi) ựể múa hát các ựiệu mở ựầu cho các cuộc hát Các cô ựào là các cô gái trẻ, xinh xắn, biết múa hát, chưa có chồng
Hát Xoan ựược tổ chức vào những nơi nhất ựịnh và vào thời gian nhất
Trang 10ñịnh Trước nhất, hát Xoan tổ chức ở ñình làng, nên còn có tên gọi là
Khúc môn ñình Mỗi phường hay họ Xoan chiếm giữ một cửa ñình nhất
ñịnh, tránh việc chồng chéo, dẫm ñạp giữa các phường họ
Hát Xoan tổ chức vào mùa xuân Tác giả sách "ðịa chí Vĩnh Phú,
văn hoá dân gian vùng ñất tổ" ñã cung cấp một lịch trình hát Xoan của
các họ, phường ở Phú Thọ Mở ñầu cho mùa hát và ñể ñón chào năm mới, các phường, họ lần lượt khai xuân ở các ñình miếu làng mình Ngày mồng một tết, các họ hát ở ñình An Thái, Kim ðơi, Thét Từ ngày mồng
5 tết, các phường Xoan ñều khăn gói lên ñường thực hiện chuyến du xuân ñến hát ở các làng kết nghĩa Các phường hát từ 5/1 ñến 10/3 âm lịch, tức suốt mùa xuân cho ñến dịp mở hội ñền Hùng
Hát Xoan thường diễn ra theo các bước : a) Bợm gái (hát trao tình do các cô gái thực hiện), b) Bỏ bé (hát giao duyên, do các cô ñào thực hiện) c) Hát xin hoa ñố chữ (hát ñối ñáp giữa các cô ñào và trai làng sở tại), d)
Hát ñúm (hát ñối ñáp nam nữ), e) Hát giã cá (hay mó cá) ñược coi là
bước kết thúc của một buổi Hát Xoan ðây là tiết mục hát khá vui nhén, trong lúc này "cá" là các cô ñào khiến mọi người xô nhau ñuổi bắt, cũng
có khi "cá" là các chàng trai Hát Xoan còn có sự kết hợp với múa, như
múa cài hoa, múa giác cá (ðịa chí Vĩnh Phú, 1985)
Vùng Hò Sông Mã
Hò Sông Mã là loại hình dân ca tiêu biểu của Thanh hoá, nó gắn với lao ñộng trên sông nước dọc dòng sông Mã, một dòng sông lớn, con ñường huyết mạch giao thông ngược xuôi giữa miền ñông và miềm tây của tỉnh Từ Cẩm Thuỷ xuôi về hạ lưu sông Mã có nhiều bến thuyền, gắn với từng bến như vậy là các sản phẩm hàng hoá ñịa phương, như bến Phong ý (Cẩm Phong) chuyên tập trung hàng lâm thổ sản, bến chợ Mầu Bãi (Cẩm Vân), nơi có nhiều ngô, sắn, ñậu; bến chợ Cẩm Sơn tại huyện
lỵ Cẩm Thuỷ có nhiều hàng nông, lâm, thuỷ sản Hàng hoá theo Sông
Mã về hạ lưu cùng với nhiều bến chợ nổi tiếng : Hoàng ðại, Nguyệt Viên, bến Chù Gia, Bến Bông, Bồng Báo, Bến Chiếu cách nhau trên dưới 2 km tiếp nhận hàng lâm thổ sản trên miền núi chuyển về và tập kết