Tuy nhiên, BLTTDS chưa quy định cụ thể cách thức làm việc của hội đồng xét xử khi tiến hành xem xét đơn kháng cáo quá hạn đó là toà án cấp phúc thẩm phải mở phiên toà hay không phải mở p
Trang 1
rong Bộ luật tố tụng dân sự, chế định
phúc thẩm dân sự được quy định tại
Phần thứ ba gồm 3 chương (từ Chương XV
đến Chương XVII), 39 điều luật (từ Điều
242 đến Điều 281) Có thể nói, các quy định
trong BLTTDS về thủ tục phúc thẩm dân sự
đã được kế thừa từ Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các tranh chấp lao động Tuy
nhiên, các quy định này đã có sự sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp với yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước cũng như
công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư
pháp của Đảng và Nhà nước ta Những sửa
đổi, bổ sung cơ bản về thủ tục phúc thẩm
dân sự trong BLTTDS gồm những vấn đề
cơ bản sau đây:
Từ trước đến nay hệ thống toà án của
chúng ta vẫn thực hiện theo chế độ hai cấp
xét xử, tuy nhiên đến năm 2002 mới được
ghi nhận trong Luật tổ chức toà án nhân dân
năm 2002 Hiện nay, tại Điều 242 BLTTDS
khẳng định xét xử phúc thẩm là việc toà án
cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án,
quyết định của toà án cấp sơ thẩm chưa có
hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng
nghị Việc BLTTDS quy định về tính chất
của xét xử phúc thẩm nhằm khẳng định phúc
thẩm là một cấp xét xử và là cấp xét xử thứ
hai, được tiến hành sau thủ tục sơ thẩm
2 Kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm
- Về người có quyền kháng nghị
Trước đây, Điều 58 PLTTGQCVADS, Điều 60 PLTTGQCTCLĐ chỉ quy định viện kiểm sát cùng cấp hoặc trên một cấp có quyền kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm mà không nói cụ thể ai là người có quyền kháng nghị Việc quy định như vậy dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm trong việc thực hiện kháng nghị cũng như việc chịu trách nhiệm pháp lý trước quyết định kháng nghị của mình Để giải quyết vấn đề này, Điều
250 BLTTDS đã quy định viện trưởng viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để yêu cầu toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm
- Về đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị
Điều 58 PLTTGQCVADS, Điều 60 PLTTGQCTCLĐ, Điều 60 PLTTGQCTCKT chỉ quy định người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản trong đó nêu rõ nội dung phần bản
án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, lý do và yêu cầu kháng cáo, kháng nghị Hiện nay, các điều 244, 251 BLTTDS quy định cụ thể về nội dung đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị Đồng thời người
T
* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2kháng cáo, kháng nghị gửi kèm theo đơn
kháng cáo, quyết định kháng nghị là tài liệu,
chứng cứ bổ sung nếu có để chứng minh cho
yêu cầu kháng cáo, yêu cầu kháng nghị của
viện kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp Đây
là quy định hoàn toàn mới, có ý nghĩa buộc
người kháng cáo, kháng nghị phải thực hiện
nghĩa vụ chứng minh trong trường hợp họ
kháng cáo bản án, quyết định của toà án
Ngoài ra, Điều 246 BLTTDS còn quy
định trách nhiệm của toà án cấp sơ thẩm khi
nhận được đơn kháng cáo Nếu đơn kháng
cáo không có đầy đủ nội dung theo quy định
của BLTTDS thì toà án cấp sơ thẩm yêu cầu
người kháng cáo sửa đổi, bổ sung đơn kháng
cáo Trong trường hợp đơn kháng cáo quá
hạn thì toà án cấp sơ thẩm yêu cầu người
kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình tài
liệu, chứng cứ nếu có để chứng minh cho lý
do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng
Quy định mới này của BLTTDS bảo đảm cho
đương sự và những người có quyền kháng
cáo có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình trước toà án đồng thời tạo điều kiện
cho toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án một
cách nhanh chóng và chính xác
- Về thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Điều 59 PLTTGQCVADS, Điều 61
PLTTGQCTCLĐ, Điều 61 PLTTGQCVAKT
đều quy định thời hạn kháng cáo, kháng nghị
đối với bản án và quyết định của toà án cấp
sơ thẩm là giống nhau theo đó thời hạn
kháng cáo đối với bản án, quyết định của
toà án cấp sơ thẩm là 15 ngày, thời hạn
kháng nghị của viện kiểm sát cùng cấp đối
với bản án, quyết định của toà án cấp sơ
thẩm là 15 ngày, của viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp là 30 ngày Nay các điều 245, 252 BLTTDS quy định thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với bản án của toà án cấp sơ thẩm và quyết định của toà án cấp sơ thẩm là khác nhau, trong đó giữ nguyên thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với bản án của toà án cấp sơ thẩm nhưng rút ngắn thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định của toà án cấp sơ thẩm Việc BLTTDS quy định thời hạn kháng cáo, kháng nghị như vậy
là hoàn toàn hợp lý, người kháng cáo, viện kiểm sát có đủ thời gian cần thiết để suy nghĩ và quyết định xem mình có nên kháng cáo, kháng nghị hay không đồng thời khắc phục tình trạng kéo dài thời hạn giải quyết
vụ án Ngoài ra, BLTTDS còn quy định các trường hợp khác nhau để xác định thời hạn kháng cáo, kháng nghị Nếu đương sự, viện kiểm sát có mặt tại phiên toà sơ thẩm thì thời hạn kháng cáo, kháng nghị tính từ ngày tuyên án, nếu đương sự, viện kiểm sát không có mặt tại phiên toà thì thời hạn tính
từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết hoặc ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án
Ngoài ra, khác với các quy định của các văn bản pháp luật đã ban hành trước đây, BLTTDS không quy định kháng nghị quá hạn của viện kiểm sát cũng như không ấn định thời hạn cụ thể kháng cáo, kháng nghị quá hạn Theo Điều 247 BLTTDS kháng cáo quá hạn là kháng cáo quá thời hạn luật quy định Và để xem xét kháng cáo quá hạn đó
có được chấp nhận hay không, BLTTDS còn quy định cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục xét đơn kháng cáo quá hạn, đó là sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, toà án
Trang 3cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản
tường trình của người kháng cáo về lý do
kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ (nếu
có) cho toà án cấp phúc thẩm Trong thời hạn
mười ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng
cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo
toà án cấp phúc thẩm thành lập hội đồng gồm
ba thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn
Hội đồng có quyền ra quyết định chấp nhận
hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá
hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận
hoặc không chấp nhận trong quyết định Toà
án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định cho
người kháng cáo quá hạn và toà án cấp sơ
thẩm; nếu toà án cấp phúc thẩm chấp nhận
việc kháng cáo quá hạn thì toà án cấp sơ thẩm
phải tiến hành các thủ tục theo quy định của
pháp luật và gửi hồ sơ vụ án cho toà án cấp
phúc thẩm Tuy nhiên, BLTTDS chưa quy
định cụ thể cách thức làm việc của hội đồng
xét xử khi tiến hành xem xét đơn kháng cáo
quá hạn đó là toà án cấp phúc thẩm phải mở
phiên toà hay không phải mở phiên toà để xét
đơn kháng cáo quá hạn Theo chúng tôi, để
tránh sự tuỳ tiện trong áp dụng cũng như có
khả năng khắc phục nhanh nhất những sai
lầm có thể xảy ra thủ tục này nên quy định
theo hướng toà án cấp phúc thẩm không phải
mở phiên toà, hội đồng xem xét lý do của
việc kháng cáo, kháng nghị quá hạn và sau đó
ra quyết định
- Về thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo,
kháng nghị
Trước đây, Điều 60 PLTTGQCVADS
quy định trước hoặc tại phiên toà phúc thẩm
người kháng cáo có quyền sửa đổi nội dung
kháng cáo, viện kiểm sát có quyền sửa đổi
nội dung kháng nghị Tuy nhiên, Điều 256 BLTTDS đã quy định chặt chẽ hơn đó là việc thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết Việc quy định như vậy nhằm mục đích để các đương sự có thể bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với đối phương
để họ chuẩn bị tổ chức việc biện hộ sau khi
đã biết rõ thực trạng những nội dung kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên, như thế nào là không vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu? Phải chăng không vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu được hiểu là không vượt ra ngoài các nội dung cụ thể và trong mỗi nội dung cụ thể không vượt quá mức độ, quy mô đã được đặt
ra ban đầu của yêu cầu kháng cáo, kháng nghị? Và khi đã tiến hành xét xử phúc thẩm thì lúc đó đương nhiên là đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên việc BLTTDS quy định tại phiên toà phúc thẩm việc thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết được hiểu như thế nào? Chúng tôi thiết nghĩ để áp dụng thống nhất quy định này cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải có hướng dẫn cụ thể
Theo Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành PLTTGQCVADS (NQ 03/HĐTP) khi người kháng cáo rút kháng cáo, viện kiểm sát rút kháng nghị thì toà án cấp phúc thẩm ra quyết định chấp nhận việc rút kháng cáo, kháng
Trang 4nghị Tuy nhiên, việc ra quyết định này
không thể hiện được là sau khi toà án cấp
phúc thẩm chấp nhận cho rút kháng cáo,
kháng nghị thì toà án cấp phúc thẩm có tiếp
tục xét xử nữa hay không cũng như bản án,
quyết định sơ thẩm trong trong trường hợp
này có hay không có hiệu lực pháp luật Để
giải quyết những vướng mắc này, BLTTDS
đã quy định toà án cấp phúc thẩm sẽ ra quyết
định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với
những phần của vụ án mà người kháng cáo
đã rút kháng cáo hoặc viện kiểm sát đã rút
kháng nghị Khi người kháng cáo rút toàn bộ
kháng cáo, viện kiểm sát rút toàn bộ kháng
nghị thì toà án cấp phúc thẩm ra quyết định
đình chỉ xét xử phúc thẩm và bản án, quyết
định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày
toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ
xét xử phúc thẩm (Điều 256, 260)
3 Về chuẩn bị xét xử phúc thẩm
Các văn bản pháp luật tố tụng trước đây
không có quy định về việc thụ lý vụ án để
xét xử phúc thẩm, tạm đình chỉ xét xử phúc
thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm Việc không
quy định những vấn đề này đã gây khó khăn
cho toà án cấp phúc thẩm khi xác định thời
hạn xét xử phúc thẩm cũng như trên thực tế
có những trường hợp mà toà án cấp phúc
thẩm không thể tiếp tục xét xử phúc thẩm
hoặc không còn đối tượng để xét xử phúc
thẩm nhưng không thể ra quyết định gì vì
không có căn cứ pháp lý Tuy nhiên, những
vấn đề này đã được quy định trong
BLTTDS Cụ thể:
- Toà án cấp phúc thẩm vào sổ thụ lý vụ
án ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án,
kháng cáo, kháng nghị và tài liệu chứng cứ
kèm theo (Điều 257)
- Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm khi có căn cứ đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó; một bên đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật; chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự
mà chưa có người thay thế; cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án; các trường hợp khác mà pháp luật có quy định Bên cạnh đó, BLTTDS cũng quy định thẩm quyền, thủ tục
và hậu quả pháp lý của việc tạm đình chỉ xét
xử phúc thẩm cũng được thực hiện như giai đoạn sơ thẩm (Điều 259)
- Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm khi có căn cứ nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết
mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó; người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị; các trường hợp khác
mà pháp luật có quy định Trong trường hợp toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án khi người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị thì bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày toà án
Trang 5cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử
phúc thẩm (Điều 260)
- Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án khi nguyên đơn rút
đơn khởi kiện và bị đơn đồng ý việc rút đơn
khởi kiện của nguyên đơn Trong trường hợp
này toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ
thẩm (Điều 269)
Trước đây, theo hướng dẫn của Nghị
quyết số 03/HĐTP, trước khi xét xử phúc
thẩm toà án cũng tiến hành hòa giải và nếu
các đương sự thoả thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án thì thủ tục ra quyết
định công nhận sự thoả thuận của các đương
sự giống như ở sơ thẩm Tuy nhiên, theo
Điều 258 BLTTDS trong thời hạn hai tháng
kể từ ngày thụ lý vụ án, tuỳ từng trường hợp,
toà án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết
định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án,
đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hoặc đưa vụ
án ra xét xử phúc thẩm Như vậy, khác với
các quy định trong các văn bản pháp luật tố
tụng trước đây, trước khi mở phiên toà phúc
thẩm nếu các đương sự có hoà giải thành thì
toà án cũng không ra quyết định công nhận
sự thoả thuận của các đương sự Vậy trong
trường hợp này toà án cấp phúc thẩm giải
quyết như thế nào? Phải chăng thẩm phán
phụ trách việc giải quyết vụ án chỉ lập biên
bản hòa giải thành sau đó mở phiên toà và
hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công
nhận sự thoả thuận của các đương sự như
hướng dẫn tại Công văn số 81/KHXX ngày
10/6/2002 của Toà án nhân dân tối cao
Chúng tôi cho rằng trước khi xét xử phúc
thẩm nếu các đương sự thoả thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án thì toà án
không cần phải mở phiên toà vì khi các đương sự đã đạt được sự thống nhất chung
về các vấn đề giải quyết trong vụ án thì thẩm phán phải công nhận sự thoả thuận đó và sự thoả thuận của họ đã đương nhiên phủ nhận giá trị pháp lý của bản án, quyết định sơ thẩm Ngoài ra, bản án, quyết định sơ thẩm chưa hẳn là đã có sai lầm, vi phạm pháp luật
để toà án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm đó Do đó, theo chúng tôi, trong trường hợp này cần hướng dẫn thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương
sự và tuyên bố bản án sơ thẩm không có hiệu lực pháp luật
4 Thủ tục xét xử phúc thẩm
- Về việc hoãn phiên toà phúc thẩm
Các văn bản pháp luật trước đây quy định nguyên đơn kháng cáo đã triệu tập hợp
lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có
lý do chính đáng thì toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm và bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật Nếu đương sự kháng cáo không phải là nguyên đơn hoặc đương sự không kháng cáo nhưng đã được toà án cấp phúc thẩm triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì toà
án xét xử vụ án vắng mặt họ Tuy nhiên, việc quy định này là không hợp lý vì việc xét xử phúc thẩm là dựa trên yêu cầu kháng cáo, trong khi đó bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu kháng cáo triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì toà án xét xử
vụ án vắng mặt họ hoặc nguyên đơn cũng không có mặt tại phiên toà phúc thẩm mà
Trang 6không có lý do chính đáng thì hội đồng xét
xử phúc thẩm vẫn phải mở phiên toà để xét
xử Để khắc phục hạn chế này, Điều 266
BLTTDS quy định người kháng cáo vắng
mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải
hoãn phiên toà Nếu người kháng cáo đã
được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn
vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc kháng cáo
và toà án ra quyết định đình chỉ xét xử phúc
thẩm phần vụ án có kháng cáo của người
kháng cáo vắng mặt Người tham gia tố tụng
khác không phải là người kháng cáo vắng
mặt tại phiên toà thì việc hoãn phiên toà hay
vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm được thực
hiện như ở giai đoạn sơ thẩm theo quy định
tại các điều 199, 200, 201, 202, 203, 204,
205 và 206 BLTTDS Thời hạn hoãn phiên
toà và quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm
được thực hiện như giai đoạn sơ thẩm theo
quy định tại Điều 208 BLTTDS
- Thủ tục phiên toà phúc thẩm
Điều 68 PLTTGQCVADS, Điều 69
PLTTGQCVAKT, Điều 70 PLTTGQCTCLĐ
quy định về thủ tục phiên toà phúc thẩm rất
sơ sài, chỉ quy định chung chung là được
tiến hành tương tự phiên toà sơ thẩm Tuy
nhiên, BLTTDS đã quy định cụ thể, chi tiết
về trình tự, thủ tục tiến hành phiên toà
phúc thẩm từ khi chuẩn bị khai mạc phiên
toà đến khi kết thúc phiên toà trong đó đã
bổ sung các quy định để đáp ứng yêu cầu
của cải cách tư pháp, mở rộng quyền dân
chủ, phát huy tính tích cực, chủ động của
các đương sự và những người tham gia tố
tụng khác trong việc trình bày yêu cầu, đề
nghị, xuất trình chứng cứ, xét hỏi và tranh
luận tại phiên toà Cụ thể:
Trước khi khai mạc phiên toà, thư ký toà
án phải tiến hành các công việc để chuẩn bị khai mạc phiên toà Sau đó, chủ toạ phiên toà khai mạc phiên toà; giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; xem xét, quyết định, hoãn phiên toà khi có người vắng mặt; bảo đảm tính khách quan của người làm chứng (điều 267, 212, 213, 214, 215, 216) Trong phần hỏi tại phiên toà, BLTTDS đã
có một số quy định mới so với các văn bản pháp luật tố tụng trước đây cụ thể như sau:
Thứ nhất, chủ toạ phiên toà hỏi và hội đồng xét xử xem xét việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị, việc thoả thuận của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm Nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì hội đồng xét xử phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không? Nếu bị đơn không đồng ý thì hội đồng xét xử không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và phiên toà phúc thẩm vẫn tiến hành bình thường Nếu bị đơn đồng ý thì hội đồng xét xử chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án (điều 268, 269) Quy định mới này vừa thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự đồng thời vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác
Nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật
và đạo đức xã hội thì hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa lại bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của đương
Trang 7sự (điều 268, 270)
Thứ hai, việc nghe lời trình bày của các
đương sự tại phiên toà Theo quy định tại
Điều 271 BLTTDS người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của các đương sự thường
trình bày trước sau đó đương sự bổ sung ý
kiến Quy định mới này cho thấy việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
dần dần được giao cho những người am hiểu
pháp luật và có trình độ chuyên môn cao
thực hiện và như vậy chất lượng và hiệu quả
xét xử sẽ được nâng cao cũng như quyền và
lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo
vệ một cách tốt nhất
Việc tiến hành tranh luận, nghị án, trở lại
việc hỏi và tranh luận, thời gian nghị án, tuyên
án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được
thực hiện như thủ tục sơ thẩm, tuy nhiên việc
hỏi và tranh luận chỉ về những vấn đề thuộc
phạm vi xét xử phúc thẩm (điều 273, 274)
Có thể nói các quy định của BLTTDS về
phiên toà phúc thẩm đều nhằm thể hiện
đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta
trong hoạt động tư pháp theo xu hướng thực
hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong
phiên toà đồng thời tôn trọng và phát huy
quyền tự định đoạt của đương sự qua đó toà
án có thể ra được một bản án chính xác,
công bằng và đúng pháp luật
5 Quyền hạn của hội đồng xét xử
phúc thẩm
Điều 69 PLTTGQCVADS chỉ quy định
hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa
toàn bộ bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết
vụ án nhưng lại không quy định về quyền
sửa một phần bản án sơ thẩm, không tuyên
bố về số phận pháp lý của bản án sơ thẩm là
có hay không có hiệu lực pháp luật, không quy định về quyền tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm Điều này đã dẫn đến khó khăn cho toà án trong việc áp dụng khi không có các căn cứ pháp lý để ra quyết định Tất cả những vướng mắc này hiện nay đã được BLTTDS giải quyết Cụ thể theo quy định tại các điều 260, 265, 275, 276, 278 BLTTDS hội đồng xét xử có quyền hạn sau:
- Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm nếu toà án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong trường hợp việc chứng minh và thu thập chứng cứ
đã thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định của BLTTDS; việc chứng minh và thu thập chứng cứ chưa thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên toà phúc thẩm đã được
bổ sung đầy đủ;
- Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu trong quá trình giải quyết vụ án tại toà án cấp sơ thẩm, vụ
án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 192 của BLTTDS;
- Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
khi có căn cứ tại Điều 189 BLTTDS;
- Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án khi có căn cứ tại Điều 260 của BLTTDS
Trên đây là những sửa đổi, bổ sung cơ bản về chế định phúc thẩm dân sự trong BLTTDS Những quy định mới này có thực
sự đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn hay không cần phải có thời gian nhận thức, kiểm nghiệm Và còn nhiều vấn đề khác nữa cần phải được tiếp tục nghiên cứu để chế định phúc thẩm dân sự ngày càng hoàn thiện hơn./