1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự " potx

7 945 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phiên Toà Sơ Thẩm Dân Sự
Tác giả Ths. Bùi Thị Huyền
Người hướng dẫn Giảng viên Khoa Luật Dân Sự
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Tố Tụng Dân Sự
Thể loại Đặc san
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 141,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm đó cú nhiều điểm mới, tiến bộ, bảo đảm tớnh thống nhất, đồng bộ trong việc giải quyết cỏc vụ ỏn dõn sự, phự hợp với chớnh sỏch mở cửa, hội nh

Trang 1

Ths Bùi Thị Huyền * hiên toà sơ thẩm dân sự là một chế

định lớn, quan trọng của pháp luật

tụng dõn sự Các quy định của BLTTDS về

phiên toà sơ thẩm đó cú nhiều điểm mới,

tiến bộ, bảo đảm tớnh thống nhất, đồng bộ

trong việc giải quyết cỏc vụ ỏn dõn sự, phự

hợp với chớnh sỏch mở cửa, hội nhập quốc

tế của Đảng và Nhà nước ta Quyền tự định

đoạt của cỏc đương sự được tụn trọng và

phỏt huy, nõng cao trỏch nhiệm của những

người tiến hành tố tụng Đặc biệt, thủ tục

tranh luận đó được quy định cụ thể và rừ

ràng hơn, tạo bước đột phỏ trong việc mở

rộng quyền tranh tụng theo tinh thần cải

cỏch tư phỏp

1 Những điểm mới của Bộ luật tố

tụng dõn sự về phiờn toà sơ thẩm dõn sự

1.1 Những quy định chung về phiờn toà

sơ thẩm

- Nguyờn tắc tiến hành phiờn toà sơ thẩm

Để đảm bảo cho hoạt động xột xử vụ ỏn

dõn sự được đỳng đắn, ngoài những nguyờn

tắc chung được quy định từ Điều 3 đến

Điều 24, BLTTDS cũn quy định thờm hai

nguyờn tắc tiến hành phiờn toà sơ thẩm tại

cỏc điều 196 và 197

Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS

phiờn toà sơ thẩm phải được tiến hành đỳng

thời gian, địa điểm đó được ghi trong quyết

định đưa vụ ỏn ra xột xử hoặc giấy bỏo mở

lại phiờn toà Toà ỏn khụng được tuỳ tiện

thay đổi thời gian, địa điểm mở phiờn toà vỡ

như thế sẽ gõy trở ngại cho đương sự và

những người tham gia tố tụng trong việc tham gia tố tụng

Theo quy định tại Điều 197 BLTTDS, phiờn toà sơ thẩm dõn sự phải được tiến hành theo phương thức xột xử trực tiếp, bằng lời núi và liờn tục Theo quy định này, toà ỏn phải trực tiếp xỏc định những tỡnh tiết của vụ ỏn bằng cỏch hỏi và nghe lời trỡnh bày của người bảo vệ quyền và lợi ớch hợp phỏp của đương sự, của cỏc đương sự, người đại diện hợp phỏp của đương sự và những người tham gia tố tụng khỏc; xem xột, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đó thu thập được; phỏt biểu tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ớch hợp phỏp của đương sự, của cỏc đương sự, người đại diện hợp phỏp của đương sự, nghe kiểm sỏt viờn phỏt biểu

ý kiến của viện kiểm sỏt về việc giải quyết

vụ ỏn, trong trường hợp cú kiểm sỏt viờn tham gia phiờn toà Bản ỏn chỉ được căn cứ vào kết quả tranh tụng, việc hỏi tại phiờn toà

và cỏc chứng cứ đó được xem xột, kiểm tra tại phiờn toà Quy định này nhằm bảo đảm cho toà ỏn thẩm định và xỏc minh được đầy

đủ, chớnh xỏc cỏc tài liệu, chứng cứ của vụ

ỏn và đỏnh giỏ chỳng một cỏch toàn diện Việc xột xử ở phiờn toà phải được tiến hành liờn tục, trừ thời gian nghỉ Cỏc thành viờn của hội đồng xột xử phải xột xử vụ ỏn

từ khi bắt đầu cho đến khi kết thỳc, trừ trường hợp khụng thể tham gia xột xử được

P

* Giảng viờn Khoa luật dõn sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

phải thay đổi Trong trường hợp đặc biệt do

BLTTDS quy định, việc xột xử cú thể tạm

ngừng khụng quỏ 5 ngày làm việc Hết thời

hạn tạm ngừng, việc xột xử vụ ỏn được tiếp

tục (khoản 2 Điều 197)

- Thành phần hội đồng xột xử sơ thẩm

và việc thay thế thành viờn hội đồng xột xử

trong trường hợp đặc biệt

Trước đõy PLTTGQCVADS quy định

thành phần hội đồng xột xử sơ thẩm vụ ỏn dõn

sự gồm một thẩm phỏn và hai hội thẩm nhõn

dõn PLTTGQCVAKT và PLTTGQTCLĐ

quy định thành phần hội đồng xột xử sơ thẩm

vụ ỏn kinh tế và vụ ỏn lao động gồm hai thẩm

phỏn và một hội thẩm nhõn dõn Trờn cơ sở

kế thừa cỏc quy định này và xuất phỏt từ thực

tiễn cụng tỏc xột xử của toà ỏn, Điều 52

BLTTDS quy định thành phần hội đồng xột

xử sơ thẩm vụ ỏn dõn sự gồm một thẩm phỏn

và hai hội thẩm nhõn dõn Ngoài ra, BLTTDS

cũn quy định trong trường hợp đặc biệt thỡ

hội đồng xột xử cú thể gồm hai thẩm phỏn và

ba hội thẩm

BLTTDS cũng quy định việc tham dự

phiờn toà của thẩm phỏn, hội thẩm nhõn dõn

dự khuyết Trong trường hợp trong quỏ

trỡnh xột xử, nếu cú thẩm phỏn, hội thẩm

nào vỡ lý do đặc biệt, khụng thể tham gia

xột xử vụ ỏn được nữa thỡ thẩm phỏn, hội

thẩm nhõn dõn dự khuyết sẽ thay thế Điều

198 BLTTDS quy định việc thay thế thành

viờn trong trường hợp đặc biệt này nhằm

mục đớch giải quyết nhanh chúng vụ ỏn,

trỏnh việc phải hoón phiờn toà Việc xỏc

định trong trường hợp nào cần cú thẩm

phỏn, hội thẩm nhõn dõn dự khuyết do

chỏnh ỏn toà ỏn quyết định

- Những người tham gia phiờn toà sơ thẩm vụ ỏn dõn sự

Để đảm bảo việc xột xử trực tiếp, BLTTDS quy định tất cả những người tham gia tố tụng phải được triệu tập tham gia phiờn toà tại cỏc điều, từ Điều 199 đến Điều

207 Về cơ bản thành phần những người tham gia phiờn toà sơ thẩm được BLTTDS quy định khụng khỏc cỏc văn bản phỏp luật trước, trừ việc tham gia tố tụng của kiểm sỏt viờn Theo quy định tại Điều 2 BLTTDS, kiểm sỏt viờn chỉ tham gia phiờn toà sơ thẩm đối với vụ ỏn do toà ỏn thu thập chứng

cứ mà đương sự cú khiếu nại

- Vấn đề hoón phiờn toà sơ thẩm Hội đồng xột xử sẽ hoón phiờn toà khi

có các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều

208 BLTTDS Thời hạn hoón phiờn toà tối

đa khụng quỏ ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoón phiờn toà nhằm bảo đảm khụng kộo dài thời hạn giải quyết vụ ỏn Ngoài ra, BLTTDS còn quy định rừ việc hoón phiờn toà phải được thực hiện bằng quyết định, nội dung quyết định và thủ tục

ra quyết định được quy định cụ thể tại Điều

208 BLTTDS Quyết định hoón phiờn toà phải được hội đồng xột xử thảo luận, thụng qua theo đa số tại phũng nghị ỏn và phải được lập thành văn bản

1.2 Thủ tục tiến hành phiờn toà

- Thủ tục khai mạc và bắt đầu phiờn toà Trước đõy cỏc văn bản phỏp luật tố tụng dõn sự quy định về thủ tục bắt đầu phiờn toà rất sơ sài BLTTDS cú hẳn một mục gồm bốn điều luật quy định về thủ tục bắt đầu phiờn toà Nội dung cỏc điều luật khụng cú nhiều vấn đề mới so với cỏc quy định của

Trang 3

các văn bản pháp luật trước nhưng chi tiết,

cụ thể hơn Điểm mới của thủ tục này là bổ

sung quy định về khai mạc phiên toà và thư

ký toà án báo cáo với hội đồng xét xử về sự

có mặt và vắng mặt của những người tham

gia phiên toà đã được triệu tập Trong thực

tiễn xét xử những năm qua cho thấy, mặc dù

các văn bản pháp luật không quy định

nhưng khi tiến hành phiên toà sơ thẩm các

toà án vẫn thực hiện các thủ tục trên Việc

quy định của BLTTDS nhằm đáp ứng yêu

cầu của thực tiễn, đảm bảo tính trang

nghiêm của phiên toà đồng thời hội đồng

xét xử chủ động giải quyết khi có người

tham gia tố tụng vắng mặt

- Thủ tục hỏi tại phiên toà

Đây là thủ tục có nhiều thay đổi nhất

Ngay tên gọi cũng đổi từ “thủ tục xét hỏi”

thành “thủ tục hỏi tại phiên toà” Cách gọi

đó phản ánh đúng bản chất của thủ tục giải

quyết vụ án dân sự khác với thủ tục giải

quyết các vụ án hình sự Đối với vụ án dân

sự, mục đích của phần hỏi tại phiên toà là

toà án hỏi để làm rõ yêu cầu, quan hệ pháp

luật tranh chấp giữa các bên chứ không phải

là việc truy xét của Nhà nước về một hành

vi vi phạm pháp luật

Trình tự của thủ tục hỏi cũng khác trước

rất nhiều Trước kia, các văn bản pháp luật

tố tụng dân sự quy định khi khởi kiện các

đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ,

toà án thu thập thêm khi cần thiết nhưng

không có văn bản nào quy định trường hợp

nào là cần thiết dẫn đến cách hiểu nghĩa vụ

chứng minh trong vụ án dân sự là thuộc về

toà án Vì vậy, ở thủ tục xét hỏi tại phiên

toà trong các pháp lệnh là toà án chủ động

hỏi tất cả các vấn đề của nội dung vụ án, thậm chí theo một kế hoạch đã được định trước, không có phần để các đương sự tự trình bày v.v Theo BLTTDS, nghĩa vụ chứng minh là thuộc về các đương sự, quyền định đoạt của các đương sự được tôn trọng triệt để hơn nên thủ tục hỏi được bắt đầu bằng việc chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự về việc có thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu hay không (Điều 217) Để bảo đảm quyền lợi của đương sự và đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng thời hạn, tại phiên toà sơ thẩm hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình

và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét

xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện,

bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn Việc quy định thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự để tránh trường hợp nếu toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án

Trang 4

nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan có yêu cầu giải quyết yêu cầu

phản tố, yêu cầu độc lập toà án lại phải thụ

lý vụ án trong khi đó quan hệ pháp luật

tranh chấp, chủ thể của các quan hệ đó

không thay đổi Vì vậy, quy định về thay

đổi địa vị tố tụng của các đương sự nhằm

đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh

chóng, tiết kiệm, hiệu quả Đối với việc hoà

giải, theo quy định của BLTTDS, tại phiên

toà, toà án không hoà giải mà trong phần

hỏi chủ toạ phiên toà chỉ hỏi các đương sự

có thoả thuận được với nhau về việc giải

quyết vụ án hay không Trong trường hợp

các đương sự thoả thuận được với nhau về

việc giải quyết vụ án và thoả thuận của họ

là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo

đức xã hội thì hội đồng xét xử ra quyết định

công nhận sự thoả thuận của đương sự về

việc giải quyết vụ án (Điều 220) Nếu các

đương sự không thoả thuận được với nhau

thì hội đồng xét xử sẽ nghe các đương sự

trình bày Đối với việc tham gia phiên toà của

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

đương sự, BLTTDS quy định họ thay mặt các

đương sự trình bày yêu cầu và chứng cứ chứng

minh cho yêu cầu, sau đó đương sự bổ sung ý

kiến Khi đến phần các đương sự được hỏi tại

phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của đương sự có thể trình bày thay đương

sự Quy định này bảo đảm nâng cao được chất

lượng phiên toà, phát huy tối đa khả năng và

vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của đương sự trong việc tham gia tố tụng

Điều 222 BLTTDS quy định, chủ toạ

phiên toà là người hỏi trước, sau đó đến hội

thẩm nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và kiểm sát viên là người hỏi sau cùng Quy định này thể hiện chủ trương đổi mới của Đảng

và Nhà nước ta trong hoạt động tư pháp theo xu hướng thực hiện dân chủ trong phiên toà dân sự, tránh sự can thiệp của viện kiểm sát vào việc giải quyết các tranh chấp dân sự Về nội dung hỏi, hội đồng xét

xử không hỏi về toàn bộ nội dung vụ án mà chỉ hỏi về những vấn đề mà đương sự trình bày chưa rõ hoặc có mâu thuẫn Ngoài ra, Điều 228 BLTTDS còn quy định khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe băng ghi

âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử

- Thủ tục tranh luận tại phiên toà Tranh luận tại phiên toà là hoạt động trung tâm của phiên toà BLTTDS đã dành hẳn một mục với bốn điều luật, từ Điều 232 đến Điều 235 quy định về tranh luận tại phiên toà Điều đó thể hiện xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta là mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ động của đương sự trong việc tranh luận ở tại phiên toà, bảo đảm cho đương sự bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của

họ trước toà án v.v Các quy định này của BLTTDS phù hợp với quan điểm của Đảng

và Nhà nước ta về cải cách tư pháp được nêu trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày

2/1/2002 của Bộ chính trị là: "Muốn nâng

cao chất lượng xét xử thì phải nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên toà"

Để tránh việc các bên khi tham gia tranh luận chỉ dựa vào suy đoán cảm tính, tranh

Trang 5

luận không có căn cứ, Điều 233 BLTTDS

quy định rõ khi phát biểu về đánh giá chứng

cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải

quyết vụ án các bên phải căn cứ vào các tài

liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được

xem xét, kiểm tra tại phiên toà cũng như kết

quả việc hỏi tại phiên toà

Về trình tự tranh luận, Điều 232 BLTTDS

quy định khi phát biểu, tranh luận người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

nguyên đơn phát biểu trước, sau đó đương sự

bổ sung ý kiến theo thứ tự từ bên nguyên đơn

đến bên bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên

quan Để đảm bảo cho đương sự và những đại

diện của họ được thực hiện đầy đủ khả năng

tranh luận, được tạo điều kiện tối đa cho họ

được sử dụng tất cả các phương pháp chứng

minh theo luật định để bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của mình, BLTTDS không hạn

chế thời gian tranh luận nhưng chủ tọa phiên

toà chỉ có quyền cắt những ý kiến không có

liên quan đến vụ án

- Nghị án và tuyên án

Nghị án được BLTTDS quy định tại Điều

236, 237 với tinh thần đổi mới hoạt động tư

pháp đã được đề ra trong Nghị quyết số

08/NQ-TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị là

"Việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ

yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên

cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ,

ý kiến của nguyên đơn, bị đơn và những

người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những

bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức

thuyết phục trong thời hạn pháp luật quy

định" Theo Điều 236 BLTTDS, việc nghị án

được tiến hành tại phòng riêng, chỉ có các

thành viên của hội đồng xét xử mới có quyền

nghị án Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc nghị án bí mật, nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tránh tình trạng thư ký toà án và kiểm sát viên cũng có mặt trong phòng nghị

án khi nghị án Để phát huy vai trò và trách nhiệm của hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, điều luật này quy định hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, thẩm phán biểu quyết sau cùng Bên cạnh đó, để đảm bảo nguyên tắc xét xử liên tục, phát huy trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án, tránh việc tạm ngừng tuyên án kéo dài, điều luật này còn quy định về thời gian nghị án tối đa không quá năm ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên toà Ngoài ra, một điểm mới về nghị án được quy định tại Điều 237 BLTTDS là qua nghị

án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận Quy định này nhằm mở rộng hơn nữa khả năng tranh tụng tại phiên toà, thể hiện tư duy mới, thể hiện tính dân chủ cao, tính thận trọng của việc xét xử, bảo đảm cho bản án được tuyên một cách khách quan, công bằng và toàn diện.(1) Tuy nhiên, quy định này dễ dẫn đến việc xét xử bị kéo dài, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự không được bảo vệ kịp thời, không phát huy được trách nhiệm của các thành viên hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án

Theo Điều 239 BLTTDS thì thủ tục tuyên

án có ba nội dung mới giúp cho việc tuyên án phù hợp với thực tế hơn Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ

Trang 6

trường hợp đặc biệt như sức khoẻ yếu, bệnh

tật v.v không thể đứng được được phép của

chủ tọa phiên toà có thể ngồi nghe tuyên án

Theo các pháp lệnh thủ tục trước kia thì chỉ

có chủ toạ phiên toà mới được đọc bản án

BLTTDS quy định việc tuyên án có thể do

chủ tọa phiên toà hoặc một thành viên khác

của hội đồng xét xử đứng đọc Quy định này

nhằm giải quyết tình huống bản án quá dài

một người không thể đứng đọc hoặc đến ngày

tuyên án sức khoẻ của chủ toạ không tốt v.v

Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong

trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt

thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải

dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang

ngôn ngữ mà họ biết

2 Một số ý kiến về các quy định của

BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự

2.1 BLTTDS quy định người đại diện

hợp pháp của đương sự có quyền thay mặt

đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ

tố tụng của đương sự, vì vậy cần bổ sung

vào Mục 1 Chương XIV quy định về sự có

mặt của người đại diện tại phiên toà sơ

thẩm dân sự

2.2 Theo quy định tại PLTTGQCVADS,

PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ được

ban hành trước đây, khi các đương sự vắng

mặt lần thứ nhất dù có lý do chính đáng hay

không, toà án đều phải hoãn phiên toà Thực

tiễn xét xử những năm qua cho thấy, quy

định này là một trong những nguyên nhân

góp phần làm cho phiên toà sơ thẩm có thể bị

hoãn nhiều lần Khắc phục tình trạng đó,

BLTTDS không quy định đối với các trường

hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng là căn cứ hoãn phiên toà nhưng lại không đưa ra khái niệm thế nào là có lý do chính đáng và cách giải quyết trong trường hợp này Vì vậy, cần

có sự hướng dẫn thống nhất để tránh việc áp dụng khác nhau giữa các thẩm phán và các toà án Theo chúng tôi, cần hướng dẫn tuỳ từng trường hợp toà án sẽ quyết định hoãn hoặc vẫn tiến hành phiên toà Nếu họ đã có lời khai tại toà án, các chứng cứ, tài liệu trong

hồ sơ tương đối đầy đủ thì phiên toà vẫn có thể tiến hành.(2)

Đối với “lý do chính đáng” quy định tại các điều 199, 200, 201, 203 của BLTTDS là những lý do bất khả kháng đối với đương sự như đương sự ốm nặng, đương sự phải đi công tác xa chưa về kịp, gia đình đương sự gặp thiên, tai hoả hoạn v.v

Bên cạnh đó, theo khoản 4 Điều 230 trong trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung thì hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà Nhưng hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn.(3) Như vậy, hội đồng xét xử chỉ hoãn phiên toà khi bắt đầu phiên toà tức là chưa xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án, còn khi đã xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án nhưng cần phải thu thập thêm chứng cứ mới có thể giải quyết được vụ án thì hội đồng xét xử phải quyết định tạm ngừng phiên toà Vì vậy, cần quy định đây là căn cứ tạm ngừng phiên toà 2.3 Về “Phạm vi yêu cầu” quy định tại Điều 218 BLTTDS cũng là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi, phạm vi yêu cầu bao gồm các

Trang 7

loại yêu cầu hay phạm vi giá trị của yêu cầu

Theo chúng tôi, về yêu cầu khởi kiện, yêu cầu

phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là yêu cầu

được ®−a ra tại buổi hòa giải cuối cùng Để

bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của các đương sự thì các đương sự phải

được biết trước các yêu cầu của đương sự

phía bên kia để chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để

phản đối yêu cầu đó Vì vậy, tại phiên toà

đương sự được quyền thay đổi, bổ sung yêu

cầu nhưng không được vượt quá yêu cầu khởi

kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban

đầu Việc không được vượt quá yêu cầu khởi

kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban

đầu có nghĩa là không được đưa thêm yêu cầu

mới, không được tăng giá trị yêu cầu gây bất

lợi cho các đương sự khác

2.4 Khi thay đổi địa vị tố tụng của các

đương sự thì tư cách đương sự trong hồ sơ,

quan hệ pháp luật tranh chấp v.v sẽ thay đổi

Vì vậy, cần quy định rõ kể từ thời điểm thay

đổi địa vị tố tụng các đương sự thực hiện

quyền và nghĩa vụ tố tụng theo địa vị được

thay đổi đồng thời trong biểu mẫu sổ thụ lý

vụ án dân sự cần có thêm cột ghi chú tất cả

những thay đổi đó Các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền cần có hướng dẫn cách giải

quyết những vấn đề phát sinh từ việc thay

đổi địa vị tố tụng của các đương sự theo

quy định tại Điều 219, như tên vụ án, tư

cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp

luật tranh chấp v.v

2.5 Theo Điều 288 BLTTDS, theo yêu

cầu của kiểm sát viên, người tham gia tố tụng

hoặc khi cần thiết, hội đồng xét xử cho nghe

băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình Nhưng hiện tại không phải toà

án nào cũng có thể thực hiện được quy định này Do đó, đòi hỏi sự cần thiết phải tăng cường cơ sở vật chất cho các toà án

2.6 Điều 239 BLTTDS quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết Nhưng hiểu thế nào là “sau khi tuyên án” Theo chúng tôi, bản án của toà án là phán quyết nhân danh Nhà nước giải quyết tranh chấp dân sự Việc dịch bản án phải chính xác, do đó cần

có thời gian để người phiên dịch dịch bản

án sang tiếng nước ngoài Khoảng thời gian này vừa đủ cho người phiên dịch có thể thực hiện được việc dịch nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo đủ thời gian cho đương

sự thực hiện quyền kháng cáo Vì vậy, Điều

239 BLTTDS cần quy định theo hướng

“trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì chậm nhất sau năm ngày kể từ ngày tuyên án, toà án phải triệu tập đương

sự không sử dụng được tiếng Việt đến nghe người phiên dịch dịch toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết ”./

(1) Tài liệu hội thảo “BLTTDS - Những điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”- Học viện

Tư pháp, Hà Nội, tháng 12/2004, tr 86

(2) Trong trường hợp người có yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng, BLTTDS không quy định cụ thể

(3) Từ điển giải thích thuật ngữ luật học luật dân sự, luật HN&GĐ, luật tố tụng dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân năm1999, tr 197

Ngày đăng: 31/03/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w