CÁC KHÁI NIỆM 1.1 Kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân.Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, con người không
Trang 1CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỂ TÀI
1 CÁC KHÁI NIỆM
1.1 Kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân.Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, con người không chỉ tạo ra sản phẩm vật chất cho nhu cầu xã hội mà còn thực hiện sản xuất và tái sản xuất ra những quan hệ xã hội của chính con người, những quan hệ sản xuất Những quan hệ này tạo thành cơ sở kinh tế cho toàn bộ các quan hệ tư tưởng, tinh thần trong nông nghiệp nông thôn Nói cách khác, quan hệ sản xuất là các quan hệ kinh tế tạo nên cơ sở kinh tế cho sự phát triển nông nghiệp trong mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất và với các quan hệ xã hội khác Trong kinh tế thị trường, các quan hệ sản xuất của nông nghiệp không thuần nhất và rất đa dạng do quan
hệ sở hữu là đa dạng Tất cả mọi loại hình sở hữu, mọi kiểu sở hữu đa dạng trong nông nghiệp làm cơ sở cho các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh theo pháp luật đều được coi là một bộ phận cấu thành của nền nông nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Trong quá trình phát triển các loại hình sở hữu vừa có vai trò độc lập tương đối, vừa có sự tác động qua lại với nhau, nương tựa vào nhau và liên kết với nhau, tạo thành nền tảng kinh tế - một hệ thống kinh tế thống nhất biện chứng của nông nghiệp Tính thống nhất biện chứng của toàn bộ hệ thống kinh tế nông nghiệp phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, là điều kiện cho sự phát triển với tốc độ cao của nông nghiệp trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau
Như vậy, hệ thống kinh tế nông nghiệp là tổng thể quan hệ sản xuất trong
nông nghiệp, biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, những hình thức tiêu dùng các sản phẩm sản xuất ra với
Trang 2những hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế quản lý tương ứng của Nhà nước đối với toàn bộ nền nông nghiệp.
Kinh tế nông nghiệp áp dụng các nguyên tắc của kinh tế đến các vấn đề của sản xuất nông nghiệp, tài nguyên thiên
nhiên, và phát triển nông thôn Nó chủ yếu tập trung vào các nguyên tắc của kinh tế vi mô, nghiên cứu về các hành động của
cá nhân, hộ gia đình và các công ty Kinh tế nông nghiệp đôi khi được gọi là nông gia, quy định như việc sử dụng các phương pháp kinh tế để tối ưu hóa hành động của nông dân và chủ trang trại
1.2 Nông nghiệp nông thôn
Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng
có thể cạnh tranh với thị trường thế giới
Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hoá học,
thuốc trừ sâu bệnh v.v làm ô nhiễm đất và nguồn nước Trong quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng v.v Vì thế, trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường
1.3 Kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại phát triển với quy mô lớn có thể thuê thêm lao đông, sản
Trang 3phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu của thị trường Chúng ta có những trang trại trồng cây công nghiệp lâu năm, cây hàng năm, chăn nuôi nuôi trồng thủy sản, trang trại kết hợp… Sản xuất chủ yếu theo tính chất hàng hóa trong đó thì trang traị nuôi trổng thủy hải sản chiếm tỉ trọng cao nhất khoảng trên 30% tổng số trang trại của cả nước tập trung chủ yếu ở khu vực ĐBSCL với 46,2% tổng
số trang trại của vùng
1.4 Kinh tế nông nghiệp hộ gia đình
Kinh tế hộ gia đình đã có đóng góp lớn cho kinh tế nông nghiệp, sản xuất lúa gạo đạt tỷ suất hàng hóa khoảng trên 50%,
cà phê 45%, cao su 85%, chè trên 60%, điều trên 90% Tuy
nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ hộ gia đình đang loay hoay trong cảnh sản xuất tự cấp, tự túc, thậm chí còn nhiều hộ sản xuất tự nhiên, nhất là ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nền kinh tế hàng hóa phát triển cũng đồng thời dẫn đến
sự phân hóa giàu nghèo Về lương thực, thực phẩm tỷ lệ hộ nghèo
cả nước là 28,9%, trong đó nông thôn là 35,7% (thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ 22%, cao nhất là vùng Tây Bắc 68,7%) Hiện nay,
cả nước vẫn còn trên 1 triệu hộ nghèo Vì vậy, việc nghiên cứu vận dụng các mô hình kinh tế hộ gia đình sản xuất hàng hóa nhằm nâng cao năng lực sản xuất của các hộ kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay là rất cấp thiết
Mô hình kinh tế hộ gia đình hiện đang nổi lên ở mỗi vùng kinh tế sinh thái, với từng loại cây trồng, vật nuôi và thị trường, nhìn chung các hộ gia đình sản xuất kinh – doanh tổng hợp (gồm
cả sản xuất – chế biến – tiêu thụ – dịch vụ đầu vào); hộ gia đình nông – lâm nghiệp kết hợp (gồm cả trồng trọt nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc – thủy sản) đang được phát triển
Hướng phát triển các hộ này là tiến tới tích tụ ruộng, đất, vốn để hình thành các trang trại, các doanh nghiệp tư nhân đủ sức, đủ lực để hợp tác, liên kết, liên doanh, hợp tác với các thành phần kinh tế khác, với các tổ chức/cá nhân đầu tư vốn, KH&CN để sản
Trang 4xuất theo hướng thâm canh, đa canh và đa dạng nguồn thu nhập Các hộ gia đình sản xuất
1.5 Sản xuất nông nghiệp
Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành sản xuất chính của nông nghiệp, trong
nhiều năm qua giữa hai ngành mất cân đối nghiêm trọng Đến năm 2000 tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt chiếm 76,8% và tỷ trọng chăn nuôi chiếm 19,7% và dịch vụ chiếm 2,5% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tính theo giá trị hiện hành Hướng tới phải đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính, có vị trí tương xứng với ngành trồng trọt, trong 5-10 năm tới, nâng tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi lên trên 30,0% Cần thiết phải đa dạng hoá ngành chăn nuôi, coi trọng phát triển đàn gia súc nhằm cung cấp sức kéo, cung cấp thịt và sữa cho nền kinh tế quốc dân Đến năm
2000 sản lượng thịt hơi trâu bò mới chiếm 8,16% trong tổng sản lượng thịt hơi của cả nước, trong khi đó tỷ trọng thịt hơi chiếm chủ yếu 76,8% và tỷ trọng thịt hơi gia cầm chiếm 15,04% Như vậy bản thân ngành chăn nuôi cũng mất cân đối nghiêm trọng Cần thiết phải đổi mới cơ cấu chăn nuôi hợp lý, tăng nhanh tỷ trọng thịt trâu bò và gia cầm bằng cách phát triển mạnh đàn bò thịt Phát triển mạnh đàn gia cầm bao gồm gà, vịt, ngan, ngỗng, trong đó coi trọng đàn gà, vịt Hiện nay và một thời gian nữa, thịt lợn còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thịt cả nước ta Phải ngay
từ bây giờ và những năm tới phải phát triển mạnh đàn lợn hướng nạc, nâng tỷ lệ nạc trong thịt lợn lên 40-50% vừa đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước vừa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu Ngành trồng trọt đang chiếm tỷ trọng cao, song cơ cấu sản xuất của ngành trồng trọt cũng mất cân đối nghiêm trọng Hiện nay tỷ trọng giá trị sản xuất cây lương thực chiếm 63,92%, cây công nghiệp chiếm 18,92% cây ăn quả chiếm 9,14% và cây rau đậu chiếm 9,02% Là nước đất chật người đông, quĩ đất nông nghiệp không lớn, nhưng đến năm 2000, cây lương thực còn chiếm
Trang 567,11% tổng diện tích gieo trồng cả nước, trong đó lúa chiếm 61,38% tỷ trọng diện tích
- Sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp:
+ Đẩy mạnh chuyên môn hóa
+ Hình thành càc vùng nông nghiệp chuyên môn hóa
+ Kết hợp công nghiệp chế biến với hướng ra xuất khẩu
- Đa dạng hóa nền kinh tế nông thôn:
+ Cho phép khai thác tốt các nguồn TNTN
+ Đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường
+ Giảm tỉ trọng thuần nông trong nông nghiệp
Vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm như Tây
Nguyên, Trung du miền núi phía bắc
Vùng chuyên canh cây lương thực- thực phẩm như vùng ĐBSH, ĐBSCL Vùng chăn nuôi thủy hải sản như duyên hải miền trung
Vùng chuyên môn hóa nông nghiệp VN có nhiều sản phẩm
để xuất
khẩu đặc biển là sản phẩm qua chế biến như: gạo, thủy sản đóng hộp, cà phê… Ngoài sản xuất hàng hóa thì trong nông nnghiệp còn thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm
1.6 Nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thủy sản là một khái niệm dùng để chỉ tất cả các hình thức nuôi
trồng động thực vật thủy sinh ở các môi trường nước ngọt lợ mặn (Pillay, 1990) Đây là một lĩnh vực rất rộng và là một nghề ngành nghề đang phát triển rất mạnh ở Đồng bằng Sông Cửu Long sau cây lúa
1.7 Chăn nuôi
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Ngành chăn nuôi cung cấp các sản phẩm có giá trị kinh tế cao như thịt, trứng, sữa, mật ong nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu
Trang 6dùng thiết yếu hàng ngày của người dân Một xu hướng tiêu dùng
có tính qui luật chung là khi xã hội phát triển thì nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên một cách tuyệt đối so với các sản phẩm nông nghiệp nói chung Chăn nuôi
là ngành cung cấp nhiều sản phẩm làm nguyên liệu quí giá cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu Chăn nuôi là ngành ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm đặc sản tươi sống và sản phẩm chế biến có giá trị cho xuất khẩu
1.8 Lâm nghiệp
Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh
tế quốc dân có
chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến
lâm sản và phát huy các chức năng phòng hộ văn hóa, xã hội, của rừng Sản phẩm đồ gỗ Việt Nam đã xuất khẩu sang 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tập trung vào các thị trường trọng điểm là Mỹ (chiếm 43,35%,tang 5,14%); Nhật Bản (chiếm 13,68%, tăng 0,64%); tiếp đến là Trung Quốc (với 7,62%, tăng 1,83%) Dự kiến kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản của Việt Nam năm 2010 là 2,9 tỷ USD, tăng 5,3% so với năm 2009, trong
đó gỗ và các sản phẩm gỗ đạt 2,735 tỷ USD, các sản phẩm mây tre, cói và thảm hạt đạt 190 triệu USD
2 Vai trò của nông nghiệp với phát triển kinh tế ở Việt Nam
Trong chiến lược phát triển kinh tế của các nước đang phát triển thì nông nghiệp được chọn là một trong những lĩnh vực sản xuất quan trọng để tác động tang trưởng đất nước Nông nghiệp tham gia giải quyết khó khăn về vấn đề lương thực – thực phẩm ở các nước đang phát triển đồng thời kích thích tăng trưởng và góp phần tăng thu nhập bình quân đầu người GDP của các Quốc gia Điều này càng quan trọng đối với những nước đang phát triển như Việt Nam ta và lại là nước có ưu thế về tiềm năng tự nhiên gắn
Trang 7liền với nông nghiệp Nông nghiệp có vai trò kích thích tang
trưởng kinh tế thông qua việc cung cấp sản phẩm và nguồn lực từ ngành này cho nền kinh tế như:
2.1 Cung cấp lương thực thực phẩm
Hầu hết các nước đang phát triển đều dựa vào nông nghiệp trong nước để cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng, nó tạo nên sự ổn định, đảm bảo an toàn cho phát triển.Cũng cần chú
ý rằng, nhập khẩu các yếu tố đầu vào của sản xuất (nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị cho sản xuất) làm tăng vốn sản xuất, còn việc nhập khẩu lương thực thực phẩm là để tiêu dùng, không gia tăng vốn sản xuất cho nền kinh tế Việt Nam là nước Nông nghiệp đứng thứ 3 trên thế giới về sản xuất lúa Là cây lương thực chủ yếu của nhiều nước trên thế giới Vì thế vai trò của việc cung cấp lương thực là rất rõ ràng và cần được phát huy một cách hiệu quả hơn Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, đối với những nước nông nghiệp đang phát triển như Việt Nam thì nông nghiệp không chỉ cung cấp lương thực – thực phẩm cho người dân trong nước mà còn xuất khẩu lương thực ra nước ngoài
2.2 Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp
Nguyên liệu từ nông nghiệp là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của các
ngành công nghiệp chế biến nông sản trong giai đoạn đầu quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước đang phát triển Nông ngiệp đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Tổng diện tích trồng cây công nghiệp như: chè, cà phê, cao su… ngày càng tăng thì việc phát triển công nghiệp ngày càng cao
2.3 Cung cấp ngoại tệ cho nền kinh tế
Các nước đang phát triển đều có nhu cầu rất lớn về ngoại tệ
để nhập khẩu máy móc, vật tư, thiết bị, nguyên liệu mà chưa tự sản xuất được trong nc Một phần nhu cầu ngoại tệ đó, có thể đáp ứng được thông qua xuất khẩu nông sản.Nông sản còn được coi là nguồn hàng hóa để phát triển ngành ngoại thương ở giai đoạn
Trang 8đầu Trong lịch sử, quá trình phát triển của một số nước cho thấy vốn được tích lũy từ những ngành nông nghiệp tạo ra hàng hóa xuất khẩu Đó là trường hợp của các nước Úc, Canada, Đan Mạch, Thụy Điển, Tân Tây Lan, Mỹ, và cả Việt Nam
2.4 Cung cấp vốn cho các ngành kinh tế khác
Dạng trực tiếp: như nguồn thu từ thuế đất nông nghiệp, thuế xuất khẩu nông sản, nhậu khẩu tư liệu sản xuất nông
nghiệp Nguồn thu này được tập trung vào ngân sách nhà nước
và dùng để đầu tư cho phát triển kinh tế Dạng gián tiếp: với chính sách quản lý giá của nhà nước theo xu hướng là giá sản phẩm công nghiệp tăng nhanh hơn giá nông sản, tạo điều kiện cho gia tăng nhanh tích lũy công nghiệp từ “hy sinh” của nông nghiệp
2.5 Làm phát triển thị trường nội địa
Nông nghiệp và nông thôn là thị trường rộng lớn và chủ yếu của sản phẩm trong nước Việc tiêu dùng của người nông dân và mạng dân cư nông thôn đối với hang hóa công nghiệp, hàng hóa tiêu dùng (vải, đồ gỗ, dụng cụ gia đình, vật liệu xây dựng), hàng hóa tư liệu sản xuất (phân bón, thuốc trừ sâu, nông cụ, trang thiết bị, máy móc) là tiêu biểu cho sự đóng góp về mặt thị trường của ngành nông ngiệp đối với quá trình phát triển kinh tế.Sự đóng góp này cũng bao gồm cả việc bán lương thực, thực phẩm và nông sản nguyên liệu cho các ngành kinh tế khác
Phần 2 Thực trạng Nông nghiệp ở nước ta hiện nay
2.1 Thực trạng phát triển nông nghiệp hiện nay
NN đóng vài trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế và ổn định chính trị
-xã hội đối với Việt Nam Đến năm 2011, với gần 70% dân số sống ở khu vực NT
và 50% số lao động NT là lao động NN, việc phát triển NN vừa là mục tiêu, động lực, vừa là công cụ, giải pháp hiệu quả nhất của Đảng và Chính phủ trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của cư dân NT, bảo vệ môi trường, thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ
Thực hiện đường lối, Nghị quyết của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền NN, NT, sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản thời kỳ 2001 – 2011 phát
Trang 9triển toàn diện và tăng trưởng ổn định, đóng vai trò quan trọng nền kinh tế quốc dân, đang vươn tới một nền nông nghiệp có tính chất hàng hoá, kỹ thuật tiên tiến,
cơ cấu kinh tế đa ngành
Dưới đây là những kết quả chủ yếu về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của nước ta trong năm 2011 từ cuộc TĐT nông thôn, nông nghiệp và thủy sản kết hợp với và thông tin chính thống của cơ quan có thẩm quyền công bố
a Số lượng hộ và HTX giảm, DN tăng so với 5 năm trước song mức biến động không đáng kể
Tại thời điểm 01/01/2011 cả nước có 2.536 doanh nghiệp NLTS trong đó:
DN NN chiếm gần 37,7%; DN LN chiếm 17,1% và DN TS chiếm 45,2% Cả nước
có 6.302 hợp tác xã, trong đó: HTX NN chiếm đại đa số (gần 96,4%) So với năm
2006, số DN năm 2011 tăng 400 đơn vị (18,7%), số HTX giảm 935 đơn vị (-12,9%)
Tại thời điểm 01/7/2011 cả nước có khoảng 10,37 triệu hộ NLTS, trong đó:
hộ nông nghiệp (NN) chiếm đại đa số với gần 9,6 triệu hộ (92,5%); hộ thủy sản (TS) gần 720 nghìn hộ (6,94%); hộ lâm nghiệp (LN) có gần 57 nghìn hộ (0,55%)
So với năm 2006, tính chung số hộ NLTS đã giảm 0,9%, trong đó: hộ NN giảm 1,5%, song hộ LN tăng 65,6% và hộ TS tăng 4,6%
b Biến động đất NN giai đoạn 2006-2011 diễn biến theo chiều hướng mới, đất lúa giảm, đất trồng cây lâu năm tăng.
Đất NN 1 Tổng diện tích đất NN Tại thời điểm 1/1/2011 là gần 26,21 triệu
ha chiếm gần 75% tổng diện tích tự nhiên của cả nước, chia ra: Đất sản xuất NN gần 10,13 triệu ha (38,64%); đất lâm nghiệp gần 15,37 triệu ha (58,63%); đất nuôi trồng thủy sản gần 690 nghìn ha (2,63%) và đất NN khác 26,1 nghìn ha (0,1%)
Đất sản xuất NN 2 Năm 2011, tổng diện tích đất sản xuất NN cả nước có 10,1 triệu ha, tăng 7,6% so với năm 2006 Trong đó, có hơn 4,12 triệu ha đất trồng lúa, giảm giảm gần 32 nghìn ha (-0,76%) so với năm 2006
Đất trồng cây lâu năm Năm 2011 cả nước có gần 3,7 triệu ha đất trồng cây
lâu năm, phân bổ tại các vùng như sau: ĐBSH chiếm 2,4%; TDMNPB chiếm 10,1%; BTBDHMT chiếm 14,2%; TN chiếm gần 30%; ĐNB chiếm 28,1% và ĐBSCL chiếm 15,3% Xu hướng tăng diện tích trồng cây lâu năm, trong khoảng năm năm (2006 – 2011) diễn ra mạnh và trên tất cả 6 vùng So với năm 2006, trên phạm vi cả nước đã tăng đến 634,4 nghìn ha (gần 21%)
1 Đất nông nghiệp bao gồm: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác
2 Đất sản xuất nông nghiệp bao gồm: đất trồng cây hàng năm; đất trồng cây lâu năm
Trang 10Đất lâm nghiệp Vào thời điểm 01/01/2011 cả nước có gần 15,37 triệu ha
đất lâm nghiệp, tăng trên 6,4%
Đất nuôi trồng thuỷ sản Vào thời điểm 01/01/2011 cả nước có gần 690
nghìn ha đất nuôi trồng thuỷ sản, giảm 11,8 nghìn ha (-1,7%) so với năm 2006 Vùng có diện tích nuôi trồng thuỷ sản lớn nhất là ĐBSCL giảm nhiều từ 502,9 nghìn ha năm 2006 xuống còn 468 nghìn ha năm 2011, giảm 35 nghìn ha (-6,9%)
c Quy mô đất đai và quy mô chăn nuôi của hộ bước đầu chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, song vẫn chậm và không đều giữa các vùng
Quy mô sử dụng đất sản xuất NN: Theo kết quả cuộc TĐT năm 2011, cả
nước có 11,95 triệu hộ có sử dụng đất sản xuất NN, tăng 295 nghìn hộ (+2,5%) so với năm 2006 Nhìn chung, quy mô đất của hộ phổ biến là nhỏ lẻ Đến năm 2011 vẫn còn 69% số hộ sử dụng đất sản xuất NN có quy mô dưới 0,5 ha; 34,7% số hộ
có quy mô dưới 0,2 ha Điều này đã và đang hạn chế ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật trong sản xuất NN Tuy nhiên, đến năm 2011, cả nước có gần 740 nghìn
hộ (chiếm 6,2%), có quy mô đất sản xuất NN từ 2 ha trở lên, tăng 55 nghìn hộ (+8,1%) so với năm 2006 Đây là một dấu hiệu tích cực của tích tụ ruộng đất đáp ứng yêu cầu sản xuất lớn hàng hóa trong NLTS
Quy mô sử dụng đất trồng lúa: Với hơn 9,27 triệu đơn vị, hộ có sử dụng đất
trồng lúa chiếm tỷ trọng lớn trong cả tổng số hộ có sử dụng đất sản xuất NN (77,6%) Tuy nhiên, quy mô sử dụng đất trồng lúa của đại đa số các hộ nhìn chung còn rất nhỏ (85% tổng số hộ có sử dụng đất trồng lúa có diện tích dưới 0,5
ha, trong đó 50% chỉ sử dụng dưới 0,2 ha) phản ánh nền sản xuất NN nói chung và sản xuất lúa nói riêng đến nay vẫn ở tình trạng nhỏ lẻ Chủ trương phát triển mô hình các cánh đồng mẫu lớn ở Vùng ĐBSH và các vùng miền Bắc và miền Trung
sẽ gặp nhiều khó khăn
Trong bối cảnh hộ trồng lúa có quy mô nhỏ chiếm đại đa số, vùng lúa lớn nhất cả nước là ĐBSCL đã có những khởi sắc với tỷ lệ những hộ sử dụng đất có quy mô lớn (chiếm đến 87% số hộ có sử dụng từ 2 ha trở lên), làm tiền đề cho việc tích tụ ruộng đất trồng lúa, thực hiện chủ trương phát triển mô hình các cánh đồng mẫu lớn
Quy mô chăn nuôi lợn của hộ Tính đến thời điểm 01/7/2011 cả nước có
trên 4,13 triệu hộ có chăn nuôi lợn, giảm 2,2 triệu hộ (gần 35%) so với năm 2006
Số hộ chăn nuôi lợn giảm chủ yếu ở nhóm hộ nuôi quy mô nhỏ - nuôi dưới 10 con:
Cả nước có 3,6 triệu hộ nuôi dưới 10 con, giảm 2,2 triệu hộ (-38,5%) so với năm
2006 Số hộ nuôi từ 10 đến 49 con tăng 3,4%; đặc biệt đã có trên 32 nghìn hộ nuôi
từ 50 con trở lên tăng gần 80% so với năm 2006 Tuy nhiên, đến năm 2011, số hộ nuôi nhỏ lẻ, quy mô nhỏ (từ 1- 5 con) còn chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số hộ có chăn nuôi lợn ở nước ta (77,5%)