1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Tiểu luận kinh tế phát triển nhom 1

23 398 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 183,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam là một nước nông nghiệp lạchậu, cơ sở vật chất kỹ thuật còn kém, trình độ sản xuất còn chưa phát triển hoànthiện và phân công lao động giữa các ng

Trang 1

Đề tài: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

NGÀNH CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

Trịnh Ngân Hạnh

Đỗ Thanh NgaPhạm Thị Phương Linh

Tô Ngọc TrangNguyễn Hải AnhTrần Thị Ánh Ngọc

::::::::::::

Mã sinh viên

131111057813111101581311110611131111015913111103621311110232131111021713111104671311110360131111069713111100181214410144

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

Mục lục hình

Mục lục bảng

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đưa đất nướcdần đi lên Chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế Việt Nam đang có những biến vàchuyển thay đổi nhất định để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng nhanh hơn và pháttriển bền vững hơn, và một trong những yếu tố thay đổi quan trọng đó là chuyểndịch cơ cấu ngành kinh tế

Xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam là một nước nông nghiệp lạchậu, cơ sở vật chất kỹ thuật còn kém, trình độ sản xuất còn chưa phát triển hoànthiện và phân công lao động giữa các ngành nông nghiệp – công nghiệp – dịch

vụ còn chưa hợp lí Vì vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển dàihạn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tếnói riêng đóng vai trò là yếu tố tất yếu, giúp sử dụng hiệu quả nguồn lực, nângcao năng suất lao động, từ đó cải thiện đời sống vật chất và văn hóa cho nhândân, góp phần thực hiện công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái

Nhận thức được tầm quan trọng đó của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhóm

đã quyết định nghiên cứu đề tài “Chuyển dịch cơ cấu ngành của Việt Nam từ năm 1986 đến nay”

Dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Hoàng Bảo Trâm, nhóm đã nghiên cứu vàđưa ra được cái nhìn tổng quan về sự thay đổi trong cơ cấu ngành và những kếtquả đạt được trong thời gian qua, từ đó đưa ra một số định hướng và giải pháphợp lí để nâng cao quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bài nghiên cứu gồm 3phần lớn liên kết chặt chẽ:

Trang 5

NỘI DUNGI.CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Cơ cấu kinh tế

Tất cả các quốc gia đều hướng tới mục tiêu xây dựng và phát triển kinh tếvới tốc độ cao và bền vững, để thực hiện được mục tiêu đó nhất thiết phải xâydựng được một cơ cấu kinh tế hợp lý

Có nhiều khái niệm về cơ cấu kinh tế, từ những góc độ tiếp cận khác nhau,chúng ta có thể nêu ra một số khái niệm sau đây:

• Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí,

tỷ trọng tương ứng của chúng với mối quan hệ hữu cơ tương đối hợpthành trong một giai đoạn nào đó, luôn vận động chuyển dịch trong mốiquan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau Do đó, khi nghiên cứu cơcấu kinh tế phải đứng trên quan điểm hệ thống và quan điểm phát triển

• Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành của nền kinh tế, giữachúng có mối liên hệ hữu cơ, tương tác qua lại cả về số lượng lẫn chấtlượng trong điều kiện không gian và kinh tế - xã hội nhất định, bao gồmnhiều yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau trong không gian và thời gian nhấtđịnh cả về số lượng lẫn chất lượng Về mặt lượng, cơ cấu kinh tế đượcxác định bằng tỷ trọng giá trị của các bộ phận cấu thành các ngành, lĩnhvực trong GDP Tỷ trọng này phụ thuộc vào vị trí của mỗi bộ phận trongnền kinh tế ở mỗi giai đoạn cụ thể nhất định

Mặc dù có nhiều định nghĩa về cơ cấu kinh tế, xong tựu chung lại, chúng

ta có thể hiểu cơ cấu kinh tế là một tổng thể các bộ phận hợp thành cấu trúc củanền kinh tế trong quá trình tăng trưởng sản xuất xã hội Các bộ phận đó gắn bóvới nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng,tương quan về chất lượng trong không gian và thời gian nhất định, phù hợp vớinhững điều kiện kinh tế xã hội nhất định nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao

Cơ cấu kinh tế luôn ở trong trạng thái vận động, do đó, việc nghiên cứu đểthấy được các quy luật khách quan trong sự vận động của lực lượng sản xuất xãhội là cần thiết để xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với những mục tiêukinh tế xã hội của từng thời kì nhất định

2 Cơ cấu ngành kinh tế

a/ Cơ cấu ngành kinh tế

Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế,thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượnggiữa các ngành với nhau Các mối quan hệ này được hình thành trong nhữngđiều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào các mụctiêu cụ thể

Trang 6

Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hộichung của nền kinh tế và trình độ phát triển chung của lực lượng sản xuất Thayđổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển

Có nhiều cách phân loại các ngành hợp thành trong cơ cấu ngành kinh tế,chẳng hạn như sau:

• Dựa theo tính chất tác động vào đối tượng lao động, có thể chia thànhkhối ngành khai thác (nông nghiệp, các ngành công nghiệp khai thác),khối ngành chế biến và khối ngành dịch vụ

• Dựa vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật, bao gồm: công nghiệp, xây dựng cơbản, nông nghiệp, dịch vụ

Số lượng ngành kinh tế không cố định, nó luôn luôn được hoàn thiện theo sựphát triển của phân công lao động xã hội Hiện nay khi phân tích cơ cấu ngànhcủa một quốc gia, người ta thường phân tích theo 3 nhóm ngành hay 3 khu vực

b/Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Cơ cấu ngành kinh tế là một phạm trù động, nó luôn luôn thay đổi theotừng thời kỳ phát triển bới các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định

Có thể định nghĩa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình chuyển

cơ cấu ngành kinh tế từ dạng này sang dạng khác phù hợp với sự phát triển củaphân công lao động xá hội và phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất,phát triển khoa học- công nghệ Đây không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí,

mà là sự thay đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu ngành Việc chuyểndịch cơ cấu này phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung củachuyển dịch cơ cấu ngành là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xâydựng cơ cấu mới tiên tiến hoàn thiện và phù hợp hơn

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là hiện tượng phổ biến ở các nước đangphát triển như Việt Nam nhằm tiến tới một cơ cấu kinh tế hợp lý góp phần nângcao hiệu quả sản xuất và khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước Mặt khác,chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chịu sự tác động của nhiều nhân tố, do đó việctìm hiểu, phân tích các nhân tố này là một công việc quan trọng, sẽ cho phép tìm

ra một cơ cấu ngành hợp lý, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh

và bền vững

Trang 7

3.Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Ngày nay, ứng với trình độ khoa học kĩ thuật và công nghệ ngày càngphát triển mạnh mẽ, để chạy đua với sự phát triển không ngừng của nền kinh tếtoàn cầu, hầu hết các quốc gia trên thế giới nói chung và các quốc gia có nềnkinh tế đang phát triển nói riêng đều lựa chọn phương án chuyển dịch cơ cấungành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cụ thể như sau: Muốnchuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế dựa trên cơ sở tiêu dùngcao, cần phải trải qua các bước: chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tếcông – nông nghiệp, để từ đó chuyển từ sang nền kinh tế công nghiệp – dịch vụ,

và cuối cùng là xã hội tiêu dùng cao với cơ cấu dịch vụ - công nghiệp Nói cáchkhác, cơ cấu ngành kinh tế đang chuyển dịch theo hướng từng bước tăng tỉ trọngcủa khu vực II ( công nghiệp, xây dựng) và khu vực III ( dịch vụ), đồng thờigiảm tỉ trọng của khu vực I ( nông – lâm – ngư nghiệp)

Trong quá trình phát triển, tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đều có

xu hướng tăng Tuy nhiên, tỷ trọng ngành dịch vụ ngày càng lấn át trong cơ cấukinh tế do tốc độ tăng của ngành dịch vụ có xu hướng ngày càng nhanh hơn tốc

độ tăng của ngành công nghiệp Mức độ phát triển của mỗi quốc gia có mốiquan hệ tỉ lệ thuận với tỉ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ của quốc gia đó

Xu hướng gia tăng năng suất: Tức là tỉ trọng nông nghiệp giảm đi nhưngnăng suất phải tăng lên Để làm được điều đó, cần biết vận dụng và kết hợp pháttriển nâng cao một cách tối đa ba yếu tố quan trọng là lực lượng sản xuất,chuyên môn hóa sản xuất và hợp tác hóa sản xuất

Trong công nghiệp, tỷ trọng các ngành sản xuất sản phẩm có dung lượngvốn cao chiếm một phần ngày càng lớn và tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn, tỉtrọng các ngành có dung lượng lao động cao có xu hướng giảm

Trong dịch vụ, tỷ trọng các ngành dịch vụ có chất lượng cao ngày càng gia tăng.Xét tại nội bộ ngành, các loại hình dịch vụ liên quan đến lĩnh vực kết cấu hạtầng kinh tế và phát triển đô thị cũng có xu hướng được đẩy mạnh

Đối với các nước khác nhau trên thế giới, xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế là như nhau, tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch của mỗi nước đều khác nhau

II.SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA VIÊT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

1.Chuyển dịch cơ cấu ngành theo GDP

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá(CNH,HĐH) đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu đểViệt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành mộtquốc gia văn minh, hiện đại

Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) ởnước ta theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng nhanh tỷ trọng giá trịtrong GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng (gọi chung là công nghiệp) vàthương mại - dịch vụ (gọi chung là dịch vụ), đồng thời giảm dần tương đối tỷtrọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp(gọi chung là nông nghiệp) Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế

Trang 8

tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá của cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế, các lực lượnglao động xã hội, cơ cấu kinh tế đối nội, cơ cấu kinh tế đối ngoại…

từ 38,06% xuống còn 18,73%, tỷ trọng của ngành công nghiệp tăng lên gấp gần

2 lần từ 28,88% lên 38,58%, tỷ trọng ngành dịch vụ tăng lên trong một số nămsau đó giảm đi rồi lại tăng lên nhưng xét cả giai đoạn thì đã tăng 9,63%, từ33,06% lên 42,69% Cơ cấu ngành đã chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,từng bước thực hiện hiện đại hóa

Tuy nhiên cơ cấu ngành trong những năm đổi mới này còn một số yếukém: Nếu nhìn vào tỷ trọng của các ngành trong quá trình chuyển dịch cơ cấuthì chuyển dịch không chậm nhưng nếu nhìn vào thực chất của quá trình chuyểndịch từ lĩnh vực có năng suất lao động thấp sang lĩnh vực có năng suất lao động

và giá trị gia tăng cao thì cơ cấu ngành của Việt Nam chuyển dịch chậm Chẳnghạn như nếu lấy mốc thời gian từ năm 1986 đến năm 2003, qua 17 năm cơ cấucông nghiệp trong GDP mới nâng từ 28,88% lên 39,47%, bình quân mỗi nămnâng lên 0,62%; cơ cấu dịch vụ trong GDP nâng từ 33,06% lên 37,99% bìnhquân mỗi năm nâng lên 0,29%; cơ cấu nông nghiệp trong GDP giảm từ 30,06%xuống 22,54% bình quân mỗi năm giảm 0,44% Nhìn một cách tổng quát, cơcấu ngành của Việt Nam năm 2003 chỉ tương đương với cơ cấu ngành của cácnước trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á vào những năm 1980 của thế kỉtrước và vẫn lạc hậu hơn rất nhiều so với cơ cấu ngành năm 2001 của nhữngnước này

Bảng 1 Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế của một số nước (%)

nghiệp

Công nghiệp

21,81,01,9

40,032,130,9

38,266,467,2

Trang 9

41,449,640,031,252,2

54,141,949,853,632,9

Trong giai đoạn này, cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng hiện đại cònrất chậm chạp, thể hiện ở chỗ các ngành công nghiệp, dịch vụ và chế biến nôngsản trình độ công nghệ cao, hiện đại kể cả tin học, điện tử,… còn chiếm tỉtrọng rất nhỏ trong các ngành Sản phẩm của công nghiệp vẫn chủ yếu là lắpráp các linh kiện, cấu kiện; phụ tùng điện tử nhập khẩu (chiếm khoảng 50% giátrị) Giá trị sản xuất công nghiệp trong giai đoạn này tăng đến 15% nhưng giátrị gia tăng chỉ tăng 10%, trong tổng kim ngạch xuất khẩu có đến 78% lànguyên liệu thô, than đá, nông, lâm, thủy sản sơ chế

Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010 có đề ramục tiêu về phát triển kinh tế: Cơ cấu ngành trong GDP: khu vực nông nghiệpkhoảng 15 - 16%; công nghiệp và xây dựng 43 - 44%; dịch vụ 40 - 41% Nhưvậy thực tế trong 7 năm sau khi gia nhập WTO, cơ cấu GDP chuyển dịch không

rõ nét và không theo xu hướng từ nông lâm ngư nghiệp sang công nghiệp xâydựng và dịch vụ như đã đặt ra trong Kế hoạch 2006-2010 Nguyên nhân của việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế không như mong muốn chủ yếu là do hai ngành côngnghiệp xây dựng và dịch vụ tăng trưởng thấp hơn kế hoạch “Do ảnh hưởng củasuy thoái kinh tế toàn cầu nên chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành cònchậm, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Bộ Kếhoạch và Đầu tư nhận xét

Mục tiêu của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ 2011- 2015 làgiảm tỷ trọng của nhóm ngành nông-lâm nghiệp- thủy sản, tăng mạnh tỷ trọngcủa nhóm ngành công nghiệp- xây dựng và giữ tỷ trọng của nhóm ngành dịch

Trang 10

vụ, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để đến năm 2020, nước ta cơ bảntrở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Tuy nhiên, có thể nhận xét việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế (tính đến hếtnăm 2012) nhìn tổng quát là chưa theo hướng của mục tiêu đề ra, do vẫn cònmột số hạn chế bất cập

Trước hết là tỷ trọng trong GDP của nhóm ngành nông- lâm nghiệp- thủy sản không những cao hơn so với mục tiêu đề ra, mà còn cao hơn cả năm xuất

phát (năm gốc so sánh) là năm 2010 Tỷ trọng này của nước ta vẫn thuộc loạicao (đứng thứ 3/8 nước trong ASEAN, thứ 9/33 nước và vùng lãnh thổ ở châu

Á, 32/142 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới có số liệu so sánh)

Ở đây có khá nhiều vấn đề cần phải được bàn thảo Việt Nam xuất phát từnông nghiệp đi lên, có tới 70% dân số sống ở nông thôn, gần một nửa lao độngđang làm việc ở nhóm ngành nông, lâm nghiệp- thủy sản Nông nghiệp, nôngdân, nông thôn có vai trò quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế, được coi là “bệđỡ” mỗi khi đất nước gặp khó khăn từ bên ngoài… Do vậy, việc giảm tỷ trọngtrong GDP của nhóm ngành này cũng không dễ dàng, khi các nhóm ngành kháccủa nền kinh tế đang gặp khó khăn, nhất là từ vài năm nay, nhóm ngành này đãđóng góp tích cực trong việc kiềm chế lạm phát, kiềm chế nhập siêu, giải quyếtlao động, việc làm…

Thứ hai là tỷ trọng trong GDP của nhóm ngành công nghiệp- xây dựng tuy có cao hơn năm 2010 một chút, nhưng còn cách khá xa so với mục tiêu

đề ra cho năm 2015

Những năm từ 2007 trở về trước, nhóm ngành này tăng với tốc độ caonhất, chiếm tỷ trọng cao nhất trong 3 nhóm ngành và trở thành động lực, đầu tàutăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế, nhưng mấy năm nay tăng thấp và chậm lại(năm 2011 tăng 6,68%, năm 2012 tăng 5,75%, 6 tháng 2013 tăng 5,18%) Dovậy tỷ trọng đã giảm xuống Ngoài những khó khăn ở cả đầu vào và đầu ra, côngnghiệp phụ trợ chậm phát triển, sản xuất còn mang nặng tính gia công nên phụthuộc vào nhập khẩu Trình độ thiết bị, kỹ thuật- công nghệ còn thấp, nên sứccạnh tranh yếu

Đáng chú ý, trong 5 ngành chi tiết của công nghiệp- xây dựng thì côngnghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng tốc độ tăng không cao, trong khi

tỷ trọng của ngành chi tiết này sẽ quyết định việc chuyển thành nước côngnghiệp hay không; GDP do ngành xây dựng tạo ra cũng tăng thấp, chủ yếu dovốn đầu tư tính theo giá thực tế thì tăng, nhưng nếu loại trừ yếu tố giá thì giảm

Thứ ba là tỷ trọng trong GDP của nhóm ngành dịch vụ đã giảm trong 4

năm qua và năm 2012 tuy thấp hơn năm 2010, nhưng triển vọng có thể đạt vàvượt mục tiêu đề ra cho năm 2015 Đáng lưu ý là nhóm ngành dịch vụ mấy nămnay đều có tốc độ tăng cao nhất trong 3 nhóm ngành và cao hơn tốc độ tăngchung (bình quân 2006- 2012 cả nước tăng 6,15%/năm, nhóm ngành nông - lâm

Trang 11

nghiệp - thủy sản tăng 3,47%/năm, nhóm ngành công nghiệp- xây dựng tăng6,33%/năm, còn dịch vụ tăng 7,27%/năm)

Tuy nhiên, có 4 vấn đề trong nhóm ngành dịch vụ Tỷ trọng nhóm ngànhnày trong GDP của Việt Nam thuộc loại thấp trên thế giới (đứng thứ 5/8 nướctrong khu vực ASEAN, thứ 26/40 nước và vùng lãnh thổ ở châu Á và thứ123/150 nước và khu vực trên thế giới có số liệu so sánh Trong nhóm ngànhnày, tỷ trọng của ngành chuyên môn khoa học công nghệ chỉ chiếm 1,15%; hoạtđộng tài chính, ngân hàng, bảo hiểm chỉ chiếm 4,04% Năng suất lao động củanhóm ngành dịch vụ còn thấp xa so với nhóm ngành công nghiệp - xây dựng(năm 2012 đạt 77,1 triệu đồng/người, chỉ bằng 67,5% của công nghiệp - xâydựng) Tính chuyên nghiệp của một bộ phận lao động trong nhóm ngành nàycòn thấp do lao động của các nhóm ngành khác kiêm nhiệm (khi nông nhàn, làmngoài giờ…)

Như vậy kết quả của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiện nay được thểhiện trên một số điểm Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp đi lên, do vậy, sựchuyển dịch rõ nhất trong thời gian qua là tỷ trọng trong GDP của nhóm ngànhnông, lâm nghiệp - thủy sản giảm xuống, tỷ trọng của 2 nhóm ngành côngnghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng lên

Tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp - xây dựng tăng lên phù hợp với tưduy chiến lược Ngay sau khi an ninh lương thực được bảo đảm, đất nước cơbản thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, Việt Nam đã chuyển sang thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa Công nghiệp - xây dựng nhờ đó đã có sự pháttriển liên tục với tốc độ cao, chiếm tỷ trọng lớn trong GDP (tăng từ 22,67% năm

1990 lên 40,31% năm 2004), trở thành động lực và đầu tàu tăng trưởng của toàn

bộ nền kinh tế

Tỷ trọng của nhóm ngành dịch vụ trong GDP đã tăng lên và đã chiếm tỷtrọng lớn nhất trong 3 nhóm ngành Đây là kết quả tích cực được nhận diện dướicác góc độ khác nhau

2 Chuyển dịch cơ cấu ngành theo lao động

Cùng với sự chuyển dịch giữa các ngành trong nền kinh tế, số lượng và tỉ lệlao động giữa các ngành cũng có sự thay đổi tương ứng

Một cách tổng quan nhất, từ năm cuối thập niên 80 đến nay, tỉ lệ lao động

có xu hướng giảm trong ngành nông nghiệp và tăng lên đối với ngành côngnghiệp và dịch vụ

Bảng 2 Cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam theo lao động từ 1990 đến 2014

Ngày đăng: 27/08/2017, 01:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w