Ha» H•a• 1 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THÁI NGUYÊN TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN LỚP 6 NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM 2 HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH Mỗi hoạt động trong cuốn Tài liệu giáo dụ[.]
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THÁI NGUYÊN
TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
Trang 2HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH
Mỗi hoạt động trong cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Thái Nguyên lớp 6 đều được
chỉ dẫn bằng một kí hiệu Thầy cô giáo sẽ hướng dẫn các em học theo những chỉ dẫn này Các em cũng có thể theo các kí hiệu chỉ dẫn để tự học
KHỞI ĐỘNG / MỞ ĐẦU
Gợi mở những vấn đề liên quan đến nội dung chủ đề,
tạo hứng thú cho học sinh đối với bài mới
KHÁM PHÁ / KIẾN THỨC MỚI
Phát hiện, hình thành các kiến thức mới, kĩ năng mới
LUYỆN TẬP / THỰC HÀNH
Củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng theo nội dung,
yêu cầu cần đạt của chủ đề
VẬN DỤNG
Vận dụng những tri thức, kĩ năng đã được hình thành,
rèn luyện vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn
cuộc sống
Hãy bảo quản, giữ gìn tài liệu này
để dành tặng các em học sinh lớp sau
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Các em học sinh yêu quý!
Các em đang cầm trên tay cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Thái Nguyên lớp 6
Tài liệu được biên soạn nhằm bổ sung cho nội dung giáo dục trong Chương trình Giáo dục phổ thông thống nhất trong cả nước, trang bị cho các em những hiểu biết về nơi các em sinh sống, từ đó bồi dưỡng tình yêu quê hương, ý thức tìm hiểu và vận dụng những điều
đã học để góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn của địa phương
Nội dung tài liệu địa phương lớp 6 gồm các chủ đề về nhiều lĩnh vực: Văn hoá –
lịch sử, địa lí – kinh tế – hướng nghiệp, chính trị – xã hội – môi trường Lĩnh vực văn hoá – lịch sử với 5 chủ đề sẽ giúp các em tìm hiểu truyền thuyết, truyện cổ tích, âm nhạc, trang
phục, nét đẹp ẩm thực của đồng bào các dân tộc tỉnh Thái Nguyên và hiểu rõ hơn về lịch
sử Thái Nguyên từ thời nguyên thuỷ đến đầu thế kỉ X Lĩnh vực địa lí – kinh tế – hướng nghiệp với 2 chủ đề sẽ giúp các em tìm hiểu về vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ, sự phân chia hành chính và nghề truyền thống của tỉnh Thái Nguyên Lĩnh vực chính trị – xã hội – môi trường với 1 chủ đề sẽ giúp các em tìm hiểu về biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai
của địa phương
Khi thực hiện các hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo, các
em nên chủ động tìm kiếm, khai thác thông tin cốt lõi trong phần kênh chữ và khám phá những điều thú vị, hấp dẫn từ hệ thống kênh hình Bên cạnh đó, thầy cô giáo cùng các em cần thu thập thêm các thông tin có liên quan ở bên ngoài cuốn tài liệu để bổ sung, làm phong phú và cập nhật thông tin
Các tác giả hi vọng cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Thái Nguyên lớp 6 sẽ giúp
các em làm chủ tri thức về địa phương, nỗ lực phấn đấu học tập để góp phần xây dựng
và phát triển quê hương Thái Nguyên ngày càng giàu đẹp
Chúc các em học tốt!
BAN BIÊN SOẠN
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu: 3
LĨNH VỰC: VĂN HOÁ, LỊCH SỬ 6
Chủ đề 1: Văn học dân gian 6
Truyền thuyết Thái Nguyên 6
Khởi động 6
Tìm hiểu bài đọc 7
Sự thích sông Công, núi Cốc 7
Luyện tập 12
Vận dụng 12
Đọc thêm 12
Truyện cổ tích Thái Nguyên 14
Khởi động 15
Tìm hiểu bài đọc 15
Nguồn gốc con khỉ 15
Luyện tập 17
Vận dụng 17
Đọc thêm 17
Chủ đề 2: Một số loại hình nghệ thuật dân gian tiêu biểu của tỉnh Thái Nguyên 26
Khởi động 26
Khám phá 26
Múa Tắc xình của dân tộc Sán Chay xóm Đồng Tâm, xã Tức Tranh (Phú Lương) 26
Hát Soọng cô của người Sán Dìu xã Tam Thái – Hoá Thượng (Đồng Hỷ) 27
Hát Sấng Cọ của người Sán Chay huyện Phú Lương 28
Nghi lễ Then của người Tày huyện Định Hoá 29
Nghệ thuật khèn của người Mông (Phú Lương – Đồng Hỷ) 31
Luyện tập 32
Vận dụng 32
Chủ đề 3: Trang phục các dân tộc tỉnh Thái Nguyên 33
Khởi động 33
Khám phá 34
Một số kiểu trang phục của người dân tộc ở Thái Nguyên 34
Hoa văn trên trang phục người dân tộc ở Thái Nguyên 37
Luyện tập 39
Vận dụng 40
Chủ đề 4: Nét ẩm thực 41
Khởi động 41
Khám phá 41
Khái quát về văn hoá ẩm thực Thái Nguyên 41
Bánh chưng Bờ Đậu − món ăn nổi tiếng của Thái Nguyên 45
Luyện tập 46
Trang 5Vận dụng 47
Tư liệu tham khảo 47
Chủ đề 5: Vùng đất Thái Nguyên từ thời nguyên thuỷ đến thế kỉ X 50
Khởi động 50
Khám phá 50
Thái Nguyên thời nguyên thuỷ 50
Thái Nguyên thời kì Văn Lang – Âu Lạc 53
Thái Nguyên trong thời kì đấu tranh chống Bắc thuộc 55
Luyện tập 57
Vận dụng 57
LĨNH VỰC: ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP 58
Chủ đề 6: Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ 58
Mở đầu 58
Khám phá 58
Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 58
Ý nghĩa của vị trí địa lí đối với sự phát triển kinh tế – xã hội 61
Luyện tập 62
Vận dụng 62
Chủ đề 7: Nghề truyền thống ở Thái Nguyên 63
Khởi động 63
Khám phá 63
Khám phá nghề truyền thống ở Thái Nguyên 63
Vai trò của nghề truyền thống đối với đời sống của nhân dân và sự phát triển kinh tế – xã hội ở Thái Nguyên 67
Những khó khăn, thuận lợi, triển vọng phát triển của nghề truyền thống ở Thái Nguyên 69
Luyện tập 71
Vận dụng 74
Tư liệu tham khảo 75
LĨNH VỰC: CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG 79
Chủ đề 8: Biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai ở tỉnh Thái Nguyên 79
Mở đầu 79
Khám phá 80
Biến đổi khí hậu ở tỉnh Thái Nguyên 80
Thiên tai ở tỉnh Thái Nguyên 83
Ý nghĩa của việc chống biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai 86
Luyện tập 86
Vận dụng 86
Tư liệu tham khảo 87
Trang 6TRUYỀN THUYẾT THÁI NGUYÊN
Hồ Núi Cốc
(Nguồn: https://dulichhonuicoc.vn/ho–nui–coc–thai–nguyen/)
VĂN HỌC DÂN GIAN
1
● Nhận biết được đặc điểm của truyền thuyết qua một số truyền thuyết tiêu biểu
của Thái Nguyên như: Sự tích Sông Công, Núi Cốc; Sự tích Đền Thượng Núi Đuổm;…
● Viết được bài văn kể lại một truyền thuyết Thái Nguyên
● Kể lại được một truyền thuyết đã học
● Có ý thức tìm hiểu truyền thuyết Thái Nguyên; tự hào về truyền thống văn học của quê hương Thái Nguyên
Sau bài học này, học sinh sẽ:
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ
Trang 7Hình ảnh trên khiến em nghĩ đến danh lam thắng cảnh nào khác ở Thái Nguyên? Chia sẻ những hiểu biết của em về danh lam thắng cảnh đó
Tiểu dẫn
Truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về các sự kiện và nhân vật ít nhiều có liên quan đến lịch sử, thông qua sự tưởng tượng, hư cấu Truyền thuyết là một trong những thể loại văn học dân gian tiêu biểu của kho tàng văn học dân gian tỉnh Thái Nguyên Truyền thuyết của tỉnh Thái Nguyên có hai loại:
Truyền thuyết địa danh Thái Nguyên gồm một số truyện giải thích về các địa danh của Thái Nguyên như: Sự tích Sông Công, Núi Cốc; Sự tích Đồi Vua Mọc và Hai Ông Đá; Miếu
Nữ Tướng;
Truyền thuyết lịch sử Thái Nguyên gồm những truyện kể về nhân vật anh hùng dân tộc địa phương Thái Nguyên Họ mang phẩm chất anh hùng nhưng gần gũi, gắn bó với nhân dân Đó là các truyền thuyết lịch sử như: Sự tích Đền Thượng, Núi Đuổm; Sự tích Lưu Trung và Lưu Nhân Chú;
SỰ TÍCH SÔNG CÔNG, NÚI CỐC
Chuyện kể rằng từ đời xửa đời xưa, tiếng cửa miệng của người dân tộc ở vùng hồ này nói là đời già, đời cũ, ở vùng hồ Núi Cốc bấy giờ có một chàng trai mồ côi vốn là con
cả của một gia đình nghèo khổ Sau khi cha mẹ qua đời chàng phải tự kiếm sống nuôi các em bằng nghề kiếm củi Ngày ngày chàng mang dao, mang búa lên dãy núi Chúa chặt hết củi cây đến củi cành từ sáng cho đến lúc ông mặt trời lặn rồi mới về nhà Vốn trước chàng cũng được cha mẹ đặt cho một cái tên để gọi nhưng vì ngày nào chàng cũng phải ngồi ăn hai bữa cơm đêm, chẳng những thế vào những ngày mưa chẳng lên rừng kiếm củi được thì chàng lại phải mò mẫm trên đồng cạn dưới đồng sâu để kiếm con cua, con ốc nên mọi người đã quen gọi chàng là chàng Cốc Năm tháng qua đi, chính chàng cũng không còn nhớ tên thật của mình nữa Vì nghèo quá, chàng Cốc cũng chẳng được ai kết bạn với mình Chàng chỉ có một cây sáo làm bạn Mỗi khi tiếng sáo của chàng vút lên thì con gà gô đang gáy ở rừng sồi giữa trưa nắng chói chang cũng ngừng bặt, gió đang thổi cũng dừng lại để nghe Muôn vạn cỏ cây chim chóc nơi nơi hễ nghe tiếng sáo của chàng cũng đều phải động lòng thương cảm Ngày qua tháng lại,
Trang 8khi các em chàng lớn lên mỗi người một nơi thì chàng vẫn kiếm ăn một mình bên dãy núi Chúa, bụng bảo dạ rằng mình đã rơi vào cái phận nghèo thì còn nói gì đến chuyện
vợ con Thế rồi một ngày kia chàng lên đường tìm đến vùng Định Hoá ngày nay và đi ở cho một nhà giàu Đàn trâu của nhà này đông vô kể Những nhà kho đựng thóc lúa của
họ cũng san sát mọc lên như một cánh rừng Ruộng của họ cũng nhiều đến nỗi con nai phải chạy mỏi chân Nhà này có một người con gái đẹp tuyệt trần Chẳng những thế mà nàng còn múa dẻo nổi tiếng khắp vùng Nàng thường có mặt ở những ngày đầu xuân khi bản làng mở hội tung còn Các trai bản ai ai cũng muốn được hát sli1, hát lượn2 qua hai bờ núi với người con gái ấy, nhưng tận đến khi tuổi xuân của nàng đẹp rực rỡ, tài múa của nàng mềm mại như dòng nước uốn lượn của con suối trước nhà, nàng vẫn chưa nhận lời kết duyên với ai Người ta gọi nàng là nàng Công Nàng vừa đẹp vừa hiền, lại vừa múa khéo, nhưng ít người được trò chuyện Trong khi đó cha của nàng ra điều kiện kén rể rằng: ai muốn được làm rể nhà nàng thì phải làm công trong ba năm và không được sai phạm một điều gì Hết thời gian đó, cha nàng sẽ cho gặp mặt nàng Công Nàng bằng lòng với người nào thì lễ cưới sẽ được tiến hành ngay Đã mấy năm trôi qua nhưng nàng Công chưa ưng lòng thuận ý đẹp duyên với một người nào Bởi vì những người đến xin làm rể nhà nàng đông quá Ngày cha nàng cho họ gặp mặt con gái, họ đứng chen chúc dưới sàn Khi nàng Công từ trong nhà bước ra, ai cũng cố chen vai thích cánh3 để ngoi lên cho nàng được nhìn tận mặt, nên nàng Công cứ đứng lặng trước đám người mà không rõ đây là những con người hay là những bộ xương biết đi biết nói Nàng rùng mình bước vào trong nhà Đám đông buồn bã hồi lâu rồi mỗi người tản đi một ngả…
Vừa khi ấy nàng Công nghe thấy ở bên ngoài có tiếng sáo vút lên bay bổng, véo von Thoạt đầu nàng cũng không để ý lắm, nhưng hình như tiếng sáo ấy cứ len lỏi vào tai nàng, tìm đến phòng nàng đang ở để nói lên một nỗi cô đơn và cảnh sống éo le cực khổ của một người nào đó Chẳng mấy chốc, nàng Công nghe tiếng sáo đầm đìa nước mắt Nàng quay ra sàn ngoài thì hình như tiếng sáo cứ xa dần Nàng quay trở vào, vừa đặt mình nằm nghỉ thì tiếng sáo lại vút lên Hôm ấy nàng thao thức đến nửa đêm về sáng vẫn không thể nào chợp mắt được Nàng vùng dậy lần tìm theo tiếng sáo Khi
1 Hát sli: là làn điệu hát trữ tình truyền thống của người Nùng
2Hát lượn: là điệu hát dân ca truyền thống của người Tày
3 Chen vai, thích cánh: thành ngữ chỉ việc cùng đua sức với nhau để làm một việc gì đó
Trang 9tiếng sáo dẫn nàng vừa kịp đến ngôi lều của chàng trai nọ thì tiếng gà rừng đã eo óc gáy Nàng Công vội vã ra về Nàng chưa biết rằng đó chính là tiếng sáo của chàng Cốc Đêm hôm sau, nàng lại đi tìm Lần này hai người gặp nhau Thoạt đầu chàng Cốc thấy sự
lạ đã toan tránh vào phía sau đống củi, nhưng nàng Công đã kịp nhận ra Hai người trò chuyện đến khi biết được ý định chân thành của nàng Công, chàng Cốc mới mạnh dạn ngỏ lời muốn được se duyên với nàng Không ngờ nàng Công bằng lòng ngay Từ đó, cứ đêm đêm tiếng sáo lại đưa nàng Công vào rừng với chàng Cốc và sáng mai ra nàng đã
có mặt ở nhà Nhưng câu chuyện tình của họ rồi sau cũng không thể giữ kín mãi được Người của nhà giàu một lần đem gạo muối vào cho chàng Cốc đã tìm thấy những sợi tóc mượt dài còn vương trên sàn chòi canh trâu nhà chàng Người này vội về báo cho ông chủ Biết chuyện, nhà giàu lập mưu để kiếm cớ đuổi chàng Cốc đi Một lần họ ngầm sai người nhà chất cỏ khô để đốt chuồng trâu rồi đổ lỗi cho chàng Cốc Hôm ấy khi thấy lửa cháy rừng rực chàng Cốc chỉ biết mang cây sáo ra thổi Gió bỗng nhiên ngừng bặt Chàng Cốc đã mừng nhưng lửa không biết nghe tiếng sáo, cứ lem lém liếm vào mái tranh giữa rừng già Lũ trâu chạy hoảng loạn Chàng Cốc bị lửa đuổi sát vào vách đá thì bỗng có một trận mưa như trút Lửa tắt, chàng Cốc đã thấy có một ông lão râu tóc bạc phơ đứng ngay trước mặt mình Chàng chưa hết bàng hoàng thì ông lão tiến lại gần và nói cho chàng biết thâm ý của nhà giàu và khuyên chàng hãy xẻo thịt trâu làm lương
ăn4 rồi mau mau tìm đường thoát khỏi nơi này Chàng Cốc chưa kịp quỳ xuống tạ ơn thì ông lão đã biến mất Chàng vội vã làm theo lời ông lão Ngay trong đêm ấy, chàng tìm đường về quê cũ Chàng không quên nhờ tiếng sáo chuyển lời mách bảo đến với nàng Công Ở nhà mình, vừa nghe tiếng sáo kể hết sự tình, nàng Công cũng vội vã khoác tay nải5 hạt vừng lên vai rồi trốn cha, vượt sàn chạy vào rừng gặp người yêu Cũng lúc ấy, cha nàng được tin chàng Cốc đã cao chạy xa bay6, ông ta vội vàng chạy sang buồng của
cô con gái cưng Nhìn thấy cửa vẫn đóng, then vẫn cài mà nàng Công không còn ở đó, ông ta vội vàng cho người ngựa đuổi theo Nàng Công kịp trao cho chàng Cốc tay nải hạt vừng thì người ngựa nhà nàng đã rầm rập ở phía sau Chàng Cốc vội vàng tránh được Nàng Công bị người nhà bắt về Để phạt tội trái ý cha, nhà giàu đã đẩy nàng vào tận nhà trong rồi cho người canh gác như một tên tù nặng
4Lương ăn: thức ăn dùng để ăn khi đi đường (từ lương thường được dùng trong từ lương thực)
2 Tay nải: túi thường làm bằng vải, có quai đeo, dùng đựng đồ mang đi đường
3 Cao chạy xa bay: thành ngữ chỉ hành động trốn đi thật nhanh và thật xa (để tránh điều nguy hiểm).
Trang 10Lại nói chàng Cốc sau khi thoát khỏi cuộc rượt đuổi của người nhà nàng Công, chàng chạy mải miết quên cả cây móc, gai cào chân tay bật máu tươi Chàng không biết rằng chiếc tay nải hạt vừng đã bị cây cối dọc đường móc rách từ lúc nào Hạt vừng cứ thế rải theo từng bước chân của chàng, cho đến khi chàng vừa đặt chân đến ngọn núi Chúa quê mình thì những hạt vừng trong tay nải cũng vừa hết Lúc bấy giờ thấy vai mình nhẹ bỗng, đặt tay lên nắm chiếc tay nải chàng mới hiểu ra cái ý sâu xa của nàng Công Từ đó chàng lại kiếm sống theo nghề cũ và ngày này qua tháng khác vẫn mong theo lối cây vừng đón gặp được người yêu Vừng đã ra hoa, hoa vừng đã thành quả, rồi quả vừng khô, cây vừng chết, hạt vừng lại rụng xuống mọc thành cây Cây vừng lại ra hoa Đã bao mùa cây vừng thay đổi như thế rồi mà nỗi đợi chờ của chàng vẫn cứ thăm thẳm vô vọng Một ngày kia chàng Cốc nhịn đói suốt mấy ngày rồi cố trèo lên đỉnh ngọn núi Chúa Chàng cứ ở mãi trên ấy, ngày đêm đăm đắm nhìn về phương bắc Nơi ấy
có quê hương nàng Công
Lại nói về nàng Công từ khi bị người cha giàu có và độc ác rẽ duyên, trong tình cảnh như bị giam lỏng, nàng cũng vô cùng đau khổ Ngày cũng như đêm nàng chỉ còn biết an ủi mình bằng những dòng nước mắt Nàng khóc suốt tháng năm dài, thân hình nàng gầy quắt lại, vàng võ chỉ còn da bọc xương Nước mắt của nàng chảy hoài đến nỗi người cha của nàng cũng phải động lòng Ông ta hối hận mới chịu sai bảo người nhà không cần canh gác nữa Chỉ cần có thế, nàng Công vội vàng tìm cách theo về với chàng Cốc Nàng cứ lần theo những vệt cây rừng mà đi Nước mắt nàng chảy dòng theo mỗi bước chân Nàng tìm đến chân ngọn núi Chúa thì chàng Cốc đã không còn ở đây nữa Nàng Công chưa biết rằng chàng Cốc đã trèo lên đỉnh núi Trong cơn tuyệt vọng, nàng Công quanh quẩn cứ lần theo chân núi mà tìm Trời đất như cảm thông với nỗi lòng nàng Một bà tiên nhân từ đã hoá thành một bà cụ già nhân hậu dựng lên ở đây một ngôi quán nhỏ, rồi đón nàng Công về với bà trong một buổi chiều tà Bà cụ đem hết lời khuyên giải người con gái Bà nói mãi nói mãi từ lúc trăng lên rồi trăng lặn Nhưng tấm lòng nhân từ của bà cụ vẫn không ngăn được nước mắt nàng Công đã chảy thành một con suối tự bao giờ Dòng suối nước mắt của nàng cứ đầy lên và ôm lấy chân ngọn núi Chúa Từ biệt bà cụ, nàng cũng trèo lên đỉnh núi Nàng Công tìm được chàng Cốc thì chàng đã đau khổ và chết héo tự bao giờ Nàng Công đã đau đớn vừa khóc vừa đắp đất thành mộ cho người yêu trên đỉnh núi cao Nhưng với hai bàn tay con gái, nàng đắp rất chậm chạp Đàn mối rừng cảm động trước mối tình éo le ngang trái, chúng kéo về cùng nàng đắp mộ chàng Cốc thành một ngọn núi lớn, đất đỏ ối Quả núi ấy cứ cao mãi lên
Có người đời sau còn nhớ câu chuyện tình đau thương của hai người, đem kể lại Từ đấy, người đời gọi dòng suối nước mắt kia là suối nàng Công, còn ngọn núi cao nhất ở quê hương chàng Cốc được gọi là ngọn núi Cốc
Trang 11Lại nói sau khi được đàn mối giúp sức, nàng Công đắp xong nấm mộ thì nàng cũng teo tóp dần đi trong bộ quần áo rực rỡ Nàng héo hắt tàn lụi rồi chết Nàng biến thành con chim công ngày nay Đó chính là con chim công mà người Tày gọi là gà công hay gà cúc Ngày nay các loài gà ở trong rừng như gà cỏ, gà lôi, gà gô,… tất thảy đều gọi
là gà thì đều ăn mối Riêng chỉ có gà công là vì còn nhớ công của đàn mối giúp mình nên chẳng bao giờ ăn mối
(Vũ Anh Tuấn và Vũ Phong sưu tầm, Văn học Thái Nguyên,
Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Nguyên xuất bản, 2008, tr 27 – 33)
EM CÓ BIẾT?
Hồ Núi Cốc là một hồ nước ngọt nhân tạo của tỉnh Thái Nguyên Hồ có độ sâu
35 m, diện tích mặt hồ rộng 25 km²
Hồ gồm một đập chính dài 480 m và 7 đập phụ Mặt hồ rộng với hơn
89 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có những đảo là nơi cư trú của những đàn cò
Hồ có nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho 12.000 ha đất, cấp 40 – 70 triệu m³ nước mỗi năm cho công nghiệp của địa phương Thái Nguyên; giảm nhẹ lũ hạ lưu sông Cầu Đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng, nuôi trồng thuỷ sản và điều hoà môi trường cho thành phố Thái Nguyên
1 Hãy nêu các sự việc chính của truyện Sự tích Sông Công, Núi Cốc
2 Nhân vật chàng Cốc có xuất thân như thế nào?
3 Tìm những chi tiết hoang đường, kì ảo trong truyện Sự tích Sông Công,
Núi Cốc Những chi tiết đó có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung
tác phẩm?
4 Em ấn tượng với chi tiết nào nhất trong truyện Sự tích Sông Công, Núi Cốc?
Vì sao?
5 Sự hoá thân của chàng Cốc và nàng Công thành Núi Cốc, Sông Công đã
thể hiện khát vọng gì của nhân dân?
6 Truyền thuyết Sự tích Sông Công, Núi Cốc có điểm gì khác với truyền thuyết
mà em đã biết?
Trang 121 Viết bài văn kể lại một truyền thuyết của Thái Nguyên mà em đã được học hoặc
đọc thêm
2 Tóm tắt bằng lời truyền thuyết Sự tích Sông Công, Núi Cốc
3 Đóng vai một nhân vật trong truyện Sự tích Sông Công, Núi Cốc và kể lại câu chuyện
1 Sưu tầm những bài thơ, bài hát viết về Hồ Núi Cốc
2 Sưu tầm một số truyền thuyết trong kho tàng văn học dân gian của tỉnh Thái
Nguyên và giới thiệu với các bạn về một truyền thuyết mà em thích nhất
ĐỌC THÊM
Tiểu dẫn
Đất nước Việt Nam chúng ta đã trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Trong chiều dài lịch sử đó biết bao người con của quê hương đã hi sinh cho dân tộc Hầu như ở địa phương nào cũng có những ngôi đền thờ những người anh hùng dân tộc tiêu biểu của quê hương Đó là đền thờ Ngô Quyền và Phùng Hưng ở Sơn Tây; Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Quảng Ninh; Hai Bà Trưng ở Mê Linh, Vĩnh Phúc,… Những người anh hùng ấy đã được truyền thuyết hoá để trở thành phúc thần, được huyền thoại hoá để trở thành nhân vật trong văn học dân gian Việt Nam Với Thái Nguyên, chúng ta tự hào có Đền Đuổm (ở huyện Phú Lương) thờ người anh hùng dân tộc Dương Tự Minh "Sự tích Đền Thượng Núi Đuổm" là một truyền thuyết ghi dấu công tích của vị anh hùng dân tộc Dương Tự Minh
SỰ TÍCH ĐỀN THƯỢNG NÚI ĐUỔM
Đền Đuổm
(Nguồn: https://www.kynghidongduong.vn/)
Trang 13Ngày xưa có một gia đình nghèo khổ Hai vợ chồng chỉ sinh được một người con trai Khi người con mới lên hai tuổi thì người bố qua đời Hai mẹ con tần tảo nuôi nhau Trên núi Đuổm (Động Đạt, Phú Lương) ngày ấy có một bầy tiên nữ xuống đánh
cờ Chàng trai nhà nghèo lớn lên cũng làm cái nghề của bố, ngày ngày chàng lên rừng lấy củi về bán, lấy tiền nuôi mẹ già Chàng trai còn là người có tư chất thông minh, tuấn
tú, hiếu học nên chàng chỉ tự học mà đã tinh thông các ban võ nghệ, lại giỏi văn chương thơ phú Tương truyền có lần chàng đã giết được một con hổ thọt thành tinh chuyên ăn thịt người trên núi Cấm, trừ hoạ cho mọi người nên dân trong vùng ai nấy đều mến phục Đương khi thấy dân làng nghèo khổ mà chàng chưa nghĩ được kế giúp người già, con trẻ thì tình cờ một hôm lên núi Đuổm, chàng gặp bảy nàng tiên Sau khi hỏi han trò chuyện về gia cảnh, chàng được nàng tiên thứ bảy đem lòng yêu mến Một hôm nàng nghe chàng kể lể về ý muốn cứu dân, nàng bèn cởi tấm áo đang mặc trên mình trao cho chàng trai và dặn rằng: "Chàng hãy mặc áo này vào thì mọi người sẽ không còn nhìn thấy chàng, chàng có thể vào kho báu của nhà vua lấy vàng bạc về cho mọi người"
Từ đó, chàng nghèo khổ nọ đã nhiều lần lấy được của cải nhà vua phân phát cho người nghèo Kho báu của nhà vua ngày càng vơi Nhà vua tra khảo lính canh thì bọn họ dập đầu kêu oan Trong bọn có người nói: ngày ngày anh ta chỉ thấy có mỗi một con bướm bay ra, bay vào nhà kho, chứ tuyệt nhiên không thấy bóng một người qua lại Nhà vua bày kế bắt con bướm Thế là chàng trai mồ côi tốt bụng bị nhốt vào cũi, giải về kinh đô Tại sao lại có chuyện con bướm bay vào bay ra và con bướm đó lại là chàng trai? Có người chưa hiểu cho là áo ma Thật ra đó chính là vì chàng trai mặc chiếc
áo tàng hình của nàng tiên thứ bảy cho Số là vì có một hôm chàng đi rừng lấy măng, đốn củi, bị vướng cây nhọn rách một miếng nhỏ Mẹ chàng không hay biết, bèn đem vải thường vá vào một miếng nhỏ vừa bằng hai cánh bướm Hình ảnh con bướm ấy chính là miếng vải trần gian
Thuở ấy, khi chàng trai đang bị giam cầm trong ngục tối, có lính canh giữ cẩn thận để chờ ngày xét xử, thì nước ta có giặc ngoại xâm Thế giặc mạnh như vũ bão, người người bị chết, nhà nhà đau khổ, cả một vùng biên ải tan hoang Trước tin tức tới cấp báo về kinh đô, nhà vua chưa biết ứng phó ra sao thì từ trong ngục tối, chàng trai tính được vận nước, ngỏ lời xin được nhà vua cho đi giết giặc lập công Nhà vua cả mừng, lập tức chiều lòng chàng
Chàng trai ra trận như một vị tù trưởng oai phong lẫm liệt, đầu chít khăn đầu rìu màu xanh, vận võ phục màu xanh Nhân dân nghe tin, theo chàng đi đánh giặc rất
Trang 14đông Nghe nói giặc có nhiều phép thuật, gươm chặt, giáo đâm không chết nhưng cũng bị đạo quân của chàng đánh cho tan tác Giặc tan, đất nước thanh bình, chàng trai lại đem đoàn quân của mình lên vùng núi Đuổm lập trang trại để sinh sống Chàng không cần chức tước, bổng lộc, ơn huệ của nhà vua
Khi vị tướng đã trở về già, ông làm nghề thuốc chữa bệnh cho dân Người đời gọi ông là ông lang già núi Đuổm Tương truyền sau khi ông mất, dân trong vùng tưởng nhớ mà lập đền thờ trên núi Đuổm Trong khi dựng đền, người ta xẻ một cây mít làm đôi, đem một nửa cây thả xuôi theo dòng sông Cầu Tấm gỗ mít trôi đến vùng Hà Châu thuộc huyện Tư Nông tức Phú Bình bây giờ thì không trôi đi nữa Ở Hà Châu nhân dân biết chuyện cũng lập đền thờ, gọi là đền Hạ để phân biệt đền Thượng núi Đuổm Người
xưa còn có câu: Thượng Đu Đuổm, Hạ Lục Đầu Giang
Ngày nay, đền Đuổm đã bị thời gian và chiến tranh tàn phá, nhưng nền móng xưa vẫn còn in dấu tích nhắc nhở về người xưa cảnh cũ Đền đã được xây dựng lại nhiều lần
Ở đền chính, trên hai cột gian giữa còn đắp nổi một đôi câu đối
Quan Triều đầu thánh thiên thu thái Động Đạt giáng thần vạn cổ thanh (Quan Triều sinh thánh ngàn năm thịnh Động Đạt giáng thần vạn thủa xanh)
(Vi Hồng và Vũ Anh Tuấn sưu tầm, Văn học Thái Nguyên,
Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Nguyên xuất bản, 2008, tr.21 – 24)
TRUYỆN CỔ TÍCH THÁI NGUYÊN
● Nhận biết được đặc điểm của truyện cổ tích qua một số truyện cổ tích của Thái Nguyên
● Viết được bài văn kể lại một truyện cổ tích Thái Nguyên
● Kể lại được một truyện cổ tích đã học
● Có ý thức tìm hiểu truyện cổ tích Thái Nguyên; tự hào về truyền thống văn học của quê hương Thái Nguyên
Sau bài học này, học sinh sẽ:
Trang 15Chia sẻ ngắn gọn một sự tích về loài vật hay cây cối mà em biết Câu chuyện đó đã
để lại cho em ấn tượng sâu sắc gì?
và Tua Nhì” ở Định Hoá, “Nguồn gốc con khỉ” ở Phú Lương Trong đó, yếu tố giao thoa văn hoá Kinh – Tày rất rõ, nhưng vẫn không làm nhạt nhoà bản sắc tộc người
Cổ tích Tày – Nùng ở Thái Nguyên gồm nhiều truyện cổ tích loài vật Trong đó có những truyện còn khơi gợi không khí hoang sơ, thôn dã mà kì thú (“Sự tích thi gào to”, “Sự tích giống ếch lưng gù”) Một số dân tộc ít người ở Thái Nguyên như Cao Lan, Sán Chí,… cũng có những cốt truyện đặc sắc Hầu hết trong số này là sự tích về người mồ côi và người đội lốt
Trang 16gái để cười cợt với nhau Ra đến bờ suối, tủi cực quá, cô ngồi khóc Cô đang khóc thì một bà tiên xuất hiện hỏi han Cô thuật lại quãng đời nghèo khổ cay cực của mình Bà tiên bảo:
– Con hãy xuống suối mà tắm cho thật mát mẻ và sạch sẽ rồi mọi việc con sẽ được như ý muốn
Nói rồi bà tiên biến mất Cô gái làm theo lời bà tiên Cô thành một cô gái xinh đẹp rực rỡ như một nàng tiên Cô gánh nước trở về nhà cho tên nhà giàu Những con trai, con gái vừa khinh bỉ cô nay lại ao ước được như cô Bọn họ hỏi han ân cần, cô gái kể lại
sự việc đã xảy ra cho bọn họ nghe
Bọn con trai, con gái nhà giàu thi nhau ào ào xuống suối tắm Chúng nó càng tắm càng xấu dần, mặt nhăn nheo, trán gãy, khắp người mọc lông lá Bọn chúng biến thành một bầy khỉ Dân bản thấy bọn khỉ vác gậy đánh đuổi Chúng thi nhau chạy lên rừng ẩn náu, biến thành khỉ còn lại đến ngày nay
Cô gái được dân bản giao toàn bộ cơ nghiệp của tên nhà giàu Cô gái lấy chồng và sống hạnh phúc
(Theo Vi Hồng sưu tầm, Truyện cổ và dân ca nghi lễ dân tộc Tày,
NXB Thanh niên, Hà Nội, 2012, tr.187 –188)
EM CÓ BIẾT?
Truyện cổ tích Nguồn gốc con khỉ có nhiều dị bản, văn bản trên là truyện được kể của
dân tộc Tày ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Ngoài truyện kể trên, còn 3 văn bản truyện này được sưu tầm ở các địa phương khác như Cao Bằng, Bắc Kạn cũng kể về nguồn gốc sự tích con khỉ nhưng có cốt truyện khác Điều này cho thấy truyện cổ tích có nhiều dị bản và một trong những đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích Thái Nguyên là có sự giao thoa văn hoá Kinh – Tày
1 Truyện cổ tích Nguồn gốc con khỉ giải thích điều gì?
2 Cốt truyện cổ tích Nguồn gốc con khỉ được tạo nên qua những sự kiện chính
Trang 171 Viết bài văn kể lại một truyện cổ tích Thái Nguyên mà em đã được học hoặc đọc
thêm
2 Em hãy kể lại theo sự sáng tạo của mình truyện cổ tích Nguồn gốc con khỉ
3 Ngoài truyện cổ tích về loài vật, ở Thái Nguyên còn có những loại truyện cổ tích
nào? Hãy chia sẻ với các bạn về một truyện cổ tích Thái Nguyên mà em biết
1 Sưu tầm những dị bản khác nhau của truyện Nguồn gốc con khỉ trong kho tàng
văn học dân gian của Việt Nam
2 Sưu tầm một số truyện cổ tích Thái Nguyên viết về loài vật được lưu truyền ở địa phương em
3 Ở Thái Nguyên, có khu vực nào có loài khỉ sinh sống không? Em hãy kể về những
điều em biết qua sưu tầm tìm hiểu thực tế ở địa phương Từ đó em có suy nghĩ gì
về việc bảo tồn loài khỉ trong tự nhiên?
ĐỌC THÊM
Sinh hoạt văn hoá của người Tày
(Nguồn: vov.vn)
Trang 18TUA TỀNH TUA NHÌ7
(Truyện cổ tích Tày – Nùng, Định Hoá, Thái nguyên)
Ngày xưa, đời già đời cũ có con trâu còn biết ngồi thì ở bản nọ có một gia đình sinh được hai người con gái Người chị là Tua Tềnh, người em là Tua Nhì Mẹ Tua Tềnh mất sớm, Tềnh phải ở với dì ghẻ, người vợ kế của bố Tềnh
Người vợ kế rất độc ác Mụ bắt Tềnh làm việc suốt ngày không một lúc nào công việc dời chân tay Tềnh Chăn trâu, lấy củi, gánh nước, xay thóc, giã gạo, nấu cám lợn, chăn gà vịt cùng các việc không tên khác trong nhà đều một tay Tềnh lo toan Trong khi
đó thì con Nhì suốt ngày rong chơi, ăn ngon mặc đẹp, người béo múp Tềnh thì rách rưới như vây cá cờ, người gầy đét vì chẳng bữa nào được no bụng Nhưng lạ thay Tềnh càng lớn càng xinh đẹp, còn Nhì càng lớn càng béo núc ních như con vịt bầu, đi đến đâu lăn như một cái cối đất Nhì quen ăn ngon mặc đẹp lại được mẹ chiều chuộng, nên khinh người ra mặt vì thế cả mường ai cũng ghét Nhì Trái lại Tềnh là con người quen lao động, gặp ai dù mình đang bận trăm công nghìn việc thì Tềnh cũng sẵn sàng giúp, gặp người già người yếu gánh nặng giữa đường thì Tềnh sẵn sàng đỡ cho họ một vai nếu Tềnh đi không… Vì thế cả mường ai cũng thương yêu Tềnh!
Còn Nhì càng lớn càng xấu nết, hắn cũng bắt chước mẹ mắng Tềnh như bà chủ với kẻ ở trong nhà Người bố tuy thương Tềnh nhưng lại sợ vợ nên chẳng dám bênh Tềnh
Một năm vào đầu xuân nhà vua mở hội thi tài, thi sắc đẹp của những người con gái trong cả nước để cho hoàng tử kén vợ Giữa mùa xuân trăm hoa trên cành đang khoe trăm hồng nghìn tía, nhà vua mở hội Người người trẩy hội áo quần trăm màu rực
rỡ cùng ngàn hoa đang khoe sắc thắm xuân sang, nhất là những cô gái có tài sắc thì càng ăn mặc đẹp hơn: Họ ngồi trong kiệu hồng hay trong những chiếc võng đào Áo quần của các cô gái ấy rực rỡ như những nàng tiên trên trời vừa mới giáng trần để dự hội Mẹ con nhà Nhì cũng đua nhau sắm sửa hàng tháng để đi dự hội thi sắc thi tài Mụ cho Nhì ăn mặc như một bà hoàng hậu: áo vóc, quần nhiễu… khắp người đeo đầy những vàng bạc, ngọc ngà…
típ giống với truyện cổ tích Tấm Cám của người Kinh, một trong những câu chuyện tiêu biểu cho loại truyện cổ tích thần kì Việt Nam và cũng là loại truyện quen thuộc ở nhiều nước trên thế giới như ở Thái Lan, Cam - pu - chia, Đức, Pháp, Truyện kể về cuộc đời của cô gái mồ côi bất hạnh và ước mơ chiến thắng cái
ác để giành và giữ hạnh phúc của mình.
Trang 19Đến ngày mở hội thì mẹ con Nhì không muốn cho Tềnh đi xem hội vì sợ sắc đẹp của Tềnh hơn Nhì, mụ bèn trộn một đấu đỗ với vừng và bảo Tềnh:
– Mày phải ở nhà nhặt hết chỗ đỗ và vừng này mỗi thứ riêng ra thì mới được đi dự hội, nếu không tao về thì mày chết
Tềnh sợ quá cô ngồi khóc hu hu Mấy con quạ đậu trên cành cây to đầu nhà lên tiếng mách cho Tềnh:
Cù cù, quà quà
Au xâng mà xoà
Au đống mà phắt…
Cù cù, quà quà (Quạ quạ, quà quà Đem sàng mà sàng Đem nia mà sảy Quạ quạ, quà quà…)
Nghe lũ quạ mách thế, Tềnh liền đem sàng mà sàng, đem nia mà sảy Tềnh được
đỗ ra đỗ và vừng ra vừng Tềnh chuẩn bị đi dự hội, nhưng Tềnh chẳng có quần áo đẹp
để đi hội Tềnh lại ôm mặt khóc Trong khi Tềnh đang nghẹn ngào khóc lóc thì bỗng cô nghe thấy có tiếng hỏi mình:
– Cháu làm gì mà khóc đắng, khóc cay như thế?
Tềnh ngẩng đầu lên, một bà già tóc bạc phơ đứng trước mặt, tay chống gậy Tềnh hoảng sợ nhưng nhìn kỹ thì thấy bà già rất hiền hậu Tềnh yên tâm kể lại cho bà lão nghe về tình cảnh của mình Bà lão an ủi:
– Cháu đừng khóc Cháu muốn đi dự hội để bà giúp cho
Nói rồi bà lão đưa cho Tềnh một gói nhỏ Rồi bà lão biến đâu mất Tềnh mở cái gói nhỏ ra xem: Tềnh thấy những bộ quần áo nhỏ xíu nhưng đẹp vô cùng, trong gói nhỏ còn có nón quai thao, có con ngựa, có đôi giày, xuyến khuyên… nhưng mọi thứ đều nhỏ xíu cả Tềnh bày từng thứ ra mặt đất ngắm nghía Nhưng thật kỳ lạ: khi Tềnh đặt xuống đất thì tất cả mọi thứ đều to lên như mọi thứ thật Tềnh ướm thử bộ quần áo thì thấy vừa như in… Rồi Tềnh ăn vận mọi thứ thì cũng đều vừa như in Con ngựa hồng mao rực rỡ hí vang cả mường ý như giục Tềnh: mau mau cưỡi nó để đi xem hội! Tềnh ăn vận đầy đủ như người con gái vua không bằng Tềnh nhảy lên con ngựa đã sẵn yên bạc, cương vàng đi đến kinh đô dự hội thi tài sắc
Trang 20Khi sắp vào hội, phải qua một cái cầu, chẳng may Tềnh đánh rơi một chiếc giày xuống suối Hoàng tử cưỡi ngựa đi đến cái cầu đó thì con ngựa của hoàng tử không chịu
đi mà cứ vếch đầu lên trời mà hí vang cả một vùng! Hoàng tử sai binh lính xuống suối
mò thì thấy một chiếc giày rất xinh đẹp! Hoàng tử đem giày đó về cung Tềnh đi vào hội,
ăn mặc rực rỡ và đẹp như nàng tiên thật sự, hai mẹ con Nhì vừa căm tức vừa lạ lùng nhưng không làm gì được
Giữa hội nhà vua tuyên bố:
– Người con gái tài giỏi trước hết phải biết dệt vải Dệt nhiều và đẹp Hẹn ngày mai ai mà có đủ vải lợp một cái nhà lớn thì ta sẽ kén làm con dâu của ta
Những cô gái có sắc đẹp lại khéo dệt vải – vải được tích sẵn hàng mấy rương thì thi nhau mang vải đến hội để dựng nhà
Sắc đẹp thì Tềnh vào loại nhất, nhưng Tềnh chẳng có một tấm vải nào cả, nên Tềnh lại ngồi mà khóc… Bà già lại hiện ra trước mặt Tềnh và đưa cho Tềnh một cái dây nhỏ Tềnh phàn nàn: “Cháu cần hàng vạn sải tay vải cơ, một cái túi nhỏ tí thế này thì chẳng làm được gì đâu…” Tềnh nói chưa dứt thì bà lão nói:
– Con! Ta là mẹ của con Ta từ ngày về với tổ tiên thì không ngày nào là không ở cạnh con Mọi nỗi khổ cực của con ta biết hết Nhưng chưa đến lúc ta giúp con…Con hãy nghe lời mẹ, trong cái túi này đã có đủ cột kèo chạm trổ… Bà lão chỉ nói thế và biến mất
Ngày hôm sau, những người con gái có sắc đẹp đều thuê hàng nghìn thợ đến hội
để dựng nhà và lợp bằng vải Mẹ con Nhì cũng mang thợ và vải vóc đến hội để dựng nhà Tềnh cũng đến chiếm một chỗ để dựng nhà theo yêu cầu của nhà vua Mẹ con con Nhì nhìn thấy Tềnh thì bĩu môi khinh bỉ: “Bà chúa còn chẳng ra gì, huống hồ sâu bọ” (the đeng giảng pần – lọi là mèng rừn)
Hàng trăm ngôi nhà của hàng trăm cô gái đã dựng xong, với hàng trăm nghìn thợ tấp nập Còn Tềnh thì thui thủi một mình lắp dựng một cái nhà chỉ nhỏ xíu bằng cái hòm đựng quần áo!
Ba hồi trống lớn chấm dứt việc thi dựng nhà nổi lên vang vọng khắp vách đá thì cái nhà nhỏ xíu của Tềnh cũng lớn lên vùn vụt theo nhịp trống của nhà vua Tiếng trống vừa dứt thì cái nhà của Tềnh cũng lớn lên thành một toà lâu đài với một mái vải trăm ngàn màu làm quáng mắt tất cả mọi người đứng xem Vua chấm cho Tềnh được giải nhất!
Cuộc thi thứ hai xem ra có vẻ dễ nhưng thật oái oăm Nhà vua mắc võng đào vào đúng chỗ giọt gianh của cái lâu đài của Tềnh và ra lệnh: Cô nào trèo lên mái nhà lăn
Trang 21xuống, mà lăn trúng võng đào, sau đó lại đi vào chiếc giày của hoàng tử mà vừa như in thì người đó sẽ chính thức làm vợ hoàng tử!
Tất cả các cô gái trong cuộc thi đều lần lượt trèo lên mái nhà và lăn xuống võng đào của nhà vua Rất nhiều cô lăn ra ngoài võng nhưng cũng có cô sắp rơi vào võng thì cái võng của vua lại tự nó đung đưa tránh hết, không một cô gái nào lăn trúng vào võng
cả
Tềnh là người lăn cuối cùng Tềnh lăn trúng võng đào nhà vua Sau đó hoàng tử đích thân mang chiếc giày hoàng tử tìm thấy ở dưới suối Tềnh ướm thử Tềnh đi chiếc giày ấy vừa như in lại rất giống chiếc giày kia của Tềnh Hoàng tử cùng nhà vua rước Tềnh về cung và cưới linh đình đến nửa tháng
Sau khi cưới xong được ít lâu thì nhà vua lâm bệnh và mất Hoàng tử lên ngôi thay vua cha, Tềnh trở thành hoàng hậu Hoàng hậu đẻ được một đứa con trai Cuộc sống ở kinh đô với địa vị hoàng hậu không làm cho Tềnh quên ngày giỗ mẹ Tềnh xin phép nhà vua về quê để dự giỗ mẹ Về đến nhà hai mẹ con Nhì giả vờ đón tiếp Tềnh ngon ngọt
Mụ dì ghẻ nói trong khi đang cúng giỗ mẹ của Tềnh:
– Dì nghe nói ngày còn sống mẹ của con hay ăn cam Con hãy chịu khó trèo lên cây cam bên bờ ao lấy vài quả cúng mẹ Tềnh nghe thấy phải Mùa này những cây cam xung quanh bờ ao nhà Tềnh sai quả, trĩu cành những quả cam vàng mọng lúc lỉu rủ xuống mặt ao Nhìn những cây cam Tềnh càng nhớ đến mẹ Vừa trẩy cam vừa thấy vui vui trong lòng vì Tềnh nghĩ rằng: mẹ mình sẽ được ăn cam ngon lành từ chính tay mình trẩy cho mẹ! Trong khi Tềnh đang say sưa trẩy cam thì nghe ở dưới gốc mụ dì ghẻ đang chặt gốc cam
– Dì ơi! Dì làm gì ở dưới gốc cây đấy! Tềnh hỏi vọng xuống
– Không biết kiến ở đâu đến nhiều vô kể, dì đuổi kiến hộ cho con đấy mà
Cây cam đổ xuống bờ ao Tềnh chết dưới ao sâu Mụ dì ghẻ lột quần áo của Tềnh cho Nhì mặc rồi mụ đưa con Nhì vào kinh đô thay Tềnh Nhì vào đến cung, con của Tềnh lon ton chạy ra đón mẹ, nhưng nhận ra không phải mẹ của nó, nó kêu lên:
(Sửa khoá pần sửa khoá mé Khen kha pần ké cần giau) Quần áo là quần áo của mẹ Chân tay lại chân tay kẻ ác kẻ gian!
Hoàng tử cũng nhận ra Nhì không phải là vợ của mình, chàng buồn, nhớ vợ vô ngần, suốt ngày hoàng tử hết ra lại vào trong cung, hết ngắm thứ này rồi lại ngắm thứ khác của vợ Nhớ vợ quá một hôm hoàng tử lang thang khắp bản mường mong tìm
Trang 22thấy vợ Khi đi qua bờ ao nhà Tềnh, nơi mà Tềnh đã bị chết, hoàng tử thấy một bông hoa giống như một bông hoa sen nhưng đẹp hơn nhiều Bông hoa nổi rực rỡ trên mặt nước Hoàng tử thấy đẹp quá, đứng lại ngắm bông hoa rất lâu Bỗng bông hoa cất tiếng nói:
(Ơi cần khéc lạ quá tàng Cần khéc làng quá lò Báo ké nhằng xuôn xỏ xa mìa?
Báo đếch nhằng dàm dè xe mẻ bấu nỏ?)
“Ơi người khách lạ qua đường Người khách sang ngang lối Trai lớn có len lỏi tìm vợ?
Trai nhỏ có khóc nhè tìm mẹ?”
Hoàng tử lội xuống ao vớt bông hoa biết nói đem về cung Ngày đêm hai bố con nâng niu bông hoa đó trên tay mà ngắm nghía mà thơm mãi lấy hương không bao giờ chán Thật lạ thay bông hoa không cành bám, không có gốc ở đất nhưng bông hoa ấy
cứ ngày càng toả hương và khoe sắc Sắc hoa rực rỡ như ánh hào quang Bông hoa càng nằm trên tay hoàng tử lâu ngày càng toả hương sắc ngào ngạt, càng rực rỡ
Thấy nhà vua chỉ yêu quí bông hoa mà chẳng chú ý gì đến mình, Nhì tức lắm Nhân lúc nhà vua có việc bàn cùng quần thần, con Nhì đem bông hoa ấy vò nát và ném xuống chân dậu Một con gà trống thấy liền nhặt ăn hết những vụn hoa Con gà trống sau khi ăn hết bông hoa ấy tự nhiên cất tiếng gáy ngon ngọt lạ thường Và lông con gà trống sặc sỡ chưa bao giờ thấy Về nhà thấy mất bông hoa quí, nhà vua buồn vô hạn, nhưng lại thấy con gà trống của mình tự nhiên trở nên rực rỡ, nhà vua lại bắt con gà trống lên nhà Cũng thật là lạ, khi hoàng tử định nhốt con gà trống vào cái lồng sơn son thiếp vàng thì gà trống cất tiếng gáy và cất thành lời:
(Ọc ó ó…
Dá au xúng mà to Khỏi chắc lo, chắc lẹo)
Ò ó o…
Đừng đem lồng mà nhốt Tôi có chước tôi lo…
Nhà vua liền thả con gà trống ra Gà trống không chạy mà lại quanh quẩn với nhà vua và đứa con Lâu lâu gà trống lại cất tiếng gáy ngon ngọt cho hai bố con nghe Và xoè cánh xoè lông rực rỡ ra múa rất đẹp cho hai bố con nhà vua xem Hai bố con nhà
Trang 23vua lại say mê với con gà trống Thấy vậy Nhì giận lắm, nhưng không biết làm thế nào Một hôm nhân nhà vua đi vắng, Nhì đem gà trống thịt ăn Nhì đưa cho đứa con của Tềnh hai cái coòng (đùi gà), nhưng đứa con của Tềnh không ăn Chú bé lén đem hai cái đùi gà chôn đằng sau nhà Nhà vua thấy mất gà buồn như mất hồn, câm như trâu đã ăn mất lưỡi! Nhưng chẳng bao lâu từ chỗ chôn hai cái đùi gà liền mọc lên hai cây trúc xinh đẹp lạ thường Hai cây trúc mập mạp, lá cây trúc trăm màu Hai bố con nhà vua ngày ngày ra đây chăm nom cây trúc và đem võng đào ra mắc ở hai cây trúc suốt ngày Từ những cành lá trăm màu của hai cây trúc phát ra tiếng nhị êm ái suốt ngày ru hai bố con nhà vua ngủ Từ cành lá cây trúc làn gió mát rượi phe phẩy mơn man trên da thịt vua Vua ngủ say và thấy mình sảng khoái vô cùng Vì thấy nhà vua yêu hai cây trúc gấp bội; ngày ngày quyến luyến với hai cây trúc không thèm ngó ngàng gì đến con Nhì cả, con Nhì lại càng tức điên người Nhì trộm chặt hai cây trúc đó đem vào nhà làm sào căng màn Nhưng lạ khi con Nhì đi trong nhà, qua lối nào cái sào màn cũng đâm vào mắt Nhì bực quá, đem hai cái sào màn đun bếp Hai cây trúc cháy không ra cháy mà chỉ khói um
cả nhà Nhì đi đến đâu khói của cây trúc đang đun ở trong bếp cũng ùa theo và phả vào mắt Nhì, Nhì không mở được mắt Ở cạnh cung vua, có một bà cụ goá nghèo khổ Cụ đã già có ít ruộng phải nhờ người làm Hôm ấy bà cụ nhờ người đến gặt giúp, nên bà cụ phải làm cơm cho những người đến giúp gặt ăn Nhưng không có lửa để nhóm bếp, những người nhà xung quanh hôm ấy cũng tự nhiên tắt bếp hết Bà cụ mới đi vào cung vua xin lửa Nhân có người xin lửa, Nhì đem hai cây trúc cháy dở ấy đưa cho bà cụ và nhổ nước bọt theo sau bà cụ mà nói rằng:
– Phì! Của ma bắt quỷ tha hãy ra khỏi nhà tao!
– (Phỉ! Của rại pây quây, của đây mà xẩư!)
Bà goá một thân một mình đang lom khom nấu nước, người đi làm hộ đã sắp về thế mà bếp lại nhập nhạp nhèm nhèm! Bà cụ cúi xuống thổi Ngọn lửa từ hai cây trúc bùng cháy sáng chói cả mắt Rồi một gióng trúc nổ to như người ta đốt pháo Từ trong gióng trúc, theo tiếng nổ có một cô gái đẹp như tiên bật ra ngồi cạnh bếp Cô tiên kêu: – Ôi nóng quá! Nóng quá Cụ làm ơn quạt hộ cháu!
Bà cụ tuy rất bận nhưng cũng phải dừng tay quạt cho nàng tiên Trúc Bà goá quạt mãi, quạt mãi nhưng nàng tiên Trúc vẫn kêu nóng Bà quạt đã lâu và mỏi tay bà già bảo: – Nàng cố chịu khó nhá, già này còn bận nấu cơm cho người đi làm giúp sắp về đến nơi rồi!
– Già ơi, già cứ quạt cho cháu, tí nữa cháu mát, cháu sẽ giúp bà Thấy nàng tiên Trúc kêu thảm thiết quá bà đành quạt cho nàng tiên Trúc Bà già quạt mãi quạt mãi cho
Trang 24đến khi chiều tối, mọi người đã gánh thóc đầy về nhà, nàng tiên Trúc mới giúp bà già được Nàng tiên bảo:
– Già không phải làm gì cả Già cứ xếp những bát không lên mâm, rồi lấy lá chuối che lại, tí nữa tự khác có cơm cho khách ăn!
Nàng tiên vừa nói vừa giúp bà làm, chỉ trong nháy mắt là xong
– Bây giờ cháu vào buồng, bà không được nói cho ai biết rằng có cháu giúp nhé! Nói rồi nàng tiên đi vào trong buồng Khách khứa đi làm về rửa chân tay xong, họ thấy mâm xếp đầy đầy Khách vào ăn, mọi người mở những tấm lá chuối lớn che trên mặt mâm lên thì thấy toàn thịt và rất nhiều món ăn ngon lành… Thật không thiếu một thứ
gì Ngoài ra còn hàng trăm thức ăn lạ mà người trần chưa được nếm bao giờ
Từ đấy nàng tiên Trúc ở luôn với bà cụ, ngày ngày nàng tiên dệt vải, dệt lụa cho
bà cụ đi bán Hai bà cháu sống với nhau thật hạnh phúc, nhưng lòng nàng tên Trúc thì không lúc nào nguôi nhớ chồng Một hôm nàng tự tay làm thức ăn, đủ 120 vị ngon ngọt Nàng nhờ bà cụ mời nhà vua đến dự tiệc, nhưng bà goá không dám vì già nghèo khó lâu nay… Bà già thấy mình không xứng tiếp nhà vua Nhưng vì nàng tiên Trúc nài mãi, nể lời nàng bà lão chống gậy đến mời nhà vua Nhà vua đang buồn nhớ vợ, nên cũng thách một câu cho bà cụ về cho xong:
– Già mời ta đến dự tiệc thì phải có lụa năm màu, vóc năm sắc trải từ cửa nhà già đến cung điện của ta thì ta mới đến
Bà già lại về nói với nàng tiên Trúc Nàng tiên trúc bèn đem hết số vóc lụa mà nàng đã dệt được từ lâu nay trải từ nhà bà già đến cung vua Nhìn những tấm vóc lụa:
“Hình như hình vợ cũ, bóng như bóng vợ ta” (Bóng pây bỏng mìa hây, ngàu pần ngàu mìa cáu) Nhà vua lẩm bẩm Càng nhìn những tấm vóc lụa nhà vua càng nhớ đến vợ Để khuây khoả nhà vua đến nhà bà già dự tiệc Nhà vua đi trên những tấm lụa mà thấy mát tận tim… Nhà vua càng nhớ vợ
Nhà vua cùng bà cụ và con trai ngồi ăn tiệc Những món ăn rất lạ rất ngon, cứ giống cái hương vị của những bữa ăn mà người vợ cũ đã xào nấu cho nhà vua ăn Nhà vua hỏi gặng mãi ai đã xào những món thức ăn này Nhưng một mực bà già cứ bảo là bà làm lấy Vì nàng tiên Trúc đã dặn bà cụ: dù nhà vua có hỏi thế nào đi nữa thì cũng đừng nói là nàng nấu nướng những món thức ăn này
Đứa con vua đang cầm chiếc còng gà, định ăn thì có một con mèo ở đâu chạy đến giằng lấy trên tay và chạy tọt vào buồng Đứa bé chạy đuổi theo… Nhưng đứa bé bỗng chạy ra và reo lên:
Trang 25– Bố ơi! Bố ơi! Mẹ con ở trong buồng này này, vừa nói thằng bé vừa chỉ vào trong buồng
Nhà vua buồn vô hạn:
– Con ăn đi! Mẹ con đã chết từ lâu rồi…
Nhưng đứa bé cứ nhất nhất bảo mẹ nó còn sống và ở trong buồng Nếu phải mẹ của con thì con hãy xin mẹ con vắt sữa vào lòng bàn tay đem đây cho bố xem! Đứa bé chạy vào, lúc sau đứa bé ra, ngửa lòng bàn tay cho bố nó xem Những giọt sữa trắng ngần thoảng hương thơm Nhà vua nhìn và một giọt nước mắt nhà vua rơi vào lòng bàn tay đứa con đang đựng những giọt sữa Những giọt sữa sôi lên và càng toả hương thơm ngào ngạt Nhà vua nhận ra giọt sữa của chính vợ cũ của mình Nhà vua cất tiếng hỏi vọng vào buồng:
Xin mẹ Pụt trên trời Trình mẹ then trên cao Phải vợ ta thì ra xem mặt (Xo mẻ pụt nưa bân Chiềng mẻ then nưa uja Dừa mía câu chiềng nà chiềng gần)
Tềnh tức nàng tiên Trúc – ở trong buồng thấy lòng ngọt mọi khúc ruột Vì nàng biết rằng chồng nàng vẫn thương yêu nàng Nàng đi ra gặp chồng Hai vợ chồng bấy lâu lại gặp nhau vui mừng hơn cả cá gặp nước lũ Họ cười họ khóc với nhau rồi hai vợ chồng xin phép
bà cụ già láng giềng trở về cung
Tềnh trở về đẹp rực rỡ hơn xưa mười lần, Nhì vừa sợ vừa thèm khát được sắc đẹp như chị Nhì ngọt ngào:
– Chị Tềnh ơi chị Tềnh Chị làm sao mà được đẹp như vậy?
Thấy hai mẹ con Nhì đã độc ác với mình quá nhiều, nên Tềnh bảo:
– Em muốn đẹp như chị thì khó gì! Cứ nấu một chảo to nước sôi rồi nằm vào loỏng, bảo người khác đổ nước sôi vào đó nó bong lượt người đi thì được đẹp ngay thôi! Nhì nghe theo lời Tềnh Nhì sai lính đun nước sôi Và Nhì nằm vào trong loỏng, cho lính đổ nước sôi vào Nhì chết luộc, chết nhừ thịt nhừ xương Từ đấy Tềnh sống với chồng con trong cung vua êm ấm
(Theo Vũ Anh Tuấn và Vũ Phong sưu tầm)
Trang 26– Nghe/ xem và cho biết tên các loại hình nghệ thuật dân gian của tỉnh Thái Nguyên – Nơi em sinh sống có loại hình nghệ thuật dân gian nào trong số các loại hình nêu trên? – Em biết đến các loại hình nghệ thuật dân gian trong bối cảnh nào?
Giới thiệu các loại hình nghệ thuật dân gian tiêu biểu của tỉnh Thái Nguyên
Bảy loại hình nghệ thuật dân gian và cũng là niềm tự hào của người dân Thái Nguyên khi được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia bao gồm: múa Tắc xình của dân tộc Sán Chay xóm Đồng Tâm, xã Tức Tranh (Phú Lương); múa rối cạn Thẩm Rộc và Du Nghệ xã Bình Yên, Đồng Thịnh (Định Hoá); hát Soọng cô của người Sán Dìu xóm Tam Thái, xã Hoá Thượng (huyện Đồng Hỷ); hát Sấng Cọ của người Sán Chay huyện Phú Lương; Nghi lễ Then của người Tày, xã Lam Vỹ (Định Hoá); Nghi lễ Hét khoăn của người Nùng xã Hoà Bình, xã Văn Hán, (huyện Đồng Hỷ); Nghệ thuật khèn của người Mông (Phú Lương – Đồng Hỷ) Các loại hình nghệ thuật dân gian nói trên đã ra đời, gắn bó, lưu truyền cùng tiến trình xây dựng và phát triển của quê hương Thái Nguyên biết bao đời nay
1 Múa Tắc xình của dân tộc Sán Chay xóm Đồng Tâm, xã Tức Tranh (Phú Lương)
Múa Tắc xình là một điệu múa tập thể, gắn với tiến trình 900 năm hình thành và phát triển của người Sán Chay ở Thái Nguyên Người Sán Chay múa Tắc xình trong lễ hội cầu
MỘT SỐ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT DÂN GIAN
TIÊU BIỂU CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN
2
● Kể tên được các làn điệu dân ca, các điệu múa dân gian và nhạc cụ tiêu biểu của các dân tộc tỉnh Thái Nguyên
● Thực hành được làn điệu dân ca hoặc điệu múa dân gian ở địa phương em
● Nêu được trách nhiệm của học sinh trong việc gìn giữ và phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống của Thái Nguyên
Sau bài học này, học sinh sẽ:
Trang 27mùa với các động tác múa và đạo cụ được mô phỏng những hoạt động lao động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày như: phát nương, đuổi thú, tra hạt, bắt cá,…
Điệu múa này có tiết tấu đơn giản là tiếng “tắc, xình” phát ra từ những nhạc cụ thô sơ từ tre, nứa,… và những động tác múa như điệu mài dao, phát nương, dọn rẫy, hái lượm,… kết hợp với tiếng trống đất và các nhạc cụ bổ trợ Trang phục biểu diễn không
hề cầu kì mà sử dụng quần áo thường ngày Múa Tắc xình phản ánh chân thực cuộc sống lao động của người dân nên dễ thực hành, dễ nhớ và có tính cộng đồng cao
Hình 1 Người Sán Chay múa Tắc xình trong lễ hội cầu mùa
2 Hát Soọng cô của người Sán Dìu xã Tam Thái – Hoá Thượng (Đồng Hỷ)
Đây là hình thức hát đối đáp giao duyên của thanh niên nam nữ trong những ngày lễ tết hoặc lúc nông nhàn, trong đám cưới và trong các cuộc vui Soọng cô có ca từ mộc mạc, dân dã, thể hiện bản chất bình dị, chất phác, hồn nhiên của người nông dân nhưng vẫn có tính ước lệ, ẩn dụ, ví von Giai điệu Soọng cô chậm rãi, ngân nga, luyến láy, rất gần gũi với tiếng nói thường ngày của tộc người Sán Dìu
1 Múa Tắc xình là thực hành trình diễn dân gian của dân tộc nào?
2 Múa Tắc xình ra đời cách đây khoảng thời gian bao lâu?
3 Múa Tắc xình được thực hành trong những lễ hội nào?
4 Em hãy mô tả động tác, các đạo cụ và không gian trình diễn điệu múa Tắc
xình Nếu có thể, em hãy thực hành một vài động tác múa Tắc xình
Trang 28Hát Soọng cô là sinh hoạt văn hoá cộng đồng với hình thức diễn xướng tập thể Hình thức hát này đã mang lại cho đồng bào Sán Dìu niềm vui trong cuộc sống, sự hăng say trong lao động sản xuất, tạo nên tình cảm gắn bó với quê hương, làng bản
Hình 2 Hát Soọng Cô gắn liền với đời sống lao động sản xuất của người Sán Dìu
3 Hát Sấng Cọ của người Sán Chay huyện Phú Lương
Hát Sấng Cọ trong đời sống của người Sán Chay bao gồm 3 thể loại chính: hát nghi
lễ, hát ví mừng và hát giao duyên Lời hát Sấng Cọ mộc mạc, tự nhiên, đơn giản, dễ hiểu, giúp con người lấy lại cân bằng trong cuộc sống
Không gian diễn xướng thể hiện sự hoà đồng của con người với thiên nhiên, với cộng đồng, mang đậm nét phong tục, tập quán và bản sắc riêng của người Sán Chay ở Phú Lương
1 Hát Soọng cô là diễn xướng dân gian của dân tộc nào ở tỉnh Thái Nguyên?
2 Hát Soọng cô là loại hình hát gì?
3 Hãy cho biết đặc điểm chung về giai điệu của hát Soọng cô
4 Tại sao nói hát Soọng cô là sinh hoạt văn hoá cộng đồng?
5 Nếu có thể, em cùng bạn hãy hát một làn điệu Soọng cô
Trang 29Hình 3 Hát Sấng Cọ mang đậm nét phong tục, tập quán
và bản sắc riêng của người Sán Chay ở Phú Lương
4 Nghi lễ Then của người Tày huyện Định Hoá
Then là loại hình nghệ thuật tổng hợp của người Tày, Nùng bao gồm các yếu tố: văn học, âm nhạc, múa, mĩ thuật Then được chia làm nhiều loại: Then cầu an, tổ chức vào đầu năm để cầu sự yên bình may mắn cho một năm mới; Then chữa bệnh, tổ chức khi nhà có người ốm; Then cầu mùa là một nghi lễ nhằm cầu xin các vị thần thiên nhiên cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt,… Ngoài ra còn có Then chúc tụng, Then cấp sắc,…
Tính (tính: tiếng Tày có nghĩa là đàn) là nhạc cụ đặc trưng của người Tày ở Cao Bằng và người Tày, Nùng ở Thái Nguyên
– Tính Then là nhạc cụ họ dây được sử dụng để đệm trong các nghi lễ Then Tính
có cấu tạo đơn giản bao gồm các bộ phận như:
+ Cần đàn làm bằng gỗ
1 Hát Sấng Cọ là diễn xướng dân gian của dân tộc nào ở tỉnh Thái Nguyên?
2 Hát Sấng cọ gồm mấy thể loại?
3 Hãy cho biết đặc điểm về không gian diễn xướng hát Sấng Cọ
4 Nếu có thể, em hãy hát một điệu Sấng Cọ
Trang 30+ Bầu đàn làm bằng quả bầu khô Bầu đàn có độ tròn và dày đều thì tiếng đàn mới vang và chuẩn
+ Dây đàn làm bằng sợi tơ tằm vuốt sáp ong nhẵn, trơn, cho âm thanh vang gọn, thường có 2 – 3 dây
+ Ngựa đàn là mảnh gỗ hoặc tre nhỏ có khắc cho dây lọt xuống
– Phương pháp tạo âm thanh của tính là dùng ngón tay trỏ của bàn tay phải tác động vào dây đàn theo hai chiều dây rung lên Tính có nhiều loại, kích cỡ to, nhỏ khác nhau Loại nhỏ có âm thanh cao, tươi sáng phù hợp với giọng nữ cao; loại trung bình phù hợp với nhiều người; loại to, âm thanh khoẻ, phù hợp với giọng trầm, ấm
– Tính Then có nhiều bài bản, có thể đệm cho hát (giai điệu của đàn đánh đúng theo giai điệu của người hát), hoặc có thay đổi giai điệu ở các đoạn ngắt, ngưng nghỉ của giọng hát Tính Then có thể đệm cho múa (xoè Then), hoà với xóc nhạc như múa chầu, múa quạt, cũng có thể chính ông bà Then (múa thiêng) vừa đệm vừa xóc nhạc Đàn tính có mặt trong tất cả những sinh hoạt văn hoá tinh thần của đồng bào Tày Nó như linh hồn trong nghệ thuật dân ca dân vũ gắn với nghi lễ Then Đàn tính và hát Then
đi theo người Tày, Nùng từ khi sinh ra đến khi giã từ cõi đời
Hình 4 Đàn tính – hát Then là tài sản tinh thần quan trọng
của người Tày – Nùng Thái Nguyên
Trang 315 Nghệ thuật khèn của người Mông (Phú Lương – Đồng Hỷ)
Khèn là loại nhạc cụ lâu đời, giữ một vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt văn hoá cũng như đời sống tâm linh của đồng bào Mông ở Thái Nguyên và đồng bào Mông
ở nhiều địa phương khác trên cả nước
Cây khèn của dân tộc Mông (Phú Lương – Đồng Hỷ) có 6 ống hơi, một ống to và năm ống nhỏ khác dài ngắn khác nhau được bó lại chắc chắn và xuyên qua bầu khèn Khi thổi và hít hơi, các ống đều vang nên các âm (đa âm) khi thì dìu dặt vang xa, khi thì trầm ấm như tiếng lòng với biểu cảm sâu sắc Khèn được sử dụng khá rộng rãi ở môi trường sinh hoạt văn hoá của người Mông, từ vui chơi, lễ hội, cho tới việc tổ chức đám
giỗ, đám cưới hay mừng nhà mới
Hình 5 Múa khèn của người Mông được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia
1 Then là nghi lễ của dân tộc nào ở Thái Nguyên?
2 Tại sao nói Then là loại hình nghệ thuật tổng hợp?
3 Hãy kể tên các loại Then
4 Qua tìm hiểu nội dung ở sách giáo khoa, hình ảnh minh hoạ và các nguồn tư
liệu khác, em hãy cho biết những bộ phận cơ bản và cơ chế tạo ra âm thanh của tính Then
5 Tính có vai trò như thế nào trong các nghi thức Then và đời sống văn hoá của
đồng bào Tày – Nùng?
Trang 32Hình 6 Khèn của người Mông ở Thái Nguyên
Lựa chọn một trong những nội dung dưới đây để luyện tập hát, múa:
1 Múa Tắc xình
2 Luyện tập một trong hai điệu hát dưới đây:
+ Hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Tam Thái – Hoá Thượng (Đồng Hỷ )
+ Hát Sấng cọ của người Sán Chay ở huyện Phú Lương
Lựa chọn và thực hiện một trong hai nội dung sau:
1 Lập sơ đồ/ thiết kế trên Powerpoint và trình bày những nét đặc trưng nhất của các
loại hình nghệ thuật dân gian Thái Nguyên mà em đã được học
2 Thực hành trình diễn nội dung em đã được học, có thể kết hợp với nhóm hoặc
song ca
1 Khèn là nhạc cụ của dân tộc nào ở tỉnh Thái Nguyên?
2 Hãy quan sát trên hình ảnh minh hoạ và cho biết cấu tạo, cơ chế tạo ra âm
thanh của khèn Mông
3 Tại sao nói khèn là nhạc cụ đa âm?
4 Hãy mô tả không gian trình diễn của khèn trong đời sống văn hoá của
người Mông
5 Nếu có thể, em hãy thực hành thổi Khèn Mông
Trang 33Em hãy quan sát những hình ảnh sau đây và cho biết:
– Màu sắc chủ đạo và các chi nào tiết nào trên bộ trang phục khiến cho em ấn tượng? – Trang phục nam giới và nữ giới khác nhau như thế nào?
– Đây là trang phục trong sinh hoạt đời thường hay dịp lễ đặc biệt nào?
TRANG PHỤC CÁC DÂN TỘC TỈNH THÁI NGUYÊN
Trang 34(Nguồn: VOV)
1 Một số kiểu trang phục của người dân tộc ở Thái Nguyên
Trang phục truyền thống của người dân tộc ở Thái Nguyên vẫn lưu giữ được cách làm thủ công Kiểu dáng, hoa văn đa dạng và màu sắc phong phú, phản ánh những nét văn hoá đặc trưng riêng Áo quần của nam giới thường đơn giản, ít thêu hoa văn Nữ giới thường tô điểm cho bộ trang phục của mình thêm phần độc đáo, sinh động
Trang phục người Tày
(Nguồn: Tài liệu tỉnh Thái Nguyên)
Bộ trang phục của cả nam và nữ
đều khá đơn giản, hầu như không có chi
tiết trang trí, thường được may bằng vải
Trang phục người Nùng
(Nguồn: Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên)
Bộ trang phục của nữ giới gồm có áo ngũ thân mặc cùng quần ống rộng bằng vải nhuộm chàm, ít hoa văn trang trí
Trang 35bông nhuộm chàm Nữ giới mặc áo dài
quá đầu gối, cài khuy cạnh sườn cùng
với quần hoặc váy cùng màu Khăn có
hai loại là khăn đội đầu và khăn vấn tóc
Trang sức đi kèm là vòng bạc, xà tích và
dây dao
Thắt lưng là dây vải tua rua nhiều màu sắc Khăn trùm đầu hình vuông, kiểu buộc khăn tương tự như khăn mỏ quạ Nam giới mặc áo xẻ ngực, cổ tròn, cài cúc vải
Trang phục người Dao Lô Gang
(Nguồn: Truyền hình Thái Nguyên)
Trang phục người Dao Lô Gang nổi
bật với những hoạ tiết trang trí sinh
động, trên áo các chi tiết như nẹp cổ,
viền vạt áo, viền tay áo đều được thêu tỉ
mỉ Yếm đeo cổ thường đính hình ngôi
sao làm bằng bạc, kết hợp cùng quần
màu chàm, may ống rộng Chiếc khăn
đội đầu gồm nhiều lớp khăn vuông
chồng lên nhau Xà cạp cũng được thêu
hoạ tiết đẹp mắt
Trang phục người Dao Quần Chẹt
(Nguồn: Làng Dao Quân Chu)
Trang phục bao gồm áo may bằng vải bông nhuộm chàm may kiểu xẻ ngực, không có khuy, cổ khâu bằng những đường chỉ trắng nổi bật Điểm nhấn là chiếc yếm hình ngũ giác đeo trên cổ, thêu thùa nhiều hoa văn trang trí Quần may ống nhỏ, kết hợp với xà cạp có màu rực rỡ, dài tới bắp chân Khăn đội đầu thêu hoa văn, đính tua trang trí hoặc bông len đỏ
Trang phục người Sán Chỉ
(Nguồn: Tài liệu Thái Nguyên)
Trang 36Bộ trang phục ít có hoa văn trang trí, làm nổi bật màu sắc của vải nhuộm chàm Phụ nữ mặc áo ngoài dài tới ngang bắp chân, may kiểu xẻ tà, vạt khâu chéo sang phải,
áo trong thường có màu sáng Các mép áo may viền màu đỏ, kết hợp cùng chân váy ngang chiều dài áo Thắt lưng là những dải lụa màu xanh, đỏ, kết hợp với nhau tạo vẻ bắt mắt Phụ kiện là khăn đội đầu và các loại trang sức như vòng cổ, vòng tay bằng bạc
Trang phục người Hmông Trắng
(Nguồn: Báo Thái Nguyên)
Phụ nữ người Hmông Trắng mặc trang phục gồm áo kết hợp với váy Áo ngắn, may xẻ ngực, nẹp áo chạy dọc theo hai vai xuống theo hình chữ V bằng vải sáng màu, nối với miếng vải sau lưng Thân áo có nhiều màu sắc, hoa văn, tay áo được ghép lại bằng nhiều loại vải khác nhau Chân váy xếp li, thường là màu trắng, không có chi tiết trang trí Ngoài ra, còn có tạp dề trước và sau váy Khăn đội đầu dài quấn thành nhiều vòng, mép khăn được giấu vào phía trong
1 Em có nhận xét gì về bộ trang phục truyền thống của đồng bào người Tày ở
Thái Nguyên?
2 Em hãy cho biết những nét tương đồng và khác biệt trong trang phục của
người Dao Lô Gang và người Dao Quần Chẹt ở Thái Nguyên
3 Bộ trang phục của người Sán Chỉ ở Thái Nguyên bao gồm những gì? Em hãy
mô tả từng bộ phận của bộ trang phục đó
Trang 372 Hoa văn trên trang phục người dân tộc ở Thái Nguyên
Ngoài kiểu dáng, màu sắc của bộ trang phục, hoa văn là nét đẹp thể hiện thẩm mĩ đặc trưng của từng dân tộc Đồng bào người Dao, người Hmông ở Thái Nguyên vẫn duy trì truyền thống trang trí cho trang phục bằng các hoa văn độc đáo và gắn bó mật thiết với đời sống của dân tộc mình Có nhiều loại hoa văn khác nhau nhưng phần lớn được lấy cảm hứng từ những hình tượng gần gũi từ cuộc sống xung quanh
Các dạng hoa văn cơ bản là:
– Hoa văn hình kỉ hà được cách điệu từ những hình học đơn giản như hình vuông, hình thoi, hình tròn,… Các hoa văn này được lặp đi lặp lại thành đường diềm trang trí trên những vị trí khác nhau như tà áo, vạt áo, chân váy Các hoa văn như hình răng cưa,
ô trám hay hình xoắn ốc xuất hiện nhiều trên trang phục của người Hmông
Hoa văn hình kỉ hà trên trang phục của người Hmông
(Nguồn: Trần Hoàng Ngân)
– Hoa văn hiện thực được cách điệu, mô phỏng từ hình dáng của các loài động vật, thực vật gần gũi với đời sống của người dân tộc Chẳng hạn hoa văn cây cỏ, hoa lá trên trang phục người Dao Lô Gang được sáng tạo bởi trí tưởng tượng phong phú,
Em có biết?
Trước đây, mỗi ngôi nhà của người dân tộc Nùng ở Thái Nguyên đều có bộ khung dệt vải để người phụ nữ có thể tự tay làm ra những bộ trang phục đòi hỏi sự khéo léo, kì công Các công đoạn tạo ra tấm vải là cán bông, bật bông, xe sợi và dệt vải Tấm vải trắng được nhuộm bằng nước lá chàm nhiều lần cho đến khi có được màu sắc mong muốn
Trang 38không theo quy tắc nào Hoa văn hình con chó thường xuyên được sử dụng do gắn liền với câu chuyện lịch sử của người Dao Quần Chẹt
Hoa văn hình con vật, cây cỏ trên trang phục của người Dao
(Nguồn: Trần Hoàng Ngân)
Hoa văn trên trang phục người Dao Quần Chẹt
(Nguồn: by–isa.com)
Trang 39Quan sát các hình ảnh dưới đây và cho biết:
1 Trên mỗi bức ảnh là đồng bào người dân tộc nào ở Thái Nguyên?
2 Nêu những điểm tương đồng và khác biệt trong kiểu dáng và hoa văn trang trí
trên hai bộ trang phục
3 Hãy giới thiệu (khoảng 5–7 câu) về kiểu dáng, màu sắc, hoa văn trên trang phục
truyền thống của dân tộc em hoặc trang phục dân tộc mà em yêu thích
(Nguồn: Trần Khải) (Nguồn: Truyền hình Thái Nguyên)
Em có biết?
Người Dao chủ yếu dùng kĩ thuật thêu thủ công để tạo ra hoa văn trên bộ trang phục của mình Các mẫu thêu đều được truyền lại từ thế hệ trước với những hoa văn gắn bó với đời sống đồng bào dân tộc Dao từ lâu đời Những sợi len nhiều màu sắc rực rỡ được lựa chọn để nổi bật trên nền vải chàm Kĩ thuật thêu khá đặc biệt, khi thêu ở mặt trong trang phục, các đường nét sẽ dần hiện ra ở bên ngoài Hoa văn còn được thêu trên lưng áo theo quan niệm truyền thống rằng kể cả khi cúi xuống làm nương, làm rẫy thì nhờ những hình trang trí, ông trời vẫn nhận ra đó là người Dao
1 Em hãy kể một số loại hoa văn trang trí tiêu biểu trên trang phục của các
dân tộc ít người ở Thái Nguyên
2 Em có nhận xét gì về hoa văn trang trí trên trang phục các nhóm người Dao
ở Thái Nguyên?
3 Theo em, hoa văn trang trí có vai trò như thế nào trên bộ trang phục của
đồng bào dân tộc?
Trang 40Em hãy mô tả lại bằng hình vẽ các hoa văn trang trí trên trang phục của người dân tộc ở Thái Nguyên và ứng dụng các hoạ tiết này để trong bài vẽ trang trí hình vuông, hình chữ nhật của mình
Hoa văn trên ống quần người Dao Lô Gang
(Nguồn: Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam)