Microsoft Word CD1 2 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG LẠNG SƠN T Ỉ N H LỚP8 NGÔ THẾ ANH – T[.]
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
NGÔ THẾ ANH – TRƯƠNG PHƯƠNG ANH – VŨ THỊ LAN ANH – NGUYỄN HOÀNG ĐẠO – VŨ TRÚC HÀ
Trang 2HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH
KHỞI ĐỘNG/MỞ ĐẦU
Gợi mở những vấn đề liên quan đến nội dung chủ đề,
tạo hứng thú cho học sinh tìm hiểu bài mới
để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
Hãy bảo quản, giữ gìn tài liệu này
để dành tặng các em học sinh lớp sau!
Mỗi hoạt động trong cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 8
đều được chỉ dẫn bằng một kí hiệu Thầy cô giáo sẽ hướng dẫn học sinh theo
những chỉ dẫn này Học sinh cũng có thể theo các chỉ dẫn này để tự học
Trang 3Nội dung giáo dục địa phương trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 cấp Trung học cơ sở là nội dung giáo dục bắt buộc, có vị trí tương đương các môn học khác Nội dung tài liệu chứa đựng những vấn đề cơ bản, mang tính thời sự về văn hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp của tỉnh Lạng Sơn nhằm trang bị cho học sinh những hiểu biết về nơi sinh sống; bồi dưỡng tình yêu và niềm tự hào về quê hương, gắn bó và có trách nhiệm với quê hương, cộng đồng; giáo dục sự trân trọng và
có ý thức giữ gìn truyền thống quê hương; phát huy tiềm lực và thế mạnh địa phương, vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã học để góp phần giải quyết những vấn đề của địa phương, chuẩn bị cho cuộc sống xã hội và nghề nghiệp
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 8 được biên soạn bao gồm khung
chương trình và tài liệu dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục; được thiết kế gồm 8 chủ đề thuộc 3 cụm lĩnh vực với tổng thời lượng là 35 tiết/năm học Việc biên soạn tài liệu được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục và pháp luật liên quan Nội dung, thông tin thể hiện tính khoa học, tính sư phạm cao; đồng thời bám sát mục tiêu đổi mới giáo dục, đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh tương ứng với lớp, cấp học, giúp cho giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học tích cực, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy tối đa tính tự giác, tích cực, sáng tạo của giáo viên và học sinh
Nhóm biên soạn Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 8 là các chuyên gia,
các nhà khoa học; các thầy, cô giáo là cán bộ quản lí, giáo viên cốt cán cấp Trung học cơ sở, Trung học phổ thông của tỉnh Lạng Sơn, giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn Tài liệu đã nhận được sự góp ý của các cơ quan, các nhà khoa học, cán bộ quản lí giáo dục, giáo viên cấp Trung học cơ sở trong và ngoài tỉnh thông qua các hội nghị, hội thảo; đồng thời đã được tổ chức dạy thực nghiệm tại trường Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh, được các thầy, cô và học sinh đánh giá là tài liệu có tính khả thi và thực tiễn cao Tài liệu đã được Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn thẩm định và Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt Đây là tài liệu giáo dục địa phương chính thức được sử dụng trong tất cả các trường Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Chúc các em học tập tốt và trải nghiệm thật vui !
Trang 4
Trang LĨNH VỰC: VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG 5
Chủ đề 1 Ẩm thực và sản vật xứ Lạng 5
Chủ đề 2 Lễ hội truyền thống của Lạng Sơn 14
Chủ đề 3 Một số ca khúc viết về quê hương Lạng Sơn 20
Chủ đề 4 Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Lạng Sơn từ nửa sau thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX 26
Chủ đề 5 Tìm hiểu bảo tàng ở Lạng Sơn 32
LĨNH VỰC: ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP 40
Chủ đề 6 Dân cư, lao động và tình hình đô thị hoá ở tỉnh Lạng Sơn 40
LĨNH VỰC: CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG 52
Chủ đề 7 An ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 52
Chủ đề 8 Bảo vệ môi trường ở Lạng Sơn 61
Trang 5Lạng Sơn được biết đến
không chỉ là vùng đất có bề dày
truyền thống lịch sử, văn hoá,
nhiều danh lam thắng cảnh nổi
tiếng mà vùng đất Xứ Lạng còn
được biết đến là nơi có văn hoá
ẩm thực nổi tiếng, hấp dẫn và
nhiều loại sản vật đặc sắc
Quan sát hình ảnh bên, hãy
chia sẻ những điều em biết về
món ăn đó và về một số món ăn nổi tiếng khác của Lạng Sơn
Lạng Sơn là tỉnh nằm ở phía đông bắc Việt Nam, có cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, núi non hùng vĩ, khí hậu trong lành, mát mẻ, hệ thống sông, hồ phong phú Lạng Sơn
có 7 dân tộc chính, gồm: Nùng, Tày, Kinh, Dao, Mông, Hoa, Sán Chay Đồng bào các dân tộc cư trú xen kẽ, hoà thuận, tính cố kết cộng đồng cao Đời sống kinh tế chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi, một bộ phận nhỏ buôn bán làm nghề thủ công và các
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
ẨM THỰC VÀ SẢN VẬT XỨ LẠNG
1
● Kể tên được một số món ăn, sản vật nổi tiếng của Lạng Sơn
● Biết được nguyên liệu, cách chế biến, trình bày một số món ăn của Lạng Sơn
● Thực hành giới thiệu, quảng bá được một số món ăn sản vật nổi tiếng của Lạng Sơn
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
Hình 1 Món ăn nổi tiếng của Lạng Sơn
Trang 6ngành nghề khác Đời sống văn hoá, phong tục tập quán đa dạng tạo nên bức tranh về
di sản văn hoá xứ Lạng độc đáo biểu hiện qua tiếng nói, chữ viết, trang phục, ẩm thực, kiến trúc nhà ở, văn học, nghệ thuật, tập quán sinh hoạt cộng đồng,… Trong những di sản văn hoá đó, ẩm thực là một trong những nét độc đáo, đặc sắccủa nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn
1 Món vịt quay
Vịt quay là một trong những món ăn truyền thống, đặc sản của tỉnh Lạng Sơn
Món ăn được chế biến từ thịt vịt bầu, mỡ ít, thịt dày, được chế biến kết hợp sử dụng nhiều gia vị, đúng phương pháp truyền thống để được món vịt quay có hương thơm đặc trưng, thịt ngọt, da giòn, hấp dẫn và có giá trị dinh dưỡng cao
– Chuẩn bị nguyên liệu và sơ chế:
+ Vịt nguyên con, được sơ chế (mổ, làm sạch, treo lên để ráo nước)
+ Lá mác mật tươi, quả mác mật tươi hoặc khô
+ Tương tàu choong (đạm tương)
+ Hành khô, gừng, tỏi, tiêu, muối, bột ngọt, giấm, mật ong, xì dầu
– Cách chế biến:
Vịt sau khi được sơ chế sẽ dùng ống bơm thổi cho da vịt phồng lên; dùng mật ong hoà với giấm và xoa đều lên thân con vịt Bên trong ướp tẩm gia vị gồm: lá, quả mác mật, gừng băm nhỏ, xì dầu, tương tàu choong và một số gia vị khác, rồi khâu kín lại Thả vịt vào chảo ngập dầu mỡ hoặc cho vào lò để quay đến khi chín vàng đều thì vớt
ra, chặt, xếp lên đĩa Nước và hỗn hợp gia vị bên trong được dùng làm nước chấm Hiện nay, với công nghệ hiện đại, nhiều người đã dùng lò cải tiến để quay vịt
– Yêu cầu sau chế biến và trình bày:
Món vịt quay đạt yêu cầu phải vàng đều, da giòn, thịt chín, ngọt đậm, thơm đặc trưng của lá mác mật Khi bày món, vịt quay được chặt miếng xếp vào đĩa, để phần da bên trên, điểm thêm vài lá mác mật Dùng nước gia vị trong bụng con vịt khi quay làm nước chấm hoặc chấm với xì dầu, ăn nóng
1 Kể tên những nguyên liệu chính dùng để chế biến món vịt quay Lạng Sơn
2 Nêu cách chế biến, trình bày món vịt quay Lạng Sơn
Món vịt quay mác mật Lạng Sơn được tổ
chức Kỉ lục Việt Nam xếp hạng Top 100
món ăn đặc sản của Việt Nam
Em có biết?
Trang 72 Món lợn quay
Lợn quay là món ăn được chế biến cầu kì từ thịt lợn, có giá trị dinh dưỡng cao Món lợn quay là đặc sản nổi tiếng và là món ăn không thể thiếu trong các mâm cỗ, ngày lễ, Tết của người Lạng Sơn
– Chuẩn bị nguyên liệu và sơ chế:
Chọn con lợn khoảng 30 – 40 kg, không
quá béo hoặc quá gầy để được thịt ngon
nhất Gia vị gồm: lá mác mật tươi, bột canh,
tiêu, giấm, mật ong Mổ lợn, làm sạch, xiên
đòn quay, để ráo nước, khi cạo lông chú ý
không để làm rách da lợn, vì như vậy khi quay
sẽ làm nứt, vừa không đẹp và mất đi vị ngon
của lợn
Trước khi quay, lấy các gia vị đã chuẩn bị
tẩm ướp vào trong bụng lợn và khâu kín lại
– Cách chế biến:
Quay lợn trên bếp than hoa, trong khi
quay, người quay dùng mật ong hoà với dấm
bôi khắp con lợn để có màu vàng đậm
Quay liên tục khoảng 3 – 4 giờ để lợn
chín đều, da không nứt, màu vàng đẹp
Hình 2 Món lợn quay
Lợn quay là món ăn được sử dụng phổ biến ở một số quốc gia trên thế giới Ngay cả ở In-đô-nê-xi-a là quốc gia có người dân đa số theo đạo Hồi, kiêng món thịt lợn, nhưng thịt lợn quay vẫn được một số người dân không theo đạo sử dụng, đặc biệt là người dân đảo trên Ba-li Lợn quay cũng được sử dụng nhiều ở các quốc gia như: Phi-líp-pin, Tây Ban Nha, Trung Quốc,…
Ở Việt Nam, lợn quay là món ăn phổ biến, được dùng trong các dịp lễ, Tết,
cỗ tiếp đãi khách và trong đời sống hàng ngày Lợn quay Lạng Sơn được thực khách đánh giá là thơm ngon đặc biệt
Em có biết?
Trang 8– Yêu cầu sau chế biến và trình bày:
Món lợn quay đạt yêu cầu thịt phải chín, ngọt đậm, da vàng đều, giòn không bị phồng rộp và cháy Khi quay xong, để món ăn nguội bớt thì chặt miếng thịt vừa ăn, bày lên đĩa, có thể tưới nước hỗn hợp gia vị để có được hương vị đậm đà; thêm lá mác mật lên trên và ăn nóng
Khi ăn phần bì lợn giòn và ngậy, có vị ngọt của thịt lợn quyện với hương vị đậm của các loại gia vị, hương thơm đặc trưng của lá mác mật
3 Món khau nhục
Khau nhục (tên gọi khác là khâu nhục) là món ăn được chế biến từ thịt lợn với nhiều loại gia vị, quá trình chế biến rất cầu kì Món ăn này chịu ảnh hưởng từ phong cách ẩm thực của Trung Hoa, nhưng cũng mang hương vị riêng, rất đặc trưng của ẩm thực xứ Lạng do việc sử dụng gia vị và cách chế riêng của người Lạng Sơn Món khau nhục thường được dùng phổ biến trên các mâm cỗ trong các dịp lễ, Tết
Hình 3 Món khau nhục
1 Kể tên những nguyên liệu chính dùng để chế biến món lợn quay của Lạng Sơn
2 Nêu cách chế biến, trình bày món lợn quay Lạng Sơn
Trang 9– Chuẩn bị nguyên liệu và sơ chế:
Chọn thịt ba chỉ của con lợn khoảng
70 – 80 kg, không bị béo quá, phải là thịt
ba chỉ ngon, chắc thịt, ước lượng mỗi bát
khau nhục dùng khoảng 0,5 – 0,6 kg thịt
lợn Gia vị gồm: muối, bột ngọt, giấm,
gừng, hành, tỏi, húng lìu, xì dầu, tương
tàu choong, tàu soi, tiêu kèm theo khoai
lang hoặc khoai môn
Thịt lợn được rửa sạch, chần qua nước sôi cho chín tới, làm sạch lông, để ráo nước, dùng que nhọn chọc đều khắp phần da lợn, sau đó cho miếng thịt vào ngâm trong hỗn hợp nước giấm gừng Khoai lang hoặc khoai môn được rửa sạch, gọt vỏ, thái vừa miếng, cho vào mỡ chao giòn cạnh Tàu soi muối ngâm, rửa kĩ cho đỡ mặn, thái nhỏ Trộn các loại gia vị thành hỗn hợp
– Cách chế biến:
Thịt lợn sau khi chao vàng, giòn cạnh, vớt ra thái miếng vừa ăn (thường là tám miếng nhỏ) Để hỗn hợp gia vị trong bát tô, xếp một lớp khoai lên trên, xếp thịt ba chỉ trên cùng, úp đĩa lên trên bát thịt và xếp vào nồi đun cách thuỷ khoảng 3 – 4 giờ cho thịt chín nhừ
– Yêu cầu sau chế biến và trình bày:
Món khau nhục ngon phải chín nhừ, không nát, màu vàng đậm, béo ngậy, có mùi thơm đậm đà đặc trưng của gia vị Món khau nhục ăn ngon hơn khi còn nóng
4 Một số sản vật của Lạng Sơn
a) Rau
Các loại rau ở Lạng Sơn mọc tự nhiên hoặc được trồng trên địa bàn toàn tỉnh Rau thường được trồng theo mùa Mùa đông có các loại rau: cải ngồng, cải bắp, cải thảo, rau diếp, su hào,… Mùa xuân, hè có rau bò khai, rau ngót rừng,… Nhiều món rau thành đặc sản nổi tiếng của Lạng Sơn như rau cải ngồng, rau bò khai,…
Ngoài món lợn quay, vịt quay, khau nhục, Lạng Sơn còn có nhiều món đặc sản được nhiều người ưa thích như: bánh cuốn trứng, phở chua, coóng phù (bánh trôi), khẩu sli, món thịt treo của người Dao, món xá xíu của người Hoa, món thịt chua của người Tày, Nùng,…
Em có biết?
1 Nêu những nguyên liệu và gia vị chính dùng để chế biến món khau nhục
2 Nêu cách chế biến, trình bày món khau nhục
Trang 10b) Cây hồi
Cây hồi ở Lạng Sơn được trồng chủ yếu ở các huyện Văn Quan, Bình Gia, Chi Lăng và Cao Lộc Cây hồi có thân mọc thẳng, tròn, vỏ ngoài màu nâu xám Lá hình nêm, màu lục, nhẵn, mặt dưới xanh nhạt Giòn, quả thường có 8 cánh, có quả với 7 – 10 cánh, có hình sao, hạt dẹt,… Vì vậy, nhiều người gọi quả hồi là hoa hồi Quả và lá cây hồi chứa nhiều tinh dầu
Quả hồi được tinh chế để lấy tinh dầu với màu vàng nhạt, rất thơm Dầu hồi được sử dụng làm gia vị chế biến thực phẩm và làm thuốc Tinh dầu hồi được sử dụng nhiều trong công nghệ chế biến rượu khai vị, rượu mùi, nước ngọt và bánh kẹo
Hình 5 Khu rừng hồi xã Liên Hội, huyện Văn Quan Hình 6 Lọ tinh dầu hồi
Hình 4 Rau bò khai
Trang 11c) Cây quế
Quế là cây thân gỗ lớn, được trồng nhiều ở các huyện Tràng Định, Văn Lãng, Văn Quan, Bình Gia,… dùng để chiết xuất lấy tinh dầu Cũng như tinh dầu hồi, tinh dầu quế được sử dụng phổ biến làm gia vị, sản xuất rượu, mĩ phẩm và dược liệu Các sản phẩm tinh dầu hồi, quế Lạng Sơn đã được đăng kí bảo hộ nhãn hiệu
d) Quả na
Na là cây gỗ nhỏ, được trồng nhiều ở các huyện Chi Lăng, Hữu Lũng Quả na có hình tròn, nhiều múi xếp, mỗi múi có chứa hạt có màu đen, còn gọi là "mắt na" Na Chi Lăng nổi tiếng thơm ngon, ngọt, đã trở thành thương hiệu đặc sản nổi tiếng của Lạng Sơn, được đăng kí nhãn hiệu tập thể và trở thành thương hiệu đặc sản Lạng Sơn
Hình 7 Người dân xã Đoàn Kết, huyện Tràng Định chăm sóc cây quế
Hình 8 Thu hoạch na tại huyện Chi Lăng
Trang 12e) Quả quýt
Cây quýt được trồng nhiều ở các huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Chi Lăng, Hữu Lũng, Tràng Định,… Quýt là những loại quả có múi, vỏ có chứa tinh dầu, khi chín vỏ màu vàng, cùi vàng, nhiều nước Quýt Lạng Sơn có vị ngọt dịu, thơm đặc trưng Quýt vàng Bắc Sơn đã được đăng kí nhãn hiệu tập thể và trở thành thương hiệu đặc sản Lạng Sơn
Ngoài ra, Lạng Sơn còn có các loại quả ngon khác như: cam, bưởi, mít, dứa, hồng, đào, chanh rừng,…
1 Kể tên một số món ăn đặc sản của Lạng Sơn Các món ăn này thường được dùng
trong dịp nào?
Hình 9 Vườn quýt tại xã Chiến Thắng, huyện Bắc Sơn
1 Kể tên một số sản vật nổi tiếng của Lạng Sơn
2 Kể tên một số sản vật khác của Lạng Sơn mà em biết
Trang 132 Lập bảng thông tin về một số một số món ăn nổi tiếng của Lạng Sơn theo gợi ý
– Yêu cầu về món ăn sau khi được chế biến
– Chụp ảnh/quay video lại sản phẩm em đã hoàn thành và giới thiệu với bạn bè, thầy cô
Trang 14Quan sát hình ảnh bên và chia sẻ
những thông tin mà em biết liên quan
đến hình ảnh đó Hãy giới thiệu
những lễ hội tương tự diễn ra ở địa
phương em
1 Khái quát về lễ hội Lạng Sơn
Xứ Lạng là địa phương có hơn 300 lễ hội dân gian, truyền thống thường được tổ chức chủ yếu vào mùa xuân, từ tháng Giêng đến tháng Tư âm lịch hằng năm Nét độc đáo của lễ hội ở Lạng Sơn là văn hoá hội chợ, nơi trao đổi hàng hoá, cũng là nơi để nam nữ thanh niên giao duyên, tỏ tình,… Những điệu Sli, Lượn trữ tình, thấm đẫm tâm hồn người dân Xứ Lạng thường được hát trên các nẻo đường hội chợ Ngoài ra, lễ hội còn phản ánh các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách thập phương
LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA LẠNG SƠN
Trang 152 Một số lễ hội tiêu biểu ở Lạng Sơn
a) Lễ hội Lồng tồng (Hội xuống đồng)
Lễ hội diễn ra từ ngày mồng 4 Tết
đến 30 tháng Giêng để mở đầu cho
một mùa gieo trồng mới Khoảng thời
gian này, lễ hội Lồng tồng được tổ
chức rộn rã ở mỗi thôn, bản trong xã có
người Tày, Nùng sinh sống thuộc các
huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Quan,
Văn Lãng, Tràng Định, Cao Lộc, thành
phố Lạng Sơn,…
Lễ hội Lồng tồng ở các địa phương
này có cùng đặc điểm cơ bản về nghi lễ
cúng Thần nông, là dịp để người dân
thể hiện lòng thành, cầu cho mưa
thuận gió hoà, hoa màu tươi tốt, đời sống yên bình
Sau những nghi thức của phần lễ là phần hội với các hình thức vui chơi như: múa
võ dân tộc, múa sư tử, kéo co, tung còn, chơi khăng, hát các làn điệu Sli, Lượn,… tạo nên không khí tưng bừng nhộn nhịp Ngoài ra, du khách tham gia lễ hội còn được thưởng thức các món ăn của làng quê: bánh chưng đen, bánh giầy, lợn quay,…
1 Lễ hội Lồng tồng thường diễn ra ở đâu? Vào thời gian nào?
2 Nêu những hoạt động chính của lễ hội Lồng tồng
Hình 3 Múa sư tử tại lễ hội Lồng tồng
ở phường Tam Thanh (thành phố Lạng Sơn)
Hằng năm, ở Lạng Sơn diễn ra khoảng hơn 200 lễ hội Lồng tồng truyền thống của người Tày, Nùng với quy mô tổ chức theo thôn, bản, xã Múa sư tử là một nét đặc trưng không thể thiếu trong lễ hội Lồng tồng Sư tử biểu hiện cho sức mạnh của một đấng siêu nhiên
và múa là để cầu lộc, cầu tài, cầu chúc sức khoẻ, tẩy trừ sâu bệnh, đem đến những điều tốt lành và đuổi đi những điều xấu xa
Em có biết?
Hình 2 Lễ cúng Thần nông trong lễ hội Lồng tồng
ở Lạng Sơn
Trang 16b) Lễ hội đền Kỳ Cùng – Tả Phủ
Lễ hội đền Kỳ Cùng – Tả Phủ
tổ chức từ ngày 22 đến 27 tháng
Giêng âm lịch hằng năm Đây là
lễ hội nổi bật và có quy mô lớn
nhất của tỉnh Lạng Sơn, là hoạt
động văn hoá đặc sắc diễn ra
trong hầu hết không gian thành
phố Lạng Sơn
Những nghi lễ trong Lễ hội
đền Kỳ Cùng – Tả Phủ thể hiện
giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc của người dân xứ Lạng Trong đó, đặc sắc nhất
là nghi lễ rước kiệu xin bát hương Quan lớn Tuần Tranh từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ để làm lễ tạ ơn người đã giúp mình giải được nỗi oan khuất(1)
Vào đúng giờ Ngọ (12 giờ
trưa), ngày 22 tháng Giêng,
người dân địa phương mở hội
rước bát hương của Quan lớn
Tuần Tranh từ đền Kỳ Cùng
lên đền Tả Phủ
(1) T ương truyền, ông Tuần Tranh là một vị quan dưới thời nhà Trần, được cử lên Lạng Sơn đánh giặc, trấn
ải biên thuỳ. Trong thời gian ở Lạng Sơn, ông chỉ huy đánh giặc nhưng bị thua, lại bị vu cáo tội dâm ô Để chứng minh sự trong sạch của mình, ông đã nhảy xuống sông Kỳ Cùng tự vẫn Về sau, nỗi oan khuất của ông được vị tướng nhà Lê là Tả Đô đốc Hán Quận công Thân Công Tài chứng minh, hoá giải
Đền Tả Phủ được nhân dân lập từ năm 1683 để thờ viên tướng thời Hậu Lê là Thân Công Tài, giữ chức Tả Đô đốc, Hán Quận công (vì thế nhân dân quan gọi là đền Tả Phủ) Ông là người
xã Như Thiết, huyên Yên Dũng, phủ Lạng Giang (nay là xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang)
Em có biết?
Hình 4 Lễ hội đền Kỳ Cùng – Tả Phủ
Hình 5 Du khách và nhân dân địa phương
dự lễ hội đền Kỳ Cùng – Tả Phủ
Trang 17Những người tham gia rước kiệu là thanh niên trai tráng, mặc trang phục lộng lẫy gọi là "Đồng Nam" Một tốp thiếu niên mặc đồng phục gọi là “Đồng Tử”, khiêng đỉnh hương trầm, có đội múa rồng, múa sư tử vây xung quanh
Đoàn rước sẽ rước qua các dãy phố, khi đến các ngã ba hay ngã tư trên đường đều thực hiện động tác quay vòng và bắn pháo hoa tưng bừng để thu hút thêm sự chú ý của đông đảo du khách Nhân dân các dân tộc sinh sống trên địa bàn thành phố Lạng Sơn tuỳ điều kiện mà sắm các mâm
lễ, sản vật to nhỏ bày trước cửa nhà mình cùng dâng lên Quan lớn Tuần Tranh khi kiệu rước qua
Kết thúc phần lễ là phần hội với
các trò chơi dân gian như: cờ người,
chọi chim, đẩy gậy, Đặc biệt, có trò
chơi đốt đầu pháo diễn ra ngày 23, 24
tháng Giêng Theo quan niệm của
người xưa, bất cứ ai cướp được đầu
pháo này thì trong năm tới sẽ gặp vận
may, tài lộc phú quý
Đến ngày 27 tháng Giêng, vào
đúng 12 giờ trưa, đoàn rước bát
hương Quan lớn Tuần Tranh sẽ xuất
c) Lễ hội chùa Tam Thanh
Chùa Tam Thanh là ngôi chùa
khá đặc biệt vì chùa nằm trong
hang động trên địa bàn phường
Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn
với lễ hội truyền thống nổi tiếng
được tổ chức vào ngày 15 tháng
Giêng hằng năm
Hình 6 Trò chơi đốt đầu pháo
một trong những trò chơi độc đáo tại lễ hội
Hình 7 Lễ hội chùa Tam Thanh
Hãy nêu các hoạt động chính diễn ra trong lễ hội đền Kỳ Cùng – Tả Phủ
Trang 18Nét đặc sắc trong lễ hội chùa Tam Thanh là lễ rước kiệu và bài vị Đốc trấn – danh nhân Ngô Thì Sỹ từ chùa Tam Giáo (động Nhị Thanh) sang chùa Tam Thanh (động Tam Thanh) buổi sáng và rước ngược lại vào buổi chiều Đoàn rước đi qua một số tuyến phố chính của thành phố: Nhị Thanh, Trần Đăng Ninh, Tam Thanh, Tô Thị và Lê Hồng Phong
Tại các dãy phố đoàn rước đi qua, người dân sinh sống ven hai bên đường đều sắm sửa lễ rất trang trọng để nghênh đón Niềm vui của các gia đình được nhân lên khi các đội múa sư tử
và rồng ghé vào múa mừng chúc Tết, chúc xuân Đoàn rước đi đến đâu cũng được mọi người hò reo, cổ vũ đón chào đến đó
Tại chùa Tam Thanh, lễ hội được diễn ra với những màn trống hội rộn rã, những màn
sư tử nhào lộn, tung múa uyển chuyển, điêu luyện, phối hợp ăn ý với đội múa rồng tạo
ra một không khí ngày hội tưng bừng và náo nhiệt Tiếp đó, nhân dân và du khách thập phương cùng vào chùa dâng hương, nguyện cầu những điều tốt đẹp, vãn cảnh động Tam Thanh và tham dự nhiều trò chơi mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc như: tung còn, đẩy gậy, kéo co, cờ tướng,… tạo nên không khí vui tươi, hào hứng trong suốt thời gian diễn ra lễ hội
Lễ hội chùa Tam Thanh mang tính chất giáo dục truyền thống lịch sử – văn hoá, đạo
lí “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, là sinh hoạt tâm linh cầu tài lộc, sức khoẻ, may mắn, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân Lạng Sơn Các hoạt động vui chơi giải trí trong ngày hội diễn ra tưng bừng, nhộn nhịp chắc chắn sẽ để lại trong lòng mỗi người dân và du khách một chuyến du xuân đầy ý nghĩa
Hình 8 Bàn thờ Công đồng trong chùa
Ngô Thì Sỹ được cử làm quan Đốc
trấn Lạng Sơn từ năm 1777 đến
1780 Việc sửa sang động Nhị
Thanh được tiến hành vào năm
1779, sau đó Ngô Thì Sỹ lập ra đền
Tam Giáo nằm ở thế đất cao bên
phải cửa động Tam Thanh Đền thờ
Khổng Tử (Nho giáo), Phật tổ Thích
Ca (Phật giáo) và tổ đạo Lý Lão
quân (Đạo giáo)
Em có biết?
1.Lễ hội chùa Tam Thanh được tổ chức ở đâu? Nêu những hoạt động chính diễn ra trong lễ hội này
2 Nêu ý nghĩa của lễ hội đối với việc giáo dục truyền thống lịch sử – văn hoá và sự
phát triển du lịch ở địa phương
Trang 191 Lập và hoàn thiện bảng thống kê về một số lễ hội tiêu biểu của tỉnh Lạng Sơn
1 Ở địa phương em đang sinh sống, học tập có lễ hội truyền thống tiêu biểu nào?
Hãy giới thiệu một vài nét về đặc điểm của lễ hội đó
2 Bằng kiến thức đã được học và tham khảo thông tin từ sách, báo, internet, em
hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 15 câu) nêu ra các ý kiến để góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của lễ hội truyền thống ở quê hương Lạng Sơn
Trang 20Em hãy chia sẻ với các bạn cùng lớp các bài hát về Lạng Sơn thông qua việc hát một câu hoặc một đoạn trong các bài hát đó
1 Ca khúc Bắc Sơn (nhạc và lời: Văn Cao)
Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, tại vùng căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn, vào năm 1940, quân và dân Bắc Sơn đã tiến hành trận đánh đồn Mỏ Nhài, mở đầu cho cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo
Những trận đánh đầy anh dũng của nhân dân Bắc Sơn đã trở thành nguồn cảm
hứng để nhạc sĩ Văn Cao hoàn thành ca khúc Bắc Sơn vào năm 1945 Mặc dù chưa một
lần đặt chân đến mảnh đất này nhưng chỉ bằng trí tưởng tượng, tấm lòng và niềm yêu mến Bắc Sơn, nhạc sĩ Văn Cao đã sáng tác nên ca khúc này Ca khúc có đoạn mang âm hưởng bi tráng, có đoạn lại hùng tráng và tự hào, âm nhạc đầy màu sắc và hình ảnh Bài hát như một bức tranh miêu tả vẻ đẹp của mảnh đất và con người Bắc Sơn trong thời kì kháng chiến chống Pháp
● Kể được tên một số tác giả và ca khúc viết về quê hương Lạng Sơn
● Nghe, cảm nhận được giai điệu, lời ca và ý nghĩa của tác phẩm trong đời sống
● Hát được ca khúc về quê hương Lạng Sơn
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
MỘT SỐ CA KHÚC VIẾT VỀ QUÊ HƯƠNG LẠNG SƠN
3
Trang 222 Ca khúc Lời cây đàn tính (nhạc và lời: Hoàng Tú)
Ca khúc Lời cây đàn tính của nhạc sĩ Hoàng Tú là bài hát mang đậm chất liệu âm nhạc dân
gian Tày, Nùng của vùng văn hoá Việt Bắc Đây là ca khúc dễ hát, dễ thuộc và đi vào lòng người, chính vì vậy, ca khúc này được sử dụng rất nhiều trong các chương trình nghệ thuật, không những của tỉnh Lạng Sơn mà còn phổ biến ra toàn vùng Việt Bắc
Ca khúc đã đạt giải A – Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Hoàng Văn Thụ lần thứ nhất (1995) do Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn trao tặng Tác phẩm nằm trong tập ca khúc
Lời cây đàn tính quê em được xuất bản vào năm 1996
1 Ca khúc Bắc Sơn được ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nào?
2 Nghe và nêu cảm nhận của em về tính chất âm nhạc của các đoạn trong ca khúc
Trang 243 Ca khúc Câu tình ca xứ Lạng (nhạc: Văn Dung, thơ: Trịnh Hà)
Câu tình ca xứ Lạng được in trong tập ca khúc Hát về Lạng Sơn gồm 10 tác phẩm đã đạt
giải trong cuộc thi ca khúc năm 2002 Đây là một trong những sáng tác mới hưởng ứng cuộc thi sáng tác ca khúc về Lạng Sơn do Sở Văn hoá Thông tin phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật Lạng Sơn tổ chức Chủ đề ca ngợi con người và quê hương xứ Lạng, những thành tựu về kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh Lạng Sơn trong thời đại mới
Bài hát phản ánh khá rõ nét, phong phú về đời sống, vẻ đẹp của thiên nhiên và đồng bào các dân tộc Lạng Sơn; sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ âm nhạc mang hơi thở dân ca Tày, Nùng xứ Lạng
1 Nghe và nhận xét về tính chất âm nhạc của các khúc Lời cây đàn tính
2 Sau khi nghe bài hát, em đã nhận ra những nét giai điệu/câu hát nào mang chất
liệu của âm nhạc dân gian xứ Lạng?
Trang 25Tập hát một trong các ca khúc đã được giới thiệu trong bài học
Lựa chọn và thực hiện một trong hai yêu cầu dưới đây:
1 Em hãy sưu tầm các ca khúc viết về quê hương Lạng Sơn ngoài các bài đã giới
thiệu ở trên
2 Em hãy cùng các bạn của mình dàn dựng và quay video clip một ca khúc viết về
Lạng Sơn để giới thiệu vẻ đẹp của thiên nhiên, con người xứ Lạng qua ca khúc đó
1 Hãy nêu cảm nhận của em sau khi nghe ca khúc
2 Theo em, câu hát “nhì à soong hao” trong bài hát được tác giả lấy từ làn điệu âm nhạc
dân gian nào của xứ Lạng?
Trang 26Em biết những nhân vật lịch sử tiêu biểu nào của Lạng Sơn (từ nửa sau thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX) được đặt tên cho dãy núi, trường học, đường phố,… quê hương
xứ Lạng? Ý nghĩa của việc đặt tên đó là gì?
1 Phong trào chống thực dân Pháp nửa cuối thế kỉ XIX ở Lạng Sơn
Sau khi chiếm được Bắc Kì, thực dân Pháp rất chú ý đến việc bình định, mở rộng mạng lưới giao thông vận tải lên vùng núi cao, dọc các tuyến biên giới xa xôi hẻo lánh
để vừa vơ vét của cải, vừa dễ dàng đàn áp những cuộc nổi dậy của nhân dân ta
Cuối năm 1885, thực dân Pháp chiếm được thị xã Lạng Sơn, Đồng Đăng, Thất Khê và một số vị trí quan trọng trên Đường số 4
Dưới chính sách cai trị, bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp, nhiều cuộc đấu tranh đã
nổ ra ở Lạng Sơn Tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa do Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh) lãnh đạo
Căn cứ của Cai Kinh bao gồm hai xã Hoà Lạc và Cai Kinh, thuộc phía bắc huyện Hữu Lũng, kéo dài đến vùng núi đã vôi thuộc huyện Chi Lăng Các hoạt động của nghĩa quân đã gây cho Pháp nhiều tổn thất Trong đó, tiêu biểu là trận đánh ở cầu Quan Âm, đồn Bắc Lệ buộc quân Pháp phải rút chạy về Phủ Lạng Thương
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
XÂM LƯỢC CỦA NHÂN DÂN LẠNG SƠN
TỪ NỬA SAU THẾ KỈ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XX
Trang 27Từ cuối năm 1885 đến năm 1887, quân Pháp mở cuộc tấn công quy mô lớn vào trung tâm căn cứ nghĩa quân Hoàng Đình Kinh Năm 1888, thực dân Pháp bắt được Hoàng Đình Kinh và đem ông ra xử tử Nghĩa quân được thủ lĩnh Hoàng Thái Nhân tiếp tục lãnh đạo
Cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh tuy thất bại nhưng đã chứng tỏ tinh thần yêu nước, đoàn kết chiến đấu của nhân dân Lạng Sơn trong phong trào đấu tranh chống Pháp cuối thế kỉ XIX Phong trào đã gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất về người và của, góp phần làm chậm quá trình mở rộng địa bàn cai trị của thực dân Pháp ở Bắc Kì
Hình 1 Dãy núi Cai Kinh, huyện Hữu Lũng – nơi nổ ra cuộc
a) Nòng súng hoả mai – nghĩa quân Cai Kinh b) Nỏ Ông Cai Kinh
Hình 2 Một số loại vũ khí nghĩa quân sử dụng trong trận đánh Pháp ở Hữu Lũng (năm 1880)
Núi Cai Kinh thuộc huyện Hữu Lũng, cao khoảng 600 m Sau này còn có tên núi là Mỏ Nhai Khi quân Pháp đánh chiếm Lạng Sơn lần thứ nhất, nghĩa quân Cai Kinh dựa vào địa hình hiểm trở, liên tiếp tổ chức các trận đánh tiêu diệt địch
Em có biết?
Trang 282 Phong trào chống thực dân Pháp đầu thế kỉ XX ở Lạng Sơn
Đầu thế kỉ XX, phong trào đấu tranh chống Pháp ở Lạng Sơn tiếp tục phát triển Năm
1901, phong trào hội kín Tam Điểm của đồng bào Nùng diễn ra sôi nổi trong toàn tỉnh, nhất là ở châu Lộc Bình
Năm 1913, ông Đặng Tử Mẫn và Nguyễn Thượng Can (hội viên Việt Nam Quang phục hội) vận động anh em binh lính ở tổng Nhân Lý, châu Văn Uyên (xã Hoàng Văn Thụ, huyện Văn Lãng ngày nay) nổi dậy tấn công đồn địch ở Đồng Đăng và Pác Luống Sau một trận giao chiến với quân Pháp ở Pác Luống bị thua, những người lãnh đạo cuộc nổi dậy bị bắt và bị thực dân Pháp kết án tù khổ sai
Năm 1914, Hoàng Trung Sơn cùng hai xã đoàn là Nông Hữu Trinh và Lương Đông Vu vận động binh lính ở châu Thoát Lãng (Văn Lãng) đánh đồn binh Pháp ở Nà Hán, châu Văn Uyên (Văn Lãng) giết chết năm tên lính Pháp Bị quân Pháp truy lùng ráo riết, Hoàng Trung Sơn phải lánh sang khu vực biên giới Việt − Trung
Phu làm đường đoạn tại đèo Quao (Chi Lăng) và công nhân mỏ than Na Dương, mỏ vàng Thạch Khuyên (Cao Lộc), mỏ bạc, mỏ kẽm ở Đồng Mỏ, Vạn Linh (Chi Lăng),… nổi dậy đấu tranh với nhiều hình thức như: bỏ trốn, biểu tình, bắt cóc thầu khoán người Pháp,…
Phong trào chống Pháp của nhân dân Lạng Sơn diễn ra liên tục, mạnh mẽ Tuy phần lớn các cuộc đấu tranh chưa giành được thắng lợi nhưng đã chứng tỏ truyền thống yêu nước của nhân dân các dân tộc Lạng Sơn, góp phần làm chậm quá trình xâm lược và bình định của thực dân Pháp, tạo tiền đề cho phong trào đấu tranh trong giai đoạn tiếp theo dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
1 Tại sao nhân dân Lạng Sơn lại nổi dậy chống thực dân Pháp vào cuối thế kỉ XIX?
2 Khai thác thông tin và hình ảnh trong mục, em hãy trình bày những diễn biến
chính trong cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của nghĩa quân Hoàng Đình Kinh
1 Khai thác thông tin trong mục, em hãy trình bày một số cuộc đấu tranh chống
thực dân Pháp tiêu biểu của nhân dân Lạng Sơn trong những năm đầu thế kỉ XX
2 Nêu kết quả, ý nghĩa của các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp trên
Trang 291 Em hãy lập và hoàn thiện bảng hệ thống về một số cuộc đấu tranh chống Pháp
của nhân dân Lạng Sơn từ nửa cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX theo gợi ý
2 Hãy cho biết những đóng góp của nhân dân Lạng Sơn trong cuộc đấu tranh
chống thực dân Pháp cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX Nêu cảm nghĩ của em về truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của quê hương Lạng Sơn
1 Em hãy tìm hiểu và sưu tầm tên các địa danh, di tích ghi dấu phong trào chống
Pháp của nhân dân Lạng Sơn từ nửa sau thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX
2 Thông qua bài học và tìm hiểu thêm trên sách, báo, internet, em hãy viết một
đoạn văn ngắn, giới thiệu về một cuộc đấu tranh/nhân vật tiêu biểu ở Lạng Sơn trong phong trào chống thực dân Pháp từ nửa sau thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX
1 Hoàng Đình Kinh
Ông Hoàng Đình Kinh (? – 1888), sinh ra và lớn lên tại làng Thương, tổng Thuộc Sơn, châu Hữu Lũng, phủ Lạng Giang (nay thuộc xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn) Thân phụ ông tên là Hoàng Đình Khoa, thân mẫu là Trần Thị Nhiễu Ông bà Khoa sinh ra được ba người con: người thứ nhất là Hoàng Thị Gan, người thứ hai là Hoàng Đình Cử – tức Hoàng Đình Kinh, người thứ ba là Hoàng Đình Kiệt sau đổi tên là Hoàng Đình Cương Nhờ có tiền của và tháo vát nên ông Hoàng Đình Khoa được làm cai tổng
TƯ LIỆU THAM KHẢO
Trang 30tổng Thuốc Sơn (huyện Hữu Lũng) phụ trách 36 trang trại, nên nhân dân còn gọi là ông Cai Quản Hoàng Đình Kinh khi nhỏ được đi học chữ Hán, khi bố mất, ông được thay làm cai tổng nên còn được gọi là Cai Kinh Về sau, vì có công đánh dẹp thổ phỉ, ông được triều đình thăng tri huyện Hữu Lũng (gồm huyện Hữu Lũng, huyện Bằng Mạc và một số
xã huyện Ôn Châu, Lạng Sơn ngày nay)
Năm 1882, thực dân Pháp tiến đánh Bắc Kì lần thứ hai, chiếm Hà Nội và một số tỉnh; triều đình Huế đầu hàng thực dân Pháp bằng việc kí Hiệp ước 1883, sau đó là Hiệp ước
1884 Ông Cai Kinh không chịu theo lệnh triều đình bãi binh chống Pháp mà hưởng ứng lời kêu gọi của một số quan lại chủ chiến các tỉnh như Lã Xuân Oai, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Thiện Thuật tiếp tục chống Pháp
Năm 1885, khi vua Hàm Nghi xuất chiếu Cần vương kêu gọi toàn dân kháng chiến, ông tổ chức nghĩa quân chống Pháp ở vùng núi Cai Kinh Mãi đến cuối năm 1888, khi ông mất, phong trào mới bị dập tắt Ông Hoàng Đình Kinh được lịch sử tôn vinh và ghi nhận như một danh nhân nghĩa sĩ trong phong trào Cần vương chống Pháp ở Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX
Tên của ông còn được đặt cho dãy núi đá dựng đứng, với những núi cao từ 200 − 300 m, nằm trên phía bắc đồng bằng sông Thương – núi Cai Kinh
2 Căn cứ Cai Kinh
Trong giai đoạn đầu, Hoàng Đình Kinh đóng quân ngay tại xã Hoà Lạc và thường trú
ở hang Vỉ Ruồi Về sau, khi địch đã chiếm đóng được những tỉnh thành này, xây dựng nhiều đồn bốt trên Đường số 1, ông phải rời chỉ huy sở vào thôn Giàng, xã Đằng Yên (nay
là các xã Yên Thịnh, Yên Vượng, Yên Sơn) Địa thế ở đấy rất hiểm trở, trước mặt thôn có suối chảy qua Về mùa nước lớn, con suối tạo thành một hào thiên nhiên che chở cho căn cứ Sau thôn có một bãi cỏ rộng, để quân lính luyện tập, tiếp theo một dãy núi cao dựng đứng không có đường đi lại Doanh trại, kho vũ khí và lương thực được xây dựng ở núi Đồng Câu, thấp hơn giáp với thôn Muốn đi vào chỉ huy sở chỉ có một con đường nhỏ, hiểm trở và phải qua nhiều chặng gác bí mật của nghĩa quân Chính vì có một đội quân được tổ chức chặt chẽ và một căn cứ hiểm yếu cho nên nghĩa quân của ông Cai Kinh
có thể chống Pháp lâu dài và làm cho địch bị nhiều tổn thất Nghĩa quân Cai Kinh đã hoạt động mạnh ở Bắc Giang, một phần Thái Nguyên và Lạng Sơn Từ căn cứ, nghĩa quân toả ra đánh địch ở các nơi, chủ yếu là công đồn, phục kích những toán quân lẻ hoặc chặn đánh những đoàn binh lương vũ khí của địch Tiêu biểu như trận đánh của Cai Bình (tướng tâm phúc của Cai Kinh) chống lại toán quân của Trung tá Gô-đa ngày
26 – 12 – 1885; trận diệt đồn làng Chiễng (nay là xã Mai Sao, huyện Ôn Châu) án ngữ ngã tư con đường từ Lạng Sơn về phủ Lạng Thương và từ Hữu Lũng lên Ba Vang, Na Sầm, Thất Khê, thu được nhiều vũ khí của địch; trận vây đồn Than Muội tháng 5 – 1886, vừa bao vây vừa đánh chặn viện binh của Pháp, gây cho địch nhiều tổn thất
Trang 313 Một số vũ khí của nghĩa quân Hoàng Đình Kinh
a) Nòng súng hoả mai: chất liệu sắt, kích thước dài 1,37 m do ông Cai Kinh làm ra
trong phong trào đánh Pháp từ năm 1880 Vũ khí dùng để chiến đấu khắp nơi trong nhiều trận thắng lợi, nhất là trận núi Cai Kinh Đặc biệt, súng này ông đặt tại căn cứ hang làng Lẫm – vọng gác chính để bắn pháo hiệu báo động và ra lệnh chiến đấu cho nghĩa quân, như trận Bắc Lệ thắng lợi lớn, địch chết nhiều không rõ được Sau khi ông thất bại và hi sinh, nhân dân lấy súng này về cất giấu và để thờ trong đình, chùa Vào ngày cúng bái hằng năm, nhân dân đem ra bắn thử chào mừng và tưởng nhớ lại người đã chiến đấu anh dũng bảo vệ nhân dân địa phương trong phong trào Cai Kinh
b) Nỏ: chất liệu gỗ, kích thước: thân dài 0,85 m, cán dài 1,24 m, được làm ra trong
phong trào chống Pháp của Cai Kinh Ông căm thù giặc nên đã đứng lên tổ chức nghĩa quân, được nhân dân tham gia và ủng hộ để đánh Pháp vào khoảng năm 1880 tại địa phương ông Nỏ này ông làm ra trong phong trào trên, đã dùng và chiến thắng nhiều trận Theo ông Giảng (người dân xóm Cai Kinh, xã Hoà Lạc, huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn):
nỏ này ông tặng lại cho bố ông Trác là nghĩa quân của ông cũ (?) Bố ông Trác đã dùng
nỏ này bắn bằng tên thuốc độc diệt 23 binh lính của Pháp, ngoài ra còn dùng nỏ để đi tuần tiễu canh gác bảo vệ chiến khu trong thời kì tiền khởi nghĩa Khi ông chết tại trận Văn Miếu, nỏ này được ông Giảng – là tộc họ với ông đem cất giấu”
(Nguồn: baotanglichsu.vn)
Trang 32Có ý kiến cho rằng: “Mỗi bảo
tàng được ví như một “cỗ mãy thời
gian”, giúp ta khám phá lịch sử quê
hương, đất nước” Em có đồng ý với
quan điểm đó không? Theo em, ở
Lạng Sơn có những bảo tàng, nhà
trưng bày nào? Nội dung trưng bày
chủ yếu của bảo tàng, nhà trưng bày
là gì? Hãy chia sẻ hiểu biết của em về
● Nêu được tên các bảo tàng, nhà trưng bày ở Lạng Sơn
● Giới thiệu được nội dung trưng bày chủ yếu tại các bảo tàng, nhà trưng bày của tỉnh Lạng Sơn
● Lập được kế hoạch tham quan bảo tàng
● Nhận thức được giá trị của bảo tàng
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
Hình 1 Một số hiện vật trưng bày tại Nhà trưng bày
chiến thắng Chi Lăng
Trang 33làm việc Bảo tàng được thành lập năm 1993, lúc đầu có tên là Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Lạng Sơn Năm 2009, bảo tàng có tên gọi mới là Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn
Nhà trưng bày của Bảo tàng có kiến trúc mô phỏng một ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày Lạng Sơn Trong khuôn viên của Bảo tàng tỉnh trưng bày những hiện vật khối lớn, bổ sung và hoàn thiện hơn cho nội dung trưng bày chính như: hoá thạch cổ, súng thần công, bia đá, mảnh xác máy bay Mỹ, Không gian bên ngoài của Bảo tàng được tôn lên bởi hệ thống sinh vật cảnh phong phú, các tác phẩm mĩ thuật phụ trợ như phù điêu, tượng, Hệ thống trưng bày ở đây gồm hơn một nghìn tài liệu, hiện vật về lịch sử tự nhiên và xã hội của Lạng Sơn qua các thời kì lịch sử, được chia làm ba nội dung:
Lạng Sơn – Vùng đất –
Con người: giới thiệu những
nét đặc trưng cơ bản về địa lí
tự nhiên và văn hoá, dân tộc
của tỉnh Lạng Sơn
Hình 2 Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn
Hình 3 Phòng trưng bày Lạng Sơn – Vùng đất – Con người
Trang 34 Lạng Sơn trong quá trình lịch sử đấu
tranh dựng nước và giữ nước: giới thiệu
về lịch sử Lạng Sơn qua các thời kì tiền –
sơ sử; thời kì phong kiến; thời kì đấu
tranh giải phóng dân tộc
Lạng Sơn trong thời kì đổi mới và
phát triển: trưng bày minh hoạ lịch sử
Lạng Sơn trong thời kì thực hiện công
cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt
Nam khởi xướng và lãnh đạo từ năm
1986 cho đến nay
Với hàng nghìn hiện vật gốc và tài liệu khoa học, hệ thống trưng bày của Bảo tàng
đã nêu bật những chặng đường lịch sử, các mốc son quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Lạng Sơn Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn đã trở thành địa điểm giáo dục truyền thống, học tập, nghiên cứu lịch sử địa phương
b Bảo tàng khởi nghĩa Bắc Sơn
Bảo tàng khởi nghĩa Bắc Sơn (xã Long Đống, huyện Bắc Sơn) được xây dựng từ năm 1985 với dáng dấp mô phỏng kiến trúc một ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày
Nội dung trưng bày theo ba chủ đề: Bắc Sơn thời tiền sử; Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn; Bắc Sơn
phát huy truyền thống cách mạng
Hình 5 Phòng trưng bày Lạng Sơn
Đọc thông tin và quan sát các hình từ 2 đến 5, em hãy nêu nội dung trưng bày chủ yếu của Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn
Hình 4 Phòng trưng bày Lạng Sơn
dựng nước và giữ nước