1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyen de li luan van hoc co duong mai

11 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề lý luận văn học cổ đời mai
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 179 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC CHỨC NĂNG VĂN HỌC A Đặc trưng của văn học 1 Văn học là bộ môn nghệ thuật đặc thù (riêng biệt) Văn học khi đặt bên cạnh những môn khác như hóa học, toán học, vật lí thì nó sẽ gần gũi[.]

Trang 1

ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC_CHỨC NĂNG VĂN HỌC

A Đặc trưng của văn học:

1. Văn học là bộ môn nghệ thuật đặc thù (riêng biệt):

- Văn học khi đặt bên cạnh những môn khác như hóa học, toán học, vật lí thì nó sẽ gần gũi hơn với âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc Điều đó chứng tỏ văn học không phải là một môn khoa học mà

là một môn nghệ thuật và là một môn nghệ thuật với những nét riêng

- Thứ hai: lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm Tất nhiên, một số bộ môn khác cũng nhận thức về con người nhưng văn học tiếp cận con người trong cái mối quan hệ phong phú,

đa dạng và đặc biệt văn học quan tâm thân phận con người và tập trung khám phá chiều sâu khôn cùng đầy bí ẩn trong tâm hồn con người (nói cách khác, với bất kì tác phẩm văn học nào

cũng có thể là bức tranh về loài vật thì điều tất yếu mà tác phẩm muốn thể hiện vẫn là vấn đề về con người, về cuộc sống)

Từ nét đặc trưng trên của văn học thì bắt buộc người đọc khi tiếp cận tác phẩm để khám phá được chiều sâu của tác phẩm phải chỉ ra được quan niệm của tác giả về cuộc sống, về con người Đó chính là nội dung, triết lý về cuộc sống con người

Cũng từ đặc thù trên của bộ môn, người đọc có thể định ngay khi tiếp cận tác phẩm Chúng ta không chỉ dừng lại với vẻ đẹp bên ngoài mà cần phải đặc biệt quan tâm đời sống nội tâm của con người (quan tâm tâm hồn của con người)

Nhận thức và phản ánh đời sống con người: do trong văn học không thể tách rời việc

phản ánh tư tưởng, tình cảm, khát vọng của tác giả về tất cả tư tưởng, tình cảm, khát vọng đó đều tập ttung vào việc hướng con người đến một cuộc sống tốt đẹp, trọn vẹn, có nghĩa là văn học không chỉ nhận thức, phản ánh một cuộc sống tốt đẹp mà còn cải tạo cuộc sống, cuộc sống ấy

2. Văn học sử dụng ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng cho nên có thể gọi văn học là một môn nghệ thuật đặc thù:

- Ngôn từ mang tính hình tượng: ngôn từ văn học có khả năng tái hiện lại đời sống làm cho đời

sống con người hiện lên như thật Ngôn từ văn học còn có khả năng miêu tả được cả mùi vị, nắm bắt được cả những góc mơ hồ nhất, mỏng manh nhất, trừu tượng nhất Ngôn từ trong tác phẩm văn học phải mang tính trong sáng, cô đọng

- Ngôn từ văn học ngắn gọn, hàm súc: đặc trưng này bắt buộc người đọc khi tìm hiểu một văn

bản văn học tuyệt đối không được tập trung lớp nội dung bên ngoài Tức là không chỉ được khía thác ý ở ngoài bởi vì giá trị đích thực của một tác phẩm nằm sâu ở những lớp nghĩa bên trong

3 Văn học là một môn nghệ thuật phải mang tính độc đáo, mới mẻ:

Trang 2

Văn học nghệ thuật là một hoạt động sáng tạo không ngừng: bản thân người sáng tác phải đưa

vào tác phẩm những điều điều mới mẻ, phải nói đến những điều mà các nhà văn khác chưa nói Điều đó có nghĩa là hiện thực cuộc sống, hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm không phải là hiện thực hoặc hình tượng nguyên mẫu mà nhà văn bê từ ngoài đời đưa vào trong tác phẩm Hiện thực

đó, hình tượng đó phải chứa đựng những trăn trở, những nung nấu, những tìm tòi của bản thân tác giả

Tóm lại, văn học là một môn nghệ thuật có những đặc điểm riêng biệt, lấy cuộc sống, xã hội, con người muôn màu muôn vẻ làm cái gốc sáng tạo nhận thức con người một cách tổng hợp, toàn diện, xây dựng bằng một chất liệu với nhiều khả năng độc đáo

B Chức năng của văn học (giá từ của văn học)

1 Giá trị nhận thức:

- Đối với một tác phẩm văn học, người đọc sẽ được cung cấp chân trời các kiến thức mới thuộc các lĩnh vực khác nhau từ tự nhiên, lịch sử, con người đến những khái niệm trong quan hệ ứng

xử, trong lao động sản xuất Từ quá khứ đến hiện tại, cả tương lại; trong phạm vi đất nước và trên

cả thế giới (giá trị nhận thức này xuất phát từ đặc trưng của văn học_đó là sự khám phá về nhận thức của tác giả về cuộc sống, con người) Vì văn học đi sâu vào khám phá đời sống tâm lý phức tạp của con người cho nên đối với tác phẩm văn học, người

đọc có thể nhìn thấy, soi được chính đời sống nội tâm của bản thân mình

2 Chức năng thẩm mỹ:

- Là một chức năng quan trọng bởi vì văn học là một bộ môn ưu tiên số 1 cho cái đẹp, cái tính thẩm mỹ

- Văn học phản ánh những cái đẹp vốn có trong cuộc sống Việc phản ánh này gắn liền với quá trình điển hình khái quát hóa và chọn lọc hoặc điển hình những nét đẹp về thiên nhiên Tác giả có thể lựa chọn khái quát hóa những nét đẹp của con người

- Văn học còn thực hiện chức năng thẩm mỹ bằng cách sáng tạo ra những cái đẹp không có trong hiện thực, cái đẹp mới của âm thanh, màu sắc, hình khối, nó làm phong phú đời sống tâm tư của con người

- Văn học có khả năng bồi đắp những rung động thẩm mỹ trong tâm hồn con người (khả năng rung động, sự tinh tế, nhạy bén trước cái đẹp) Ngoài ra, nhờ vào văn học mà khả năng tư duy, trí tưởng tuongy và năng lực khái quát cũng sẽ được bồi đắp

3. Chức năng giáo dục:

- Giáo dục trong văn học không chỉ hạn chế trong việc cung cấp kiến thức, nâng cao trình

Trang 3

độ văn hóa cũng như không chỉ giới hạn cho con người rèn luyện phẩm chất đạo đức mà còn có thể chế tạo quan điểm chính trị của con người Nói cách khác, giáo dục trong văn học rất giàu có

và phong phú

- Văn học giáo dục con người bằng tình cảm thông qua con đường tình cảm trong quá trình tác động, để giáo dục cải tiến cho con người, văn học không đóng vai trò như một người thầy, một người thuyết giáo mà giống như người bạn đồng hành đồng thoại để người đọc tự nhận thức tự nhiên những cảm xúc yêu ghét, những lí tưởng, khát vọng, những lẻ sống

Tóm lại, giáo dục bằng con đường tự nhận thức

Kết luận: nắm được ba chức năng cơ bản của văn học, chỉ ra được nó trong quá trình tiếp cận tác phẩm văn học, gọi tên nó lên tức là người đọc đã phát hiện được chiều sâu của tác phẩm, đồng thời đã đưa được chất

ÁP DỤNG LÝ LUẬN VÀO BÀI LÀM VĂN NGHỊ LUẬN

I Lý thuyết lí luận:

- Khái niệm văn học

- Đặc điểm ngôn từ văn học (tính hình tượng, tính phi vật thể, )

- Đặc trưng văn học

- Hình tượng

- Nhân vật điển hình

- Giá trị nhân đạo

- Giá trị hiện thực

- Tình huống trong tác phẩm

- Cảm hứng lãng mạn

- Khuynh hướng sử thi

- quan niệm sáng tác,

- phong cách nghệ thuật

- nghệ thuật ngôn từ, nhãn tự câu thơ

II Thực hành:

Trang 4

1. Có thể vận dụng các khái niệm vào phần mở bài hoặc biến các khái niệm thành các luận điểm

(tức là thành các ý chính để chúng ta triển khai)

2. Đưa kiến thức lí luận bằng cách xác định luôn đặc điểm của bài một cách bình thường như từ trước đến nay vẫn làm (như là xác định giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, giá trị triết lý về cuộc sống con người) Sau đó liên hệ tới những kiến thức lý luận có liên quan, sử dụng chúng đưa vào phần đánh giá cho từng ý chính

3. Phân tích một bài thơ trong đó có sử dụng kiến thức lí luận

Chuyên đề III: VĂN NGHỊ LUẬN:

PHƯƠNG PHÁP LÀM MỘT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

I Những yêu cầu chung:

Bản chất của văn nghị luận:

Là sử dụng lời nói để trình bày các ý kiến, tridnh bày những lí lẽ để giải thích, chứng minh, đánh giá, thuyết phục người đọc về một vấn đề nào đó Nói cách khác, nghị luận là một sản phẩm tư

duy logic, để thực hiện được nó người đọc phải tạo ra một hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng.

Luận điểm: là ý kiến quan điểm mang tính chất khái quát xác định của người viết về vấn đề

nghị luận

Luận cứ: bao gồm luận chứng và lý lẽ → Đó chính là cơ sở để thuyết minh, làm rõ cho luận

điểm

Luận chứng( Hành văn ):

Yêu cầu: nghị luận phải đúng hướng, chính xác ý kiến đưa ra dù mở rộng, đi sâu đến đâu cũng phải xoay quanh vấn đề nghị luận đặt ra trong yêu cầu đề bài Các em cần tránh dông dài, lan man, xa đề.

- Những ý kiến đưa ra xoay quanh vấn đề nghị luận, nội dung đặt ra trong yêu cầu của đề bài

xong sắp xếp có ý trước, ý sau, ý chính, ý phụ, tuyệt đối không được viết theo ngẫu hứng.

- Mạch lạc: rất nhiều ý sắp xếp một cách hợp lí nhưng không phải sự cộng lại các ý kiến rời rạc

mà là một chuỗi lập luận từ ý này sang ý khác Chúng phải sắp xếp các ý hợp lí tạo ra sự liên kết giữa ý lớn với ý lớn, ý nhỏ với ý nhỏ.

- Nghị luận phải trong sáng, đúng yêu cầu của đề, phải đúng về cách đặt câu, viết chữ, dùng từ thật hợp lí (Đặc biệt dùng đúng, trúng, hợp lí, tránh suy diễn linh tinh)

- Nghị luận phải sinh động (Ngôn từ diễn đạt, cách viết văn, hành văn trôi chảy sinh động)

Trang 5

Như vậy, có thể thấy để có được một bài văn nghị luận đạt yêu cầu, người đọc phải xác định đúng yêu cầu của đề, xác định được ý chính và phải có chất văn, phải có chất lí luận để tăng chiều sâu và đa dạng cách khai thác vấn đề

II Thao tác xác định ý (Xác định ý đáp ứng yêu cầu của đề )

- Đọc kĩ đề, xác định đúng nội dung

+ Dùng kĩ năng xác định nội dung thật chắc chắn (xem lại kĩ năng xác định nội dung)

+ Bám sát yêu cầu đề (nghĩa những từ khóa quan trọng, nghĩa bề mặt, nội dung chính biểu hiện

và tránh tổ lái vấn đề linh tinh)

+ Xác định đúng dạng bài nghị luận (xem đề ra thuộc dạng nghị luận nào, từ đó hình dung được cách làm và các bước làm)

- Phải thuộc bài, hiểu bài, làm chủ được kiến thức, biết vận dụng lí luận ở đâu, viết câu văn có hình ảnh ở đâu và đặc biệt phải biết cách tập hợp kiến thức

Đối với một câu hỏi văn học, ít có một đáp án duy nhất Vì vậy để lựa chọn được ý, xác định

được rõ bản chất thì người đọc phải nắm chắc bản chất vấn đề mình lựa chọn là đúng đắn và có

tính thuyết phục cao (ĐẶC BIỆT BÁM SÁT VÀO NGHĨA BỀ MẶT, KHÔNG TỔ LÁI LUNG TUNG)

III Thực hành xác định đoạn văn:

- Mỗi ý về tác giả ứng với một đoạn văn và một đoạn văn là một bài văn thu nhỏ gồm có 3 phần: câu mở đoạn (phần đề xuất vấn đề, ý kiến đánh giá)

Ví dụ nghị luận Văn học: luận điểm: Bằng tài năng và sự sáng tạo vượt bậc của mình, Xuân Quỳnh đã tạo cho mình “Một nhan sắc riêng” trong thơ Việt Nam hiện đại Vậy “Nhan sắc riêng”

ấy được thể hiện ở đâu?

+ Giọng điệu thơ Xuân Quỳnh thiên về cảm xúc không hề bị gò bó, khiên cưỡng, những vần thơ trào dâng như xúc cảm mãnh liệt, tự nhiên, phóng khoáng

+ Thơ của chị không chỉ là những rung động mãnh liệt trong cảm xúc mà luôn là những khát khao hướng đến hạnh phúc cuối cùng, đến vs những gì trọn vẹn nhất

+ Thơ Xuân Quỳnh luôn là tiếng nói thật, không chỉ thật, không chỉ khát khao, đắm say, nồng nàn mà còn mạnh mẽ và hết sức táo bạo

+ Những vần thơ của chị càng khao khát yêu đương, càng say đắm,càng nâu niu hạnh phúc đến nhường nào thì càng đọng lại những âu lo, trăn trở khắc khỏai đến vô cùng

- Phương pháp triển khai đoạn văn: có thể triển khai đoạn văn bằng cách diễn dịch, quy nạp,

tổng phân hợp, song hành, móc xích Nhìn chung trên thực tế bài làm tốt nhất nên sử dụng cách

Trang 6

diễn dịch hoặc tổng phân hợp (với bất kì một bài văn nào khi tiến hành xây dựng đoạn thì phải có

ý thức mình đang xây dựng theo phương pháp nào)

III Thực hành liên kết đoạn văn:

- Xác định được ý, tạo một đoạn chưa có nghĩa là chúng ta đã hoàn thành được một bài văn, bởi muốn có một bài văn thì nhất thiết giữa các đoạn văn đó phải có sự xâu chuỗi với nhau Để liên kết được đoạn văn có thể sử dụng những phương pháp sau: sử dụng những liên kết về mặt hình thứ, lặp từ, sử dụng các cặp quan hệ từ, sử dụng những từ chỉ thứ tự hoặc những từ

- Đưa dẫn chứng:

- Là một phần quan trọng bởi vì nội dung nghị luận tạo ra từ lí lẽ và dẫn chứng cho nên bài viết không thể thiếu dẫn chứng Có 2 dạng dẫn chứng

Dẫn chứng bắt buộc Dẫn chứng mở rộng (liên quan đến yêu cầu đề)

- Trong phạm vi bài viết phải tôn trọng và tập trung vào dẫn chứng bắt buộc, tránh chạy theo quá nhiều dẫn chứng mở rộng

Tuy nhiên, văn phải có dẫn chứng mở rộng để đủ tầm kiến thức rộng rãi của mình

Hình thức đưa ra dẫn chứng: trước khi đưa ra dẫn chứng, bắt buộc sử dụng dấu và dấu “” ( khi dẫn chứng một cách gián tiếp thì không dùng dấu “”)

- Khi đưa dẫn chứng vào bắt buộc phải có phân tích để tạo lí lẽ và lập luận cho bài viết nhưng cần đặc biệt chú ý giữa lí lẽ và dẫn chứng phải luôn ăn khớp với nhau Đối với dẫn chứng mở rộng, cần phân tích nhưng không sa đà vào phân tích quá nhiều, quá sâu, chỉ phân tích để phục vụ vấn đề mình đang nghị luận Sau khi phân tích dẫn chứng phải có một câu tổng kết vấn đề nghị luận

Ví dụ:

NGHỆ THUẬT HÀNH VĂN

I GIỌNG VĂN VÀ SỰ THAY ĐỔI GIỌNG VĂN:

Người viết ngoài việc thể hiện quan niệm, tư tưởng của mình thì nhất thiết còn phải bộc lộ được cảm xúc và giọng văn có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện màu sắc biểu cảm đó Nhờ giọng văn người đọc có thể nhận ra người viết tán thành hay phản đối, ngợi ca hay châm biếm, tự tin hay thiết tự tin

- Cần phải thay đổi giọng văn để bộc lộ nhiều trang thái cảm xúc khác nhau của người viết → tránh sự nhàm chán đơn điệu cho bài viết

Trang 7

Cách thay đổi giọng văn:

1.Sử dụng linh hoạt hệ thống từ nhân xưng:

+ Tôi/chúng tôi

+ Ta/chúng ta

+ Những người

“Tôi” phải khai thác một cách triệt để nhằm mục đích diễn đạt ẩn tác giả chủ quan của bản thân, thể hiện thái độ tự tin

VD:

- Ngoài ra, người viết có thể thường xuyên dùng từ “tôi cho rằng, tôi nghĩ rằng, theo tôi” Hệ thống từ nhân xưng này cũng cần phải được khai thác vì người viết phải lôi kéo sự đồng tình, đồng cảm của người đọc, người nghe Những từ nhân xưng này còn tạo cho vấn đề nghị luận trở nên khách quan hơn

VD: Chúng ta đều biết thời gian quyết định thành công cho cuộc sống và thời gian sẽ không đợi

chờ một ai Vậy nên tất cả chúng ta sẽ

2.Cách gọi tên nhân vật, gọi tên tác giả:

- Khai thác từ đồng nghĩa

VD: Chị Dậu: Chị_mẹ cái Tí_vợ anh Dậu_Người đàn bà khốn khổ_Người phụ nữ mạnh mẽ

Các từ đồng nghĩa này phải sử dụng một cách hợp lí theo đúng chi tiết, tính cách nhân vật

- Với tác giả cũng giống như nhân vật, phải tránh từ đầu đến cuối gọi tên tác giả hoặc nhà thơ, nhà văn cũng phải thật sự linh hoạt thay đổi cách xưng hô

- Cần phải nắm rõ đặc điểm, tính cách, nét riêng biệt của nhà văn, nhà thơ

VD: Tố Hữu: nhà thơ_người con xứ Huế_người nghệ sĩ_tác giả “Từ ấy”

- Để tăng sự trân trọng, thân thiết giữa ngưởi viết và tác giả, có thể thay đổi giọng, xưng anh hay chị (lưu ý khi phải chắc chắn tác giả đó sáng tác vào giai đoạn nào, sinh bao nhiêu tuổi ?)

3.Hệ thống sử dụng liên từ:

Vâng, đúng thế, không, chẳng lẽ, như vậy, như thế

- Sử dụng liên từ từ sẽ tạo được ấn tượng như người viết đang tranh luận và đối thoại với người đọc, đoạn văn sẽ sôi nổi hơn, gây sự tập trung với người đọc hơn

II Dùng từ độc đáo:

- Dùng từ hay, dùng từ độc đáo là một trong những yếu tố quyết định để có cách diễn đạt hay Vậy nên là dùng từ hay, linh hoạt, đúng lúc, đúng chỗ Chúng (tức là từ lột tả được thần thái của

sự vật, sự việc một cách độc đáo, mới mẻ)

- Để có được vốn từ hay cần hiểu, nắm chắc được vấn đề mình đang trình bày, tích lũy vốn từ bằng cách học tập ở các nhà văn, nhà phê bình nghiên cứu hoặc chọn lọc vốn từ giảng dạy của giáo viên phải đọc và ghi chép

Trang 8

VD: Chương XIII của tác phẩm “Tắt đèn” không khác gì một cái lòng chảo đã nguội đi lắng đọng

lại một thứ buồn lưu niên, trên đó quằn lên một số sự vật, sự việc

III Viết câu:

Một bài văn nghị luận sử dụng tất cả các kiểu câu nhưng ở học sinh thì thường ưu tiên loại câu kể, trần thuật, câu tả Tuy nhiên, muốn bài viết thành công phải đặc biệt khai thác và sử dụng câu nghi vấn một cách linh hoạt vì câu nghi vấn sẽ gây sự chú ý cho người đọc tạo ra tính tranh luận cho bài viêt và xác định được vấn đề một cách chắc chắn hơn Câu nghi vấn có thể đặt ở đầu hoặc cuối đoạn một cách linh hoạt

VD: Bước vào dòng văn học hiện thực phê phán, khi tên tuổi của nhà văn Ngô Tất Tố, Nguyễn

Công Hoan đang rực rỡ nhưng Nam Cao đã tìm ra được một đề tài mới mẻ, độc đáo Một trong những tác giả vẫn tìm đến những người nông dân quen thuộc, những kiếp người nhỏ bé vẫn xuất hiện thường xuyên trên các trang sách Vậy phải chăng muốn có cách viết sáng tạo, hấp dẫn: lll nhưng quan trọng hơn là trong sáng tác ấy tôi đã nhìn thấy nhà văn tạo cho mình tiếng nói lll cánh nhìn sâu sắc với cuộc sống, con người vừa khách quan, vừa chan chứa yêu thương

1.Câu nghi vấn:

Ví dụ:

* Không chỉ nói “ em nhớ anh “ mà sâu hơn nữa là “ lòng em nhớ đến anh“ Tiếng sóng biển dạt dào , khắc khoải khôn nguôi ấy cũng chính là tiếng sóng của lòng “em” đó ! Sóng không ngủ ư ? Lòng em cũng luôn luôn thao thức , trăn trở nỗi nhớ về anh

2.Câu phủ định của phủ định thay cho câu khẳng định

Ví dụ: Xưa nay , có tình yêu nào mà không được đo bằng nỗi nhớ ? Tình yêu của Xuân Quỳnh cũng như vậy Nỗi nhớ luôn đầy ắp không gian dù dưới lòng sâu hay trên mặt nước , nỗi nhớ ấy tràn ngập thời gian dù là ngày hay đêm

•Cách 1: Nhà văn nhất định phải phản ánh trong sáng tác của mình những sự kiện, những vấn đề nóng bỏng của xã hội

•Cách 2: Nhà văn không thể không phản ánh trong sáng tác của mình những sự kiện, những vấn đề nóng bỏng của xã hội

- Sử dụng câu đó người đọc có thể nhấn mạnh lời khẳng định, thể hiện cảm xúc tự tin khi viết

3.Câu cảm thán

Chủ yếu thể hiện bằng dấu “!” (tất nhiên đôi khi có thể sử dụng từ ngữ cảm thán)

Ví dụ: Hình ảnh đó phải là tiếng nói của Quang Dũng vang vọng đến đoàn quân Tây Tiến?

Không! Đó là tiếng long của tác giả “ xa rồi TÂy Tiến ơi !” nhưng tấm lòng thì vẫn tha thiết lắm!

IV Viết văn có hình ảnh

- Vốn dĩ là văn bản của tư duy, tuy nhiên vẫn có thể tạo tính tươi mát cho văn nghị luận theo cách riêng của mình Cụ thể sử dụng phép tu từ so sánh một cách chính xác, bất ngờ, thú vị, gợi cảm

Trang 9

Ví dụ: Ở trùng vi thạch trận vòng thứ nhất , sông Đà hiện lên như một kẻ thù nham hiểm , xảo quyệt , không chỉ sóng gió mênh mang , hút nước , thác nước còn bầy binh bố trận “bọt tung trắng xóa cả một chân trời đá “

*Với những lối so sánh độc đáo , sông Đà hiện lên không khác gì loài thủy quái với những tiếng kêu ghê rợn như muốn khủng bố tinh thần và uy hiếp con người Ở đây , Nguyên Tuân như một nhạc trưởng đang điều khiển một dàn giao hưởng thật hùng tráng bài ca của gió thác xô sóng đá

- Trước hết chúng ta sử dụng phép so sánh trong một câu văn:

VD: Có những cuốn sách đi qua cuộc đời ta như một cơn gió nhẹ nhàng cũng có những cuốn sách

đi qua ta như một dòng chảy qua tâm hồn để lại phù sa lắng đọng

- Phải có mật độ trong việc sử dụng phép so sánh, tránh lạm dụng làm bài viết rơi vào khoa trương, nhạt nhẽo

Liên hệ So sánh vấn đề nghị luận

+ Ngay cả khi đề bài không yêu cầu so sánh vẫn phải so sánh trong bài làm của mình để làm sáng

tỏ vấn đề nghị luận, thể hiện người viết có kiến thức phong phú Bài viết sẽ hay hơn, có hình ảnh hơn

+ So sánh cốt là để làm nổi bật cái hay, cái đẹp của vấn đề mình đang nghị luận chứ không phải phô trương kiến thức một cách lan man, mất trọng tâm, bài viết sẽ trở nên tản mạn, lạc đề

Ví dụ: Quang Dũng đã gắn bó với thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc trong suốt chặng đường hành quân “gót mòn hành quân hối hả”, từng địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khéo léo tiếp nối nhau đi vào những vần thơ êm dịu, mỗi nơi mà bước chân nhà thơ từng đi qua thì tâm hồn nhà thơ đều thấy yêu thương, gắn bó, ta cũng bắt gặp những tình cảm thắm thiết, sâu nặng như thế qua

ý thơ của tác giả Chế Lan Viên: “Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương” (Tiếng hát con tàu)

Dẫn dắt vấn đề gián tiếp

Ví dụ: * Nói về những sự mất mát đau thương , gian khổ mà chiến tranh gây ra Chế Lan Viên cũng từng viết “ Tôi qua những con sông Lào đâu chỉ uống vào thơ – Gặp nghìn nấm mộ - Và trăm bản Lào bom Mĩ đốt ra tro” Ai cũng biết hiện thực của chiến tranh vô cùng khốc liệt Chiến tranh là hi sinh , là mất mát , là đạn bom ác liệt Sự thật tàn khốc ấy được Quang Dũng lột tả qua những câu thơ “ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc – Quân xanh màu lá dữ oai hùm” hay “ Rải rác biên cương mồ viễn xứ

* Xưa nay , có tình yêu nào mà không được đo bằng nỗi nhớ ? trong ca dao nói “nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ như đứng đống lửa như ngồi đống than” còn trong truyện Kiều viết “Sầu đong càng lắc càng đầy/ ba thu dọn lại một ngày dài ghê” thì nay nỗi nhớ thiết tha, bổi hổi của người con gái khi yêu được Xuân Quỳnh diễn tả thật nồng nàn, say đắm hơn bao giờ hết qua khổ thơ sau: … Nỗi nhớ luôn đầy ắp không gian dù dưới lòng sâu hay trên mặt nước, nỗi nhớ ấy tràn ngập thời gian dù

là ngày hay đêm

Trang 10

V Lập luận phải sắc sảo, chặt chẽ

Muốn lập luận sắc sảo, chặt chẽ cần:

Khi viết nên đặt mình vào vị trí của người đọc, tự cho rằng người đọc không cùng ý kiến với mình rồi gỉa định những lời phản bác của người đọc để lập luận, lí giải

VD: Cuộc sống với những hiện thực phong phú, phức tạp vừa là đối tượng hướng tới, vừa là

nguồn mạch nuôi dưỡng văn học Quay lưng lại với cuộc sống, mới mẽ với những chuyện đúc chữ, luyện công Lục Du- người đã vứt hàng ngàn câu thơ, lúc sắp mất để lại cho con lời chăn trối mang nặng chiêm nghiệm của một nhà thơ tài năng, đi trọn cuộc đời mới thấu hiểu cái lẽ “Công phu của thơ là ở ngoài thơ” Thì ra sức nặng trong thơ, của những dòng chữ lại chính là ở cuộc đời đầy nắng gió ngoài kia Nhà thơ, nhà văn phải tìm đến đó để ngòi bút viết lên từ thứ mực từ chính cuộc đời được chưng cất đầy phức tạp, bộn bề Văn học ra đời từ cuộc sống một cách tự nhiên như một thông lệ

- Lật đi lật lại vấn đề, vào trước đón sau

- Phải sử dụng thuần thục hệ thống từ lập luận: giả sử, nếu như, do đó, tuy thế

Với học sinh còn một số lỗi sau: lập luận lộn xộn, dẫn chứng thiếu chính xác, luận điểm không rõ ràng, đó là những lỗi không thể xác định

VI Xác định làm văn là một phân môn thực hành

VD: Xác định như vậy không có nghĩa là chúng ta coi thường lí thuyết nhưng trên thực tế thì đối

với làm văn, muốn một bài văn hay bắt buộc phải thực hành

VII Xác định làm văn là một phân môn thực hành

VD: Xác định như vậy không có nghĩa là chúng ta coi thường lí thuyết nhưng trên thực tế thì đối

với làm văn, muốn một bài văn hay bắt buộc phải thực hành

MỘT SỐ LƯU Ý CƠ BẢN ĐỂ BÀI VIẾT ĐẠT ĐIỂM 5

I. Đọc kĩ đề:

- xác định yêu cầu trọng tâm vào mở bài nhưng phải uyển chuyển, khéo léo

- Nếu yêu cầu của đề bài là một trích dẫn thì đưa nguyên văn trích dẫn vào mở bài

II Vận dụng hệ thống ý:

- Sau khi xác định được yêu cầu trọng tâm, bắt buộc phải xác định được hệ thống ý trên giấy nháp

- Khi đã có hệ thống ý thì bắt buộc tuân thủ hệ thống ý (tất nhiên không tuân thủ một cách cứng nhắc)

- Giữa các ý bắt buộc phải có một câu liên kết

III. Lập luận:

Trong một văn bản nghị luận, lập luận chính là lí lẽ và dẫn chứng (dẫn chúng thực tế, dẫn chứng trong tác phẩm) Nếu bài viết thiếu dẫn chứng thì bài viết đó không đạt yêu cầu

Khi đưa dẫn chứng thì lí lẽ và dẫn chứng phải thống nhất

Ngày đăng: 20/02/2023, 16:17

w