1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Mot so de nghi luan van hoc ve bai song ngu van 12

68 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So De Nghi Luan Van Hoc Ve Bai Song Ngu Van 12
Tác giả Tố Hữu
Trường học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Luận văn học
Năm xuất bản 1975
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 111,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Tố Hữu và tác phẩm ” Việt Bắc” Cảnh vật và tinh thần Việt Bắc đã nhập vào hồn tôi, máu thịt tôi, Việt Bắc ở trong tôi (Tố Hữu – “Nhà văn nói về tác phẩm”) Thơ là đi giữa nhạc và ý Rơi vào cái vực ý,[.]

Trang 1

1 Tố Hữu và tác phẩm ” Việt Bắc”

Cảnh vật và tinh thần Việt Bắc đã nhập vào hồn tôi, máu thịt tôi, Việt Bắc ở trong tôi

(Tố Hữu – “Nhà văn nói về tác phẩm”)

Thơ là đi giữa nhạc và ý Rơi vào cái vực ý, thì thơ sẽ sâu, nhưng rất dễ khô khan Rơi vào cái vực nhạc, thì thơ dễ làm đắm say người, nhưng cũng dễ nông cạn Tố Hữu đã giữ được thế quân bình giữa hai vực thu hút ấy Thơ của anh vừa ru người trongnhạc, vừa thức người bằng ý

(Chế Lan Viên – “Lời nói đầu tuyển tập thơ Tố Hữu”)

Việt Bắc là đỉnh thơ cao nhất mà Tố Hữu đã bước lên (Xuân Diệu – “Tập thơ ViệtBắc của Tố Hữu”)

Sức mạnh của thơ Tố Hữu trong những ngày đen tối ấy chính là vì nó nói với trái tim, chính là bởi người cách mạng ấy là một thi sĩ chính cống, thật sự

(Xuân Diệu -“Tố Hữu với chúng tôi”)

Lịch trình tiến triển về thơ của Tố Hữu đi song song với lịch trình tiến triển về tư tưởng và trình độ giác ngộ, về sức hoạt động của Tố Hữu

Thơ Tố Hữu không phải là một trò tiêu khiển mà là một khí cụ đấu tranh, một công tác vận động của người cách mạng

Người Tố Hữu là một thi sĩ, một chiến sĩ nhưng chúng ta đừng quên cốt cách của

nó là thi sĩ

(Lời giới thiệu tập Thơ của Tố Hữu,Văn hóa Cứu quốc Việt Nam xuất bản, 1946)

Tố Hữu không tô vẽ lên nhân vật quần chúng những nét sơn hào nhoáng, giả tạo Tình cảm của nhân vật thơ anh biểu hiện lên từ bản chất giai cấp, từ đời sống thực

Người bộ đội chiếm một địa vị quan trọng trong tập thơ Việt Bắc, chính là người nông dân nghèo khổ

(Chặng đường mới của chúng ta, 1961, Hoàng Trung Thông)

Trang 2

Với Tố Hữu, thơ là vũ khí đấu tranh cách mạng Ðó chính là đặc sắc và cũng là bí quyết độc đáo của Tố Hữu trong thơ

(Lời giới thiệu tập thơ Từ ấy, Văn học, 1959, Đặng Thai Mai)

Thơ Tố Hữu là thơ một con người biết trân trọng lấy đời mình, muốn làm cho đời mình trở nên hữu ích Vậy thì ai kia còn phung phí đời mình, làm gì cũng được, sống sao cũng xong, trong khi đọc thơ này hãy bắt đầu thử dừng lại mà biết quý lấyđời mình, mà đem xây dựng nó

Phong cách dân tộc ở Tố Hữu thể hiện ở chỗ thơ anh giàu chất nhạc, anh nắm rất vững cái âm điệu, vần điệu của dân tộc

… Thơ anh là lối thơ lấy cái đường đi toàn đời, lấy cái hơi toàn tập, lấy cái tứ toàn bài là chính… Anh là một con chim vụ ở đường bay hơn là bộ lông, bộ cánh, tuy vẫn là lông cánh đẹp

(Lời nói đầu cho tuyển tập 1938 – 1963 của Tố Hữu, Văn học, 1964, Chế Lan

Viên)

Nhà thi sĩ ấy tự muốn mình là tiếng nói của dân tộc mình Vậy thì dân tộc ấy có năng khiếu thơ thông qua nhà thi sĩ Các dân tộc hiện đại, đã công nghiệp hóa rồi,

đã bị san phẳng bởi những phương tiện tuyên truyền, không còn có một năng khiếu

về hình tượng như thế nữa; không còn suối nguồn ở bản thân mình nữa Nhưng Tố Hữu đắm mình trong dân tộc của mình, đồng thời là một thi sĩ độc đáo, một nhà sáng tạo ra các hình thể Người ta càng cảm thấy điều đó rõ hơn khi anh nói một cách rất hay về thơ

(Lời tựa tập thơ Máu và hoa, xuất bản ở Pháp, năm 1975, Pierre Emmanuel)

Tập thơ Máu và hoa này xuất bản vào mùa thu năm 1975 tôi tin rằng tạp chí Châu

âu (Europe) sẽ đón chào nó như một sự kiện văn học

Jacques Gaucheron – Con đường của Tố Hữu (trong tập Máu và hoa (Sang et

Fleurs) EFR, Paris, 1975)

Thơ của chàng thanh niên Tố Hữu khi ấy từ trái tim vọt ra cũng như thơ của chúng tôi, cũng lãng mạn như thể chúng tôi, nhưng là thứ lãng mạn khác, có nhiều máu huyết hơn; thơ chúng tôi chỉ đập cho mở cửa trời, nhưng thơ Tố Hữu thì mới có chìa khóa: Cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng cho người lao khổ

Trang 3

(Tố Hữu với chúng tôi, 1975, Xuân Diệu)

Một tiếng nói yêu thương luôn luôn chan hòa ánh sáng, tự nó cũng là ánh sáng, lại hết sức linh hoạt và uyển chuyển, mỗi lúc một khác, mỗi nơi một khác, kể cả những lúc chỉ là sự im lặng giữa các dòng thơ Phải chăng đây chính là bản sắc riêng của thơ Tố Hữu

(Chuyện thơ, 1978, Hoài Thanh)

Thơ Tố Hữu bao giờ cũng mới, càng ngày càng mới, vì nó thể hiện thế giới quan cách mạng của chủ nghĩa Mác, hệ tư tưởng vô sản, đạo đức cộng sản chủ nghĩa là những tư tưởng càng ngày càng trở thành cách nhìn, nếp sống phổ biến của những con người mới của thời đại

(Bình luận văn học, 1964, Như Phong)

2 Nhận định về Quang Dũng và tác phẩm ” Tây tiến”

“… Tây Tiến là sự tiếp tục của một dòng thơ lãng mạn nhưng đã được tác giả thổi vào hồn thơ rất trẻ, rất mới, khác hẳn những tiếng thơ bi lụy não nùng Cũng khơi nguồn cảm hừng từ một thời gian khổ và oanh liệt của lịch sử đất nước nhưng Tây Tiến đã được thể hiện một cách đặc sắc qua ngòi bút Quang Dũng, với một tâm trạng cụ thể- nỗi nhớ đồng đội trong đoàn quân Tây Tiến Chính niềm thương nhớ

da diết và lòng tự hào chân thành của tác giả về những người đồng đội của mình đãkhiến người đọc của nhiều thế hệ rung cảm sâu xa và đó cũng chính là âm hưởng chủ đạo của bài thơ này…”

(Vũ Thu Hương, in trong Vẻ đẹp văn học cách mạng).

“… Tây Tiến – tượng đài bất tử về người lính vô danh…” ( Vũ Thu Hương)

“… Tây Tiến … nơi mà con người Tây Tiến, chiến sĩ Tây Tiến, núi rừng Tây Tiến

đã vượt ra ngoài những cảm quan ban đầu của hồn thơ Quang Dũng để đến với đại ngàn thi hứng Nơi ấy, cuồn cuộn dòng chảy lạnh lùng và đa tình, hiện thực và lãngmạn, bi và tráng Một Tây Tiến không chỉ níu kéo bước chân người lính trong nỗi niềm nhớ… Tất cả đều gợi ấn tượng của sự “lạ hóa”, của những vẻ đẹp kì ảo khó gọi tên…”

(Đinh Minh Hằng, in trong Vẻ đẹp văn học cách mạng)

“…Tây Tiến- sự thăng hoa của một tâm hồn lãng mạn (Đinh Minh Hằng)…”

Trang 4

“… Tôi làm bài thơ này rất nhanh Làm xong, đọc trước đại hội được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt Hồi đó tấm lòng và cảm xúc của mình ra sao thì viết vậy Tôi chả chút lí luận gì về thơ cả…”

(Quang Dũng)

3 Nhận định về Xuân Quỳnh và tác phẩm Sóng

“Xuân Quỳnh viết bài này “bợm” thật!”.

(Nhà thơ Vũ Cao, Chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ quân đội)

“Đó là cuộc hành trình khởi đầu là sự từ bỏ cái chật chội, nhỏ hẹp để tìm đến một tình yêu bao la rộng lớn, cuối cùng là khát vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hóa thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thở”

(GS TS Trần Đăng Suyền)

“Ở mỗi tập thơ của Xuân Quỳnh, những bài viết của tình yêu thường để lại nhiều

ấn tượng hơn cả Với giọng điệu hết sức thơ hết sức tự nhiên, bài “Sóng” thể hiện một tình yêu sâu sắc, bồi hồi, thao thức đến cả trong giấc mơ Dù có những gian truân cách trở, nhưng tình yêu bao giờ cũng đẹp, cũng đến được tận cùng hạnh phúc, như con sóng nhỏ đến với bờ ”

(Nhà thơ Việt Nam hiện đại, GS Phong Lê chủ biên

“Thơ Xuân Quỳnh là thơ của một cánh chuồn chuồn bay tìm chỗ nương thân trong nắng nôi dông bão của cuộc đời … Thế giới thơ ca Xuân Quỳnh là sự tương tranh không ngừng giữa khắc nghiệt và yên lành với những biểu hiện sống động và biến hóa khôn cùng của chúng Ở đó trái tim thơ Xuân Quỳnh là cánh chuồn chuồn báo bão cứ chao đi chao về, mệt nhòai giữa biến động và yên định, bão tố và bình yên, chiến tranh và hòa bình, thác lũ và êm trôi, tình yêu và cách trở, ra đi và trở lại, chảy trôi phiêu bạt và trụ vững kiên gan, tổ ấm và dòng đời, sóng và bờ, thuyền và biển, nhà ga và con tàu, trời xanh và bom đạn, gió Lào và cát trắng, cỏ dại và nắng lửa, thủy chung và trắc trở, xuân sắc và tàn phai, ngọn lửa cô đơn và đại ngàn tối sẫm…”

(Chu Văn Sơn)

Trang 5

“Điều đáng quý nhất ở Xuân Quỳnh và thơ Xuân Quỳnh là sự thành thật rất thành thật, thành thật trong quan hệ bạn bè, với xã hội và cả tình yêu Chị không quanh

co không giấu diếm một điều gì Mỗi dòng thơ, mỗi trang thơ đều phơi bày một tình cảm, một suy nghĩ của chị Chỉ cần qua thơ ta biết khá kĩ đời tư của chị Thànhthật, đây là cốt lõi thơ Xuân Quỳnh”

(Võ Văn Trực)

4 Nguyễn Tuân và “Chữ người tử tù” – “Người lái đò Sông Đà”

Chỉ người ưa suy xét đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú vị, vì văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức

(Nguyễn Ðăng Mạnh)

Tác phẩm gần đạt đến độ “toàn thiện toàn mỹ” ấy (Vũ Ngọc Phan) góp phần đưa nghệ thuật văn xuôi Việt Nam phát triển thêm một bước mới trên con đường hiện đại hóa “Vang bóng một thời” vẽ lại những cái “đẹp xưa” của thời phong kiến suy tàn, thời có những ông Nghè, ông Cống, ông Tú thích chơi lan chơi cúc, thích đánhbạc bằng thơ hoặc nhấm nháp chén trà trong sương sớm với tất cả nghi lễ thành kính đến thiêng liêng […] “Vang bóng một thời”, vì thế, có thể được xem như mộtbảo tàng lưu giữ các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc

Giáo sư Nguyễn Ðăng Mạnh có nhận định : “Hạt nhân của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể gói gọn trong một chữ ngông Cái ngông vừa có màu sắc cổ điển, kế thừa truyền thống tài hoa bất đắc chí của những Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Ðà,… và trực tiếp hơn là cụ Tú Lan, thân sinh nhà văn ; vừa mang dáng vẻ hiện đại, ảnh hưởng từ các hệ thống triết lý nổi loạn của xã hội tư sản phương Tây như triết lý siêu nhân, quan niệm về con người cao đẳng, thuyết

hiện ”

Trang 6

Ông xứng đáng được mệnh danh là “chuyên viên cao cấp tiếng Việt”, là “người thợ kim hoàn của chữ” (Ý của Tố Hữu), Tinh thần tự nguyện dấn thân, bám trụ ở thành trì cái Ðẹp là biểu hiện sinh động của một nhân cách văn hóa lớn Nhà văn Nguyễn Tuân “đặc Việt Nam” (chữ dùng của Vũ Ngọc Phan) từ quan niệm cho tới thực tế sáng tác

“… Đọc Người lái đò sông Đà, ta có ấn tượng rõ rệt về sự tự do của một tài năng, của một đấng hóa công thực sự trong nghệ thuật ngôn từ… Khi gân guốc, khi mềmmại, khi nghiêm nghị như một nhà bác học, khi hồn nhiên như một đứa trẻ thơ, những trang viết, những câu văn của Nguyễn Tuân mang hơi thở ấm nóng của cuộcđời phức tạp, phong phú, đa dạng Sự tự ý thức sâu sắc về tài năng của mình khôngphải là một biểu hiện tiêu cực, trái lại, nó tạo nên sự giải phóng năng lượng rất cần thiết để nhà văn có thể sáng tạo nên những tác phẩm kì vĩ…” (Phan Huy Đông, in trong Vẻ đẹp văn học cách mạng)

“… Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một con Sông Đà không phải là thiên nhiên vô tri,

vô giác, mà là một sinh thể có hoạt động, có tính cách, cá tính, có tâm trạng hẳn hoi và khá phức tạp Nó có hai nét tính cách cơ bản đối lập nhau như tác giả nói –

Trang 7

Mở bài Sóng 2

Tình yêu là đề tài đầy ma lực với bao ngòi bút thơ ca, là cung đàn muôn điệu làmrung động bao trái tim yêu để từ đó ngân lên thành lời thơ nhân loại Mỗi một nhàthơ đều có những cảm nhận khác nhau về tình yêu: một Tago đầy triết lý ngụ ngôn;một Puskin nồng nàn và cao thượng, một Xuân Diệu rạo rực, đắm say, vồ vập;một Hàn Mặc Tử say đắm mà bơ vơ…Và đến với bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh talại bắt gặp một cảm xúc tình yêu đầy trăn trở khát khao của một tâm hồn ngườiphụ nữ luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường

Mở bài Sóng 3

Là nhà thơ có cuộc đời nhiều sóng gió, Xuân Quỳnh luôn khao khát tình yêu,khao khát mái ấm gia đình và tình mẫu tử Thơ Xuân Quỳnh là tiếng nói của ngườiphụ nữ giàu yêu thương, khao khát hạnh phúc bình dị đời thường; cũng là tiếnglòng của một người nhiều âu lo, day dứt, trăn trở trong tình yêu Xuân Quỳnh córất nhiều bài thơ hay, tiêu biểu là bài thơ “Sóng”

Mở bài Sóng 4

Sẽ thật là thừa thãi khi nói về vẻ đẹp, sự huyền bí, sự hấp dẫn, niềm sung sướng và

cả những đớn đau do Tình Yêu đem lại Thế gian đã tốn bao nhiêu giấy mực, thậmchí cả máu để nói, viết, ca tụng cho Tình Yêu Trong cuộc đời trần tục đầy biến ảonày, mọi thứ đều thay đổi, nhưng có một thứ là bất biến, vĩnh hằng Đó chính là sựthuần khiết, lung linh của Tình yêu Thế giới tình yêu vốn đã đẹp, thế giới tình yêutrong thơ ca lại càng đẹp hơn Mỗi vần thơ viết về tình yêu đều lung linh lãng mạn.Câu chuyện tình yêu nào cũng là câu chuyện cổ tích đẹp đẽ Và có lẽ, Sóng củaXuân Quỳnh là câu chuyện cổ tích hay nhất về tình yêu mà ta từng đọc Bằng thểthơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu, nhịp sóng và nhịp lòng – Xuân Quỳnh đã kể ta nghe

về những khát khao bình dị của người phụ nữ trong tình yêu

Dẫn đoạn sau vào đầu thân bài

– Bài thơ “Sóng” được Xuân Quỳnh sáng tác tại biển Diêm Điền năm 1967, sau

được in trong tập “Hoa dọc chiến hào” Bài thơ mang âm hưởng của những consóng biển và những con sóng lòng đang khao khát tình yêu Bài thơ có hai hìnhtượng cùng song hành và hòa điệu, đó là “Sóng” và “Em” Hai hình tượng này đãtạo nên nét đáng yêu cho bài thơ

Trang 8

Nghệ thuật:

Với thể thơ năm chữ giàu nhịp điệu, Xuân Quỳnh đã kể câu chuyện cổ tíchtình yêu rất đặc sắc Sử dụng linh hoạt các phép tu từ nhân hoá, ẩn dụ, điệp từ điệpngữ làm cho những con sóng biển trở nên gần gũi và thân quen Ngôn ngữ mộcmạc, giản dị; giọng thơ tràn đầy nữ tính với những da diết chân thành trong tìnhcảm

Kết bài Sóng – Xuân Quỳnh

Tóm lại, Sóng là câu chuyện tình yêu đẹp và nhân văn của một hồn thơ nữtính luôn giàu những khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường Sóng đã đi vào lòngngười và mãi mãi khắc ghi một bài ca không quên về một câu chuyện tình yêu đầylãng mạn Gấp trang sách lại rồi mà dường như trong ta vẫn còn ngân nga một giaiđiệu của sóng và của em:

Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Là máu thịt đời thường ai chẳng có

Dẫu ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa

Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi

Trang 9

Bồi hồi trong ngực trẻ

Đến hai khổ thơ cuối, tình yêu tan vào sóng để dâng hiến và bất tử:

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

– Nêu ý phụ: rút ra nhận xét về sự vận động giữa hình tượng sóng em

3.2 Thân bài: (3,5 điểm)

1 a) Khái quát sơ lược về tác phẩm cần cảm nhận 0.25 đ

2 b) Cảm nhận vẻ đẹp của tình yêu 2.25 đ

– Khổ 1-2, nhân vật trữ tình soi mình vào sóng để nhận thức về tình yêu

– Những dạng thức tồn tại của sóng cũng là những trạng thái tâm hồn đầy mâu thuẫn, phức tạp trong tình yêu của em: dữ dội – dịu êm; ồn ào – lặng lẽ…

Trang 10

– Con sóng luôn muốn tìm đến đại dương bao la để thỏa sức vẫy vùng vì không chịu được sự nhỏ bé, hạn hẹp của những dòng sông Em cũng thế, cũng luôn muốn tìm thấy một tình yêu bao dung, rộng lớn để có thể “hiểu nổi mình”.

– Sóng luôn tồn tại như một quy luật bất biến trên cõi đời, khi nào trái đất còn quaythì đại dương vẫn còn bao la, xanh thẳm, dù xưa hay nay “vẫn thế” Tình yêu cũng trở thành quy luật bất biến trong đời sống nhân loại, nhất là tình yêu luôn gắn với tuổi trẻ hồn nhiên, sôi nổi, nhiệt thành như tình yêu của em

– Khổ 8-9: tình yêu tan vào sóngđể dâng hiến và bất tử

– Khi đứng trước đại dương, em – cái tôi trữ tình của người con gái đang yêu – nhận ra rằng biển cả dù lớn thì cũng đều có giới hạn: bến bờ Từ đó, trong lòng em gợn lên những suy tư, trăn trở, lo âu khi nhận ra sự ngắn ngủi, hữu hạn của đời người (Khổ 8, “cuộc đời tuy dài thế…)

– Biển cả dẫu có giới hạn như cuộc đời mỗi người nhưng những con sóng không bao giờ ngơi nghỉ cũng như tình yêu đã trở nên bất diệt, song hành mãi mãi cùng nhân loại Từ những chiêm nghiệm ấy, em đã ao ước, khát khao hướng đến một tình yêu trường tồn, vĩnh hằng; cái tôi yêu đương đã sẵn sàng dâng hiến để trở nên bất tử (Khổ 9, “Làm sao được tan ra…”)

* Những đặc sắc nghệ thuật: Thể thơ năm chữ nhịp ngắn, giàu nhạc điệu; hình ảnh ẩn dụ đồng hiện giữa “sóng” và “em”; từ ngữ, hình ảnh khơi gợi nhiều cảm xúc.

1 c) Bàn luận mở rộng: Nhận xét về sự vận động của hình tượng sóng và

– Đến hai khổ cuối, sóng không còn đóng vai một đối tượng khơi gợi cảm xúc nữa

mà thật sự đã trở thành một hình tượng song hành, đồng hiện cùng với hình tượng

“em” Khát vọng của em đã tan ra thành “trăm con sóng”; giai điệu của sóng cũng

là lời bài hát ca ngợi một tình yêu trường tồn để âm giai của cả em và sóng cùng hòa nhịp đến vĩnh hằng “ngàn năm còn vỗ”

Trang 11

* Sự vận động của hình tượng “em”.

– Em ở hai khổ thơ đầu là một cái tôi đang nung nấu một tình yêu cháy bỏng, đầy cung bậc cảm xúc Cái tôi ấy dễ dàng rung động trước hình ảnh giầu tính biểu cảm với tình yêu như sóng và cái tôi ấy cũng ẩn chứa bao giai điệu đẹp của khát vọng, của những nỗi bồi hồi trong trái tim của một cô gái trẻ

– Đến hai khổ cuối, qua một hành trình đồng hành cùng sóng với những bí ẩn không lời đáp, với nỗi nhớ, với khát khao vượt qua tất cả để hướng về nhau, cái tôi tình yêu trong em dường như đã có sự trưởng thành Không còn là một cái tôi đầy xúc cảm phức tạp nữa mà suy tư của em đã tập trung cho những lo âu, trăn trở về một cuộc đời ngắn ngủi, hữu hạn có thể biến tình yêu thành điểm chết tuyệt vọng

Đó vẫn là một cái tôi đầy mãnh liệt, khao khát nhưng không phải từ một ái tình liều lĩnh, bất chấp mà là cái tôi muốn hòa vào sự bất tử của thiên nhiên để hát mãi khúc tình ca

– Em và sóng từ hai hình tượng tách bạch, đơn lẻ đã có sự hòa quyện, đồng điệu trong ngòi bút đầy tinh tế Sự vận động của hai hình tượng cũng là sự chuyển biến trong mạch cảm xúc của Xuân Quỳnh, nhà thơ vốn dĩ đã đầy khao khát yêu

thương

3.3 Kết bài: (0.25 điểm)

– Khẳng định lại ý nghĩa, giá trị của tác phẩm

– Nêu bài học liên hệ: hướng tới tình yêu trong sáng; sự trưởng thành trong tình yêu

Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong khổ 5 bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Thơ là cây đàn muôn điệu, là nhịp thở con tim Thơ diễn tả rất thành công mọi cung bậc cảm xúc của con người: niềm vui, nỗi buồn, sự cô đơn, tuyệt vọng… Có những tâm trạng của con người chỉ có thể diễn đạt bằng thơ vì vậy thơ không chỉ nói hộ lòng mình, mà nó còn là tiếng nói của một trái tim đang rạo rực, yêu đương.Với tình yêu da diết, mãnh liệt, Xuân Quỳnh đã viết “Sóng” Đọc tác phẩm, ta sẽ thấy được những vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ đặc biệt là vẻ đẹp tâm hồn của một người phụ nữ khi yêu và điều đó được thể hiện qua đoạn thơ:

Trang 12

Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn Mọi hành động sử dụng

nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

“Con sóng dưới lòng sâu

………

Dù muôn vời cách trở”

Quả không sai khi nói rằng với người làm thơ thì bài thơ là một phương tiện quan trọng để biểu đạt cảm xúc Chỉ có cảm xúc chân thật mới là cơ sở đễây dựng nên một tác phẩm nghệ thuật chân chính Cảm xúc càng mãnh liệt, thăng hoa, bài thơ càng có sức ám ảnh đối với trái tim người đọc Mang trong mình sứ mệnh cao cả của người cầm bút, Xuân Quỳnh đã không ngừng sáng tạo, đổi mới phong cách của mình Với những đóng góp đó, bà đã khẳng định được vai trò và vị trí của mình trên nền văn học hiện đại và được biết đến là một gương mặt tiêu biểu cho thế hệ nhà thơ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ Trong sự nghiệp văn chương đồ sộ của Xuân Quỳnh, ta không thể không kể đến bài thơ “Sóng” Tác phẩm chính là kết quả trong chuyến đi thực tế tại biển Diêm Điền (Thái Bình) của Xuân Quỳnh năm 1967, in trong tập “Hoa dọc chiến hào” (1968) Có thể nói, đây là một trong những bài thơ hay nhất của Xuân Quỳnh viết về tình yêu

Xuyên suốt trong tác phẩm là hình tượng sóng Đây chính là hình ảnh ẩn dụ cho nỗi nhớ, tình cảm, trạng thái của nhân vật trữ tình vì vậy sóng và em luôn song hành với nhau, sóng chính là nỗi lòng, em soi mình vào sóng để hiểu mình hơn Cũng từ đó mà vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ được khẳng định và làm sáng tỏ

Mở đầu đoạn thơ, vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ được gửi gắm qua sự thủy chung, son sắt Trong tình yêu, người phụ nữ luôn mong có được một tình yêu lớn lao, mãnh liệt bởi vậy, họ luôn giữ cho mình tấm lòng thủy chung và sự thủy chung

ấy chính là nỗi nhơ da diết dành cho người mình yêu:

“Con sóng dưới lòng sông

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được”

Trang 13

Dường như nỗi nhớ của nhân vật em đã lam tỏa khắp không gian “dưới lòng sâu”, trên mặt nước, bao trùm cả thời gian “ngày đêm” và nỗi nhớ ấy càng trở nên vô tậnhơn khi đặt trong hình tượng sóng Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, ta đã từng bắt gặp nỗi nhớ đầy đáng yêu của Xuân Diệu:

“Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh

Anh nhớ em, nhớ lắm em ơi”

Hay như Nguyễn Bính, ông cũng đã từng bày tỏ nỗi nhớ phảng phất nét mộc mạc đúng chất của một nhà thơ chân quê:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người”

Nhưng nhớ tới mức “cả trong mơ còn thức” thì có lẽ chỉ Xuân Quỳnh mới có Nhà thơ đã rất đúng khi cho rằng trên đời này không gì có thể sánh bằng tình yêu kể từ khi được yêu, được sống trong hạnh phúc, Xuân Quỳnh luôn đặt tình yêu lên ngai vàng của trái tim Tình yêu và nỗi nhớ của bà không chỉ tồn tại trong vô thức kể cả trong những giấc mơ thì tình yêu của em vẫn luôn hướng về anh:

“Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”

Đoạn thơ đã sử dụng các cặp từ đối lập “xuôi- ngược”, “Bắc- Nam” Đặc biệt, sự kết hợp cặp từ đối lập với hai đối cực Bắc, Nam đã diễn tả sự đối lập ở mức cao

độ Người ta thường nói “Xuôi về phương Bắc, ngược về phương Nam” nhưng ở đây lại hoàn toàn ngược lại Từ đó, Xuân Quỳnh muốn khẳng định dù đất trời có thay đổi, vũ trụ có biến thiên thì người phụ nữ vẫn không bao giờ thay đổi Ở đoạn thơ này, Xuân Quỳnh còn sáng tạo ra một phương mới, đó chính là phương anh Phải chăng, đây chính là phương tâm trạng, phương tình cảm của người phụ nữ

Đó chính là nơi hpoj luôn hướng về để tìm được sự bình yên sau những giông tố của cuộc đời

Trang 14

Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh còn là sự vượt qua nhữngkhó khăn, thử thách trong tình yêu Tình yêu chính là sức mạnh để họ bước đến hạnh phúc:

“Ở ngoài kia đại dương

Ngàn trăm con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dẫu muôn vời cách trở”

Sóng ngàn năm vẫn vậy, dẫu có chuyện gì xảy ra đích đến của nó vẫn là bờ, muôn ngàn năm sau vẫn thế Xuân Quỳnh đã phát hiện ra quy luật của sóng rất giống với quy luật của tình yêu Tình yêu từng khi có sự ồn ào nhưng ẩn sâu trong đó vẫn luôn hướng tới sự nhẹ nhàng, tình yêu nhiều khi có những dữ dội nhưng đích đến cuối cùng vẫn là sự ngọt ngào, êm dịu Và dù cho có chuyện gì xảy ra, em và anh cũng nhất định vượt qua để đến với bến bờ hạnh phúc

Cũng từ hình tượng “sóng”, Xuân Quỳnh đã cho người đọc thấy dduwwocj vẻ đẹp mới mẻ trong tâm hồn của người phụ nữ đó chính là sự chủ động trong tình yêu

Sự chủ động của người phụ nữ cũng giống như những con sóng vượt đại dương để vào bờ:

“Con nào chẳng tới bờ

Dẫu muôn vời cách trở”

Nếu trong ca dao, dân ca, trong cuộc sống cũng như tình yêu, người phụ nữ luôn ở thế bị động:

“Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?”

Ngay cả Hồ Xuân Hương, dù có táo bạo đến đâu nhưng cũng phải lấy chữ duyên, chữ phận làm duyên cớ để nói về chuyện tình cảm:

“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương đã quệt rồi

Trang 15

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi”

Thì Xuân Quỳnh lại hết sưc chủ động trong chuyện tình cảm của mình:

“Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

Qua hình hượng sóng cùng hình tượng nhân vật “em”, Xuân Quỳnh đã cho người đọc đi sâu khám phá vẻ đẹp tâm hồn của những người phụ nữ, đó chính là nỗi nhớ của sự thủy chung, là niềm tin để vượt qua trắc trở, cùng sự chủ động đến với tình yêu của bản thân Đó chính là những nét đẹp đáng trân trọng và nâng niu

Thể thơ năm chữ, cách ngắt, nhịp uyển chuyển, từ ngữ giàu sức biểu cảm, giàu sứcgợi kết hượp với các biện pháp tu từ nhân hóa, ẩn dụ, bài thơ nói chung và đoạn thơ nói riêng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc

Đoạn thơ đã khép lại nhưng trong tâm trí ta vẫn như thấy hình ảnh của một Xuân Quỳnh đang khao khát, rạo rực trong tình yêu với một trái tim yêu đương da diết Dường như sau từng câu, từng chữ là những suy ngẫm, tiếng thở của Xuân Quỳnh

về tình yêu Có lẽ đó chính là lí do vì sao dù ra đời đã lâu nhưng “Sóng” vẫn không

bị lớp bụi thời gian vùi lấp và còn giá trị mãi với thời gian

So sánh hai đoạn thơ trong bài sóng Xuân Quỳnh và Đất nước Nguyễn Khoa

Điềm

Đề bài :Cảm nhận về hai đoạn thơ sau:

“Đất là nơi anh đến trườngNước là nơi em tắmĐất Nước là nơi ta hẹn hòĐất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

(Đất Nước – Trích Trường ca mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)

“Con sóng dưới lòng sâuCon song trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờNgày đêm không ngủ được

Trang 16

“Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

(Đất Nước – Trích Trường ca mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)

Và:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con song trên mặt nước

Trang 17

thường bình dị.

– Cái tôi độc đáo: giàu vẻ đẹp nữ tính, thành thật, giàu đức hi sinh và lòng vị tha, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt gắn với cảm thức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ., cùng những dự cảm bất trắc

Tác phẩm

+ Xuất xứ: 1967, nhân chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào

+ Đoạn thơ thứ 5 miêu tả nỗi nhớ của nhân vật trữ tình ” Em”

Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm

Thơ Nguyễn Khoa Điềm cuốn hút người đọc bằng cảm xúc trữ tình nồng thắm và chất suy tư sâu lắng, ông cất lên tiếng nói của một người trí thức thiết tha gắn bó với quê hương, giàu ý thức trách nhiệm với nhân dân, đất nước

Đoạn trích Đất Nước là phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng Tác phẩm này được hoàn thành năm 1971, thể hiện sự thức tỉnh của thế lệ trẻ miền Nam về trách nhiệm thiêng liêng với nhân dân, đất nước

Đoạn thơ trên thuộc phần đầu chương V

Luận điểm 2 : Điểm giống nhau

-Trước hết điểm tương đồng giữa hai đoạn thơ chính là viết về tình yêu đôi lứa trong nỗi nhớ, niềm thương

+Đúng vậy, tình yêu thì luôn gắn liền với nỗi nhớ, có ai yêu mà chưa bao giờ nếm mùi của cảm giác chờ mong, khắc khoải Tất cả biểu hiện của nỗi nhớ trong tình yêu rốt cuộc cuối cùng chỉ là khát khao hướng tới người mình yêu, mong muốn được ở gần người trong trái tim mình

+Trong ca dao xưa chẳng phải người xưa họ cũng đã từng diễn tả cái nỗi nhớ trongtình yêu rồi hay sao:

“ Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống than”

Hay

“ Đêm nằm lưng chẳng tới giường

Mong cho mau sáng ra đường gặp anh”

+ Âý thế nhưng, trong đoạn thơ của NKĐ để diễn tả nối nhớ trong tình yêu, tác giả

đã mượn hình ảnh của chiếc khăn – tín vật giao ước kết đôi mà biểu hiện nỗi nhớ:

“ ĐN là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

Tín vật tình yêu chính là điểm giao kết cho đôi bạn tình Từ xừa đến nay, những người yêu nhau như càng muốn thể hiện sự khăng khít gắn bó mặn nồng, thường lấy một tín vật nào đó mà kết duyên, giao ước.Họ coi đó như là “sợi chỉ hồng” của ông lão bà tơ se duyên kết mối Hình ảnh chiếc khăn được nhắc đến trong đoạn thơ

là một hình ảnh quen thuộc trong ca dao xưa:

“Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất

Trang 18

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai

Khăn thương nhớ ai

Khăn chùi nước mắt…”

Đó là chiếc khăn tín nghĩa, biểu trưng cho tình cảm thật đẹp, thật trong sáng trong nỗi nhớ yêu thương

+Còn trong đoạn thơ của bài Sóng, cái tình yêu khát vọng của người phụ nữ “khát khao sống, khát khao yêu” dù bình dị nhưng rất đỗi mãnh liệt này không cần đến vật giao ước kêt đôi mà vẫn diễn tả được hết tất thảy cái nỗi nhớ đến điên cuồng mãnh liệt Bởi tình yêu ấy đã vượt qua mọi chiều kích giới hạn chật hẹp để đến vớitình yêu( sâu- rộng), vượt qua mọi bến bờ của vũ trụ, xuyên qua không gian, thời gian ( ngày – đếm) và kết tụ ngay cả khi “thức” lẫn khi “ngủ” của Xuân Quỳnh Nórợn ngợp giống như nỗi nhớ đã bao trùm giăng mắc mọi thứ xung quanh như ám vào vạn vật nên cần chi “vật giao ước” mà thể nghiệm nỗi lòng thương yêu? Cho nên tình yêu ấy với nỗi nhớ ấy càng trở nên da diết, khắc khoải hơn bao giờ hết

Nó không đơn thuần chỉ là nỗi nhớ bình thường vụt đến rồi vụt tan mà nỗi nhớ ấy

đã trở thành gánh nặng tâm tư trong lòng người con gái đang yêu mất rồi

-Nếu thật thiếu sót nếu chúng ta không nhìn nhận ra điểm tương đồng của hai đoạn thơ ấy chính là: cả hai thi sĩ đều rất tài tình dụng công mượn hình ảnh, sự vật, hiện tượng tự nhiên xung quanh để diễn tả tâm tư tình cảm của mình

+ Với đoạn trích trong bài thơ ĐN, tác giả đã kể đến những sự vật xung quanh mỗi chúng ta Đó là trường học, là nơi sinh hoạt hằng ngày ( nơi em tắm), là nơi cu trú, định cư ( nơi chim về, nơi rồng ở) Tất cả nhưng sự vật xung quanh của mỗi chúng

ta ấy đều là những cái bình dị, thân thương mà chúng ta ít chú ý đến Tác giả nhắc đến mỗi sự vật ấy đều gắn với hai tiếng ĐN chính là muốn truyền tải tư tưởng: ĐN không tồn tại ở đâu xa xôi mà nó hóa thân, hiện hữu xung quanh mỗi chúng ta Đó chính là mỗi sự vật mà chúng ta nhìn thấy, tất cả những sự vật nhỏ bé ấy đều góp phần làm nên dáng hình, diện mạo ĐN

+ Còn Sóng của XQ cũng vậy, chị đã mượn hiện tượng tự nhiên của sóng biển để soi vào nhịp lòng mình, nhịp đập của con tim đang rung lên đồng điệu với nhịp sóng, đang bùng lên khát vọng trong tình yêu và nỗi nhớ:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con song trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được”

Những đợt sóng dâng trào, sóng tiếp sóng ào ạt lúc thì lăn tăn gối lên nhau trên “ mặt nước”, lúc lại luôn tiềm ẩn cái dữ dội, ồn ào “ lòng sâu” dưới đáy bể đại dươngbao la thăm thẳm Tất thảy những đợt sóng đều cuồn cuộn xô đuổi nhau đến tận chân trời, đưa sóng đến gần hơn với bờ Bởi bờ chính là điểm đến của sóng, là chỗ dựa vững chắc cho điểm về của sự bình yên, phẳng lặng

Trang 19

Luận điểm 3 :Sự khác biệt

-Bên cạnh điểm giao thoa, kết sóng thì giữa hai đoạn thơ còn có điểm khác biệt rõ ràng Nhưng chính điểm khác biệt ấy đã tạo nên cái độc đáo, cái sức hấp dẫn riêng của mỗi phong cách thi nhân

+Tình yêu đôi lứa trong đoạn thơ ĐN của NKĐ gắn liền với tình yêu ĐN, tình yêu đôi lứa dưới con mặt của ông là một thứ tình yêu “hóa thân”, “nảy mầm” nên tình yêu ĐN Chính tình yêu đôi lứa cũng là một yếu tố góp phần làm nên diện mạo củamột đất nước trù phú, tươi vui Điều này, cũng đã được các nhà thơ cùng thời với NKĐ ý thức rất rõ, ta có thể lấy dẫn chứng tiêu biểu trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên:

“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng long trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

+ Còn trong đoạn thơ của bài thơ Sóng, tình yêu luôn tuyệt đối hóa trong tình yêu riêng tư, tình yêu đời thường Cái chất đời thường trong tình yêu gắn liền với nỗi nhớ ấy đã được XQ diễn tả thông qua hình tượng “ sóng” với sự phân thân của nhân vật trữ tình “em”:

“Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

Đó là một “cái tôi” tràn đầy cảm xúc khi đang tự lòng mình diễn tả nỗi nhớ người yêu trào qua đầu ngọn bút Tất cả như cuồng nhiệt, như say mê mà muốn nhấn chìm đi mọi thứ xung quanh Chả thế mà bài thơ vốn được viết theo thể ngũ ngôn nay đến khổ thơ này đã tự dôi ra hẳn hai câu thơ và nhà thơ lại còn trực tiếp diễn tảnỗi nhớ ấy bằng chính nhịp đập của trái tim mình thì quả thực cái nỗi nhớ của cái tôi cá nhân ấy không có một bút lực nào có thể tả xiết Trong một bài thơ khác của chị, chị cũng đã từng thẳng thắn bộc bạch hết mọi tâm can của mình hướng tới người mình yêu Đó là biểu hiện của một trái tim đang yêu chân thành, đằm thắm:

“ Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Là máu thịt đời thường ai chả có

Cũng ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa

Vẫn yêu anh cả khi chết đi rồi”

+Đoạn thơ ĐN sử dụng thể thơ tự do, kết hợp với nghệ thuật chiết tự từ ( Đất là gì?, Nước là gì?) cùng với việc sử dụng hàng loạt các hình ảnh sự vật tự nhiên đã

có tác dụng diễn tả thật đắt tư tưởng Đất Nước của mình Hướng người đọc đến sự hóa thân kỳ diệu của ĐN trong từng sự vật nhỏ bé, đơn sơ, bình dị đến lạ thường.+Đoạn thơ trong bài sóng của XQ sử dụng thể thơ ngũ ngôn với việc mượn hình tượng sóng biển để soi tỏ nhịp đập thổn thức của trái tim người phụ nữ đang yêu cótác dụng diễn tả thật đát nỗi nhớ niềm thương và tấm lòng thủy chung son sắt của một tâm hồn đa sầu, đa cảm

Trang 20

-Như ta đã biết, Nghệ thuật luôn đòi hỏi tính sáng tạo, mỗi người ngệ sĩ luôn cố gắng tạo cho mình một phong cách nghệ thuật riêng Vì thế các tác phẩm tạo ra mới không bị nhòe lẫn vào các tác phẩm của nhà thơ khác.

+ Không nằm ngoài lệ, NKĐ luôn thể hiện một phong cách thơ trữ tình – chính luận Với sự tự ý thức về vai trò- chức năng của một nghệ sĩ – chiến sĩ thì đối với ông, thơ ca chính là ngọn nguồn cảm hứng viết lên những bản tình ca bất hủ về

ĐN Cho nên tình yêu đôi lứa dưới con mắt của nhà thơ nó chính là một phần biểu hiện của một tình yêu đất nước muôn đời

+Còn thi sĩ XQ thì ngược lại, chị tìm cho mình một tiếng nói riêng trong trái tim của một người phụ nữ hồn hậu đa sầu, đa cảm với những khoảnh khắc rung động trong tình yêu đôi lứa Tình yêu ấy luôn cháy rực ngọn lửa trong các trang thơ của

XQ thật muôn vẻ muôn phần Vì thế, dưới con mắt của thi sĩ, tình yêu luôn được

cụ thể hóa trong một tâm hồn khát khao hướng tới hạnh phúc riêng tư, đời thường

Luận điểm 4 :\

Lí giải sự khác biệt :

+ Do hoàn cảnh sáng tác

+ Do phong cách nghệ thuật, cá tính sáng tạo của mỗi nhà thơ

Kết bài :Như vậy,qua việc cảm nhận ở trên ta thấy rằng cả hai đoạn thơ đều có chung đặc điểm viết về tình yêu đôi lứa nhưng mỗi thi sĩ lại có một tiếng nói riêng cho tư tưởng của bản thân mình Với NKĐ tình yêu đất nước là vĩnh cửu, với XQ tình yêu đôi lứa là muôn thưở muôn đời Chính mỗi người lại có một phong cách thơ và cách nhìn nhận riêng của mình về cuộc sống, đều góp phần đắc lực cho vườn thơ dân tộc thêm sáng trong và tỏa hương thơm ngát

Đề bài :

Anh (chị) hãy phát biểu cảm nhận của mình về hai đoạn thơ sau:

“Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy

(Việt Bắc – Tố Hữu)và

Trang 21

“Con sóng dưới lòng sâuCon sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờNgày đêm không ngủ đượcLòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức.”

(Sóng – Xuân Quỳnh)

Định hướng cách làm :

I MỞ BÀI

Giới thiệu về hai tác giả và hai bài thơ, hai đoạn thơ:

II THÂN BÀI

2 Cảm nhận hai đoạn thơ

2.1 Đoạn thơ trong bài thơ Sóng

– Nỗi nhớ tràn ngập khắp không gian: dưới lòng sâu, trên mặt nước

– Nỗi nhớ tràn ngập khắp thời gian: ngày đêm không ngủ được

– Nỗi nhớ tràn cả vào ý thức, vô thức, tiềm thức “cả trong mơ còn thức”

* Nghệ thuật: thể thơ năm chữ giàu nhịp điệu; phép ẩn dụ, nhân hóa, điệp cấu trúc, tươgn phản

2.2 Đoạn thơ trong Việt Bắc

– Nỗi nhớ tràn ngập không gian thời gian, thấm vào cảnh vật thiên nhiên:

+ Thiên nhiên bình dị tươi đẹp: nắng chiều, trăng lên đầu núi, bản khói cùng

sương, ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê…

+ Con người Việt Bắc cần cù chăm chỉ, chịu thương chịu khó: sớm khuya bếp lửa người thương đi về

– Nghệ thuật thể hiện: Hai đoạn thơ, các tác giả đều tập trung khắc họa những cungbậc trạng thái phong phú, đa chiều của nỗi nhớ Nỗi nhớ mênh mang được đặt trong quan hệ với không gian thiên nhiên vô tận Nỗi nhớ triền miên da diết được đặt trong thời gian của đêm – ngày, sớm – chiều Nỗi nhớ còn được so sánh, thể

Trang 22

hiện trong những điều sâu thẳm, mãnh liệt nhất (nhớ người yêu, cả trong mơ còn thức) (Hai đoạn thơ đều sử dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, điệp

từ để khéo léo diễn tả nỗi nhớ sâu đậm, giọng điệu da diết, khắc khoải của con người khi phải chia ly

– Điểm khác biệt:

Việt Bắc (Tố Hữu) – Nội dung cảm xúc: nỗi nhớ trong thơ Tố Hữu thuộc về tình cảm lớn lao, tình cảm chính trị, tình cảm cách mạng Nỗi nhớ ấy gắn liền với cuộc chia ly của người cán bộ cách mạng rời căn cứ địa kháng chiến để trở về thủ đô Chủ thể của nỗi nhớ là những con người kháng chiến nhớ những kỉ niệm với quê hương Việt Bắc, đồng bào Việt bắc ân tình đùm bọc, cưu mang họ trong suốt những tháng ngày gian khổ của cuộc kháng chiến

Đoạn thơ sử dụng thể thơ lục bát của dân tộc Giọng điệu ngọt ngào như một khúc trữ tình sâu lắng, da diết Các điệp từ: nhớ gì, nhớ từng, nhớ những cùng với nghệ thuật so sánh (như nhớ người yêu), ẩn dụ (ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê) và tiểu đối đã góp phần thể hiện thành công những cung bậc cảm xúc phong phú của nỗi nhớ quê hương cách mạng

Sóng (Xuân Quỳnh) – Cảm xúc của chủ thể trữ tình được thể hiện vừa gián tiếp, vừa trực tiếp “Sóng” là hóa thân mà cũng là phân thân của chủ thể trữ tình “Sóng”

là ẩn dụ để diễn tả nỗi nhớ Sắc thái của nỗi nhớ trong đoạn thơ (có nỗi nhớ cồn cào, cháy bỏng, có nỗi nhớ triền miên, da diết, có nỗi thao thức, bồi hồi trăn trở, nỗi nhớ còn lặn cả vào trong tiềm thức, trong giấc mơ)

Sóng – Đoạn thơ sử dụng thể thơ năm chữ và ẩn dụ nghệ thuật sóng Thể thơ và nhịp điệu thơ đã gợi hình hài và nhịp điệu bất tận vào ra của những con sóng nỗi nhớ tình yêu Nhờ nghệ thuật ẩn dụ, nỗi lòng của người phụ nữ khi yêu được thể hiện chân thành, nữ tính, duyên dáng mà không kém phần mãnh liệt sâu sắc Đoạn thơ có hình ảnh sáng tạo diễn tả nỗi nhớ trong mơ (Lòng em nhớ đến anh – Cả trong mơ còn thức)

Kết luận chung:

– Từ hai nỗi nhớ được thể hiện trong đoạn thơ, người đọc không chỉ cảm nhận được nét đặc sắc của hai giọng điệu thơ mà còn thấy được vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam yêu thương đằm thắm, dịu dàng mà mãnh liệt, tình nghĩa thủy chung

Trang 23

Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.

( Việt Bắc – Tố Hữu)

Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương.

( Sóng – Xuân Quỳnh)

Bài làm

Trong cuộc đời mỗi con người, ai cũng có ít nhất một niềm thương, nỗi nhớ Niềm thương, nỗi nhớ ấy luôn thường trực trong ta tạo nên những rung động mãnh liệt trong cảm xúc Với các thi nhân , cảm xúc lại là yếu tố vô cùng quan trọng Nó giúp cho các nhà thơ làm nên những thi phẩm say đắm lòng người Tiếng nói từ trái tim sẽ đến được với trái tim Đoạn thơ:

” Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.”

trích trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu và đoạn thơ:

“Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương.”

trích trong bài thơ “Sóng “của Xuân Quỳnh là những vần thơ dạt dào cảm xúc như thế

Nhà thơ Tố Hữu và nhà thơ Xuân Quỳnh là hai nhà thơ lớn của văn học VIệt Nam hiện đại được nhiều bạn yêu thơ mến mộ Nếu nhà thơ Tố Hữu là cánh chim đầu đàn, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam thì Xuân Quỳnh được mệnh danh

là nữ hoàng của thơ tình

Mỗi tác giả đã tạo ra thơ của mình với mỗi vẻ đẹp riêng Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho

Trang 24

khuynh hướng thơ trữ tình, chính trị; mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Thơ Tố Hữu mang giọng điệu ngọt ngào, tâm tình tha thiết, giọng của tình thương mến; đậm đà tính dân tộc Thơ Xuân Quỳnh lại in đậm vẻ đẹp nữ tính, là tiếng nói của một tâm hồn giàu trắc ẩn, hồn hậu, chân thực và luôn luôn da diết, luôn khát vọng về một hạnh phúc đời thường.

Bài thơ “Việt Bắc” viết về cách mạng, còn bài thơ “Sóng” hướng tới đề tài tình yêulứa đôi

Tháng 10/1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô Nhân sự kiện thời sự có tình lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ “Việt Bắc” in trong tập thơ

“Việt Bắc” Đoạn thơ trớch trong bài Việt Bắc là lời người ra đi đáp lại người ở lại

Bốn câu thơ giống như một lời thề nguyền, lời khẳng định gắn bó thủy chung trướcsau như một mà những cán bộ cách mạng miền xuôi muốn gửi tới đồng bài Việt Bắc Lời thơ óng ả, dịu dàng, tình tứ và lối xưng hô thân mật, ngọt ngào của ca dao, dân ca “mình-ta” được sử dụng một cách linh hoạt Nỗi nhớ của người cách mạng về quê hương Việt Bắc giống như nỗi nhớ của những đôi lứa yêu nhau Sự sắp xếp từ liền đôi, quấn quýt không muốn rời xa của “ta” và “mình”, vừa khéo léokhẳng định tấm lòng của “ta” cũng như “mình” Tình cảm của người về với Việt Bắc là thứ tình cảm thắm thiết, mặn mà, gắn chặt trong tim, ghim chặt trong lòng Tình cảm ấy còn được khẳng định bằng một hình ảnh thơ so sánh “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu” Trong tiềm thức của người Việt Nam nước trong nguồn là dòng nước không bao giờ vơi cạn, chảy bất tận ý thơ trở nên sâu sắc hơn khi tác giả sử dụng cặp từ so sánh tăng tiến “bao nhiêu,…bấy nhiêu” Đó

là sự so sánh giữa một cái vô tận với một cái bất tận

Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967 nhân chuyến đi thực tế ở Diêm Điềm (Thái Bình), in trong tập thơ “Hoa dọc chiến hào” (1968) Bài thơ được viết khi Xuân Quỳnh còn trẻ khoảng 25 tuổi nhưng đã trải qua không ít những thăng trầm,

đổ vỡ trong tình yêu

Ở khổ thơ trên “Sóng” được khám phá theo chiều rộng của không gian ở hai miền

“xuôi”, “ngược” Sóng dù xuôi về phướng Bắc, dù ngược về phương Nam thì cuối cùng vẫn hướng về bờ:

“Dẫu xuôi về phương bắcDẫu ngược về phương namNơi nào em cũng nghĩHướng về anh một phương.”

Thông thường người ta haynói xuôi Nam, ngược Bắc nhưng ở đây Xuân Quỳnh lạinói xuôi Bắc, ngược Nam, dường như cái lô-gic của lí trí thông thường đã bị lu

Trang 25

mờ, chỉ còn lại hai miền xuôi ngược để trăn trở tìm nhau, để khao khát bên nhau Cách nói ấy cũng khiến người đọc hình dung về những gian nan, cách trở mà trái tim yêu phải vượt qua.

Con “sóng” kia muôn đời thao thức để khắc khoải xuôi ngược tìm bờ thì em cũng chỉ duy nhất hướng về “phương anh” Đây là một sáng tạo độc đáo của Xuân Quỳnh khi đưa khái niệm không gian để nói về mức độ thủy chung, bốn phương Đông – Tây – Nam – Bắc là của vũ trụ này, chỉ có duy nhất nơi anh là phương trời của em Giữa cuộc đời rộng lớn, thỡ anh vẫn mói là bến bờ hạnh phúc , là nơi duy nhất em tìm về í thơ bộc bạch rất thật, sáng lên vẻ đẹp của tình yêu chung thủy Hóa ra ở trung tâm nỗi nhớ là anh nên dẫu có đi về phương nào thì em cũng hướng

về phương anh Câu thơ giống như một lời nguyện thề thủy chung, da diêt, đằm thắm

Nếu ở khổ 5 nhân vật trữ tình bộc bạch ” lòng em nhớ đến anh” thì ở đây cảm xúc

đã dâng lên một bậc “Nơi nào em cũng nghĩ” “Nghĩ” có cả yêu thương, mong nhớ,

có cả phấp phỏng lo âu, hờn ghen, giận dỗi Anh trở thành ý nghĩ thường xuyên, thường trực trong lòng, canh cánh trong lòng “Nhớ” là tình cảm, cảm xúc tự

nhiên, hồn nhiên thì “nghĩ” là sự suy tư, chín chắn, sâu sắc Người con gái khẳng định sự duy nhất, tuyệt đối gắn bó thủy chung trong tình yêu

Khổ thơ cho ta thấy tình yêu của người phụ nữ, sự thủy chung son sắt duy nhất Nhân vật trữ tình đã trực tiếp thể hiện cảm xúc của mình Khẳng định tình yêu thủychung cũng là khao khát, là khát vọng người yêu thương phải xứng đáng với mình

Cả hai đoạn thơ đều là những rung động, những xúc cảm nhớ thương của một tình yêu con người, đất nước trong lòng người bởi một tình cảm đẹp, sự thủy chung sonsắt không đổi thay Trên phương diện nghệ thuật, cả hai đoạn thơ đều là những ngôn từ giản dị nhưng lại giàu giá trị nghệ thuật Giọng thơ trữ tình tha thiết nhưngcũng khẳng định mạnh mẽ, chắc chắn, đinh ninh như một lời thề

Tình cảm trong đoạn thơ Việt Bắc là tình cảm lớn lao, tình cảm cách mạng, tình cảm chính trị Nỗi nhớ ấy gắn liền với cuộc chia ly của người cán bộ cách mạng rờicăn cứ địa kháng chiến để trở về thủ đô Chủ thể của nỗi nhớ là những con người kháng chiến nhớ những kỉ niệm với quê hương Việt Bắc, đồng bào Việt bắc ân tìnhđùm bọc, cưu mang trong suốt những tháng ngày gian khổ của cuộc kháng chiến Còn tình cảm trong “Sóng” là tình yêu đôi lứa, cảm xúc của chủ thể trữ tình “em”, một phụ nữ đang yêu vừa gián tiếp, vừa trực tiếp “Sóng” là hóa thân mà cũng là phân thân cảu chủ thể trữ tình “sóng” là ẩn dụ để diễn tả nỗi nhớ Sắc thái của nỗi nhớ trong đoạn thơ chỉ duy nhất hướng về một nơi ở phương anh một cách chung thủy, sắt son

Đoạn thơ “Việt Bắc” sử dụng thể thơ lục bát của dân tộc Giọng điều ngọt ngào như một khúc trữ tình sâu lắng, da diết Sóng – đoạn thơ sử dụng thể thơ năm chữ

và ẩn dụ nghệ thuật sóng Thể thơ và nhịp điệu thơ đã gợi hình hài và nhịp điệu bấttận vào ra của những con sóng nỗi nhớ tình yêu Nhờ nghệ thuật ẩn dụ, nỗi lòng

Trang 26

của người phụ nữ khi yêu được thể hiện chân thành, nữ tính, duyên dáng mà khôngkém phần mãnh liệt, sâu sắc.

Vẻ đẹp trong thơ Tố Hữu luôn gắn với ca dao đậm đà, Còn Xuân Quỳnh thì mãnh liệt, nồng nàn

Từ hai nỗi nhớ được thể hiện trong đoạn thơ, người đọc khụng chỉ cảm nhận được nột đặc sắc của hai giọng điệu thơ mà cũn thấy được vẻ đẹp tõm hồn con người Việt Nam yờu thương đằm thắm, dịu dàng mà mónh liệt, tỡnh nghĩa thủy chung, son sắt

Câu 2 (5,0 điểm)

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi”

(Trích Vội Vàng –Xuân Diệu SGK Ngữ Văn 11 tập 2, NXB Giáo Dục Việt Nam,

năm 2012 Tr 23)

“Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Trang 27

……

* Giới thiệu vài nét về tác giả và tác

phẩm: Vội vàng – Xuân Diệu và Sóng –

– Thái độ sống mãnh liệt và yêu hết mình, khát khao giao cảm với cuộc đời

Khác nhau:

– Vội vàng – Xuân Diệu:

+ Xuân Diệu bộc lộ một cái tôi sôi nổi, tha thiết yêu cuộc sống và giàu khát vọng.

+ Có quan niệm mới mẻ về thời gian, nhà thơ chọn cách sống vội vàng, trân quí từng giây phút cuộc đời, tận hưởng cuộc sống tươi đẹp ngay khi vẻ đẹp cuộc đời còn đang hiện hữu.

+ Tấm lòng tha thiết yêu đời yêu cuộc sống mãnh liệt, cuồng nhiệt.

*Nghệ thuật: giọng điệu say mê, sôi nổi, những sáng tạo độc đáo về ngôn từ và hình ảnh thơ.

0,5

1,0

1,0

Trang 28

– Sóng – Xuân Quỳnh:

+ Tâm hồn nhạy cảm của một trái tim người phụ nữ với những khát khao bình dị đời thường, với những dự cảm, lo âu về sự trôi chảy của thời gian, sự ngắn ngủi của cuộc đời

+ Quan niệm tình yêu, về cuộc sống thể hiện

tư tưởng nhân văn “yêu và sự hiến dâng” ,tình yêu của cá nhân không tách rời cộng đồng

+ Khát vọng được cho đi và dâng hiến bởi có

một nghịch lí trong tình yêu là “Hạnh phúc thật sự chỉ đến khi bạn dám mạnh dạn cho đi chứ không phải nắm giữ thật chặt

“ (Christopher Hoare).

*Nghệ thuật: thể thơ năm chữ giàu nhịp

điệu, mang âm hưởng dạt dào của sóng; sử dụng BPTT ẩn dụ, so sánh,

Đánh giá chung: Do hoàn cảnh sáng tác và

phong cách nghệ thuật của mỗi nhà thơ nên Hồn thơ xuân Diệu sôi nổi mãnh liệt, hồn thơxuân Quỳnh dịu dàng nữ tính

Câu 1 Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Tôi khóc chân trời không có người bay, lại khóc những người bay không có chân trời”

(Trần Dần)

Anh/ chị hãy bình luận câu nói trên

Câu 2 Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trang 29

L.Tônxtôi cho rằng:

Những tác phẩm thú vị nhất về thực chất là những tác phẩm mà trong đó dường như tác giả cố gắng giấu quan điểm của mình, nhưng đồng thời lại thường xuyên trung thành với nó ở khắp nơi mà nó hiện diện.

(Trần Đăng Suyền – Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế

– Tôi khóc chân trời không có người bay:

+ chân trời: chỉ không gian xa rộng, không giới hạn – môi trường sống phóng

khoáng, rộng mở

+ Người bay: người có khí chất, có khả năng mang đến cho “chân trời” sự sống

động

– lại khóc những người bay không có chân trời: người có khí chất, có khả năng nếu

không có môi trường tốt để thể hiện mình thì tài năng sẽ bị mai một

– Ý nghĩa câu nói: đặt ra vấn đề “chân trời” và “người bay” là đề nói về mối quan

hệ giữa môi trường sống và làm việc với người có tài năng

2 Bàn luận, phân tích, chứng minh

– Câu nói của Trần Dần giàu hình ảnh và có hàm nghĩa ẩn dụ sâu sắc

– “Chân trời” dù rộng lớn nhưng nếu không có “người bay” sẽ trở nên tẻ nhạt, vô

vị Cũng như, môi trường sống và làm việc dù tốt đến mấy nhưng nếu không có người có khả năng mang đến sinh khí và làm cho nó phát triển thì môi trường ấy

Trang 30

cũng không có ý nghĩa Ngược lại, người có tài năng nếu không có môi trường sống và làm việc tốt sẽ không thể phát triển được tài năng của mình.

– Môi trường sống và làm việc nói đến ở đây không phải là không gian vật chất đơn thuần mà là không gian của tư duy, của tinh thần và cách ứng xử Môi trường

ấy càng rộng mở bao nhiêu sẽ là nơi tạo điều kiện cho những người có tài năng phát huy hết khả năng của mình bấy nhiêu để làm cho nó trở nên tốt đẹp hơn

– Trong thời đại phát triển như ngày nay, càng tạo ra được môi trường sống và làmviệc thuận lợi càng thu hút được nhiều người tài năng

– Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có những người dù không có một môi trường sống

và làm việc thuận lợi nhưng họ vẫn phát huy được khả năng bằng ý chí, bằng niềm đam mê của mình và ngược lại

* Học sinh phải chọn được dẫn chứng phù hợp với lập luận

– Không chấp nhận làm việc trong một môi trường sống và làm việc chật hẹp hẹp

về tư duy, bó buộc về tinh thần và không trân trọng tài năng

Câu 2 Nghị luận văn học (12.0 điểm)

1 Yêu cấu về kiến thức

Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng về cơ bản cần có các ý sau:

1 Giải thích

– Những tác phẩm thú vị nhất: những tác phẩm chứa đựng trong đó những điều

người đọc mong đợi, làm cho người đọc cảm thấy hứng thú và đón nhận

– về thực chất là những tác phẩm mà trong đó dường như tác giả cố gắng giấu

quan điểm của mình: nghĩa là, trong những tác phẩm đó, nhà văn bộc lộ, biểu hiện

quan điểm của mình một cách kín đáo, đầy nghệ thuật

Trang 31

– nhưng đồng thời lại thường xuyên trung thành với nó ở khắp nơi mà nó hiện diện: nhà văn chỉ gửi thông điệp vào sự vật, không can thiệp vào sự vật mà muốn

để chính sự vật nói lên tiếng nói của mình, nói lên toàn bộ bản chất của mình.– Ý kiến trên nói đến nguyên tắc biểu hiện của chủ nghĩa hiện thực: Trong sáng tác, các nhà văn hiện thực coi trọng việc khách quan hóa những điều được miêu tả

2 Bàn luận

– Ý kiến của L.Tônxxtôi là hoàn toàn xác đáng

– Nói như Tsêkhôp: “Nhà văn có thể khóc lóc, rên rỉ, có thể đau khổ với các nhân vật của mình, nhưng theo tôi, cần phải làm sao để độc giả khỏi nhận thấy những cái đó Càng khách quan, càng có thể tạo ra những ấn tượng mạnh mẽ” Nghĩa là,

nhà văn phải biết ẩn mình, giấu mình đi, lấy lí trí phong tỏa tình cảm như Nam Cao

đã từng “cố đóng cũi sắt tình cảm” để viết nên những tác phẩm mà tự nó mang đến

cho nhiều thế hệ người đọc những thông điệp nhân sinh sâu sắc

– Các nhà văn hiện thực quan niệm nghệ sĩ chỉ là người “thư kí trung thành của thời đại”, đã là người “thư kí trung thành” thì càng phải tôn trọng nguyên tắc khách quan trong sáng tác Có như thế, nhà văn mới đồng hành cùng tác phẩm “ở khắp nơi mà nó hiện diện”, mới mang đến được cho nhiều người quan điểm của

mình về các vấn đề của cuộc sống

– Để khách quan hóa những điều được miêu tả trong tác phẩm, nhà văn hiện thực thường quan sát, tìm tòi, khám phá thực tại và đặt các vấn đề được phản ánh trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau Từ đó, nhà văn chuyển tải quan điểm của mình mà không làm cho người đọc cảm thấy bị dẫn dắt khiên cưỡng, khiến người đọc hứng thú tự nguyện đón nhận Ví dụ, có thể thấy, mỗi bức tranh thiên nhiên trong

Truyện Kiều chưa bao giờ thoát ly khỏi mối quan hệ với Kiều và cuộc sống của nàng

– Nói như X.M.Pê-tơ-rốp: “Nhà văn hiện thực sáng tạo ra thế giới tưởng tượng trên cơ sở những quan niệm của mình về thế giới hiện thực”.

3 Chứng minh

– Học sinh chọn được tác phẩm văn học tiêu biểu trong chương trình Ngữ văn 11 hoặc tác phẩm văn học bất kì đáp ứng được nội dung bàn luận

Trang 32

– Biết cách khai thác những tác phẩm đã chọn để chứng minh đó là “những tác phẩm thú vị nhất”.

4 Đánh giá nâng cao

Ý kiến của L.Tônxxtôi có ý nghĩa sâu sắc:

– Đề cao tính khách quan của các nhà văn hiện thực trong quá trình sáng tác Đòi hỏi các nhà văn hiện thực phải tạo nên những tác phẩm có nội dung tư tưởng mang tính phổ quát cao nhưng vẫn giữ được quan điểm riêng của mình

– Khẳng định, người đọc chính là người thẩm định một cách công tâm nhất giá trị của những tác phẩm văn học có tính khách quan

Trang 33

+ Nỗi nhớ của sóng bao trùm không gian, xuyên

suốt thời gian

+ Nỗi nhớ của em thường trực, vượt qua mọi giới

hạn

+ Vẻ đẹp tâm hồn người con gái đang yêu: tình

cảm chân thành, sâu sắc, mãnh liệt

Nghệ thuật:

Lối thơ năm chữ; nhiều hình thức điệp, biện pháp

nhân hóa kết hợp với cách nói lạ, nhịp thơ biến

hóa linh hoạt, giọng điệu tha thiết

*Liên hệ đoạn ca dao:

Nội dung: Nỗi nhớ niềm thương trong tâm hồn

người con gái đang yêu

Nghệ thuật:

Lối thơ bốn chữ; nhiều hình thức điệp, biện pháp

nhân hóa kết hợp hoán dụ và câu hỏi tu từ, cách

dùng từ phiếm chỉ với nhiều động từ

Biểu cảm, nhịp điệu thơ đều đặn, giọng điệu buồn

thương, hoà quyện

0.5

* So sánh hai đoạn thơ :

Nét tương đồng:

+ Đều diễn tả nỗi nhớ thương chân thành, sâu sắc,

mãnh liệt trong tâm hồn người con gái đang yêu

+ Đều sử dụng nhiều hình thức điệp, phép nhân

hoá, ẩn dụ

0.75Nét khác biệt:

Trang 34

Cho hai đoạn thơ sau:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Hãy phân tích đoạn thơ trong bài “ Sóng” của Xuân Quỳnh, từ đó liên hệ với đoạn

ca dao

Giải thích nhận định :

- “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời”: Thơ ca phải bắt nguồn từ hiện thực đời sống,

từ những vui buồn, đau khổ, hạnh phúc của cuộc đời, của số phận cá nhân conngười Thơ ca phải hướng tới cuộc đời, con người chứ không phải là cái gì đứngtách riêng biệt khỏi đời sống

- “Thơ còn là thơ nữa”: Nếu chỉ là sự phản ánh đời sống một cách đơn thuần

thì thơ không phải là thơ Thơ phảỉ mang những đặc trưng riêng về nội dung lẫn

Ngày đăng: 19/02/2023, 16:20

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w