1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Mot so de nghi luan van hoc dat nuoc ybsl1

46 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bàn về chương “Đất nước” trích từ “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm
Tác giả Nguyễn Khoa Điềm
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Báo cáo luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 94,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ 1 Bàn về chương “Đất nước” trích từ “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, có ý kiến cho rằng Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” là tư tưởng chủ đạo, chi phối cả[.]

Trang 1

Từ cảm nhận của mình về đoạn trích “Đất nước”, anh/chị hãy bình luận về

ý kiến trên.

1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước Thơ NKĐ giàu chất suy tư, cảm xúc lắng đọng Đất nước nhân dân là một nguồn cảm hứng phong phú của thơ ông

Trích dẫn ý kiến : Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” là tư tưởng chủ đạo, chi phối cả nội dung và hình thức chương V của bản trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm

2 Giải thích ý kiến:

- “Đất Nước của Nhân dân”: nhằm đề cao vai trò to lớn của nhân dân- người kiến tạo dựng xây, bảo vệ đất nước Nhân dân chính là chủ thể của đất nước để “Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”

- “Ca dao thần thoại” là 2 thể loại tiêu biểu, đặc trưng nhất trong kho tàng văn học dân gian, kết tinh lưu giữ vẻ đẹp tâm hồn dân tộc, gợi mở một thế giới bay bổng lãng mạn huyền thoại Tác giả của “ca dao thần thoại” chính là nhân dân Khi nói

“Đất Nước của ca dao thần thoại” là tác giả muốn khẳng định: Đất Nước của Nhân dân còn là đất nước của văn hóaDG

-> Ý kiến trên muốn khẳng định: Nhân dân là chủ thể của Đất Nước và NKĐ đã sửdụng chính chất liệu của văn hoá văn học dân gian đó để thể hiện ý tưởng độc đáo mới mẻ của mình khi cảm nhận về đất nước

3.Tư tưởng ĐN của ND, ĐN của ca dao thần thoại thấm nhuần trong nội dung của đoạn trích:

- Tư tưởng “Đất nước của nhân dân” được nhà thơ thể hiện cụ thể sinh động và được triển khai trên nhiều bình diện: trong “thời gian đằng đẵng”, trong “không gian mênh mông” và từ bề dày truyền thống văn hoá, phong tục, tâm hồn và tính cách dân tộc, để rồi tác giả đi cắt nghĩa cho câu hỏi ai làm nên đất nước và đó chính là nhân dân

- Nhân dân đặt tên cho các danh thắng, tên đất, tên làng để rồi nhân dân thả hồn vào sông núi Tác gia liệt kê một loạt các danh thắng từ Bắc vào Nam đều trong sự gắn bó với nhân dân biết bao thế hệ Sau mỗi hình thể của sông núi là hình ảnh củacuộc đời, là ước nguyện của nhân dân: núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, núi Bút non Nghiên…

Trang 2

- Nhân dân làm nên lịch sử bốn nghìn năm Nhân dân chính những người dân bình

dị sinh ra lớn lên, lao động và chiến đấu, “khi có giặc người con trai ra trận”,

“người con gái trở về nuôi cái cùng con”, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”… Họ

là những anh hùng vô danh không ai nhớ mặt đặt tên, sống “giản dị” chết “bình tâm”, hi sinh thầm lặng cho đất nước

- Nhân dân là chủ thế sáng tạo ra văn hóa để truyền lại cho thế hệ mai sau bao gồmcác giá trị tinh thần và vật chất của đất nước từ hạt lúa ngọn lửa tiếng nói, tên xã tên làng, đến những truyện thần thoại, câu ca dao, tục ngữ Nhân dân là anh hùng văn hóa đã làm nên đất nước

4 Tư tưởng đất nước của nhân dân thấm nhuần trong hình thức thể hiện

Chất liệu của “ca dao thần thoại” được NKĐ sử dụng một cách đậm đặc, sáng tạo

và vô cùng hiệu quả khi nói về nhân dân- chủ thể đất nước Cả đoạn trích “Đất nước” như được bao bọc bởi không khí của văn hoá dân gian Cách sử dụng cũng rất linh hoạt, sáng tạo, tác giả thường gợi ra bằng một vài chữ của câu ca dao, hay

1 hình ảnh, 1 chi tiết trong truyền thuyết cổ tích, khi trích dẫn nguyên văn, khi tái tạo trong một cảm xúc mới:

+ Vốn ca dao dân ca, tục ngữ được tác giả vận dụng bằng cách gợi ra bằng một vài chữ của câu ca, cũng có khi dẫn ra cả câu( “cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”, “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”, “ yêu em từ thuở trong nôi”,…)

+ Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích từ xa xưa: truyền thuyết về Hùng Vương, truyện cổ Trầu cau, Sự tích hòn Vọng Phu, hòn Trống Mái…

+ Phong tục tập quán, lối sống, vật dụng dân gian như: miếng trầu; bới tóc sau đầu;cái kèo cái cột; hạt gạo xay, giã, dần, sàng, hòn than, con cúi,…

- Hiệu quả:

+ Tạo nên 1 không gian nghệ thuật rất riêng vừa bình dị gần gũi hiện thực vừa bay bổng lãng mạn huyền thoại giàu chất thơ gợi lên được hồn thiêng của non sông, đấtnước

+ Giúp nhà thơ thể hiện thành công ý tưởng Đất nước của nhân dân một cách thuyết phục bởi đã dùng chính chất liệu của nhân dân để nói về nhân dân

Bình luận

- Ý kiến trên đúng đắn sâu sắc Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” là tư tưởng chủ đạo, chi phối cả nội dung và hình thức chương V của bản trường ca

+ Đúng vì trong quan niệm, nhận thức và cảm xúc đều thấm nhuần tư tưởng nhân dân làm nên đất nước-nhân dân không phải ai khác mà là những người vô danh đã kiến tạo bảo vệ, giữ gìn đất nước, đã dựng xây nên những truyền thống văn hoá, lịch sử ngàn đời của dân tộc; trong hình thức thể hiện như hình tượng đến chi tiết đều thấm nhuần chất dân gian

+ Tư tưởng này vô cùng sâu sắc mới mẻ, độc đáo: văn học trung đại quan niệm đất

Trang 3

nước là của nhà vua, văn học hiện đại có ý tưởng đề cao vai trò của nhân dân nhưng chưa được nâng lên thành cảm hứng nghệ thuật và được lí giải 1 cách toàn diện cặn kẽ từ nhiều bình diện trong sự gắn bó với nhân dân như NKĐ ở chương

“Đất nước” này

- Ý kiến trên cô đúc được cả cảm hứng chủ đạo và đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích “Đất nước” Ý kiến trên giúp người đọc nhận thức sâu sắc những đóng góp độc đáo mới mẻ của NKĐ khi cảm nhận về đất nước, thấm thía hơn về ý tưởng

“Đất Nước của Nhân dân’

- Với đương thời: thức tỉnh thế hệ trẻ thời đại đánh Mĩ, nhận thức rõ về đất nước nhân dân để rồi có trách nhiệm với đất nước, đứng dậy đấu tranh giành độc lập tự do

- Với hôm nay: nhắc nhở thế hệ trẻ cần biết trân trọng giá trị truyền thống, phát huy giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, có trách nhiệm với đất nước trong thời đại mới

* Đánh giá về tư tưởng của Nguyễn Khoa Điềm về Đất nước:

– Tư tưởng của Khoa Điềm về Đất nước đó là : Đất nước của Nhân dân, của ca dao thần thoại, của đời thường Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu, niềm tự hào về Đất Nước, Nhân dân, thức tỉnh mọi người ý thức trách nhiệm xây dựng, bảo vệ ĐấtNước Trong 2 đoạn thơ, sự triển khai cảm hứng của tác giả tuy phóng túng, đa dạng nhưng vẫn quy về điểm cốt lõi, đó là : Đất Nước của Nhân dân

– Thành công nghệ thuật của cả 2 đoạn thơ này chính là là sự vận dụng những yếu

tố dân gian kết hợp với cách diễn đạt và tư duy hiện đại, tạo ra màu sắc thẩm mĩ vừa quen thuộc lại vừa mới mẻ Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được sử dụng tối đa đã tạo nên không khí, giọng điệu, không gian nghệ thuật riêng : vừa có sự bình dị, gần gũi, hiện thực, lại vừa bay bổng, mơ mộng của ca dao, truyền thuyết nhưng lại mới mẻ qua cách cảm nhận và cách diễn đạt bằng hình thức thơ tự do Chất dân gian đã thấm sâu vào tư tưởng và cảm xúc của tác giả, tạo nên đặc điểm nghệ thuật độc đáo của thơ NKĐ

Kết thúc vấn đề:

Qua đoạn trích Đất Nước, chúng ta phần nào nhận thấy đặc điểm của phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự kết hợp giữa chính luận với trữ tình, giữa suy tưởng với cảm xúc, bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của tác giả trong cái nhìn, trong thái độ trân trọng, yêu quý đối với mỗi hình ảnh, chi tiết về Đất Nước gắn liền với Nhân dân được miêu tả và đề cập đến trong đoạn trích

Trang 4

ĐỀ 2

Sự kết hợp giữa chính luận với trữ tình trong đoạn thơ “Đất Nước” (trích trường ca “Mặt đường khát vọng” - Ngữ văn 12) của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.

Bài viết cần đảm bảo các ý:

1 Trình bày được khái niệm:

a, "Chính luận": Đoạn thơ có thiên hướng "chính luận" khi nhà thơ bộc lộ được

những quan niệm, tư tưởng chính trị xã hội của mình và muốn chia sẻ nhận thức, thuyết phục người đọc tin tưởng vào tính đúng đắn, khách quan của những quan niệm tư tưởng đó Nó mang tính chiến đấu cao, tính cá nhân sâu sắc

Trong đoạn trích "Đất Nước", Nguyễn Khoa Điềm muốn thể hiện quan niệm, tư tưởng, nhận thức của mình về Đất Nước rằng: Đất Nước thân thương, Đất Nước lâu đời, bền vững và đáng ca ngợi, tự hào này là của Nhân Dân, đồng thời cũng nhắc nhở mọi người phải có trách nhiệm đối với Nhân Dân, Đất Nước Điều này làm nên cái cốt lõi chính luận rất nổi bật của đoạn thơ

Tính "chính luận" được thể hiện trong đoạn thơ:

- Thức tỉnh ý thức dân tộc của mỗi người dân đặc biệt là của thanh niên, học sinh vùng đô thị miền Nam để phá tan âm mưu của Mỹ - Ngụy

- Khẳng định được một vấn đề lớn "Đất Nước này là Đất Nước Nhân Dân" (Đất Nước của Nhân Dân; Đất Nước của Ca dao - Thần thoại)

® Đất Nước được nhìn nhận một cách toàn diện, sâu sắc, đầy đủ từ nhiều góc độ: Văn hóa, lịch sử, con người, địa lý…

- Giúp cho mỗi người dân thấm sâu lòng yêu nước, thấy được trách nhiệm của mình đối với Đất Nước

b, "Trữ tình": Là tâm trạng, cảm xúc, tình cảm của nhà thơ trước hiện thực cuộc

sống mà tác giả gửi gắm vào trong tác phẩm của mình

Tính "trữ tình" được thể hiện trong đoạn thơ:

- Tấm lòng yêu nước nồng nàn sâu sắc… Nó chi phối toàn bộ cảm hứng nghệ thuậtcủa ông

- Yêu nước đó chính là yêu văn hoá, thiên nhiên, người lao động (chủ nhân của lịch sử đất nước)

- Niềm tự hào sâu sắc trước vẻ đẹp tự nhiên, vẻ đẹp do nhân dân lao động sáng tạo nên

- Bộc lộ qua một cách cảm, một giọng điệu riêng, rất Nguyễn Khoa Điềm

Đoạn thơ "Đất Nước" là sự kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố "chính luận" và "trữ tình", giữa lý trí và tình cảm Đoạn thơ mang đậm chất suy tưởng, triết lý

2 Phân tích bút pháp chính luận và trữ tình được kết hợp trong đoạn thơ và hiệu quả nghệ thuật của sự kết hợp đó.

Trang 5

Các bạn lấy một vài đoạn thơ tiêu biểu trong "Đất Nước", chỉ rõ sự kết hợp hai yếu

"Ôi! Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta"

Lời thơ là lời tâm tình (giữa anh và em, giữa ta với người)

Nhưng đoạn thơ cũng là một lập luận nhằm thuyết phục và chia sẻ nhận thức: Thiên nhiên, lịch sử, văn hoá… của Đất Nước Tất cả đều do Nhân Dân xây dựng, tất cả là của Nhân Dân Hãy nhìn vào thiên nhiên sông núi tươi đẹp kia (núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, những ao đầm làng Gióng, núi Bút, non Nghiên ) liệu nơi nào là không hiện diện hình ảnh Nhân Dân? Thiên nhiên, Đất Nước không chỉ là

"thiên tạo" là sự ban tặng của thiên nhiên mà còn là "nhân tạo" nữa (nghĩa là nhìn

từ một khía cạnh nào đó cũng là do con người, do nhân dân sáng tạo ra)

Tính "chính luận" làm cho nội dung, tư tưởng của đoạn thơ thêm sâu sắc Yếu tố trữ tình làm cho đoạn thơ có sức lay động, truyền cảm, biến tư tưởng, quan niệm, nhận thức thành cảm hứng nghệ thuật Sự kết hợp hai yếu tố này sao cho nhuần nhuyễn, hiệu quả, thực sự không dễ, nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã làm được (cho

dù không phải sự kết hợp ấy bao giờ cũng phải thật nhuần nhuyễn, hài hoà)

ĐỀ 2

Tính chính luận và trữ tình trong dt Đất Nước _ NKĐ

Ý 1: Nêu vấn đề nghị luận – giới thiệu tác giả và tác phẩm, đoạn trích Đất Nước

Ý 2: Giải thích

- Chính luận: Đoạn thơ có thiên hướng chính luận khi nhà thơ bộc lộ quan niệm, tư tưởng chính trị xã hội của mình và muốn chia sẻ nhận thức, thuyết phục người đọc tin tưởng vào tính đúng đắn khách quan của nhưng quan niệm tư tưởng

đó Tính chiến luận có tính chiến đấu cao và tính cá nhân sâu sắc.

- Trữ tình: Là tâm trạng, cảm xúc, tình cảm của nhà thơ trước hiện thực cuộc sống mà tác giả gửi gắm vào trong tác phẩm của mình.

- Đoạn thơ Đất Nước là sự kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố Chính

luận và Trữ tình, giữa lí trí và tình cảm Đoạn thơ mang đậm chất suy tưởng, triết lý.

Ý 2: Phân tích

1 Tính chính luận để thể hiện trong đoạn trích Đất Nước:

Trang 6

- Thức tỉnh ý thức dân tộc của mỗi người dân, đặc biệt là thanh niên, học sinh vùng đô thị miền Nam để phá tan âm mưu của Mỹ - Nguỵ

- Khẳng định tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”

- Đất Nước được cảm nhận một cách toàn diện, sâu sắc, đầy đủ từ nhiều gốc độ: Văn hoá, lịch sử, con người, địa lí,…

- Giúp mỗi người dân thấm sâu lòng yêu nước, thấy được trách nhiệm của mình đối với đất nước.

2 Tính trữ tình được thể hiện đậm nét trong đoạn thơ:

- Tấm lòng yêu nước nồng nàn sâu sắc chi phối toàn bộ cảm hứng nghệ thuật của tác giả.

- Yêu nước chính là yêu văn hoá, thiên nhiên, con người lao động – chủ nhân của lịch sử đất nước.

- Niềm tự hào sâu sắc về vẻ đẹp tự nhiện, vẻ đẹp do nhân dân sáng tạo nên.

- Bộc lộ cách cảm, một giọng điệu riêng rất Nguyễn Khoa Điềm.

3 Tính chính luận và Tính trữ tình kết hợp trong đoạn thơ và hiệu quả nghệ thuật của sự kết hợp đó:

(Chọn phân tích một đoạn thơ tiêu biểu trong bài Đất Nước và chỉ rõ sự kết hợp của hai yếu tố đó)

- Đoạn “Những người vợ nhớ chồng… đã hoá núi sông ta” :

+ Đoạn thơ thấm đẩm chất trữ tình Ở đó nhà thơ bộc lộ lòng trân trọng sâu sắc những cuộc đời, những con người đã hoá thân một cách cao đẹp vào hình hài của Đất Nước Cảm xúc đó bộc lộ thật dạt dào nồng nàn và tha thiết.

+ Lời thơ là lời tâm tình giữa anh, em, giữa ta với người Nhưng đoạn thơ cũng là một lập luận nhằm thuyết phục và chia sẻ nhận thức : Thiên nhiên, lịch sử, văn hoá… của Đất Nước Tất cả đều do nhân dân xây dựng, tất cả là của nhân dân Nhìn vào thiên nhiên sông núi tươi đẹp kia (Núi Vọng Phu, Hòn Trống Mái, những ao đầm làng Gióng, núi Bút, non Nghiên,…) liệu nơi nào lại không hiện diện hình ảnh nhân dân ?

+ Tính chính luận làm cho nội dung tư tưởng của đoạn thơ thêm sâu sắc Yếu tố trữ tình làm cho đoạn thơ có sức lay động, truyền cảm, biến tưu tưởng, quan niệm, nhận thức thành cảm hứng nghệ thuật Sự kết hợp hai yếu tố này sao cho nhuần nhuyễn, hiệu quả thực không dễ, nhưng NKĐ đã làm được Đó là thành công lớn của đoạn trích Đất Nước.

Ý 4 : Đánh giá

- Nhìn nhận Đất Nước của NKĐ từ sự kết hợp hai yếu tố chính luận và trữ tình đã đem đến cho người đọc một góc nhìn mới mẻ về bài thơ này Đoạn thơ là sáng tạo nghệ thuật nổi bật của tác giả trong đoạn trích Đất Nước nói riêng và thiên trường

và Mặt đường khát vọng nói chung.

Trang 7

ĐỀ 3

Khi bàn về công việc sáng tạo nghệ thuật, M Goorki khuyên các nhà

văn: “Bạn hãy giữ lấy cái gì là riêng của mình, làm sao cho nó phát triển tự do”.

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy phân tích vẻ đẹp của hình tượng

dòng sông trong hai doạn thơ sau để làm nổi bật cái riêng của từng tác giả khi

khắc họa hình tượng đó:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

(Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục, 2008, tr.89)

“Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu

Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát

Người đến hát khi chèo đò kéo thuyền vượt thác

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”

(Đất Nước, trích Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn

12, Tập 1, NXB Giáo dục, 2008, tr.122)

Gợi ý:

I Yêu cầu về hình thức và kĩ năng

Cần xác định đây là kiểu bài nghị luận văn học Học sinh có thể có những cách làmkhác nhau nhưng phải giải thích đúng câu nói của M Goorki và phân tích hình tượng dòng sông để làm sáng tỏ “cái riêng”, sự sáng tạo của mỗi nhà thơ Kết cấu chặt chẽ, viết văn lưu loát, có hình ảnh và cảm xúc; không mắc lỗi chính tả, dùng

từ, ngữ pháp

Yêu cầu về nội dung

Trên cơ sở những hiểu biết cơ bản về kiến thức lí luận văn học, tác giả, tác phẩm thuộc phạm vi đề bài, học sinh cần làm rõ những nội dung sau:

Giải thích ý kiến của M Goorki

– Cái riêng của mình mà M Goorki nói đến ở đây chính là dấu ấn cá nhân, nét độc đáo, mới lạ, nổi bật về tư tưởng cũng như nghệ thuật, có phẩm chất thẩm mĩ của nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật mà ta gọi là phong cách Phong cách mang tính

ổn định, ít nhiều chịu sự chi phối của phong cách thời đại

– Phát triển tự do: được hiểu là phát triển không bị gò bó, trói buộc, không bị lệ thuộc, chi phối bởi người khác

– Cả câu trên khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của nét riêng, cá tính sáng tạo trong phong cách nghệ thuật của nhà văn

– Nét riêng trong sáng tác biểu hiện ở cách nhìn, cách cảm thụ, giọng điệu, sự sángtạo các yếu tố nội dung cũng như hình thức tác phẩm…Đặc điểm riêng trong sáng tác là dấu ấn trưởng thành về bản lĩnh nghệ thuật của tác giả và làm nên phong

Trang 8

cách độc đáo của nhà văn.

– Nhu cầu cuộc sống nói chung, văn học nói riêng là sự xuất hiện những nhân tố mới mẻ Nếu không có cái riêng, sự độc đáo cá nhân thì văn học nghệ thuật sẽ đơn điệu và không còn hấp dẫn nữa

Phân tích vẻ đẹp hình tượng dòng sông trong hai đoạn trích để làm nổi bật

“cái riêng” của từng tác giả

Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm, đoạn thơ

Vẻ đẹp của hình ảnh dòng sông trong Tây Tiến

– Hình ảnh dòng sông mã xuất hiện ở đầu bài thơ và lặp lại ở khổ thơ này Lần đầu, sông Mã là đối tượng gợi niềm thương nhớ, hoài niệm về một thời Tây Tiến…Lần sau, Sông Mã độc hành tấu lên khúc nhạc trầm hùng tiễn đưa người lính Tây Tiến về với đất mẹ

– Dòng sông được khắc họa với bút pháp lãng mạn, bi tráng, nghệ thuật nhân hóa gợi lên vẻ đẹp hào hùng, tráng lệ, thiêng liêng, bất tử hóa cái chết của người lính.– Sông Mã là dòng sông tưởng niệm, tri ân, ngưỡng mộ…thể hiện tấm lòng của nhân dân, đất nước trước sự hi sinh cao cả của những chiến binh Tây Tiến

Vẻ đẹp của hình tượng dòng sông trong Đất Nước

– Hình ảnh dòng sông không gợi bóng hình những dòng sông Việt Nam mà mang

vẻ đẹp chiều sâu văn hóa, lịch sử

– Dòng sông được khắc họa với bút pháp trữ tình – chính luận, có vẻ đẹp hài hòa giữa lí trí và tình cảm, cảm xúc và trí tuệ, giàu chất triết lí

– Dòng sông gắn với vẻ đẹp tâm hồn, tính cách Việt trong sự tiếp nhận, biến đổi làm nên vẻ đẹp đa dạng, phong phú của văn hóa dân tộc

Đánh giá chung

– Hai đoạn thơ cùng khắc họa hình ảnh dòng sông nhưng mỗi dòng sông đều hiện lên với vẻ đẹp riêng với bút pháp, phong cách nghệ thuật riêng mang đậm dấu ấn sáng tạo của mỗi tác giả:

+ Thơ Quang Dũng mang vẻ đẹp hồn nhiên, tinh tế, hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn; sáng tạo về hình ảnh, ngôn từ, giọng điệu…

+ Thơ Nguyễn Khoa Điềm có sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng, giọng thơ trữ tình – chính luận…

ĐỀ 5:

Câu 1 (3,0 điểm)

Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến: Ai cũng là thợ rèn số phận của chính mình.

Câu 2 (7,0 điểm)

Trang 9

Cảm hứng về đất nước qua các đoạn trích Đất Nước (trích Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm, Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc Tường

định vai trò chủ động, quyết định của mỗi con người với vận mệnh của

bản thân thông qua việc cố gắng, nỗ lực và rèn luyện

- Con người có thể là “thợ rèn số phận của chính mình” vì cổ nhân có

câu: “Gieo suy nghĩ, gặt hành động; gieo hành động, gặt thói quen; gieo

thói quen, gặt tính cách; gieo tính cách, gặt số phận” Chính con người

được phép lựa chọn cách mình suy nghĩ theo hướng tích cực hay tiêu

cực, đúng đắn hay sai lầm, con người cũng là chủ thể của những hành

động để tạo ra những đổi thay trong cuộc sống, chính những hành động

lặp đi lặp lại đó của họ sẽ tạo nên tính cách và quyết định tới vận mệnh

trong cuộc đời của họ

- Để có thể trở thành “thợ rèn số phận của chính mình”, con người cần

phải có ý thức và bản lĩnh, không phó mặc cho sự xô đẩy của hoàn

cảnh, không đổ lỗi cho các yếu tố khách quan, học cách tự nhận trách

nhiệm, dũng cảm đối mặt với những khó khăn, thử thách, những sai

lầm, hạn chế của bản thân để nỗ lực vươn lên và rèn luyện

- Tuy nhiên, chúng ta cũng không phủ nhận sự tác động của các yếu tố

khách quan tới số phận của mỗi con người, vấn đề là con người cần học

cách thích nghi, khắc phục và chuyển hóa các yếu tố đó theo hướng tích

- Câu nói trên có tác dụng cổ vũ con người vươn lên kiến tạo cuộc đời

mình, vượt qua nghịch cảnh của số phận; thức tỉnh trách nhiệm của con

người với bản thân

- Phê phán những người luôn tìm cách thoái thác trách nhiệm và đổ lỗi

cho khách quan, ngoại cảnh; ngợi ca những con người có kỷ luật và

nghiêm khắc rèn luyện bản thân, chủ động kiến tạo vận mệnh cuộc đời

mình

- Liên hệ bản thân, rút ra bài học

0,25

0,25

Trang 10

Câu 2 (7,0 điểm).

- Cảm hứng về đất nước là một trong những nguồn cảm hứng chủ đạo

xuyên suốt các giai đoạn phát triển của văn học Việt Nam

- Nguồn cảm hứng này tiếp tục được kế thừa và phát triển mạnh mẽ

trong Văn học Việt Nam giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám với sự

tham gia của một đội ngũ sáng tác đông đảo Đất Nước (trích Mặt

đường khát vọng) Nguyễn Khoa Điềm, Người lái đò Sông Đà

-Nguyễn Tuân, Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Hoàng Phủ Ngọc

Tường là những đoạn trích tiêu biểu cho nguồn cảm hứng này

a - Cảm hứng là một trong những phương diện nội dung tình cảm của

tác phẩm văn học Nếu đề tài, chủ đề là những khái niệm thể hiện

phương diện khách quan của nội dung tác phẩm thì cảm hứng là khái

niệm thuộc về nội dung chủ quan của tác phẩm gắn với chủ thể sáng

tạo Cảm hứng được hiểu là tình cảm nghiêng về lẽ phải, là niềm say

mê khẳng định lẽ phải, chân lí, phủ nhận sự giả dối, xấu xa Cảm

hứng bộc lộ khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm và biểu hiện chủ

yếu qua giọng điệu, ngữ điệu

- Ở đây, khái niệm cảm hứng được hiểu là cảm hứng chủ đạo – nguồn

cảm hứng bao trùm, được thể hiện nhất quán trong suốt tác phẩm

(khác với cảm hứng sáng tạo là cảm hứng khơi nguồn để người nghệ sĩ

viết nên tác phẩm)

0,25

0,25

b Cảm hứng về đất nước chủ yếu là cảm hứng về thiên nhiên, cuộc sống,

con người của đất nước Đó là tình yêu, niềm tự hào sâu sắc của nhà

thơ về vẻ đẹp thiên nhiên đất nước, vẻ đẹp trong cuộc sống và con

người Việt Nam; là nỗi đau đớn xót xa khi thấy thiên nhiên, cuộc

sống, con người của đất nước mình bị tàn phá, huỷ hoại; là lòng căm

giận kẻ thù đã giày xéo đất nước; là khám phá mới mẻ, tiến bộ về đất

nước với quan niệm: Đất nước của nhân dân

0,5

2 Phân tích, chứng minh cảm hứng về đất nước qua các đoạn trích. 4,5

a Cảm hứng về đất nước được thể hiện trong việc miêu tả, tái hiện

bức tranh thiên nhiên tươi đẹp ở mỗi miền đất nước bằng một tình

Trang 11

yêu say đắm, thiết tha

- Trong Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân:

Thiên nhiên Tây Bắc hiện lên qua hình ảnh con Sông Đà với vẻ đẹp

vừa hung bạo vừa trữ tình

+ Vẻ đẹp hung bạo, dữ dội mang sức mạnh thiên nhiên kì vĩ với cảnh

đá bờ sông dựng vách thành, một khúc sông hẹp bị đá chẹt lại như cái

yết hầu, mặt ghềnh Hát Loóng sóng nước dữ dội, quãng Tà Mường

Vát có những cái hút chết người, những thác nước mà từ xa đã nghe

thấy tiếng nước réo, những khúc sông đầy đá to, đá bé như đang dàn

thạch trận

+ Thiên nhiên nơi đây còn mang vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình với Con

Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, nước Sông Đà

mùa xuân dòng xanh ngọc bích, mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín

đỏ , vẻ đẹp mang một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam

nguyệt há Dương Châu”; hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi

xưa

- Trong Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

Vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Huế được tập trung thể hiện qua hình ảnh

dòng sông Hương mang vẻ đẹp vừa phóng khoáng, man dại vừa thơ

mộng, trữ tình

+ Vẻ đẹp mãnh liệt, dữ dội như bản trường ca của rừng già, rầm rộ

giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác…, như một

cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại

+ Vẻ đẹp duyên dáng đầy nữ tính như một người con gái đẹp đi tìm

tình yêu đích thực của mình, vẻ đẹp trầm mặc, như triết lí, như cổ

thi

- Trong Đất nước (trích Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa

Điềm:

+ Vẻ đẹp của thiên nhiên được tái hiện bằng việc liệt kê một loạt danh

lam thắng cảnh trải dài trên lãnh thổ từ Bắc vào Nam Đó là những

“núi Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”, “núi Bút”, “non Nghiên”, là

những ao đầm nơi “gót ngựa Thánh Gióng đi qua”, là “đất Tổ Hùng

Vương”, là dòng Cửu Long giang xanh thẳm…

+ Thiên nhiên đất nước, qua cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên

như một phần tâm hồn, máu thịt của nhân dân Tất cả đã tạo nên niềm

tự hào bất tận về một tổ quốc Việt Nam “non xanh nước biếc”.

0,75

0,75

0,5

b Cảm hứng về đất nước được thể hiện trong sự trân trọng, ngợi ca vẻ

đẹp của cuộc sống, con người Việt Nam.

- Trong Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân:

+ Vẻ đẹp của cuộc sống lao động hào hùng mà bình dị của người dân 0,75

Trang 12

Tây Bắc đang hàng ngày, hàng giờ cống hiến tâm sức của mình cho

đất nước được thể hiện qua hình tượng người lái đò sông Đà trí dũng,

tài hoa Qua ngòi bút miêu tả của Nguyễn Tuân, ông lái đò mang vẻ

đẹp giản dị, thuần phác nhưng đầy trí tuệ và sức mạnh Đó là vẻ đẹp

của một “tay lái ra hoa”, một “nghệ sĩ trong nghệ thuật chèo đò vượt

thác”, có khả năng chinh phục thiên nhiên, bắt nó phải phục vụ cho

cuộc sống con người

+ Người lái đò sông Đà chính là hình tượng đẹp về người lao động

mới của đất nước, là chất vàng mười đã qua thử lửa của con người

Tây Bắc nói riêng và con người Việt Nam nói chung trong thời đại

cách mạng

- Trong Đất nước (trích Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa

Điềm:

+ Vẻ đẹp của tình yêu nước, sự cống hiến, hy sinh thầm lặng để góp

phần bảo vệ, dựng xây đất nước

+ Vẻ đẹp của phẩm chất cần cù, siêng năng, của lối sống bình dị, ân

nghĩa, thủy chung

0,75

c Cảm hứng về đất nước được bộc lộ sâu sắc trong quan niệm mới về

đất nước: “Đất nước của nhân dân”.

- Trong Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân:

Từ việc miêu tả hình tượng người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân thể

hiện sự ngợi ca tập thể quần chúng nhân dân Đó là những người lao

động bình thường, âm thầm, giản dị nhưng đã và đang làm nên những

kì tích lớn lao góp phần dựng xây đất nước

- Trong Đất nước (Trích Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa

Điềm:

Tư tưởng Đất nước của nhân dân được tác giả khám phá và sáng tạo

hết sức độc đáo Nhà thơ đã khẳng định vai trò lớn lao cùng sức mạnh

kì diệu của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng cũng như bảo vệ Tổ

quốc suốt bốn nghìn năm lịch sử dân tộc như một cách cắt nghĩa bằng

con đường của nghệ thuật cho những câu hỏi lớn: Đất nước có từ bao

giờ? Đất nước được hình thành và phát triển như thế nào? Đất nước

do ai tạo dựng? Từ đó nhà thơ đi đến khái quát, khẳng định đầy tự

hào, xúc động: Đất Nước của Nhân Dân, Đất Nước của ca dao thần

thoại Nhờ sử dụng chất liệu văn hóa dân gian, người viết đã tạo dựng

một hình tượng đất nước bình dị, dân dã, thân thuộc mà vô cùng

thiêng liêng, mới mẻ, hiện đại

Trang 13

+ Cảm hứng về đất nước trong văn học Việt Nam sau Cách mạng

tháng Tám có cội nguồn từ truyền thống yêu nước cao đẹp được hun

đúc suốt mấy ngàn năm lịch sử dân tộc, được khơi nguồn từ những thử

thách ác liệt của lịch sử 30 năm chiến tranh gian khổ và công cuộc xây

dựng đất nước trong hòa bình

+ Cảm hứng về đất nước có ý nghĩa lớn trong việc tạo nên một trong

những phương diện nội dung quan trọng nhất của văn học Việt Nam

sau Cách mạng tháng Tám Qua những trang thơ, trang văn ra đời

trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của đất nước, các tác giả thời

kì này đã thể hiện một cách đa dạng cảm hứng về đất nước, đã bộc lộ

một cách sâu đậm, thấm thía, cảm động tấm lòng yêu nước của con

người Việt Nam Chính những trang thơ, trang văn này đã khơi dậy

trong ta niềm tự hào dân tộc, tình yêu, sự gắn bó cũng như trách nhiệm

với đất nước trong hiện tại và tương lai

- Nghệ thuật:

Cảm hứng về đất nước được thể hiện qua những phong cách nghệ

thuật độc đáo (ngòi bút tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân; lối hành

văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc

Tường; sự kết hợp giữa xúc cảm nồng nàn và suy tư sâu lắng của

Nguyễn Khoa Điềm), qua sự đa dạng phong phú của các thể loại, qua

những so sánh, liên tưởng độc đáo…

Trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan niệm sau:

Trí tuệ giàu lên nhờ cái nó nhận được, con tim giàu lên nhờ cái nó

Trang 14

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

(Nguyễn Khoa Điềm - Đất Nước - Ngữ văn 12 - Tập 1- trang 120 - NXB Giáo dục

- 2008)

2 Giải thích quan niệm (0,75 điểm)

- Trí tuệ là khả năng nhận thức của lí tính, giúp con người đạt đến

một trình độ hiểu biết nhất định Muốn trí tuệ giàu lên, con người phải

thường xuyên trau dồi, học hỏi, thu nhận, tích lũy kiến thức từ bên

ngoài Đó là cách thức nhận để làm giàu cho trí tuệ.

- Con tim là biểu hiện của đời sống tình cảm, cảm xúc Cách làm

giàu của con tim khác với trí tuệ, nó chỉ trở nên giàu có khi cho đi tình

yêu thương, sự chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với người khác Đây là cách

thức cho để làm giàu trái tim.

- Ý chung: Quan niệm trên đề cập đến cách thức làm giàu trái tim

và khối óc của mỗi con người Trí tuệ chỉ giàu có khi con người chịu

khó học hỏi, tích lũy kinh nghiệm phong phú từ đời sống Trái tim chỉ

thực sự giàu có khi con người biết yêu thương, chia sẻ, hi sinh,

0,25

0,25

0,25

3 Bình luận (1,0 điểm)

- Tri thức của con người không phải tự nhiên mà có, trong khi đó

kho tri thức của nhân loại thì vô tận, luôn vận động và phát triển không

0,5

Trang 15

ngừng Vì vậy, muốn làm giàu tri thức cho mình, mỗi người cần phải

học tập, trau dồi, tích lũy kiến thức

- Trái tim biết sẻ chia, biết yêu thương, biết rung động sẽ đem đến

hạnh phúc cho mọi người và cho chính mình Từ đó, con người sẽ cảm

nhận được những ý vị ngọt ngào của cuộc sống, tâm hồn sẽ trở nên

nhạy cảm, tinh tế, phong phú hơn

0,5

4 Mở rộng, nâng cao vấn đề (0,5 điểm)

- Con người chỉ hoàn hảo khi cả trí tuệ và trái tim cùng giàu có:

+ Nếu trái tim không có trí tuệ dẫn đường sẽ dễ lạc lối

+ Nếu có trí tuệ mà không có sự rung động, nhạy cảm, tinh tế

của trái tim thì cuộc sống sẽ trở nên đơn điệu, tẻ nhạt thậm chí con

người có thể gây ra tội ác

- Phê phán lối sống lười biếng, không chịu học hỏi, ích kỉ, vô

cảm… đang có nguy cơ lây lan trong xã hội hiện nay

0,25

0,25

Câu 2 (7,0 điểm)

2 Giải thích (1,5 điểm)

- Hai câu đầu nói về thơ xưa: Thơ xưa chú trọng nhiều đến vẻ đẹp

của thiên nhiên như mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông, Mỗi hiện

tượng thiên nhiên gợi lên một vẻ đẹp

- Hai câu cuối nói về thơ nay: Thơ nay nên có chất thép, có tính

chiến đấu và nhà thơ là người chiến sĩ tiên phong trên mọi mặt trận

Tuy nhiên, cần hiểu chất thép một cách linh hoạt, "không phải cứ nói

chuyện thép, lên giọng thép thì mới có tinh thần thép" (Hoài Thanh).

- Như vậy, hai câu đầu nói lên nhận xét của Hồ Chí Minh về thơ

xưa Hai câu sau nói lên nguyện vọng của nhà thơ đối với thơ và vai

trò, sứ mệnh của người nghệ sĩ Cả hai ý bổ sung cho nhau tạo nên một

quan niệm sáng tác hoàn chỉnh, vừa phát huy truyền thống văn thơ đuổi

giặc của cha ông vừa nâng cao trong thời đại cách mạng vô sản Quan

niệm của Hồ Chí Minh không chỉ có tác dụng định hướng toàn bộ sáng

0,5

0,5

0,5

Trang 16

tác văn học của Người mà còn là đường lối văn nghệ của Đảng: văn

học là vũ khí, nhà văn là chiến sĩ

3 Phân tích đoạn thơ (3,5 điểm)

*Về nội dung:

- Đoạn thơ là những phát hiện mới mẻ, độc đáo và có chiều sâu của

Nguyễn Khoa Điềm về những cảnh quan kì thú của non sông gấm vóc

Những cảnh quan (núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, núi Bút, non Nghiên,

núi con cóc, con gà, ) gắn liền với cuộc sống của nhân dân và chỉ trở

thành thắng cảnh khi được tiếp nhận, cảm thụ qua tâm hồn nhân dân và

qua lịch sử của dân tộc:

+ Nếu không có sự hóa thân của nhân dân (những người vợ nhớ

chồng, cặp vợ chồng yêu nhau, những Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen,

Bà Điểm ), thì không có sự cảm nhận về núi Vọng Phu, hòn Trống

Mái và những địa danh mang dấu ấn tâm hồn nhân dân

+ Nếu không có sự hóa thân của truyền thống yêu nước, chống

giặc ngoại xâm; truyền thống hiếu học của những người học trò nghèo

thì không có sự cảm nhận về những núi Bút, non Nghiên và trăm ao

đầm để lại cho tới ngày hôm nay

+ Nếu không có sự hóa thân của những sự vật thân thương, bình

dị trong đời sống hàng ngày của nhân dân thì không có sự cảm nhận về

những dòng sông xanh thẳm, những con cóc, con gà đã làm nên thế núi,

hình sông

- Nhà thơ không cảm nhận những cảnh quan kì thú đơn thuần là

thắng cảnh thiên nhiên mà trong đó là chiều sâu số phận, cảnh ngộ,

công lao của mỗi người dân đã đóng góp, hóa thân vào Đất Nước Đất

Nước thấm sâu vào tâm hồn, máu thịt của nhân dân

- Từ những hiện tượng cụ thể, nhà thơ đã khái quát về sự hóa thân

của nhân dân vào đất nước một cách giàu chất suy tư và triết luận: "Và

ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi - Chẳng mang một dáng hình, một

ao ước, một lối sống ông cha - Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu

ta cũng thấy - Những cuộc đời đã hóa núi sông ta" Hình tượng nhân

dân hiện diện khắp nơi trên ruộng đồng gò bãi, trong lối sống, trong ao

ước, khát vọng, trong suốt dọc dài đất nước hơn 4000 năm đã trở thành

chủ nhân, linh hồn của lịch sử dân tộc, của đất nước

Trang 17

cảm xúc; sử dụng sáng tạo thể thơ tự do với sự biến đổi linh hoạt của

âm hưởng, nhịp điệu; biện pháp liệt kê, trùng điệp;

- Sử dụng linh hoạt các chất liệu văn hóa để sáng tạo hình ảnh và

thể hiện cách cảm nhận độc đáo về đất nước; cách triển khai ý thơ đi từ

cụ thể đến khái quát phù hợp với các suy tưởng mang màu sắc chính

luận

- Ngôn ngữ gần gũi với đời sống mà vẫn mới mẻ; hình ảnh quen

thuộc, gợi mở nhiều liên tưởng sâu sắc

0,5

0,25

4 Tính chiến đấu và vai trò, sứ mệnh của người nghệ sĩ được biểu

hiện trong đoạn thơ (1,0 điểm)

- Tính chiến đấu của đoạn thơ được thể hiện qua cảm nhận sâu sắc

của tác giả về đất nước: Đất nước không trừu tượng, xa xôi mà được

kết tinh, hóa thân trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân và được xây

dựng, bảo vệ, giữ gìn bằng máu xương của nhân dân qua trường kì lịch

sử

- Cách cảm nhận ấy đã khơi dậy lòng tự hào về truyền thống, lịch

sử dân tộc, về non sông gấm vóc; thái độ trân trọng vai trò, công lao

của nhân dân trong xây dựng, bảo vệ đất nước; thức tỉnh lòng yêu nước,

ý thức trách nhiệm và tinh thần đấu tranh của thế hệ trẻ miền Nam

trong cuộc kháng chiến chống Mĩ Đồng thời, cổ vũ tinh thần chiến đấu

của toàn dân tộc

- Đoạn thơ trong Đất Nước thực sự là thứ vũ khí lợi hại, phụng sự

đắc lực cho sự nghiệp cách mạng Nguyễn Khoa Điềm không chỉ là

một nghệ sĩ mà còn là người chiến sĩ xung phong trên mặt trận văn hóa

tư tưởng và mặt trận chống giặc ngoại xâm

0,25

0,5

0,25

5 Đánh giá, nâng cao vấn đề (0,5 điểm)

- Bằng bút pháp chính luận - trữ tình, đoạn thơ là những cảm nhận

sâu sắc, mới mẻ, độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước: Đất

Nước của Nhân dân.

- Đoạn thơ đã thể hiện chất thép một cách linh hoạt, góp phần cụ thể

hóa đường lối văn nghệ của Đảng và vai trò, sứ mệnh của người nghệ sĩ

trong thời đại mới

0,25

0,25

ĐỀ 7:

Trang 18

Tội trời đày ở nhân gian

Con không được cười giễu họ

Dù họ hôi hám úa tàn

Nhà mình sát đường, họ đến

Có cho thì có là bao

Con không bao giờ được hỏi

Quê hương họ ở nơi nào.

( )

Mình tạm gọi là no ấm

Ai biết cơ trời vần xoay

Lòng tốt gửi vào thiên hạ

Biết đâu nuôi bố sau này

(Trần Nhuận Minh, "Dặn con", rút từ tập thơ Nhà thơ và hoa cỏ, 1993)

Trình bày suy nghĩ của anh/ chị về vấn đề được gợi ra từ ý thơ của Trần Nhuận Minh

(Mấy ý nghĩ về thơ, Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 1, tr 52, NXBGD, 2008)

Qua bài thơ "Sóng" (Xuân Quỳnh), anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận xét trên

Câu 1: Về tên địa danh trong hai bài thơ "Tây Tiến" và "Đất Nước" (4,0 điểm)

Trên cơ sở những hiểu biết về hai văn bản "Tây Tiến"(Quang Dũng) và đoạn trích

"Đất Nước"(Nguyễn Khoa Điềm), học sinh có thể làm rõ các nội dung sau:

 Nêu những tên địa danh trong từng văn bản (1,0 điểm)

 Nêu ý nghĩa những tên địa danh đó trong việc làm rõ cảm hứng chủ đạo của từng tác phẩm

 Địa danh trong "Tây Tiến" làm sống lại con đường hành quân của người lính Tây Tiến, mỗi tên địa danh xa lạ vừa làm hiện lên không gian núi rừng xa xôi vừa như một nốt nhạc của bản nhạc tình thương nỗi nhớ về một thời binh lửa

Trang 19

 Địa danh trong "Đất Nước" lại gắn với những trầm tích văn hoá dân tộc, mỗi địa danh trước hết là một danh thắng của Tổ Quốc đồng thời là một huyền thoại về con người, về vẻ đẹp của địa lí, văn hoá, lịch sử dân tộc.

 Đưa tên địa danh vào văn bản là sáng tạo riêng của từng nhà thơ nhằmbày tỏ tình yêu quê hương, đất nước (3,0 điểm)

Câu 2:

Dẫn dắt - Nêu vấn đề: Lòng tốt trong cuộc đời (0,5 điểm)

1 Nội dung của đoạn thơ:

Đoạn thơ là lời của người cha nói với con, dặn con: Cuộc sống hiện tại của ta cũng tạm gọi là no ấm, đầy đủ hơn nhiều người Nhưng ai có thể biết trước được cuộc sống trong tương lai của mình giàu sang phú quý hay cơ cực bần hàn Vậy con hãy đem lòng tốt của mình đến với mọi người, biết đâu sau này nếu có "sa cơ lỡ vận" mọi người lại sẵn lòng giúp đỡ con (1,0 điểm)

2 Ý nghĩa của lời người cha dặn con:

Con người ta sống phải biết yêu thương, đùm bọc, chở che, giúp đỡ lẫn nhau Sốngphải biết cho và lúc cần sẽ được nhận lại (1,0 điểm)

3 Học sinh nêu suy nghĩ của mình về về lời dặn con của người cha:

 Yêu thương, đùm bọc, chở che, giúp đỡ lẫn nhau là truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam: "Lá lành đùm lá rách", "Lá rách ít đùm lá rách nhiều" Đó

là cái gốc đạo đức của mỗi con người, là nền tảng của luân lí xã hội, tạo nên sự đoàn kết trong cộng đồng (1,0 điểm)

 Cuộc sống sẽ tươi đẹp hơn nếu mỗi con người biết "Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình" (1,0 điểm)

 Chúng ta cần phải xác định rõ ý thức trách nhiệm của mình đối với mọi người: Mình vì mọi người (1,0 điểm)

 Khái quát chung (0,5 điểm)

Câu 3: Bàn về ngôn ngữ trong thơ qua ý kiến của Nguyễn Đình Thi 10 điểm

1 Nêu vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm)

2 Hiểu ý kiến của Nguyễn Đình Thi (1,5 điểm)

 Ngôn ngữ thơ (chữ và nghĩa trong thơ) vừa có nghĩa do bản thân câu chữ mang lại (nghĩa của nó, nghĩa gọi tên) vừa có nghĩa do câu chữ gợi ra (cảm xúc,hình ảnh, vùng ánh sáng lay động, sức gợi)

 Khẳng định: Sức mạnh nhất của thơ là sức gợi ấy

=> Bằng cách diễn đạt hình ảnh rất cụ thể và sinh động, Nguyễn Đình Thi đã nhấn mạnh và làm nổi bật một đặc trưng bản chất của thơ ca: ngôn ngữ trong thơ, vấn đềchữ và nghĩa Tác giả vừa khẳng định vừa cắt nghĩa, lí giải sức mạnh của thơ nằm

ở sức gợi

3 Chứng minh (7,0 điểm)

Trang 20

Học sinh phải chỉ ra và phân tích được đặc điểm ngôn ngữ thơ trong bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) Không nhất thiết phải phân tích cả bài mà có thể lựa chọn những câu thơ, đoạn thơ tiêu biểu để làm sáng tỏ vấn đề.

và khao khát tự hoàn thiện bản thân

=> Ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh dung dị mà có sức gợi sâu xa từ hình ảnh thực mà liên tưởng đến tâm trạng người con gái trong tình yêu, khát vọng bất tử hóa, tự hoàn thiện bản thân để hướng tới những giá trị đích thực của cuộc sống Chính sức gợi này đã tạo nên sức sống cho bài thơ

=> Ngôn ngữ thơ có nhiều đổi mới, giàu tượng trưng thiên về gợi, không coi trọng

tả thực, mỗi từ ngữ, hình ảnh, câu thơ đều có độ mở cho phép tiếp nhận dân chủ, sáng tạo Sức gợi của ngôn ngữ thơ tạo ra mạch ngầm đa nghĩa cho tác phẩm

4 Đánh giá chung (1,0 điểm)

 Về ý nghĩa của vấn đề: ý kiến của Nguyễn Đình Thi về một trong những đặctrưng bản chất của thơ không chỉ có tác dụng nhất thời mà ngày nay vẫn còn nguyên giá trị bởi ý nghĩa thời sự, tính chất khoa học đúng đắn

 Đối với người sáng tác: định hướng cho sự sáng tạo, làm thơ phải biết lựa chọn ngôn ngữ hàm súc, giàu sức gợi, có sức hấp dẫn, lôi cuốn

 Đối với người thưởng thức: định hướng tiếp nhận, đọc thơ không chỉ hiểu nghĩa câu chữ mà phải dựng dậy lớp nghĩa được gợi ra từ câu chữ

Phần 1, hệ thống kiến thức cơ bản về bài Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm

1 TÁC GIẢ

Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943 trong một gia đình trí thức có truyền thống yêunước và cách mạng ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Sau khi tốt nghiệptrường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, ông trở lại miền Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên thành phố Huế Nguyễn Khoa Điềm từng giữ nhữngchức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Nhà nước Năm 2006, ông

nghỉ hưu, về sống tại Huế và tiếp tục làm thơ

Thơ Nguyễn Khoa Điềm cuốn hút người đọc bằng cảm xúc trữ tình nồng thắm và chất suy tư sâu lắng, ông cất lên tiếng nói của một người trí thức thiết tha gắn bó

Trang 21

với quê hương, giàu ý thức trách nhiệm với nhân dân, đất nước Tác phẩm chính của Nguyễn Khoa Điềm là các tập thơ : Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Cõi lặng (2007) Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

2 TÁC PHẨM

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1 Đoạn trích Đất Nước là phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng Tác phẩm này được hoàn thành năm 1971, thể hiện sự thức tỉnh của thế

lệ trẻ miền Nam về trách nhiệm thiêng liêng với nhân dân, đất nước

2 Bao trùm đoạn trích Đất Nước là cảm hứng ngợi ca công lao vĩ đại của nhân dân trên hành trình dựng nước và giữ nước Đoạn trích gồm hai phần:

– Phần 1 [Khi ta lớn lên… Đất Nước muôn đời): Cách cảm nhận và lí giải của nhà thơ về đất nước

– Phần 2 INhững người vợ nhớ chồng… trăm dáng sông xuôi) I Tập trung thể hiện

tư tưởng đất nước là của nhân dân

1 Cách cảm nhận và lí giải độc đáo về đất nước

 Đất nước được hình thành, nuôi dưỡng từ những gì gần gũi, bình dị

nhất : câu chuyện của mẹ, miếng trầu của bà,… Con người có thể cảm nhận vềđất nước qua những hình ảnh thân thương nhất trong cuộc sống hằng ngày ; búi tóc của mẹ, nghĩa tình sâu nặng, thuỷ chung của mẹ cha, cái kèo cái cột trong ngôi nhà ta ở, hạt gạo hằng ngày nuôi sống con người,… Cả một quá trình sinh i thành của đất nước – từ lúc khởi đầu đến khi trưởng thành và trường tồn, đều gắn liền với những con người bình thường, bé nhỏ, thân thiết như chính ông bà, ; cha mẹ của mỗi chúng ta Bằng cách cảm nhận này, nhà thơ đã khẳng định ; nhân dân là chủ thể sáng tạo nên đất nước

 Hai thành tố đất và nước khi thì được tách riêng, khí thì họp lại nhưng đều tập trung thể hiện tư tưởng đất nước là của nhân dân Tư tưởng ấy thấm đượm trong những “định nghĩa” khác nhau về đất nước Đất nước là những khoảng ;không gian bé nhỏ, riêng tư của mỗi con người : là con đường đưa ta đến trường 1 ngày thơ bé, là bến nước, cây đa, sân đình ; là nơi hẹn hò, tình tự của mỗi lứa : đôi.Ií Đất nước còn là những gì lớn lao, thiêng liêng nhất – là cái nôi sinh tụ của I cộng đồng dân tộc :

Trang 22

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng

Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Không gian mênh mông của đất nước được hình thành trên dòng thời gian vô tận

Đó là tổ ấm bao bọc, che chở cho hàng ngàn thế hệ người… Đất nước là sự hoà quyện không thể tách rời giữa cái riêng và cái chung, cá nhân và cộng đồng : Trong anh và em hôm nay – Đều có một phần Đất Nước – Khi hai đứa cầm tay – Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm – Khi chúng ta cầm tay mọi người – Đất Nước vẹn tròn, to lớn Vì vậy, bổn phận của mỗi con người với đất nước cũng là trách nhiệm với chính mình Hiến dâng cuộc đời cho đất nước trường tồn cũng là hoàn thành trách nhiệm thiêng liêng với các thế hệ đi trước và với tương lai: Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình – Phải biết gắn bó và san sẻ — Phái biết hoá thân cho dáng hình xứ sở — Làm nên Đất Nước muôn đời… Chất trữ tìnhđằm thắm, suy tư sâu lắng của một người trí thức giàu trách nhiệm với quê hương đất nước hoà quyện cùng chất giọng chính luận đã mang lại sức rung động lớn cho những câu thơ này Đoạn thơ đã thức tỉnh, khơi gợi tinh thần đấu tranh vì đất nước của thế hệ trẻ miền Nam lúc bấy giờ Đó cũng là lời nhắn gửi thiết tha với mỗi người Việt Nam yêu nước về một lí tưởng sống cao đẹp của muôn đời

2 Tập trung thể hiện tư tưởng đất nước là của nhân dân

Tư tưởng ấy đã được tác giả chứng minh từ nhiều phương diện cảm nhận về đất nước

 Từ không gian địa lí : Xưa nay, nói đến điều kiện tự nhiên và những danh lam thắng cảnh của đất nước, ngưòì ta thường ca ngợi sự hào phóng của Tạo Hoá Còn ở đây, nhà thơ mang đến một cách nhìn mới mẻ, độc đáo : Những người vợ nhớ chồng con góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu – Cập vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái – Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại – Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tố Hùng Vương

Qua cách nói của nhà thơ, tất cả núi sông, rừng bể ấy đều là tặng vật của nhân dân Nếu không có bao nhiêu thế hệ những người vợ, người mẹ từng đợi chờ thuỷ chung, mòn mỏi thì núi mãi chỉ là đá, không thể hoá thành những Vọng Phu vòi vọi giữa trời Nhân dân đã truyền cả tâm hồn vào cảnh vật… để đất và nước trở

Trang 23

nên có linh hồn, có sự sống Nhân dân đã khai phá đất đai, lập nên những xóm làng, ruộng đồng, bờ bãi Hình vóc của đất nước, ở nơi đâu cũng là vóc hình của nhân dân : Và ở đâu trên khắp các ruộng đồng gò bãi – Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha – ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy-Nhữngcuộc đời đã hoá núi sông ta…

Nhà thơ đã sử dụng không gian địa lí để khám phá, ngợi ca công lao to lớn của nhân dân trên hành trình dựng nước

 Từ thòi gian lịch sử : Khi tái hiện dòng thời gian lịch sử, nhà thơ không nhắclại những triều đại hoàng kim, những anh hùng được sử sách lưu danh mà “cả anh và em đều nhớ” Trên nền quá khứ mấy ngàn năm, nhà thơ đã tô đậm hìnhảnh của những lóp người bình thường, vô danh : Họ đã sống và chết – Giản dị

và bình tâm -Không ai nhớ mặt đặt tên -Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

Họ là nhân dân Họ không để lại tên tuổi của mình trong sử sách nhưng chính họ

đã sáng tạo nên những trang sử hào hùng cho nước non này, Họ làm ra mọi giá trị vật chất và tinh thần cho đất nước :hạt lúa, ngọn lửa , tiếng nói, tên xã tên làng, đắpđập be bờ để có ruộng đồng bờ bãi cho người sau trồng cây hái trái”… Nhân dân luôn sẵn sàng đứng lên chiến đấu đánh đuổi cả ngoại xâm lẫn nội thù để gìn giữ một đất nước tự do, thanh bình

— Tư tưởng đất nướclà của nhân dân còn được nhà thơ khám phá, thể hiện từ chiều sâu của bản sắc văn hoá ! Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại : Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi” – Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội – Biết trồng tre đợi ngày thành gậy – Đi trả thù mà không sợ dài lâu ‘

Nhà thơ tìm về với sáng tác, dân gian để khẳng định rằng, nhân dân chính là nhữngngười đã hình thành và gìn giữ bản sắc tâm hồn dân tộc Nhân dân dạy ta biết đắm say, lãng mạn mà thuỷ chung trong’tình yêu ; biết trọng nghĩa tình hơn của cải và bền bỉ phi thường trong chiến đấu Đoạn thơ kết thúc bằng niềm tin và hi vọng về một tương lai thanh bình cho quê hương

3 Đặc sắc nghệ thuật

Đoạn trích đã thể hiện được cách cảm nhận độc đáo, sâu sắc cửa Nguyễn Khoa

Điềm về nhân dân, đất nước Từ đó, khơi gợi niềm tự hào và, ý thức trách nhiệm củá mỗi con người vói quê hương xứ sở Sức hấp dẫn của đoạn thơ còn bắt nguồn

từ giọng điệu trữ tình – chính luận đặc sắc, từ sự vận dụng một cách nhuần nhuyễn

và sáng tạo các chất liệu của văn hoá dân gian, cách nói dân dã, đậm đà bản sắc dân tộc

Ngày đăng: 19/02/2023, 16:20

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w