1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề cương ôn tập luật hình sự phần chung

149 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương ôn tập luật hình sự phần chung
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Đề cương ôn tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 174,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

https tailieuluatkinhte com ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CHUNG Câu 1 Trình bày đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh của luật hình sự? Phân tích các chức năng của luật hình sự? Đối.https tailieuluatkinhte com ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CHUNG Câu 1 Trình bày đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh của luật hình sự? Phân tích các chức năng của luật hình sự? Đối.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CHUNG

Câu 1 Trình bày đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh của luật hình sự? Phân tích các chức năng của luật hình sự?

Đối tượng điều chỉnh của Luật hình sự là quan hệ xã hội giữa nhà nước vàngười phạm tội Quan hệ xã hội giữa Nhà nước và người phạm tội phát sinh khi có sựkiện phạm tội xảy ra và được gọi quan hệ pháp luật hình sự

-Trong đó:

Nhà nước: đại diện là các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người cóthẩm quyền tố tụng, …

Quyền: Khởi tố điều tra, truy tố, xét xử, …

Nghĩa vụ: Tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân và pháp nhânthương mại phạm tội

-Chủ thể của tội phạm: Cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội

Nghĩa vụ: Chấp hành các biện pháp cưỡng chế do nhà nước áp dụng buộc phảichịu Trách nhiệm hình sự trước nhà nước do hành vi phạm tội của mình

Quyền: Được tôn trọng và bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp không bị PLtước bỏ

-Do đặc thù của đối tượng điều chỉnh của Luật hình sự dẫn đến các quy phạmpháp luật hình sự là loại QPPL cấm đoán

Phương pháp điều chỉnh của luật hình sự là phương pháp quyền uy (hay còn

gọi là phương pháp mệnh lệnh - phục tùng

Theo đó, NN sử dụng quyền lực để áp dụng biện pháp cưỡng chế, truy cứuTNHS người phạm tội, không phụ thuộc vào ý chí của bất cứ ai

Ngoại lệ, khổi tố theo yêu cầu người bị hại (Điều 155 BLTTHS)

Người phạm tội buộc phải gánh chịu TNHS do hành vi phạm tội của mình,không thể thõa thuận hoặc ủy thác cho người khác thực hiện thay

Chức năng của Luật hình sự:

-Chức năng phòng ngừa và chống tội phạm:

+Đấu tranh chống tội phạm là hoạt động điều tra truy tố, xét xử, buộc ngườiphạm tội phải chịu TNHS

Trang 2

+Phòng ngừa TP gồm nhiều hoạt động khác nhau nhằm ngăn ngừa không chotội phạm xảy ra, hạn chế mức thấp nhất những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinhtội phạm.

+Luật Hình sự là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều

ta, truy tố, xét xử, buộc tội người phạm tội

+Quy định những QHXH nào được luật hình sự bảo vê (Điều 8)

+Xác định những hành vi gây thiệt hại cho các QH trên là TP

+Quy định về xử lý hình sự đối với chủ thể thực hiện hành vi đó

Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự của luật hình sự là trách nhiệm hình

sự phải được phân hóa phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội củahành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội

Phân hóa trách nhiệm hình sự là cơ sở pháp lý cho việc cá nhể hóa trách nhiệmhình sự đối với người phạm tội trong từng trường hợp phạm tội cụ thể

Sự thể hiện của nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự được thể hiện trongBLHS như sau:

Trang 3

- Phân hóa trách nhiệm hình sự thông qua việc phân loại tội phạm căn cứ vàotính chất, mức độ gây nguy hại cho xã hội của tội phạm và cụ thể hóa bằng mức caonhất của khung hình phạt cụ thể của điều luật (khoản 3 Điều 8).

- Phân hóa trách nhiệm hình sự trên cơ sở hành vi thực hiện do lỗi cố ý hay vô ý(các điều luật phần các tội phạm cụ thể)

- Phân hóa trách nhiệm hình sự căn cứ vào tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

- Phân hóa trách nhiệm hình sự đối với các giai đoạn thực hiện tội phạm;

- Phân hóa trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm trong vụ ánđồng phạm;

- Phân hóa trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội;

- Phân hóa trách nhiệm hình sự căn cứ vào tính chất và tầm quan trọng của quan

hệ xã hội được luật hình bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm hại (các chương Phần cáctội phạm của BLHS)

- Phân hóa trách nhiệm hình sự thông qua quy định các điều khoản về các tộiphạm cụ thể trong phần các tội phạm của BLHS (phân hóa giữa các điều luật, giữa cáckhung hình phạt trong một điều luật Phần các tội phạm)

- Phân hóa trách nhiệm hình sự thông qua các quy định về căn cứ quyết địnhhình phạt (Điều 45), về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, về quyếtđịnh nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Câu 3 Phân tích nguyên tắc pháp chế và sự thể hiện của nguyên tắc này trong các quy định của BLHS?

Nguyên tắc của luật hình sự là tư tưởng chủ đạo của luật hình

sự định hướng cho việc xây dựng, giải thích và áp dụng pháp luậthình sự, được thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật Hình sựhoặc các chế định của luật Hình sự

Có 5 nguyên tắc pháp chế, bình đẳng trước pháp luật, nhânđạo, trách nhiệm do lỗi, phân hóa TNHS

Pháp chế được hiểu là sự tuân thủ triệt để pháp luật của các cơquan, tổ chức và cá nhân Nội dung của nguyên tắc pháp chế trongluật hình sự này được thể hiện ở những nội dung chính sau:

- Hành vi bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sựphải do luật hình sự quy định

Trang 4

- Các quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội không bịpháp luật tước bỏ phải được tôn trọng và bảo vệ

- Không ai có thể phải phải chịu trách nhiệm hình sự nếu khôngthực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm

- Việc áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, áp dụngcác biện pháp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, miễn chấphành hình phạt, giảm hình phạt và các biện pháp khác có lợi chongười phạm tội phải căn cứ vào các quy định của BLHS

- Hình phạt và các biện pháp tư pháp áp dụng đối với ngườiphạm tội phải trên cơ sở các quy định của luật hình sự và phải tươngxứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm dongười đó thực hiện

Nguyên tắc pháp chế được thể hiện trong một số điều luật củaBLHS: Điều 1,2, Khoản 1 Điều 8, Điều 30, Điều 50

Câu 4 Phân tích nguyên tắc nhân đạo và sự thể hiện của nguyên tắc này trong các quy định của BLHS?

Nhân đạo là tính hướng thiện, đề cao giá trị con người

-TNHS, hình phạt, và các biện pháp tư pháp khác áp dụng chủ yếu nhằm cải tạo,giáo dục người phạm tội và phòng ngừa chung, không có hình phạt tàn nhẫn, vô nhânđạo, hạ thấp nhân phẩm con người,

-Hình phạt được quy định và áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợpphạm vi cần thiết đủ để đạt được mục đích của hình phạt

-Có các tính chất khoan hồng, áp dụng đối với người phạm tội: miễn TNHS,miễn Hình phạt, miễn chấp hành hình phạt

-Giảm nhẹ TNHS đối với những đối tượng đặc biệt như người dói 18 tuổi, phụ

nữ mang thai và nuôi con nhỏ (dưới 36 tháng), người già yếu, bệnh hiểm nghèo, …

Thể hiện Điều 3, …

Câu 5 Phân tích hiệu lực về thời gian của BLHS? Nêu ví dụ về trường hợp

“điều luật quy định một tội phạm mới”, “điều luật xoá bỏ một tội phạm”?

Điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thựchiện (không áp dụng hiệu lực hồi tố)

Ngoại lệ, có thể áp dụng hiệu lực hồi tố nếu có lợi cho người phạm tội

Trang 5

Hiệu lực hồi tố:

Điều luật khi chưa có hiệu lực thi hành vẫn được áp dụng nếu có lợi ích chongười phạm tội:

+Xóa bỏ một tội phạm: một hình phạt, một tình tiết tăng nặng

+Quy định một tình tiết nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ hoặc mở rộng phạm vi

án treo, miễn TNHS, loại trừ TNHS, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thờihạn có điều kiện, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội

Các quy định khác không có lợi cho người phạm tội

ví dụ về trường hợp “điều luật quy định một tội phạm mới”: Tội sử dụng

người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147); tội mua bán, chiếm đoạt môhoặc bộ phận cơ thể người (Điều 154); tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báochí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân (Điều 167); tội tổ chức mang thai

hộ vì mục đích thương mại (Điều 187); tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêmyết chứng khoán (Điều 212); tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểmthất nghiệp cho người lao động (Điều 216); tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặngcho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật (Điều 285);tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoảnngân hàng (Điều 291); tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễnthông (Điều 292); tội sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đíchcấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh (Điều 293); tội cố ýgây nhiễu có hại (Điều 294) và một số tội phạm khác

ví dụ về trường hợp “điều luật xoá bỏ một tội phạm” : Tội tảo hôn (Điều

148); tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế (Điều 167); tội vi phạm quy định về cấp vănbằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170); tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổsung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng (Điều 178); tội không chấp hành các quyết định

Trang 6

hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sởchữa bệnh, quản chế hành chính (Điều 269) và một số tội phạm khác.

Câu 6 Trình bày khái niệm tội phạm? Phân tích các đặc điểm (dấu hiệu) của tội phạm?

Điều 8: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Tính nguy hiểm cho xã hội

Theo nguyên tắc hành vi:

+Tội phạm phải là hành vi của con người Đó là những biểu hiện ra bên ngoàicủa con người được người đó nhận thức và điều khiển

+Hành vi phạm tội thể hiện dười dạng hành động và không hành động

+Tính nguy hiểm cho xã hội thể hiện ở chỗ: tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ranguy hiểm đáng kể cho xã hội

* Thiệt hại xảy ra có thể là

+ Thiệt hại về vật chất: thể chất con người bị xâm hại, tài sản bị phá hủy,chiếm đoạt

+ Thiệt hại về tinh thần: trật tự xã hội, nhân phẩm con người, …+ Thiệt hại đáng kể cho xã hội (k2 Điều 8)

Ý nghĩa:

+Là cắn cứ xác định tội phạm, phân hóa TNHS và cá thể hóa hình phạt

+Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu nội dung của tội phạm

+Là thuộc tính khách quan cơ bản của tội phạm

Trang 7

Tính có lỗi

Lỗi là thái độ chủ quan của người thực hiệnđối với hành vi gây nguy hiểm cho

xã hội và đối với hậu quả của hành vi đó

-Căn cứ vào lý trí và ý chí (nhận thức và mong muốn của người phạm tội đốivới hanhg vi và hậu quả lỗi được chia thành: cố ý và vô ý)

-Chủ thể phải có lỗi khi thực hiện tội phạm (nguyên tắc trách nhiệm do lỗi)-Con người chịu sự tác động do hoàn cảnh nhưng có sự tự do ý chí

Tính trái pháp luật hình sự

Dấu hiệu được xem xét dưới 2 góc độ:

-Chỉ bị coi là tội phạm nếu BLHS quy định hành vi đó là tội phạm

-Hành vi cho dù gây ra thiệt hại nhất định cho xã hội nhưng được BLHS chophép thì không phải là tội phạm

Tội phạm do chủ thể là người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện

Cá nhân có NLTNHS khi:

+ Đủ tuổi (Điều 12)

+ Không thuộc trường hợp mất NLTNHS (điều 21)

Pháp nhân thương mại khi đủ điều kiện quy định tại điều 75, 76

Câu 7 Phân tích quy định về phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS? Phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác?

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật HS, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây (Điều 9):

- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho

xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đốivới tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

Trang 8

- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xãhội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là

từ trên 03 năm đến 07 năm tù;

- Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho

xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối vớitội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;

- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểmcho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy địnhđối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

Phân biệt: tội phạm và các vi phạm pháp luật khác

Sự giống nhau tội phạm và các vi phạm pháp luật khác

Tội phạm và các vi phạm pháp luật khác đều là những hành vi có tính nguyhiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật

Sự khác nhau giữa tội phạm và vi phạm pháp luật khác

Về mặt nội dung chính

trị – xã hội

Là những hành vi có tínhnguy hiểm đáng kể cho xã hội(*)

Là những hành vi có tính nguyhiểm chưa đáng kể cho xã hội

Về mặt hình thức pháp

Quy định trong các văn bản củacác ngành luật khác

Trang 9

Về mặt hậu quả pháp

Bị xử lý bằng hình phạt và đểlại án tích

Bị xử lý bằng các biện phápcưỡng chế nhà nước ít nghiêmkhắc hơn và không để lại an tích

Câu 8 Trình bày khái niệm, ý nghĩa của cấu thành tội phạm? Phân tích đặc điểm của các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm?

Cấu thành tội phạm chính là khuôn mẫu pháp lý của từng tội phạm cụ thể được

quy định trong luật hình sự Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của từng tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự

Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đều do luật hình sự quy định

Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm trong sự kết hợp với nhau có tính đặc trưng Mỗi cấu thành tội phạm đều được tạo nên bởi các dấu hiệu pháp lý, nếu tách rời thì

mỗi dấu hiệu pháp lý của tội phạm này có thể giống dấu hiệu pháp lý của tội phạm khác

Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng để xác định tội trong từng trường hợp cụ thể, cho phép phân biệt hành vi là tội phạm với hành vi không phải là tội phạm, đồng thời có ý nghĩa để phân biệt tội phạm mà cấu thành tội phạm phản ánh với tội phạm khác

Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm có tính bắt buộc Nếu hành vi đã thực

hiện thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trongluật hình sự thì mới có thể xác định hành vi đó là hành vi phạm tội

Thiếu 1 dấu hiệu sẽ không cấu thành tội phạm đó

Ý nghĩa

Cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lý để định tội

Định tội là quá trình nhận thức, áp dụng pháp luật hình sự được tiến hành trên

cơ sở thu thập, đánh giá các tình tiết khách quan liên quan đến hành vi nguy hiểm cho

xã hội của một người, tiến hành xem xét, đánh giá, tìm ra sự phù hợp giữa chúng vớicác các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS để quy kết hành

vi đã thực hiện của một người phạm tội gì, theo điều khoản nào của BLHS

Cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lý của trách nhiệm hình sự.

Để có thể truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với một người thì phảitrên cơ sở đối chiếu hành vi mà người đó đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thànhtội phạm được quy định trong BLHS Nếu hành vi thực hiện thỏa mãn các dấu hiệucủa một cấu thành tội phạm đã được BLHS quy định thì mới có thể kết luận người

Trang 10

thực hiện hành vi phạm tội được BLHS quy định và mới có thể áp dụng trách nhiệmhình sự đối với người đó

Câu 9 Phân biệt tội phạm với cấu thành tội phạm? Phân tích các cách phân loại cấu thành tội phạm?

Tội phạm là một thể thống nhất nhưng về mặt cấu trúc có thể chia thành 4 yếutố:

+Khách thể của tội phạm la các quan hệ xã hội được LHS bảo vệ khỏi sự xâmhại TP

+Chủ thể tội phạm: Cá nhân (đủ NL TNHS, đạt độ tuổi nhất định), Pháp nhânthương mại phạm tội

+Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài thếgiới khách quan bao gồm: Hành vi, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, phương pháp, thủđoạn phạm tội, công cụ phương tiện thời gian, địa điểm phạm tội, …

+Mặt chủ quan của tội phạm là trạng thái tâm lý bên trong người phạm tội: Lỗi,Động cơ, mục đích

Cấu thành tội phạm là sự mô tả tội phạm cụ thể trong LHS

+LHS mô tả tội phạm cụ thể bằng việc quy định cá dấu hiệu pháp lý đặc trưngcủa tội phạm trong đó các điều luật => Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệupháp lý đặc trưng của từng tội phạ cụ thể được quy định trong LHS

Vd Điều 123 Tội giết người; 168 Cướp tài sản

Trang 11

Câu 10 Trên cơ sở khái niệm cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội

phạm giảm nhẹ, phân tích quy định tại khoản 3 Điều 51 BLHS: “Các tình tiết

giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt”?

Câu 11 Trên cơ sở khái niệm cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội

phạm tăng nặng, phân tích quy định tại khoản 2 Điều 52 BLHS: “Các tình tiết đã

được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”?

- Cấu thành tội phạm cơ bản

Cấu thành tội phạm cơ bản là cấu thành tội phạm mà trong đó có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng, phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm,

là căn cứ để phân biệt tội phạm đó với những tội phạm khác

- Cấu thành tội phạm tăng nặng

Cấu thành tội phạm tăng nặng là cấu thành tội phạm mà trong đó ngoài những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản còn có thêm dấu hiệu khác làm tăng lên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm so với những trường hợp phạm tội thông thường khác

- Cấu thành tội phạm giảm nhẹ

Cấu thành tội phạm giảm nhẹ là cấu thành tội phạm mà trong đó ngoài những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản còn có thêm dấu hiệu khác làm giảm đi tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm so với những trường hợp phạm tội thông thường khác.

- Trong luật hình sự, dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản còn được gọi là

"dấu hiệu định tội" hay "tình tiết là yếu tố định tội" Dấu hiệu của cấu thành tội phạm giảm nhẹ hoặc của cấu thành tội phạm tăng nặng còn được gọi là "dấu hiệu định

khung" hay "tình tiết là yếu tố định khung" Đây là các dấu hiệu (tình tiết) khác biệt với

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết là dấu hiệu định tội (hoặc là yếu tố định tội) là tình tiết (dấu hiệu)thuộc cấu thành tội phạm cơ bản, có ý nghĩa xác định tội danh cụ thể, là cơ sở để phânbiệt tội mà cấu thành tội phạm phản ánh với tội khác

Tình tiết là dấu hiệu định khung (hoặc là yếu tố định khung) là tình tiết (dấuhiệu) thuộc cấu thành tội phạm giảm nhẹ hoặc cấu thành tội phạm tăng, có ý nghĩa xácđịnh khung hình phạt giảm nhẹ hoặc khung hình phạt tăng nặng trong một điều luật để

áp dụng đối với người phạm tội

Trang 12

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết được quy định tại Điều 51BLHS mà khi có nó sẽ làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, do đólàm giảm trách nhiệm hình sự của người phạm tội so với những trường hợp phạm tộitương tự mà không có tình tiết giảm nhẹ đó.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tình tiết được quy định tại Điều 52BLHS mà khi có nó sẽ làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, do đólàm tăng trách nhiệm hình sự của người phạm tội so với những trường hợp phạm tộitương tự mà không có tình tiết tăng nặng đó

Một tình tiết đã là dấu hiệu (yếu tố) định tội hoặc định khung thì không được

coi là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự khoản 3 Điều 51 BLHS

quy định: "Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình

phạt" khoản 2 Điều 52 BLHS BLHS quy định: "Những tình tiết đã là yếu tố định tội

hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng"

Câu 12 Trình bày khái niệm, ý nghĩa của khách thể của tội phạm? Phân biệt khách thể của tội phạm với đối tượng tác động của tội phạm?

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâmhại của tội phạm và bị tội phạm xâm hại đến Điều 8

Ý nghĩa:

Trong xây dụng hệ thông PL: hệ thống hóa các QPPL HS

Trong áp dụng PL: là căn cứ để xác định tội danh

Xác định tính chất khách thể tội phạm, giúp đánh giá tính chất, mức độ nguyhiểm cho xã hội của hvi phạm tội=> có ý nghĩa trong quy định hình phat

Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm mà khitác động tới nó người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xãhội được luật hình sự bảo vệ Đối tượng tác động của tội phạm bao gồm các dạng sauđây:

+Đối tượng tác động là con người vd: 123, 134

+Đối tượng tác động là những vật chất cụ thể: TS, giá trị tài sản bị mất, tiêu hủy

vd 178,

+ Đối tượng tác động là những hoạt động bình thường của chủ thể vd 130 bức

tử, 345 tội hối lô, 374 tội bức cung, …

Trang 13

Khách thể tội phạm là yếu tố của cấu thành tội phạm, là quan hệ xã hội đượcNhà nước dùng Luật Hình sự để bảo vệ Đối tượng tác động của tội phạm là những bộphận mà sự tồn tại của nó làm khách thể tồn tại

Đối tượng tác động của tội phạm là vật thể không mang tính giai cấp, nhưngquyền sở hữu tài sản ấy là sự thừa nhận của Nhà nước với chủ sở hữu lại mang tínhgiai cấp

Đối tượng tác động cũng như công cụ, phương tiện không phải là những dấuhiệu bắt buộc trong yếu tố khách quan của mọi cấu thành tội phạm, trừ một số trườnghợp có điều luật quy địn Nhiều trường hợp hành vi phạm tội gây thiệt hại cho quan hệ

xã hội là khách thể của tội phạm nhưng đối tượng tác động của tội phạm không bị mấthoặc giảm đi giá trị và giá trị sử dụng so với tình trạng trước khi bị tác động Ví dụ:Người phạm tội lấy đi một vật là tài sản của người khác, sau đó cất giữ, bảo quản cẩnthận mà không gây ra hư hại gì cho vật đó

Câu 13 Phân tích các loại khách thể của tội phạm, các loại đối tượng tác động của tội phạm?

Căn cứ vào cách thức quy định của luật hình sự về khách thể của tội phạm, khoahọc hình sự phân loại khách thể của tội phạm thành ba loại là khách thể chung, kháchthể loại và khách thể trực tiếp

Khách thể chung của tội phạm

Khách thể chung của tội phạm là tổng thể các quan hệ xã hội được luật hình sựbảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm

Ý nghĩa: Xác định phạm vi hiệu lực của LHS

Khách thể loại của tội phạm

Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất đượcnhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của nhóm tội phạm nhấtđịnh

Ý nghĩa: Là cơ sơ để phân chia tội phạm thành các chương

Khách thể trực tiếp của tội phạm

Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể, thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm cụ

thể trực tiếp xâm hại đến

- Khách thể trực tiếp của tội phạm chỉ có thể là quan hệ xã hội thể hiện đầy đủbản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó và bị tội phạm trực tiếp xâm hại Ví dụ:

Trang 14

hành vi đập phá dẫn đến hư hỏng trạm biến áp điện vừa gây thiệt hại cho quan hệ sởhữu, vừa gây thiệt hại cho an toàn năng lượng, vừa gây thiệt hại cho an toàn trật tựcông cộng Nhưng xét về nhiều mặt thì rõ ràng thiệt hại cho an toàn năng lượng quốcgia mới thể hiện được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi Khách thểtrực tiếp của loại hành vi phạm tội này là an toàn năng lượng quốc gia, do vậy phảiđịnh tội đối với hành vi đó là tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về anninh quốc gia (Điều 231 BLHS).

- Mỗi tội phạm cụ thể đều có khách thể trực tiếp, có thể là một khách thể trựctiếp hoặc nhiều khách thể trực tiếp

Ví dụ: Tội cướp tài sản quy định tại Điều 133 BLHS có hai khách thể trực tiếp

là xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản và xâm phạm đến quyền được tôn trọng vàbảo vệ về tính mạng, sức khỏe của con người Cả hai quan hệ xã hội được luật hình sựbảo vệ và bị tội phạm xâm hại kết hợp với nhau mới phản ánh được đầy đủ bản chấtcủa tội phạm cướp tài sản

Ý nghĩa:

Đối với nhà làm luật: Quy định tội phạm mới hoặc xóa bỏ tội phạm

Đối với người áp dụng pháp luật: định tội

Câu 14 Trình bày khái niệm mặt khách quan của tội phạm? Phân tích dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm?

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan.

-Hành vi nguy hiểm cho xã hội

-Hậu quả của tội phạm

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

-Các tình tiết khác như công cụ, phương tiện, thời gian địa điểm

Khái niệm

- Hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của người phạm tội thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức nhất định, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ

- Hành vi khách quan của tội phạm có các đặc điểm sau đây:

+ Hành vi khách quan của tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội đáng kể;

Trang 15

+ Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự Nói cáchkhác, hành vi khách quan của tội phạm do luật hình sự quy định

+ Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi do người có khả năng nhận thứctính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển đượchành vi ấy thực hiện

Thứ nhất, người không hành động phải có nghĩa vụ pháp lý làm một việc cụ

thể Nghĩa vụ pháp lý này có thể phát sinh từ các căn cứ sau:

+ Nghĩa vụ pháp lý phát sinh do pháp luật quy định Ví dụ: Nghĩa vụ cứu giúpngười đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng của công dân, nghĩa vụ nuôidưỡng, giáo dục con cái của bố mẹ

+ Nghĩa vụ pháp lý phát sinh do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm

quyền Ví dụ: Nghĩa vụ nhập ngũ của công dân khi có Quyết định gọi công dân nhập

ngũ để thực hiện nghĩa vụ quân sự của Hội đồng nghĩa vụ quân sự

+ Nghĩa vụ pháp lý phát sinh do đảm nhiệm nghề nghiệp nhất định Ví dụ:Nghĩa vụ cứu chữa người bệnh của bác sĩ; nghĩa vụ bảo vệ tài sản của nhân viên bảo

Thứ hai, người không hành động phải có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ pháp

lý thì hành vi không hành động mới có thể bị coi là hành vi phạm tội

Câu 15 Phân tích dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm?

Hậu quả nguy hiểm cho xã hội

Trang 16

- Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do tội phạm gây ra cho quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự

Dựa vào đặc điểm của đối tượng tác động của tội phạm và tính chất của sự biếnđổi của đối tượng tác động của tội phạm có thể phân loại hậu quả thành hậu quả về thểchất, hậu quả về vật chất và hậu quả khác

- Hậu quả về thể chất là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho con người Vídụ: thiệt hại về tính mạng trong Tội giết người, Tội vô ý làm chết người; thiệt hại vềsức khỏe trong Tội cố ý gây thương tích

+ Hậu quả về vật chất là thiệt hại do tội phạm gây ra cho đối tượng tác động củatội phạm dưới các dạng vật chất Ví dụ: tài sản bị hủy hoại trong Tội hủy hoại tài sản;tài sản bị chiếm đoạt trong Tội cướp giật tài sản, Tội trộm cắp tài sản

+ Hậu quả khác bao gồm những thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, tự do của conngười, sự mất ổn định về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, sự biến dạng xử sựcủa con người

Ý nghĩa:

-Trong việc định tội đối với các tội với lỗi cố ý gián tiếp và vô ý, để xác định là

có tội hay không

-Trong việc xác định tội phạm hoàn thành đối với tội phạm có cấu thành vậtchất

-Quy định khung hình phạt tăng nặng

-Quyết định hình phạt

Quan hệ nhân quả được hiểu là mối quan hệ giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội với hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó gây ra Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội với hậu quả nguy hiểm cho xã hội có các dấu hiệu sau:

Thứ nhất, hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là nguy nhân phải xảy ra

trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội về mặt thời gian Ví dụ: Hành vi dùng dao đâmngười khác phải xảy ra trước hậu quả chết người Nếu người đó đã chết trước khi bịđâm thì hành vi dùng dao đâm người khác không phải là nguyên nhân dẫn đến chếtngười

Thứ hai, hành vi nguy hiểm cho xã hội phải chứa đựng khả năng thực tế làm

phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội Ví dụ: Hành vi dùng dao đâm vào tim ngườikhác là khả năng thực tế dẫn đến chết người Cần lưu ý trên thực tế có những trườnghợp hành vi không chứa đựng khả năng thực tế dẫn đến hậu quả nhưng gặp phải các

Trang 17

yếu tố ngẫu nhiên đã gây nên hậu quả Trong trường hợp này thì không được coi làtồn tại quan hệ nhân quả trong luật hình sự Ví dụ: do trêu đùa một người đã xô ngườikhác nhưng người khác lại trượt chân ngã, đập đầu chết.

Thứ ba, hậu quả nguy hiểm cho xã hội phải là là hậu quả phát sinh từ chính

hành vi nguy hiểm cho xã hội trước đó gây ra Ví dụ: A đánh B gây thương tích, dothương tích nặng hoặc do không được cứu chữa kịp thời nên B chết Trong trườnghợp này có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thương tích ban đầu với hậu quảchết người

Lưu ý là trong trường hợp hành vi nguy hiểm cho xã hội chứa đựng khả năngthực tế làm phát sinh hâu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng khả năng thực tế đó chưabiến thành hiện thực thì lại có yếu tố khác xen vào gây nên hậu quả nguy hiểm cho xãhội, thì không tồn tại quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm trước đó với hậu quảnguy hiểm cho xã hội Ví dụ: A đánh B gây thương tích, B được đưa đi bệnh viện.Trên đường đi bệnh viện thì xe chở B bị tai nạn làm B chết Trong trường hợp này,hậu quả B chết không phải phát sinh từ hành vi gây thương tích của A mà là do yếu tốbên ngoài tác động đến (xe chở B bị tai nạn) Do vậy, giữa hành vi gây thương tíchcủa A và hậu quả B chết không có mối quan hệ nhân quả

Mối quan hệ giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội với hậu quả nguy hiểm cho xãhội tồn tại chủ yếu dưới các dạng sau:

- Quan hệ nhân quả trong đó chỉ có một hành vi nguy hiểm cho xã hội lànguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả Ví dụ: A dùng dao đâm làm B chết

- Quan hệ nhân quả trong đó có từ hai hành vi nguy hiểm cho xã hội đồng thờicùng trực tiếp gây nên hậu quả nguy hiểm cho xã hội Ví dụ: A, B cùng nhau dùng daođâm gây thương tích cho C

- Quan hệ nhân quả trong đó có một hoặc một số hành vi nguy hiểm cho xã hộitrực tiếp làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội, còn những hành vi khác khôngtrực tiếp gây nên hậu quả mà thông qua hành vi của người khác trực tiếp gây nên hậuquả nguy hiểm cho xã hội Ví dụ: trong vụ án đồng phạm, người thực hành là ngườitrực tiếp thực hiện tội phạm, gây ra hậu quả của tội phạm, còn người xúi giục, người tổchức, người giúp sức không trực tiếp gây ra hậu quả mà thông qua người thực hành

để gây ra hậu quả của tội phạm

Ý nghĩa trong việc xác định tội và trong việc quyết định hình phạt

Câu 16 Trình bày khái niệm chủ thể của tội phạm? Phân tích dấu hiệu tuổi chịu trách nhiệm hình sự, năng lực trách nhiệm hình sự?

Trang 18

Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi đãđạt độ tuổi nhất định do luật hình sự quy định (đạt độ tuổi phải chịu trách nhiệm hìnhsự) và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Đối với cá nhân: Đủ tuổi chịu TNHS, không thuộc trường hợp quy định tại điều 21

Trường hợp thông thường:

- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừnhững tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác

-Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệmhình sự về

a tội giết người (123), tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác (134),

b tội hiếp dâm (141), tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (142), Điều 143 (tộicưỡng dâm), tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (144),

c Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi)

d tội cướp tài sản (168), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (169); Điều 170(tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tàisản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

e.Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phépchất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bántrái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);

f Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);

g Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạngmáy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rốiloạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289(tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tửcủa người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiệnđiện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);

e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phươngtiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sửdụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quânsự)

Trang 19

Trường hợp ngoại lệ:

Về tuổi: Từ 18 tuổi trở lên đối với một số tội: Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115BLHS), Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116 BLHS), chủ thể của tội phạm được quyđịnh là người đã thành niên, nghĩa là từ đủ 18 tuổi trở lên Những tội phạm như vậy đãquy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với độ tuổi chịu trách nhiệmhình sự ở những tội phạm thông thường khác

Mối quan hệ với nạn nhân người mẹ trong Tội giết con mới đẻ

Có chức vụ quyền hạn: của chủ thể của tội phạm trong Tội tham ô tài sản

Những tội phạm có thêm dấu hiệu khác của chủ thể của tội phạm ngoài hai dấuhiệu về độ tuổi chịu trách nhiệm (quy định tại Điều 12 BLHS) và có năng lực tráchnhiệm hình sự được gọi là những tội phạm có dấu hiệu chủ thể đặc biệt

Theo Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5/1/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự (năm 1985)

thì cách tính tuổi "đủ" là tính đủ cả ngày, tháng, năm sinh đối chiếu với ngày, tháng,

năm thực hiện tội phạm Ví dụ, một người sinh ngày 1 tháng 1 năm 2000 thì đến ngày

1 tháng 1 năm 2014 người đó đủ 14 tuổi

Việc tính độ tuổi của một người khi xem xét vấn đề trách nhiệm hình sự phảidựa trên những giấy tờ, tài liệu có ý nghĩa pháp lý xác thực như giấy khai sinh, chứngminh thư, sổ hộ khẩu

-Nếu có mâu thuẩn thì xác định theo nguyen tắc suy đoán có lợi cho ngườiphạm tội

+Biết năm, tháng nhưng không biết ngày lấy ngày cuối cùng của tháng đó

+Biết năm nhưng không biết tháng ngày lấy ngày cuối cùng của năm đó 31/12+Không biết năm: Căn cứ vào giám định và lấy số nhỏ nhất

Câu 17 Trình bày khái niệm chủ thể đặc biệt của tội phạm? Phân biệt chủ thể đặc biệt của tội phạm với nhân thân người phạm tội?

Chủ thể đặc biệt của tội phạm là chủ thể mà ngoài các dấu hiệu của chủ thể thông thường (dấu hiệu độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và dấu hiệu có năng lực trách nhiệm hình sự) thì còn có thêm dấu hiệu riêng biệt khác trong cấu thành tội phạm

Các dấu hiệu riêng như: người có chức vụ, quyền hạn, quan hệ gia đình, quan hệ

lệ thuộc nhất định

Trang 20

Ý nghĩa người phạm tội với vai trò người thực hành mà không có dấu hiệu chủthể đặc biệt thì không cấu thành tội phạm

Nhân thân người phạm tội được hiểu là tổng hợp những đặc điểm mang tính xã hội của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội.

Các dấu hiệu về tuổi (người già, người chưa thành niên), giới tính, tình trạngđặc biệt của người phạm tội (phụ nữ có thai, người mắc bệnh bị hạn chế khả năngnhận thức, khả năng điều khiển hành vi của mình), thái độ chấp hành pháp luật (tiền

án, tiền sự, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội nhiều lần), vị trí xã hội, trình độhọc vấn (người có chức sắc trong tôn giáo, già làng, trưởng bản, nhân sĩ trí thức),người được hưởng các chính sách của Đảng, Nhà nước (bà mẹ Việt Nam anh hùng,người có công, thương binh, con liệt sĩ…)

Ý nghĩa:

nhân thân người phạm tội được quy định là dấu hiệu chủ thể của tội phạm thuộccấu thành tội phạm cơ bản thì xác định nhân thân người phạm tội có ý nghĩa trong việcxác định tội danh

người phạm tội được quy định là dấu hiệu của cấu thành tội phạm tăng nặnghoặc giảm nhẹ thì xác định nhân thân người phạm tội có ý nghĩa trong việc xác địnhkhung hình phạt để áp dụng đối với người phạm tội

nhân thân người phạm tội có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt

Câu 18 Trình bày khái niệm mặt chủ quan của tội phạm? Phân tích khái niệm lỗi, hỗn hợp lỗi, động cơ và mục đích phạm tội?

Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là trạng thái tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do người đó thực hiện và đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi ấy, thể hiện ở dấu hiệu lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội

Về nội dung:

Người thực hiện hành vi có tính chất gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếuhành vi đó là:

+Kết quả của sự lựa chọn của họ;

+Khi đủ điêu kiện: chủ quan và khách quan để lựa chọn và thực hiện xử sựkhác phù hợp với đòi hỏi của xã hội

Về hình thức:

Trang 21

Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do người đó thực hiện và đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý

Thái độ tâm lý:

-Lý trí (Nhận thức)

+Nhận thức tính nguy hiêm cho xã hội của hành vi phạm tội

+Nhận thức được khả năng gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạmtội

Động cơ phạm tội chỉ có trong các cấu thành tội phạm của tội thực hiện do lỗi

cố ý trực tiếp Trong một số trường hợp, động cơ là dấu hiệu được quy định trong cấuthành tội phạm cơ bản Ví dụ: động cơ phòng vệ chính đáng là dấu hiệu của cấu thànhTội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96 BLHS); động cơ

vụ lợi hoặc cá nhân khác là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tội “báo cáo sai trong quản lý kinh tế” (Điều 167 BLHS) Trong một số trường hợp khác, động cơ

phạm tội được quy định ở cấu thành tội phạm tăng nặng Ví dụ: "động cơ đê hèn" làdấu hiệu của cấu thành tội phạm tăng nặng của Tội giết người (điểm q khoản 1 Điều

93 BLHS)

Tại Điều 46 BLHS về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và Điều 48BLHS về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có một số tình tiết thuộc về động

Trang 22

cơ phạm tội Ví dụ: tình tiết " Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng" là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tình tiết "Phạm tội vì động cơ

đê hèn" là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Ý nghĩa:

Định tôi trong một số tội phạm

Định khung hình phạt trong một số trường hợp

Quyết định hình phạt tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS

Câu 19 Phân tích trạng thái tâm lý của người phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp? Phân biệt lỗi cố ý trực tiếp với lỗi cố ý gián tiếp?

Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của phạm tội trong trong trường hợp “người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành

vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra” Từ quy định này có thể rút ra lỗi cố ý trực tiếp

thể hiện ở hai dấu hiệu về lý trí và về ý chí như sau:

Về lý trí:

- Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi củamình, nghĩa là nhận thức được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi củamình trên cơ sở nhận thức được các tình tiết khách quan liên quan đến hành vi màngười đó thực hiện

- Người phạm tội thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi củamình Thấy trước hậu quả của hành vi của mình nghĩa là dự đoán trước, biết trước hậuquả của hành vi của mình tất yếu sẽ xảy ra hoặc có khả năng sẽ xảy ra

Đối với các tội có cấu thành vật chất, để xác định lỗi cố ý trực tiếp của ngườithực hiện hành vi thì phải xác định được người đó thấy trước hậu quả nguy hiểm cho

Trang 23

xã hội của hành vi của mình Đối với các tội có cấu thành hình thức, để xác định người

thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp không nhất thiết phải xác định xem người đó có

thấy trước hậu qua của hành vi của mình hay không

Câu 20 Phân tích trạng thái tâm lý của người phạm với lỗi cố ý gián tiếp?

Phân biệt lỗi cố ý gián tiếp với lỗi vô ý do quá tự tin?

Lỗi cố ý gián tiếp

Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người phạm tội trong trường hợp “người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành

vi đó, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra”

Căn cứ quy định trên, có thể thấy biểu hiện của lỗi cố ý gián tiếp như sau:

Về lí trí:

- Người phạm tội có lỗi cố ý gián tiếp nhận thức rõ được tính chất nguy hiểmcho xã hội của hành vi của mình

- Người phạm tội có lỗi cố ý gián tiếp thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội

của hành vi của mình Khác với lỗi cố ý trực tiếp là thấy trước tính tất yếu hoặc khả

năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi cua mình, người có lỗi cố ý

gián tiếp chỉ thấy trước khả năng hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra Bởi lẽ,

chỉ trong trường hợp thấy trước được khả năng hậu quả có thể xảy ra người phạm tội

mới có thể có thái độ "để mặc" cho hậu quả xảy ra

Khoản 2 Điều 11 BLHS2015

Khái Người phạm tội nhận thức rõNgười khi thực hiện hành viNgười phạm tội không

Trang 24

hành vi của mình là nguy

hiểm cho xã hội, thấy trước

hậu quả của hành vi đó

và mong muốn hậu quả xảy

ra;

nguy hiểm cho xã hội nhận thức

rõ hành vi của mình là nguy hiểmcho xã hội, thấy trước hậu quảcủa hành vi đó có thể xẩy ra,tuy không mong muốnnhưng vẫn

có ý thức để mặc cho hậu quảxảy ra

thấy trước hành vi của mình cóthể gây ra hậu quả nguy hại cho

xã hội, mặc dù phải thấy trước

và có thể thấy trước hậu quả đó

có thể gây hậu quả nghiêm trọngcho xã hội

Phải thấy trước hậu quả nhưnglại không thấy trước được hậuquả đó

Người phạm tội khi thực hiệnhành vi đáng ra phải thấytrước và có thể thấy trước hậuquả nguy hiểm cho xã hội sẽxảy ra

B giăng lưới điện để chốngtrộm đột nhập nhưngkhông có cảnh báo an toàndẫn đến chết người Dù Bkhông mong muốn hậuquả chết người xảy ra

A là kế toán doanhnghiệp, khi nhập dữ liệu,

A đã sơ ý bỏ sót một số 0trong số tiền cần chuyểncho đối tác, hành vi nàycủa A đã khiến công ty

Trang 25

mong muốn hậu quả

chết người người xảy

ra

nhưng có ý thức bỏ mặchậu quả xảy ra nên đây làlỗi cố ý gián tiếp

thiệt hại, trong trườnghợp này, A là kế toán vàphải biết được chỉ mộthành vi sơ xuất cũng sẽgây ra những hậu quảkhông mong muốn

Trong lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội không mong muốn cho hậu quả nguy

hiểm cho xã hội xảy ra mà có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra

không quan tâm đến việc hậu quả nguy hiểm cho xã hội có xảy ra hay không

xảy ra Đó là thái độ thờ ơ, bàng quan chấp nhận đối với việc hậu quả nguy hiểm cho

xã hội có xảy ra hay không

Câu 21 Phân tích trạng thái tâm lý của người phạm tội với lỗi vô ý do quá

tự tin? Phân biệt lỗi vô ý do quá tự tin với lỗi cố ý gián tiếp?

Lỗi vô ý quá tin (vô ý phạm tội vì quá tự tin)

Lỗi vô ý quá tin là lỗi trong trường hợp “người phạm tội tuy thấy hành vi của

mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không

xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được” nên vẫn thực hiện và đó gây ra hậu quả nguy hại

Người phạm tội không mong muốn cho hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành

vi của mình xảy ra, cũng không có ý thức để mặc cho hậu quả nguy hiểm cho xã hội

xảy ra mà cho rằng hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn

ngừa được

Ví dụ: trong các vụ án về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao

thông đường bộ (Điều 202 BLHS), rất nhiều trường hợp người điều khiển phương

tiện giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nhưng tin

vào kinh nghiệm điều khiển phương tiện giao thông của mình, tin vào xử sự của nạn

Trang 26

nhân, vào hoàn cảnh bên ngoài, tin vào tính năng, tác dụng của các bộ phận an toàn

của phương tiện để cho rằng hậu quả gây tai nạn giao thông sẽ không xảy ra, nhưng

các tình tiết đó là không đủ và hậu quả nguy hiểm vẫn xảy ra

Câu 22 Phân tích trạng thái tâm lý của người phạm tội với lỗi vô ý do cẩu thả?

Phân biệt lỗi vô ý do cẩu thả với sự kiện bất ngờ?

Lỗi vô ý cẩu thả (vô ý do cẩu thả)

Lỗi vô ý do cẩu thả là lỗi trong trường hợp “người phạm tội không thấy trước

hành vi của mình có thể gây ra hậu quả đó, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy

trước hậu quả đó”

Về lý trí:

-Không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm

-Không thấy trước hậu quả nguy hiểm xảy ra

-Thuộc trường hợp người phạm tội có thể thấy trước hậu quả nguy hại xảy ra

Sự kiện bất ngờ(Điều 20)

“Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong

trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước

hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.”

Tiêu chí Lỗi vô ý do cẩu thả Sự kiện phất ngờ

Lỗi Người thực hiện hành vi phạm tội có

Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguyhại cho xã hội không thể thấy trước hoặckhông buộc phải thấy trước hậu quả củahành vi đó

Về ý chí

Người thực hiện hành vi gây hậu quảnguy hại cho xã hội không mongmuốn hậu quả xảy ra

Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguyhại cho xã hội không mong muốn hậu quảxảy ra

Trang 27

Câu 23 Phân tích các dấu hiệu của giai đoạn chuẩn bị phạm tội? Phân biệt

chuẩn bị phạm tội với phạm tội chưa đạt?

Điều 14 BLHS quy định: Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công

cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành

lập, tham gia nhóm tội phạm trừ trường hợp quy định tại Điều 109 (tội lật đổ chính

quyền nhân dân), điểm a khoản 2 Điều 113 ( tội Thành lập, tham gia tổ chức khủng

bố, tổ chức tài trợ khủng bố) hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 (tội khủng bố, tình tiết

Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố) của Bộ luật này.

Thứ nhất, người phạm tội mới chuẩn bị thực hiện tội phạm bằng một trong 3

hành vi

- Là hành vi tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tạo ra

những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm

tội phạm….

-Tạo ra những điều kiện thuận lợi để thực hiện tội phạm

-Thành lập hoặc gia nhập nhóm tội phạm để thực hiện các tội phạm cụ thể

Trừ trường hợp Các giai đoạn này quy định tội phạm đã hoàn thành mà không

cần chuẩn bị Điều 109 (tội lật đổ chính quyền nhân dân), điểm a khoản 2 Điều 113

( tội Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố) hoặc điểm a

khoản 2 Điều 299 (tội khủng bố, tình tiết Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ

chức tài trợ khủng bố) của Bộ luật này.

Ý nghĩa: Xác định thời điểm đầu tiên của người phạm tội

Thứ hai, người phạm tội dù đã chuẩn bị nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm:

Chưa thực hiện hành vi khách quan của tội phạm

Vd: A mua 1 con dao về định giết B, nhưng chua kịp thực hiện bị phát hiện và

bắt giữ

Ý nghĩa: Xác định thời ddiemr cuối cùng của giai đoạn phạm tội

Thứ ba, Hành vi phạm tội pahir được dừng lại do nguyên nhân khách quan

ngoài ý muốn người phạm tội

Về chủ quan, ngườ phạm tội vẫn mong muốn tiếp tục thực hiện tội phạm đến

cùng nhưng phải dừng lại do nguyên nhân khách quan như bị người khác phát hiện,

ngăn chặn,

Trang 28

Ý nghĩa: Phân biệt giữa phạm tội chưa đạt (khách quan) với tự ý nửa chừng

chấm dứt việc phạm tội(chủ quan)

2 khái niệm này có một điểm giống nhau là đều thuộc trường hợp của tội phạm

chưa hoàn thành, bị dừng lại do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của chủ

thể thực hiện hành vi Nguyên nhân ngoài ý muốn là căn cứ pháp lý chung cho cả hai

trường hợp

Tiêu chí Chuẩn bị phạm tội Phạm tội chưa đạt

Khái niệm là trường hợp một người đã

chuẩn bị, sửa soạn công cụ,phương tiện phạm tội hoặc tạo

ra những điều kiện để thực hiệnhành vi phạm tội Nói một cách

dễ hiểu hơn chuẩn bị phạm tội

là giai đoạn đầu tiên của hànhđộng phạm tội

là hành vi cố ý phạm tội nhưng không thựchiện được đến cùng do những nguyên nhânngoài ý muốn của người phạm tội

Hành vi chỉ mới thực hiện những

hành vi tạo ra các điều kiệnthuận lợi, cần thiết cho việcthực hiện tội phạm nhanh chóng

về sau

đã thực sự bắt tay vào việc thực hiện tộiphạm, các quan hệ xã hội được luật hình sựxác lập và bảo vệ đã bắt đầu bị xâm hại, hậuquả đã gây ra cho xã hội, nên mức độ nguyhiểm cho xã hội của trường hợp này rõ ràngcao hơn,đồng thời sẽ đặc biệt nguy hiểm hơn

nếu không có căn cứ “do nguyên nhân khách

quan ngoài ý muốn” ngăn chặn lại việc tiếp

tục để hành vi phạm tội đó tiếp diễn

Hậu quả

pháp lý

không phải chịu trách nhiệmhình sự (trừ hai trường hợp đặcbiệt - khi một người chuẩn bịphạm một tội rất nghiêm trọnghoặc một tội đặc biệt nghiêmtrọng)

người thực hiện hành vi đó đều phải chịu tráchnhiệm hình sự trên những cơ sở chung tươngứng và điều này cũng được cụ thể hóatrong Bộ luật hình sự

Câu 24 Phân tích các dấu hiệu của giai đoạn phạm tội chưa đạt? Phân tích

các cách phân loại phạm tội chưa đạt?

Điều 15 BLHS quy định: "Phạm tội chưa đạt là cố ý thực

hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những

nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội Người phạm tội

chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.".

Trang 29

Thứ nhất, người phạm tội dã bắt đầu thực hiện tội phạm bằngviệc thực hiện một trong hai hành vi sau:

-Thực hiện hành vi khách quan của tội phạm cụ thể: vd trèotường, bẻ khóa để thực hiện hành vi trộm

-Thực hiện hành vi đi liền trước hành vi khách quan của tộiphạm, vd: vung dao để chém người, giương súng để bắn nhưng chưakịp chém hay bắn thì bị bắt

“Hành vi liền trước” được xem là hvi phạm tội chưa đạt:

+Nguyên nhân do thời gian khác nhau về mặt khách quan

+Chủ quan: Người phạm tội dã quyết định thực hiện tội phạmThứ hai, Tội phạm không thực hiện đến cùng (chưa thõa mãnhết các dấu hiệu pháp lý được quy định trong cấu thành tội phạm)

Vd: đã giết người nhưng người chưa chết, đã dùng vũ lực nhưngchưa giao cấu được nạn nhân

Cách xác định tội phạm “không thực hiện được đến cùng”

Căn cứ vào cấu thành tội phạm:

-Đối với tội phạm có cấu thành vật chất: Hậu quả nguy hiểmcho xã hội như được mô tả trong cấu thành tội phạm chua xảy ra

-Đối với tội phạm có cấu thành hình thức:

+Hành vi khách quan của tội phạm chưa thõa mãn hết dấu hiệuhành vi khách quan được mô tả trong cấu thành TP

+Đối với TP cấu thành hình thức có 1 hành vi (vd cướp)

Trang 30

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, các trường hợp phạm tội chưa đạt được phânthành các loại khác nhau.

* Căn cứ vào thái độ tâm lý của người phạm tội chưa đạt đối với hành vi mà người đó thực hiện, phạm tội chưa đạt được phân thành hai loại: Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt hoàn thành.

- Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là trường hợp phạm tội chưa đạt, trong đóngười phạm tội chưa thể thực hiện được hết những hành vi mà người đó cho là cầnthiết để hoàn thành tội phạm do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn củangười đó Ví dụ, muốn giết người, người phạm tội mới chém gây thương tích nạnnhân, định chém tiếp thì bị bắt giữ Trong trường hợp này, người phạm tội biết rõ hàh

vi của mình chưa đủ để gây ra cái chết của nạn nhân

- Phạm tội chưa đạt hoàn thành là trường hợp phạm tội chưa đạt, trong đó ngườiphạm tội cho rằng đã thực hiện được hết hành vi mà người đó cho là cần thiết để hoànthành tội phạm nhưng tội phạm chưa hoàn thành được là do những nguyên nhân kháchquan ngoài ý muốn của người đó Ví dụ, để thực hiện ý định giết người, người phạmtội đã chém nhiều nhát vào người nạn nhân Cho rằng nạn nhân chết nên người phạmtội bỏ đi nhưng thực tế nạn nhân không chết do được phát hiện và đưa đi cấp cứu kịpthời

* Căn cứ vào nguyên nhân khách quan đặc biệt ngoài ý muốn của người phạm tội dẫn đến việc chưa đạt, phạm tội chưa đạt được phân thành phạm tội chưa đạt vô hiệu để phân biệt với các trường hợp phạm tội chưa đạt thông thường khác.

Phạm tội chưa đạt vô hiệu là trường hợp phạm tội chưa đạt, trong đó do sai lầmtrong việc đánh giá về đối tượng tác động, công cụ, phương tiện thực hiện tội phạmcủa người phạm tội nên tội phạm không thực hiện được đến cùng (tội phạm khônghoàn hành được) Có thể xảy ra các trường hợp sau:

- Người phạm tội sai lầm trong việc đánh giá đối tượng tác động nên hoặc làkhông có đối tượng tác động (phá két đựng tiền của cơ quan nhưng tiền đã đượcchuyển đi nơi khác) hoặc đối tượng không có những đặc tính người phạm tộ tưởng là

có (ví du, nổ súng vào một xác chết, tưởng là người đang ngủ; đưa hối lộ nhầm chongười không có chức vụ, quyền hạn )

- Người phạm tội giá sai lầm về tính năng, tác dụng của những công cụ, phươngtiện mà mình sử dụng, cho rằng công cụ, phương tiện mà mình sử dụng se đạt đượckết quả nào đó nhưng không đạt được được kết quả đó Ví dụ, bắn, ném lựu đạn để tựchiện ý định giết người nhưng, đạn, lựu đạn không nổ; đầu độc người khác bằng thứthuốc bột vô hại nhưng lại tửng là thuốc độc

Trang 31

Về nguyên tắc, người thực hiện hành vi phạm tội chưa đạt vô hiệu vẫn phải chịutrách nhiệm hình sự.

Câu 25 Phân tích giai đoạn tội phạm hoàn thành? Phân biệt tội phạm hoàn thành với tội phạm kết thúc?

Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi tội phạm thỏa mãn hết các dấu hiệucủa cấu thành tội phạm cụ thể được quy định tại điều luật Phần các tội phạm củaBLHS

Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc của các loại cấu thành tội phạm, có thể xác địnhthời điểm tội phạm hoàn thành của các loại tội như sau:

- Đối với tội phạm có cấu thành vật chất: có dấu hiệu của hậu quả

Ví dụ, hành vi phạm tội giết người được coi là tội phạm hoàn thành vào thờiđiểm gây hậu quả chết người; hành vi trộm cắp tài sản được coi là tội phạm hoànthành vào thời điểm người phạm tội chiếm đoạt được tài sản

- Đối với tội phạm có cấu thành hình thức:

+ Nếu trong CTTP có 1 hành vi thì TP hoàn thành khi thực hiện xong hành viđó

Ví dụ, người phạm tội cướp tài sản đã thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lựcngay tức khắc (dơ dao dọa đâm, dơ súng dọa bắn) nhằm chiếm đoạt tài sản

+ Nếu trong CTTP có 2 hành vi trở lên, TP hoàn thành khi thực hiên hết cáchành vi đó

Ví dụ, Tội hiếp dâm: hvi dùng vũ lực và hvi giao cấu trai ý muốn nạn nhân

- Đối với tội phạm có cấu thành tội phạm cắt xén: Tội phạm hoàn thành khi cóhoạt động hướng tới hành vi trong CTTP

Ví dụ, điều 109: Tội lật đổ chính quyền nhân dân

2.Thời điểm Khi thõa mãn hết các dấu

hiệu mô tả trong CTTP

Có thể:

+Kthuc trước TPHT+Trùng với thời điểmTPHT

Trang 32

+Kéo dài tếp tục sau khiTPHT

3.Ý nghĩa Xác định TP hoàn thành hay

chưa hoàn thành

Kết quả giải quyết đến cácvấn đề liên quan đến phòng

vệ chính đáng, đồng phạm,thời hiệu truy cứu TNHS

Câu 26 Phân tích các dấu hiệu của trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội? Trách nhiệm hình sự trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được xác định như thế nào?

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thựchiện đến cùng, tuy không có gì ngăn cản

Dấu hiệu:

Việc chấm dứt TP xảy ra trước khi TP hoàn thành 3 trường hơp:+Mới có hành vi chuẩn bị phạm tội nhưng tự nguyện chấm dứtVd: A chuẩn bị dao để giết B nhưng không thực hiện hành vigiết B vì sợ bị trừng phạt

+Đã bắt đầu thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện hết hành

vi mà người đó cho là cần thiết để thực hiện TP và TP chưa hoànthành thì tự nguyện dừng lại

+Nếu đã thực hiện hết những hvi mà người đó cho là cần thiết

để thực hiện TP nhưng hậu quả chưa xảy ra, trong thời gian đó lạitích cực ngăn chặn do đó hậu quả không xảy ra, tội phạm chưa hoànthành

Vd, A định giết B bằng thuốc độc cho B uống xong thấy B trúngđộc A lại đưa nạn nhân vào bệnh viện cấp cứu và cứu sống B

Hạn chế:

TP chắc chắn chưa hoàn thành

Do nổ lực của ngườ có ý định tự ý nửa chừng

Nguyên nhân: việc chấm dứt PT là tự nguyện và dứt khoác

+Tự nguyện do người PT ăn năn hối hận, do khuyên bảo củangười thân, sợ trừng phạt không muốn gây thiệt hại

Trang 33

+Việc chấm dứt: phải dứt khoát, từ bỏ hẳn ý định phạm tội

Ý nghĩa: PB tự ý nửa chừng với chưa đạt

Về TNHS trong tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc PT được miễn TNHS về tộiđịnh phạm

Nếu hvi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố Cấu thành của mộttội khác, thì người đó chịu TNHS về tội này

Câu 27 Phân tích các dấu hiệu của đồng phạm?

Khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015 quy định: "Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm."

Những dấu hiệu về mặt khách quan

-Phải có sự tham gia của hai người trở lên vào việc thực hiện một tội phạm và

mỗi người đều tham gia vào việc thực hiện tội phạm

-Những người đồng phạm phải cùng thực hiện một tội phạm

- Hành vi: thực hiện hành vi được quy định trong cấu thành tội phạm, nhưng cũng

có thể họ chỉ thực hiện một phần trong chuỗi hành vi để tạo thành một hành vi phạmtội thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm

Mỗi người đồng phạm có thể cùng tham gia thực hiện tội phạm bởi một loại hành

vi, nhưng cũng có thể tham gia với những hành vi khác nhau Họ có thể vừa là người

tổ chức, vừa là người trực tiếp thực hiện tội phạm Họ có thể tham gia từ giai đoạnchuẩn bị, trong quá trình thực hiện tội phạm, trước khi tội phạm hoàn thành nhưngcũng có thể tham gia vào thời điểm sau khi tội phạm hoàn thành nhưng chưa kết thúc

- Hậu quả phạm tội : Hành vi của mỗi người đồng phạm đều có mối quan hệ nhânquả với hậu quả phạm tội chung

-Thời điểm tham gia đồng phạm: Khi tội phạm chưa kết thúc

Những dấu hiệu về mặt chủ quan

Trang 34

Vấn đề mục đích phạm tội và động cơ phạm tội trong đồng phạm

Đối với những TP có dấu hiệu động cơ hoặc mục đích phạm tội trong cấu thànhtội phạm, tất cả ngườ đồng phạm:

+Có chung động cơ mục đích phạm tội hoặc

+Biết và tiếp nhận động cơ, mục đích phạm tội của nhau

Câu 28 Phân tích khái niệm người thực hành, người tổ chức trong đồng phạm?

"Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm”.

Hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm của người thực hành có thể được biểu hiện:

- Thứ nhất: trực tiếp thực hiện hành vi thỏa mãn dấu hiệu hành vi trong mặtkhách quan của tội phạm được quy định tại điều luật cụ thể Phần các tội phạm củaBLHS Ví dụ, trực tiếp thực hiện tội phạm giết người là trực tiếp giết người (trực tiếpbắn, chém, bỏ thuốc độc vào thức ăn ); trực tiếp thực hiện tội phạm trộm cắp tài sản

là trực tiếp thực hiện hành vi lén lút bí mật chiếm đoạt tài sản đang do người khácquản lý

Đối với trường hợp đồng phạm có nhiều người thực hành, không đòi hỏi mỗingười đều phải thực hiện tất cả hoạt động tạo nên hành vi khách quan được quy địnhtrong cấu thành tội phạm Mỗi người thực hành có thể chỉ thực hiện một hoạt động,một phần thuộc hành vi khách quan của tội phạm Tổng hợp các hoạt động của nhữngngười đó tạo nên hành vi khách quan của tội phạm Ví dụ: hành vi khách quan của Tội

hiếp dâm là "dùng vũ lực giao cấu trái ý muốn người khác" Những người giữ chân,

giữ tay để người khác giao cấu trái ý muốn nạn nhân đều được coi là người thựchành vì hành vi của họ kết hợp với hành vi giao cấu của người khác tạo nên hành vikhách quan của tội hiếp dâm

- Trường hợp thứ hai: Người trực tiếp thực hiện tội phạm còn có thể không tựmình thực hiện hành vi trực tiếp tác động đến đối tượng tác động của tội phạm mà cóhành động tác động đến người khác để người đó thực hiện hành vi trực tiếp tác động

Trang 35

đến đối tượng của tội phạm Những người mà người phạm tội có thể tác động đến đểthực hiện hành vi ý định phạm tội của mình bao gồm:

- Người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12BLHS

- Người không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều …BLHS

- Người không nhận thức được hành vi nguy hiểm cho xã hội của hành vi củamình (không có lỗi) hoặc có lỗi vô ý do nhận thức sai lầm hành vi của mình

- Người bị cưỡng bức tinh thần, không có khả năng lựa chọn quyết định hành vicủa mình

Đối với một số tội phạm do cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan của tộiphạm, người trực tiếp thực hiện tội phạm chỉ có thể thuộc trường hợp thứ nhất (tựmình thực hiện hành vi chứ không phải là tác động đến người khác để thực hiện ý địnhphạm tội của mình Ví dụ các tội: hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm, cưỡng dâmtrẻ em, giao cấu với trẻ em Ở những loại tội này chỉ có thể có người thực hành ởdạng thứ nhất

Người thực hành có thể trực tiếp thực hiện tội phạm bằng hành động cụ thểhành vi bị pháp luật cấm hoặc hoặc không thực hiện nghĩa vụ nào đó mà pháp luật yêucầu phải làm và có đủ điều kiện để làm

Người tổ chức

“Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm”

- Người chủ mưu là người đề ra âm mưu, phương hướng, kế hoạch hoạt độngcủa cả nhóm đồng phạm Người chủ mưu có thể trực tiếp cầm đầu, chỉ huy nhóm đồngphạm hoặc điều khiển từ xa

- Người cầm đầu là người đứng đầu nhóm đồng phạm, có thể thành lập nhómđồng phạm, tham gia soạn thảo phương hướng, kế hoạch phạm tội, phân công, giaotrách nhiệm, đôn đốc, kiểm tra và điều khiển hoạt động của những người đồng phạm

- Người chỉ huy là người điều khiển trực tiếp nhóm đồng phạm (thường là đốivới các vụ có vũ trang hoặc bán vũ trang) như các vụ hoạt động phỉ, các vụ cướp tàisản, buôn bán ma túy có trang bị vũ khí

Trong số những người đồng phạm, người tổ chức thường được coi là ngườinguy hiểm nhất Do vậy, hình phạt đối với người tổ chức thường nghiêm khắc hơnnhững người đồng phạm khác Phản ánh tính nguy hiểm cao của người đồng phạm với

Trang 36

vai trò người tổ chức, Điều 3 BLHS quy định nguyên tắc xử lý là: “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy…”.

Câu 29 Phân tích khái niệm người xúi giục, người giúp sức trong đồng phạm? Phân biệt hành vi xúi giục với hành vi giúp sức về tinh thần?

"Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm"

-trực tiếp tác động vào một hoặc một số người nhất định nhằm gây ra một tộiphạm nhất định Những lời kêu gọi, hô hào chung chung, không hướng tới nhữngngười xác định, không trực tiếp nhằm thực hiện một tội phạm nhất định thì không phải

là hành vi xúi giục

- Hành vi xúi giục phải cụ thể, nghĩa là phải hướng tới việc thực hiện một tộiphạm nhất định

- Lỗi của người xúi giục là lỗi cố ý trực tiếp

Người giúp sức là người tạo ra điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm”.

- Giúp sức về vật chất có thể được biểu hiện ở những hành vi cụ thể, như cungcấp công cụ, phương tiện cho người khác, loại bỏ, khắc phục những khó khăn, trởngại để tạo điều kiện thuận lợi cho người thực hành thực hiện tội phạm

- Giúp sức về tinh thần có thể được biểu hiện ở việc đưa ra nhữn chỉ dẫn, góp ýkiến, cung cấp sơ đồ nơi gây án, tình hình, quy luật hoạt động của nhân viên bảo vệ,của chủ nhà Hành vi giúp sức về tinh thần tạo cho người thực hành có thêm điềukiện thuận lợi để thực hiện tội phạm và củng cố quyết tâm thực hiện tội phạm củangười đó

Hành vi giúp sức có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động

Ví dụ: thỏa thuận với người thực hành buôn lậu đi qua khu vực tuần tra, canh gác củamình sẽ không bị bắt giữ

Câu 30 Phân tích các cách phân loại đồng phạm? Nêu ví dụ?

Căn cứ vào đặc điểm mối quan hệ giữa những người đồng phạm về mặt chủquan và khách quan, khoa học luật hình sự phân loại đồng phạm thành các loại khácnhau

Phân loại theo dấu hiệu khách quan

- Đồng phạm giản đơn: là hình thức đồng phạm mà trong đó những đồng phạm

đều có vai trò là người thực hành

Trang 37

- Đồng phạm phức tạp: là hình thức đồng phạm trong đó giữa những người

đồng phạm có sự phân công vai trò Một hoặc một số người giữ vai trò người thựchành, còn những người khác giữ vai trò tổ chức, xúi giục hay giúp sức

Phân loại theo dấu hiệu chủ quan

- Đồng phạm không có thông mưu trước: là hình thức đồng phạm mà trong đó

giữa những người cùng thực hiện tội phạm không có sự bàn bạc, thoả thuận trước vớinhau hoặc thỏa thuận, bàn bạc nhưng không đáng kể

- Đồng phạm có thông mưu trước: là hình thức đồng phạm trong đó những

người đồng phạm có sự bàn bạc, thoả thuận trước về việc cùng thực hiện tội phạm

Phân loại theo tính chất đồng phạm

-Đồng phạm thường

-Đồng phạm có tổ chức

Khoản 3 Điều 17 BLHS quy định:

" Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm".

Dấu hiệu:

- Trường hợp đó thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm nói chung.

-Có sự câu kết chặt chẽ giữa những người thực hiện tội phạm, thể hiện 1 trong 3dấu hiệu sau:

+Đã cùng nhau tham gia vào tổ chức phạm tội

+Cùng nhau phạm tội nhiều lần theo 1 kế hoạch thống nhất từ trước

+Chỉ thực hiện tội phạm một lần nhưng theo kế hoạch tính toán kỹ càng chuđáu Ví dụ: Hai thanh niên muốn có tiều tiêu, nên rủ nhau đi trộm cắp tài sản, tại hiệntrường, họ đã phân công một người canh gác và một người lấy trộm tài sản Đây làtrường hợp đồng phạm thông thường, không phải trường hợp đồng phạm có tổ chức

Nghị quyết 02/1988 nêu rõ: Trong thực tế, sự câu kết này có thể thể hiện dướicác dạng:

"a) Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như: đảng phái, hội, đoàn phản động, băng, ổ trộm, cướp… có những tên chỉ huy, cầm đầu Tuy nhiên, cũng có khi tổ chức phạm tội không có những tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập hợp những tên chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội Thí dụ:

Trang 38

sau khi đã hết hạn tù, một số tên chuyên trộm cắp đã tập hợp nhau lại và thống nhất cùng nhau tiếp tục hoạt động phạm tội.

b) Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước Thí dụ: một số nhân viên nhà nước đã thông đồng với nhau tham ô nhiều lần; một số tên chuyên cùng nhau đi trộm cắp; một số tên hoạt động đầu cơ, buôn lậu có tổ chức đường dây để nắm nguồn hàng, vận chuyển, thông tin về giá cả…

c) Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần, nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm Thí dụ: Trong các trường hợp trộm cắp, cướp tài sản của công dân mà có phân công điều tra trước về nơi ở, quy luật sinh hoạt của gia đình chủ nhà, phân công chuẩn bị phương tiện và hoạt động của mỗi người đồng phạm; tham ô mà có bàn bạc trước về kế hoạch sửa chữa chứng từ sổ sách, hủy chứng từ, tài liệu hoặc làm giả giấy tờ; giết người mà

có bàn bạc hoặc phân công điều tra sinh hoạt của nạn nhân, chuẩn bị phương tiện và

kế hoạch che giấu tội phạm v.v…" (tham khảo)

Câu 31 Phân tích các vấn đề chủ thể đặc biệt, xác định giai đoạn thực hiện tội phạm và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm?

Vấn đề chủ thể đặc biệt trong đồng phạm

Người thực hành là người có dấu hiệu chủ thể đặc biệt còn người tổ chức, xúigiục, giúp sức thì không cần thiết phải có dấu hiệu của chủ thể đặc biệt nhưng phảinhận biết được người thực hành là người có dấu hiệu chủ thể đặc biệt

Vấn đề xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm

Người thực hành thực hiện tội phạm đến giai đoạn nào thì những người đồngphạm được xác định là thực hiện tội phạm ở giai đoạn đó

Người có hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức người khác phạm tội nhưng khôngkết quả, người khác không thực hiện tội phạm trên thực tế thì họ có thể phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội mà họ đã tổ chức, xúi giục, giúp sức ở giai đoạn chuẩn bị phạmtội theo quy định tại điều luật cụ thể phần các tội phạm của BLHS và Điều 14 BLHS

Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm

- Đối với người thực hành, vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đượcxác định giống như trường hợp phạm tội riêng lẻ, chỉ cần họ tự nguyện và dứt khoát từ

bỏ việc phạm tội trước khi tội phạm hoàn thành

Trang 39

- Việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người xúi giục, người tổchức, người giúp sức thõa mãn 2 điều kiện sau:

Để được miễn trách nhiệm hình sự , người giúp sức phải chấm dứt việc tạo những điều kiện tinh thần, vật chất cho việc thực hiện tội phạm (như không cung cấp phương tiện, công cụ phạm tội; không chỉ điểm, dẫn đường cho kẻ thực hành…) Nếu

sự giúp sức của người giúp sức đang được những người đồng phạm khác sử dụng để thực hiện tội phạm, thì người giúp sức cũng phải có những hành động tích cực như đã nêu ở trên đối với người xúi giục, người tổ chức để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục, người tổ chức, người giúp sức được miễn trách nhiệm trong trường hợp họ ngăn chặn được việc thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm không xảy ra Nhưng nếu những việc họ đã làm không ngăn chặn được việc thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm vẫn xảy ra, thì họ có thể vẫn phải chịu trách nhiệm hình

sự Họ chỉ có thể được miễn trách nhiệm hình sự (theo quy định tại Điều 25 BLHS PMH), nếu trước khi hành vi phạm tội bị phát giác mà họ đã tự thú, khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm.

Thực tiễn xét xử cho thấy trong một số vụ án nhiều người thực hành tội phạm

đã có người tự ý nửa chừng từ bỏ ý định phạm tội, có người không từ bỏ ý định phạm tội Trong trường hợp này, người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự nếu họ đã không làm gì hoặc những việc mà họ đã làm trước khi từ bỏ ý định phạm tội không giúp gì cho những người đồng phạm khác trong việc tiếp tục thực hiện tội phạm Thí dụ: 3 người rủ nhau đến ga xe lửa để trộm cắp, nhưng không bàn bạc gì cụ thể cả; trên đường đi một người đã bỏ về vì không muốn phạm tội nữa; hai người còn lại vẫn tiếp tục đến ga xe lửa và lợi dụng sự sơ hở của một số

Trang 40

hành khách đã trộm cắp được một số hành lý Còn nếu những việc mà họ đã làm được những người đồng phạm khác sử dụng để thực hiện tội phạm, thì họ cũng phải có những hành động tích cực để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm đó, thì họ mới có thể được miễn trách nhiệm hình sự Nhưng nếu họ không ngăn chặn được những người đồng phạm khác thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm vẫn xảy ra, thì họ có thể vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự Thí dụ: mấy người bàn bạc với nhau về việc trộm cắp ở một địa điểm nào đó; một người trong bọn họ đã vẽ sơ đồ, chỉ dẫn cho đồng bọn cách đột nhập một cách an toàn vào nơi để tài sản, sau đó người này từ bỏ ý định phạm tội và cũng chỉ khuyên đồng bọn không nên phạm tội nữa; nhưng đồng bọn của người này vẫn sử dụng sơ đồ và sự chỉ dẫn của người này để thực hiện tội phạm thì người này vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự."(tham khảo)

Câu 32 Phân tích các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của những

người đồng phạm?

Nguyên tắc 1: Tất cả những người đồng phạm đều phải chịu trách nhiệm hình

sự chung về toàn bộ tội phạm

Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ:

- Tất cả những người đồng phạm đều phải chịu trách nhiệm về cùng một tộidanh, theo cùng một điều luật và trong phạm vi chế tài mà điều luật đó quy định;

- Những tình tiết định khung hình phạt giảm nhẹ, định khung hình phạt tăngnặng và những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng liên quan đến tính chất, mức độnguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà những người đồng phạm nhận thức được đềuđược áp dụng cho những người đó

Ví dụ, các tình tiết: phạm tội mà chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại khônglớn; phạm tội có tổ chức; phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ởtrong tình trạng không thể tự vệ được; xâm phạm tài sản của Nhà nước; phạm tội gâyhậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; lợi dụng hoàncảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặcbiệt khác của xã hội để phạm tội;

- Các nguyên tắc chung về việc truy cứu trách nhiệm hình sự, về quyết địnhhình phạt, về áp dụng thời hiệu đối với loại tội mà những người đồng phạm thực hiệnđều được áp dụng chung cho tất cả những người đồng phạm

Nguyên tắc thứ hai: mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về

việc đã tham gia thực hiện tội phạm

-Không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người khác

Ngày đăng: 18/02/2023, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w