Tổng hợp câu hỏi thi vấn đáp môn Luật hình sự phần chung (có đáp án) 2021PHẦN A1.AnhChị hãy phân tích lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý phạm tội vì quá tự tin theo qui định BLHS hiện hành. Khái niệm: Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới 2 hình thức cố ý hoặc vô ý: Lỗi cố ý có hai hình thức là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp Lỗi vô ý có hai hình thức là vô ý do cẩu thả và vô ý vì quá tự tin Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra Lỗi vô ý phạm tội vì quá tự tin là lỗi trong trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả nguy hại đó.
Trang 1Tổng hợp câu hỏi thi vấn đáp môn Luật hình sự
phần chung (có đáp án) 2021
PHẦN A
1 Anh/Chị hãy phân tích lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý phạm tội vì quá tự tin theo qui định BLHS hiện hành (30 điểm)
Khái niệm: (10 điểm)
Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới 2 hình thức cố ý hoặc
vô ý:
- Lỗi cố ý có hai hình thức là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp
- Lỗi vô ý có hai hình thức là vô ý do cẩu thả và vô ý vì quá tự tin
- Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi
đó, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
- Lỗi vô ý phạm tội vì quá tự tin là lỗi trong trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả nguy hại đó
Phân biệt:
* Giống nhau: (5 điểm)
+ Người phạm tội đều nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà hành vi đó có thể gây ra
+ Người phạm tội đều không mong muốn hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra
* Khác nhau (15 điểm)
Lỗi cố ý gián tiếp: (7,5 điểm)
Là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xẩy ra
Người phạm tôi đã tin vào khả năng hậu quả không xảy ra khi quyết định xử sự Người phạm tội không mong muốn hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra Hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà người phạm tội đã thấy trước không phù hợp với mục đích của họ Người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là nhằm mục đích khác Chính
để đạt được mục đích này mà người phạm tội đã chấp nhận hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình có thể gây ra Người phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình mà họ đã thấy trước
Lỗi Vô ý phạm tội vì quá tự tin: (7,5 điểm)
Là lỗi trong trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây
ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả nguy hại đó
Thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra nhưng đồng thời lại cho rằng hậu quả đó không xảy ra
Người phạm tội không mong muốn hành vi của mình gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Sự không mong muốn này có điểm khác so với sự không mong muốn ở TH
Trang 2cố ý gián tiếp Sự không mong muốn hậu quả của người phạm tội gắn liền với việc người
đó đã loại trừ khả năng hậu quả xảy ra Người phạm tội với lỗi vô ý vì quá tự tin đã cân nhắc, tính toán và đã cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được Sự cân nhắc, tính toán này có thể dựa vào những căn cứ như tin tưởng vào sự khéo léo, sự hiểu biết, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ kỹ thuật của mình hoặc tin vào những tình tiết khách quan bên ngoài khác
2 Trình bày Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm theo qui định BLHS 2015 (40 điểm)
Khái niệm: Đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện
một tội phạm (Căn cứ Điều 17.1 BLHS 2015) (3 điểm)
Các loại người đồng phạm: (7 điểm)
Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Người chủ mưu là người đề ra âm mưu, phương hướng hoạt động của nhóm đồng phạm Chủ mưu có thể trực tiếp điều khiển hoạt động của tổ chức nhưng cũng có thể không.
Người cầm đầu là người thành lập nhóm đồng phạm hoặc tham gia vào việc soạn thảo kế hoạch, phân công, giao trách nhiệm cho đồng bọn cũng như đôn đốc điều khiển hoạt động của nhóm đồng phạm.
Người chỉ huy là người điều khiển trực tiếp của nhóm đồng phạm có vũ trang hoặc bán vũ trang.
- Trong mối quan hệ với những người đồng phạm khác, người tổ chức là người giữ vai trò thành lập nhóm đồng phạm hoặc điều khiển hoạt động của nhóm đó Người thành lập là người đã đề xướng việc thiết lập nhóm đồng phạm hoặc chỉ là người đã thực hiện việc đề xướng đó như rủ rê, lôi kéo người khác tham gia vào nhóm đồng phạm, thiết lập các mối liên hệ tổ chức giữa những người đồng phạm với nhau.
Những người điều khiển hoạt động của nhóm đồng phạm như:
Những người giữ vai trò điều khiển hoạt động chung của toàn nhóm như vạch phương hướng hoạt động, vạch các kế hoạch thực hiện, phân công vai trò, nhiệm vụ cho những người đồng phạm khác.
- Những người chỉ giữ vai trò trực tiếp điều khiển việc thực hiện vụ việc phạm tội
Trách nhiệm hình sự là một trong những loại trách nhiệm pháp lý, thể hiện ở hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu trước nhà nước về hành vi phạm tội tội của mình
*Các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm (30 điểm)
Trang 3Ngoài những nguyên tắc chung xác định trách nhiệm hình sự áp dụng cho tất cả các trường hợp phạm tội, để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm còn phải tuân thủ những nguyên tắc có tính riêng biệt
a Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm (10 điểm)
Cơ sở của nguyên tắc:
Trong đồng phạm, tội phạm được thực hiện do sự nỗ lực hợp tác chung của tất cả những người đồng phạm
Hậu quả của tội phạm là kết quà hoạt động chung của tất cả nững người đồng phạm
Tội phạm là một thể thống nhất, không thể chia cắt
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện:
- tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về cùng tội danh, theo cùng điều luật và trong phạm vi những chế tài mà điều luật ấy qui định
Các nguyên tắc chung về xác định tội phạm quyết định hình phạt, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự,…đối với tội mà họ thực hiện thì được áp dụng chung cho tất cả những người đồng phạm
Những người đồng phạm cùng phải chịu những tình tiết tăng nặng của vụ án, nếu
họ cùng biết Có nghĩa là họ cùng bàn bạc, thỏa thuận với nhau, hoặc mọi người đều nhậnthức và biết rõ về tình tiết đó Đây có thể là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại Điều 52 BLHS 2015 hoặc tình tiết tăng nặng định khung hình phạt
b Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện tội phạm
(10 điểm)
Cơ sở của nguyên tắc
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân nên việc xác định trách nhiệm hình sựcho mỗi người đồng phạm phải căn cứ vào hành vi cụ thể của mỗi người
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện:
- Những người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người đồng phạm khác
Hành vi vượt quá của người đồng phạm khác là hành vi vượt ngoài ý định chung của những người đồng phạm hành vi đó có thể cấu thành tội phạm khác hoặc cấu thành tình tiết tăng năng định khung Hành vi vượt quá thông thường biểu hiện ở người thực hành
Những người thực hành không phải chịu trách nhiện về hành vi vượt quá người đồng phạm khác, vì khi một người đồng phạm thực hiện hành vi vượt ngoài ý định phạm tội chung thì giữa họ không tồn tại mối quan hệ cố ý cùng tham gia thực hiện hành vi vượt quá đó Những người đồng phạm khác không được biết về hành vi vượt quá và cũngkhông mong muốn hành vi vượt quá đó xảy ra Hành vi phạm tội của những người đồng phạm khác không có mối quan hệ nhân quả với hành vi vượt quá đó
Hành vi vượt quá của những người đồng phạm khác thường được thể hiện ở 2 mức độ
Trang 4+ Vượt quá về tính chất của hành vi Người thực hiện hành vi vượt quá đã thực hiện hành vi khác ngoài dự kiến giữa họ với những người đồng phạm khác
+ Vượt quá về mức độ của hành vi: người thực hiện hành vi vượt quá trong đồng phạm vẫn thực hiện hành vi phạm tội như thỏa thuận ban đầu nhưng mức độ thực hiện hành vi phạm tội đó có tính chất nguy hiểm cho xã hội hơn
- Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự liên quan đến người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với riêng người đồng phạm đó Những tình tiết đó có thể là tái phạm, tái phạm nguy hiểm; phạm tội lần đầu, người chưa thành niên, người già yếu,…đây có thể là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại ĐIều 51và Điều 52 BLHS 2015, cũng có thể là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ khung hình phạt
- Việc miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt tù
có điều kiện, quyết định hình phạt tù nhẹ hơn…đối với đồng phạm nào thì đồng phạm đó được hưởng, không áp dụng chung cho những người đồng phạm khác
- Hành vi của người giúp sức, xúi giuc, người tổ chức dù chưa dẫn đến việc thực hiện tội phạm của người thực hành thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự
c Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự của đồng phạm (10 điểm)
Cơ sở của nguyên tắc
Tuy mỗi người trong đồng phạm đều cùng tham gia thực hiện thội phạm nhưng tính chất và mức độ tham gia của từng người lại khác nhau nên hành vi của từng người cótính chất và mức độ gây nguy hiểm cho xã hội khác nhau, nên trách nhiệm hình sự của họcũng khác nhau
Nội dung của nguyên tắc
Khi quyết đinh hình phạt đối với những người đồng phạm, tòa án phải xét đến tínhchất và mức độ tham gia của từng người đồng phạm Tính chất của đồng phạm là đồng phạm giản đơn hay phưc tạp, có thông mưu trước hay không, đồng phạm có tổ chức hay không?
Tính chất tham gia của mỗi người đồng phạm thể hiện ở vai trò của họ trong đồng phạm mức độ tham gia thể hiện ở sự tham dự của họ vào việc thực hiện tội phạm như là
họ có tích cực hay không, có quyết tâm không? Động cơ, mục đích , công cụ, phương tiện mà họ sử dụng để phạm tội… trên cơ sở đó, ta sẽ đánh giá được tính nguy hiểm cho
xã hội của hành vi phạm tội, từ đó quyết định một mức độ trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của từng cá nhân người phạm tội trong đồng phạm
Mức độ tham gia của mỗi người đồng phạm thể hiện ở sự đóng góp và ảnh hưởng thực tế của họ đối với việc gây ra tội phạm cũng như hậu quả của tội phạm (là người chủmưu, cầm đầu, chỉ huy, thực hành tích cưc hay không tích cực)
Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng trách nhiệ hình sự đối vớitừng người đồng phạm và những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội chỉ áp dụng riêng đối với người đó
Chính sách hình sự của Nhà nước ta áp dụng với các loại người đồng phạm là nghiêm trị kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy; khoan hồng đối với những người tự thú, thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải, nhất thời phạm tội do bị lừa phỉnh, ép buộc mà trở thành người thực hành trong đồng phạm
Trang 53 Phân tích dấu hiệu của đồng phạm Hãy nêu ý nghĩa của việc xác định dấu hiệu của đồng phạm trong BLHS 2015 (30 điểm)
a Về dấu hiệu khách quan (15 điểm)
- Về số lượng người tham gia: trong đồng phạm phải có từ 2 người trở lên cùng thực hiện tội phạm, những người này phải có đủ điều kiện về chủ thể của tội phạm, tức là họ đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không rơi vào trường hợp mất năng lực trách nhiệm hình sự (3 điểm)
- Về hành vi: (5 điểm) những người đồng phạm phải cùng thực hiện tội phạm Nghĩa là những người trong đồng phạm phải hoạt động chung: hành vi của mỗi người đồng phạm thực hiện trong sư liên kết thống nhất với nhau;hành vi của người này hỗ trợ, bổ sung,và là điều kiện cho hành vi của người khác, có ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau, là cho hoạt động phạm tội chung nguy hiểm hơn,hiệu quả hơn
Nếu có nhiều người thực hiện tội phạm tại cùng một địa điểm, một thời điểm , nhưng giữa họ không có sự hỗ trợ nhau, bỏ sung nhau để cùng thực hiện một tội phạm thi những người này không là đồng phạm mà ho thuộc trường hợp phạm tội riêng lẻ
Trong quá trình cùng thực hiện tội phạm, tùy từng trường hợp cụ thể mà người đồng phạm có thể tham gia thực hiện 1 trong 4 hành vi sau: trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm; tổ chức thực hiện tội phạm; xúi giục người khách thực hiện tội phạm; giúp sức người khác thực hiện tội phạm nếu hành vi của một người không liên quan đến 1 trong 4 hành
vi nếu trên thì không được xem là đồng phạm
Mỗi người phạm tội trong đồng phạm có thể tham gia thực hiện một hoặc nhiều hành vi kể trên Có thể là tất cả những người đồng phạm đều tham gia thực hiện 1 hoặc nhiều hành vi nêu trên Có thể tất cả cá đồng phạm đều thực hiện 1 hành vi, như hành vi thực hành tội phạm hoặc mỗi người trong đồng phạm thực hiện hành vi khác nhau Họ có thể tham gia thực hiện tội phạm từ đầu, nhưng cũng
có thể tham gia khi tội phạm đã diễn ra nhưng chưa kết thúc
- Dấu hiệu hậu quả chung: (2 điểm)Hậu quả của tội phạm trong đồng phạm là kết quả hoạt động phạm tội chung của tất cả những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm mang lại trong đó, hành vi của người thực hành là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả chung, còn hành vi của những người đồng phạm khác phải thông qua hành vi của người thực hành để gây ra hậu quả chung trong đồng phạm
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả (5 điểm)Hành vi của mỗi người đồng phạm đều có mối quan hệ nhân quả với hoạt động phạm tội chung và với hậu quả chung của tội phạm Mối quan hệ này được thể hiện dưới hai dạng sau:
+ khi các đồng phạm là người trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm, tất cả những người đồng phạm đều là người thực hành
+ khi có sự phân công vai trò giữa những người cùng thực hiện tội phạm, tức là chỉ hành vi của người thực hành mới là nguyên nhân trực tiếp gây tra hậu quả chung
Trong 4 dấu hiệu khách quan nêu trên, dấu hiệu về số lượng người tham gia, về hành vi là dấu hiệu bắt buộc tỏng mọi trường hợp đồng phạm; dấu hiệu hậu
Trang 6quả chung và mối quan hệ nhân quả đặt ra khi lạo TP mà đồng phạm thực hiện có CTTTP vật chất.
b Dấu hiệu chủ quan (15 điểm)
Dấu hiệu chủ quan bao gồm yếu tố lỗi, động cơ phạm tội, mục đích phạm tội trong đó lỗi là yếu tố bắt buộc phải có đối với mặt chủ quan trong đồng phạm; còn động cơ, mục đích phạm tội chỉ là dấu hiệu bắt buộc của đồng phạm khi CTTP qui định
* Dấu hiệu lỗi: (5 điểm) dấu hiệu đặc trưng thuộc mặt chủ quan của đồng phạm là phải có sự cùng cố ý của tất cả những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm có nghĩa là khi họ thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm khôngchỉ cố ý đối với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của nhữngngười đồng phạm khác
Về ý thức đối với hành vi, mỗi đồng phạm không những nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội mà còn biết mình đang hoạt động chung với những người khác Đồng thời, nhận thức được hành vi của những đồng phạm khác cũng nguy hiểm cho xã hội về ý thức đối với hậu quả, những người đồng phạm không những thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mà còn thấy trước hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện
Về ý chí , những người đồng phạm mong muốn cùng hoạt động chung và cùng mong muốn có hậu quả xảy ra hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
Dấu hiệu mục đích phạm tội: (5 điểm) trong quá trình cố ý cùng thực hiện tội phạm, mục đích phạm tội của mỗi người đồng phạm có thể khác nhau Đối với những tội phạm không qui định mục đích là dấu hiệu định tội thì các đồng phạm không buộc phải
có chung dấu hiệu cùng mục đích Tuy nhiên nếu trong mặt chủ quan có qui định mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc thì các đồng phạm phải có cùng mục đích, tức là hõ biết rõ và tiếp nhận mục đích cho nhau, nếu mỗi đồng phạm có mục đích khác nhau thì không xem là đồng phạm mà thuộc trường hợp phạm tội riêng lẻ
Dấu hiệu động cơ phạm tội: tượng tự như trên (5 điểm)
c Ý nghĩa của việc xác định dấu hiệu của đồng phạm trong BLHS 2015
//////////////////////////////////////////////
++Phân biệt đồng phạm giản đơn và phạm tội có tổ chức:
Chế định đồng phạm quy định trong Bộ luật hình sự có hai loại mà theo khoa học luật hình sự gọi là đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp (phạm tội có tổ chức)
Đồng phạm giản đơn là trường hợp tất cả những người cùng thực hiện một tội
phạm không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau thực hiện tội phạm, không có sự phân công ró ràng, cụ thể vai trò của từng người trong vụ án
Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những
người cùng thực hiện tội phạm là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặtchẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện một tội phạm, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu và là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia Trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải
Trang 7chịu sự điều khiển của người cầm đầu, người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức
4 Anh/Chị hãy Phân biệt trường hợp vô ý phạm tội vì cẩu thả với trường hợp gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội vì sự kiện bất ngờ theo qui định của BLHS 2015 (40 điểm)
a Khái niệm: (10 điểm)
Vô ý do cẩu thả là: trường hợp người phạm tội do cẩu thả mà không thấy trước
được hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả đó (5 điểm)
Sự kiện bất ngờ là: người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do
sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (5 điểm)
b Giống nhau: (10 điểm)
- Đều là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội
- Hậu quả nguy hại cho xã hội đã xảy ra
Người gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ không thấy trước hoặc
có thể thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội của hành vi của mình
+ Về việc thấy trước hậu quả: (5 điểm)
Người vô ý phạm tội do cẩu thả buộc phải thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội của hành vi của mình Họ không thấy trước nhưng có khả năng thấy trước hậu quả đó, nếu có sự chú ý cần thiết Mặc khác, người vô ý phạm tội do cẩu thả còn có nghĩa vụ phải tuân thủ những quy tắc xử sự chung trong cuộc sống đã được mặc nhiên thừa nhận, nghĩa vụ phát sinh từ địa vị của họ trong hoàn cảnh cụ thể… Vì thế, họ buộc phải thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội của hành vi của mình
Người gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ không có khả năng thấy trước hậu qảu nguy hại cho xã hội mà hành vi của họ đã gây ra mặc dù có sự chú ý cần thiết, nên họ không có nghĩa vụ phải thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội của hành vi của mình
+ Về nguyên nhân dẫn đến hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội: (5 điểm) Trường hợp vô ý phạm tội do cẩu thả thì có nguyên nhân chủ quan, do người thựchiện hành vi cẩu thả, thiếu thận trọng khi xử sự
Trường hợp sự kiện bất ngờ có nguyên nhân khách quan, người thực hiện hành vi không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậuquả nguy hại
+ Về hậu quả pháp lý: (5 điểm)
Trang 8Người vô ý phạm tội do cẩu thả được coi là có lỗi, do đó phải chịu trách nhiệm hình sự
Người gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ có ý nghĩa giúp xác định hành vi đã xảy ra trong hai trường hợp trên là có tội hay không có tội
Tham khảo thêm bảng so sánh:
Mục
tiêu phân biệt Lỗi vô ý do quá cẩu thả Sự kiện bất ngờ
Xác
định lỗi
Việc gây ra hậu quả xuất phát
từ lỗi vô ý của chủ thể
Việc gây hậu quả không dolỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi
Thấy
trước hậu quả
Buộc phải thấy trước hậu quảnhưng lại không thấy trước được hậuquả đó
Không thể thấy trước vàkhông buộc phải thấy trước hậu quả
có thể xảy ra
Nguyên
nhân gây ra
hậu quả
Do sự cẩu thả của chủ thể gây
ra hành vi vi phạm hậu quả là do hoàn cảnh khách quanViệc không thấy trước được
a Khái niệm (10 điểm)
Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự và không rơi vào trường hợp bị mất năng lực trách nhiệm hình sự (2 điểm)
Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự: (3 điểm) người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự với mọi loại tội phạm (Điều 12.1 BLHS 2015) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chịu trách nhiệm hình sự với tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150,
151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290,
299, 303 và 304 của Bộ luật này
Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng của một người tại thời điểm thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội do hành vi mình thực hiện và điểu khiển được hành vi đó (2 điểm)
Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này , phải áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc/ (3 điểm)
b Các dấu hiệu của tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
(30 điểm)
- Về dấu hiệu y học: đây là điều kiện cần của tình trạng không có NLTNHS (15 điểm)
Trang 9Người trong tình trạng không có NLTNHS phải là người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn tâm thần
Người mắc bệnh tâm thần có thể bị bệnh tâm thần kinh niên hoặc rối loạn tâm thầntạm thời bệnh tâm thần kinh niên là nhóm bệnh mang tính liên tục, kéo dài, khó chữa trị,
có xư hướng tiến triển bệnh ngày càng nặng thêm như bệnh thiểu năng tâm thần, bệnh down… Bệnh rối loạn tâm thần tạm thời là những bệnh tâm thần xuất hiện đột ngột, pháttriển nhanh, diễn ra trong khoảng thời gian ngắn, làm rối loạn nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, làm quên hoàn toàn hoặc từng phần các sự kiện đã xảy ra trong thời gian mặc bệnh và kết thúc bằng việc bình phục hoàn toàn như bệnh xung động trộm cắp, bệnh mộng du…
Tình trạng bệnh khác là tình trạng bệnh tật không liên quan đến rối loạn tâm thần tạm thời hay kinh niên nhưng cũng ảnh hưởng đến khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình như bênh rối loạn tuần hoàn, nhiễm khuẩn sọ não…
Tuy nhiên không phải mọi trường hợp mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác đều làmmất hoàn toàn khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con người, mà tùy thuộc vàotình trạng bệnh của mỗi người trong mỗi giai đoạn khác nhau mà khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con người thể hiện ở những mức độ khác nhau
- Về dấu hiệu tâm lý: (10 điểm) Nếu dấu hiệu y học là điều kiện cần thì dấu hiệu tâm lý là điều kiện đủ của tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự Đây là dấu hiệu nói lên mức độ nghiêm trọng của sự rối loạn tâm thần với ý nghĩa là hậu qảu của một trong những bệnh lý nêu trên
+ Về ý thức: người bị bệnh mất khả năng nhận thức hành vi của mình (5 điểm)Người đang trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người không có khả năng nhận thức mặt thực tế hành vi của mình; hoặc không đánh giá được ý nghĩa xã hội của hành vi do mình gây ra Nếu người bệnh mất khả năng nhận thức mặt thực tế của hành vi, nghĩa là họ không nhận thức được mình đang làm gì thì họ cũng không nhận thức được ý nghĩa của hành vi đó (tác hại của việc làm đó đối với xã hội) tuy nhiên trong trường hợp người bệnh có khả năng nhận thức được về mặt thực tế của hành vi nhưng mất khả năng nhận thức về ý nghĩa xã hội của hành vi thì cũng được coi làtình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
+ Về ý chí: người bị bệnh mất khả năng điều khiển hành vi của mình (5 điểm)Khi một người không có khả năng nhận thức được hành vi cảu mình thì họ cũng không có khả năng điều khiển hành vi Nghĩa là họ không có khả năng kiềm chế được hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và không có khả năng lựa chọn xử sự khác phù hợp với lợi ích của xã hội tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những trường hợp người bệnh cókhả năng nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng họ không có khả năng điều khiển hành vi đó, thì cũng được coi là rơi vào tình trạng không có năng lựctrách nhiệm hình sự
Chú ý: (5 điểm)
- Không phải mọi trường hợp người mắc bệnh tâm thần đều rơi vào tình trạng không có năng lức trách nhiệm hình sự Chỉ những người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác đến mức làm độ không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi củamình thì mưới được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự, không là chủ thể của tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự
Trang 10- Nếu người bị mắc bệnh tâm thần nhưng vẫn có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình thì họ vẫn có năng lực trách nhiệm hình sự nên họ là chủ thểcủa tội phạm và vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự , nhưng ở mức độ hạn chế hơn so với những người bình thường khác Đây là tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm q khoản
1 điều 51 BLHS 2015
6 Trình bày khái niệm tội phạm, phân loại tội phạm và ý nghĩa của việc xác định đúng các loại tội phạm theo qui định của BLHS? (30 điểm)
Khái niệm: Điều 8 BLHS 2015 (5 điểm)
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Phân loại tội phạm Điều 9 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 (10 điểm)
Căn cứ để phân loại: căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được qui định trong bộ Luật này, nên tội phạm được phân ra thành 4 loại:
-Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội
ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm
- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từtrên 03 năm tù đến 07 năm tù;
- Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy
là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
Đôi với Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1Điều 9 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 về phạm vi chịu TNHS của PNTM, cụ thể: “điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209,
210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245,
246, 300 và 324 của Bộ luật này.”
c Ý nghĩa của việc xác định các loại tội phạm: (15 điểm)
- Phân loại tội phạm giúp cho việc áp dụng đúng đắn một số qui định của BLHS như:
+ Việc áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù vì phạm tội lần đầu, đã hối cải chỉ
có thể áp dụng đối với những trường hợp tội đã phạm là ít nghiêm trọng
Trang 11+ Người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu tội họ chuẩn bị phạm là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trong
+ Hình phạt cảnh cáo chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng+ Hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng
+ Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về TP
NT do cố ý hoặc TP ĐBNT
+ Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục
+Tòa án có thể áo dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tối INT hoặc tội NT
+ Xác định đúng các loại tội phạm còn có ý nghĩa để xác định các trường hợp được coi là tái phạm, tái phạm nguy hiểm
+ Phân loại tội phạm còn có ý nghĩa trong việc áp dụng đúng đắn các qui định khác có liên quan đến giải quyết vấn đề trách nhiệ hình sự nhất là các qui định trong tố tụng hình sự (như biện pháp ngăn chặn, thời hạn điều tra, thời hạn truy tố, xét xử…)
7 Trình bày dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của Tội phạm theo BLHS
2015 (40 điểm)
Về khái niệm, mặt khách quan của tội phạm là mặt ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Mặt khách quan của tội phạm là một trong 4 yếu tố của tội phạm 5 điểm
Các dấu hiệu mặt khách quan của TP: hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; công cụ, phương tiên, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội
Hành vi khách quan là dấu hiệu cơ bản trong mặt khách quan của tội phạm; là dấu hiệu bắt buộc trong mọi loại cấu thành tội phạm không có hành vi khách quan thì không
có tội phạm
Đặc điểm của dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của tội phạm: 20 điểm
+ Có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội: hành vi khách quan của tội phạm xâm phạm đến những quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự, vì thế đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể
+ Là hoạt động có ý thức và ý chí Hành vi khách quan của tội phạm phải là hành
vi được ý thức của chủ thể kiểm soát và ý chỉ của chủ thể điều khiển
+ Là hành vi trái pháp luật hình sự:hành vi đó phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm được qui định trong luật hình sự, nên thường gọi là tính được qui định trongLHS hay tính trái pháp luật hình sự
- Hình thức thể hiện của hành vi khách quan của TP: 10 điểm
+ Hành động: là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm thông qua việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm
Trang 12Biểu hiện của hành động có thể chỉ là một động tác đơn giản, xảy ra 1 lần trong thời gian ngắn, cũng có thể là tổng hợp nhiều động tác khác nhau, lặp đi lặp lại liên tục trong 1 thời gian dài Hành động phạm tội có thể tác động trực tiếp vào đối tượng tác động của tội phạm hoặc thông qua công cụ, phương tiện Hành động phạm tội có thể được thực hiện bằng lời nói hoặc việc làm.
+Không hành động: là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm, mặc dù có đủ điều kiện để làm
Biểu hiện: chủ thể đã không làm một việc có nghĩa vụ pháp lý phải làm, trong khi
có đủ điều kiện để làm
Chủ thể có nghĩa vụ pháp lý phải làm (nghĩa vụ phát sinh do luật định, nghĩa vụ phát sinh do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do hợp đồng, do xử sự trước đó của chủ thể)
Chủ thể có đủ điều kiện để thực hiện nghĩa vụ, tức là có đủ khả năng (năng lực cá nhân để hành động thực hiện nghĩa vụ) và điều kiện (yếu tố khách quan để thực hiện nghĩa vụ, như có máy móc, thiết bị…)
** Các dạng cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan: 5 điểm
- Tội ghép: là tội phạm mà hành vi khách quan có khả năng diễn ra không giánđoạn trong khoảng thời gian dài
- -Tội kéo dài: là tội phạm mà hành vi khách quan có khả năng diễn ra không giánđoạn trong khoảng thời gian dài
- Tội liên tục: là tội phạm có hành vi khách quan bao gồm nhiều hành vi cùng loạixảy ra kế tiếp nhau về thời gian, xâm hại cùng khách thể và bị chi phối bởi một ý định phạm tội
cụ thể thống nhất
Ý nghĩa của việc xác định dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của TP:
- Trong việc định tội: giúp xác định hành vi đã thực hiện có cấu thành tội phạm haykhông có CTTP
- Trong việc định khung hình phạt/; hành vi thực hiện được qui định tại khunghình phạt nào
- Trong việc quyết định hình phạt
8 Trình bày dấu hiện hậu quả nguy hiểm cho xã hội trong mặt khách quan của
TP, ý nghĩa của việc nghiên cứu dấu hiệu đó
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là một trong các dấu hiệu khách quancủa cấu thành tội phạm, là thiệt hại do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra cho quan hệ xãhội được Luật Hình sự bảo vệ, gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần
Phân loại hậu quả:
+ Hậu quả vật chất là những thiệt hại mà con người trực tiếp hoặc thông qua cácphương tiện kỹ thuật có thể xác định được một cách chính xác mức độ của nó Thiệt hại loạinày có thể là thiệt hại về vật chất hoặc thể chất
Thiệt hại về vật chất thường được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bìnhthường của các đối tượng vật chất là khách thể của quan hệ xã hội Ví dụ, tài sản bị phá huỷ,
bị chiếm giữ, bị sử dụng trái phép…
Thiệt hại về thể chất biểu hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường của thực thể tựnhiên con người Nó có thể là tính mạng, sức khoẻ
+ Hậu quả phi vật chất là những thiệt hại không thể tính toán một cách chính xácbằng các phương tiện đo lường Sự thiệt hại này chỉ được đánh giá thông qua hoạt động tư
Trang 13duy của con người Thiệt hại loại này có thể kể đến như danh dự, nhân phẩm, quyền tự docủa con người, chính trị, xã hội, đạo đức…
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội có ý nghĩa quan trọng để xác định tính chất, mức độnguy hiểm của tội phạm Hậu quả tác hại càng lớn thì mức độ nguy hiểm của tội phạm càngcao Hậu quả tác hại của tội phạm có ý nghĩa xác định giai đoạn hoàn thành của tội phạm.Tội có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành khi hành vi nguy hiểm đã gây ra hậu quả táchại Tội có cấu thành hình thức được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội theo quy định của điều luật cụ thể trong Bộ luật Hình sự
9.Trình bày căn cứ pháp lý, điều kiện, trình tự, thủ tục được hoãn chấp hành án phạt tù theo qui định BLHS hiện hành? (40 điểm)
Các căn cứ pháp lý của việc hoãn chấp hành án phạt tù ( 5 điểm)
- Căn cứ Điều 67 của Bộ luật hình sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 23, 24 Luật thi hành án hành án hình sự năm 2011;
- Điều 25, 26 Luật tổ chức Viện KSND năm 2014;
- Nghị quyết số 01/2007/NQ - HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
Các điều kiện được hoãn (10 điểm)
Người phải chấp hành án phạt tù nếu có đủ 02 điều kiện sau thì có thể được xem xét hoãn thi hành án phạt tù:
Một là, Có nơi làm việc ổn định hoặc nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; không có vi phạm
pháp luật nghiêm trọng sau khi tuyên án; không có căn cứ cho rằng bị án sẽ bỏ trốn
Hai là, có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 67 Bộ luật hình sự thì
có thể được hoãn chấp hành án phạt tù
Bị bệnh nặng được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;
Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khicon đủ 36 tháng tuổi;
Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thìgia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến một năm, trừ trường hợp người đó bị kết án vềcác tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêmtrọng;
Bị kết án về tội ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến một năm
Trình tự, thủ tục hoãn thi hành án (25 điểm)
+ Về điều kiện 10 điểm
Thứ nhất, đối với trường hợp bị bệnh nặng Bị bệnh nặng là những trường hợp bị
án bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành hình phạt tù được, nếu buộc họ phải đi chấp hành án sẽ nguy hiểm đến tính mạng, cụ thể: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu Phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc người bị xử phạt tù bị bệnh nặng và nếu bắt họ đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ quy định tại điểm a, tiểu mục 7.1, mục 7 NQ 01/2007/HĐTP Bị án phải làm đơn xin hoãn, kèm theo kết luận của Bệnh viện cấp tỉnh trở lên
Thứ hai, đối với trường hợp phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi
thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi Bị án làm đơn xin hoãn, kèm theo kết
Trang 14luận của bệnh viện cấp huyện trở lên xác định là họ đang có thai hoặc bản sao giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh con của người bị kết án và xác nhận của chính quyền địa phương về việc họ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi quy định tại điểm b, tiểu mục 7.1, mục 7 NQ 01/2007/HĐTP.
Thứ ba, đối với trường hợp là lao động duy nhất trong gia đình và nếu phải chấp
hành hình phạt tù, gia đình họ sẽ gặp khó khăn đặc biệt Bị án phải đơn và có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú quy định tại điểm c, tiểu mục 7.1, mục 7 NQ 01/2007/HĐTP
Thứ tư, đối với trường hợp do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến một năm Điều
kiện phải là phạm tội ít nghiêm trọng Bị án đang thực hiện công việc dở dang hoặc sắp thực hiện mà thiếu họ thì không ai có thể thay thế được Phải có văn bản của tổ chức nơi
họ làm việc hoặc của chính quyền địa phương nơi họ quy định tại điểm d, tiểu mục 7.1, mục 7 NQ 01/2007/ ĐTP
Ngoài các trường hợp nêu trên TA có thể cho người bị xử phạt tù theo khoản 1 Điều 61 BLHS được hoãn THA trong trường hợp đặc biệt quy định tại tiểu mục 7.2, mục
7 Nghị quyết số 01/2007/HĐTP
* Lưu ý: Trường hợp là người lao động duy nhất hoặc do yêu cầu công vụ thì bị án
có thể được hoãn nhiều lần, nhưng tổng số thời gian được hoãn tối đã không quá 1 năm quy định tại điểm c tiểu mục 7.3 Nghị quyết số 01/2007/HĐTP
- Nếu phát hiện quyết định hoãn chấp hành án phạt tù của Tòa án có vi phạm pháp luật, thì KSV yêu cầu Tòa án cung cấp hồ sơ để nghiên cứu Quá trình nghiên cứu nếu thấy cần thiết thì yên cầu Tòa án giải trình hoặc phối hợp xác minh điều kiện hoãn thi hành án Khi xác định rõ vi phạm thì KSV phải báo cáo Lãnh đạo viện để yêu cầu Tòa ánsửa đổi hoặc huỷ bỏ
- Kiểm sát việc thi hành án khi hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù:
+ Chậm nhất 7 ngày trước khi hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án đã ra quyết định hoãn phải ra quyết định THA và gửi ngay quyết định cùng bản
án đã có hiệu lực pháp luật cho bị án, cơ quan Công an cùng cấp và các cơ quan có liên quan
+ Trong trường hợp bị án có đủ điều kiện để được xem xét tiếp tục hoãn chấp hành án phạt tù như đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, mắc bệnh hiểm nghèo… thì bảy ngày trước khi hết hạn hoãn thi hành án, Kiểm sát viên yêu cầu Tòa án xác minh điều kiện tiếp tục được hoãn
Trang 15+ Nếu quá thời hạn 7 ngày, kể từ ngày hết hạn hoãn chấp hành hình phạt tù, bị án không có mặt tại tại cơ quan Công an để đi chấp hành án phạt tù mà không có lý do chínhđáng, thì cơ quan có trách nhiệm (Cơ quan thi hành án hình sự) phải áp giải người bị kết
Thứ nhất: Sửa đổi một số nội dung đối với các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mà BLHS năm 1999 Cụ thể như sau:
Về trường hợp phòng vệ chính đáng (Điều 22) và tình thế cấp thiết (Điều 23) có đảo cụm từ “vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác” lên trước cụm từ “lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức” trong trường hợp phòng vệ chính đáng Cũng tương tự như trên, cụm từ “vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác” lên trước cụm từ “lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức” trong trường hợp tình thế cấp thiết Việc đảo vị trí của quyền hoặc lợi ích chính đáng (quyền hoặc lợi ích hợp pháp) của con người, của công dân lên trước lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức là phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013, ưu tiên bảo vệ quyền con người, quyền công dân – “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14 Hiến pháp)
Thứ hai: So với BLHS năm 1999, Bộ luật hình sự năm 2015 bổ sung ba trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đó là: (1) gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; (2) rủi ro trong nghiên cứu khoa học, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; (3) thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (các Điều 24, 25, 26)
Cụ thể như sau:
Điều 24 Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội
Thực tế cho thấy có nhiều trường hợp để bắt giữ tội phạm thì người bắt giữ buộc phải dùng vũ lực cần thiết để khống chế và tất yếu dẫn đến gây thiệt hại cho người bị bắt giữ Tuy nhiên, BLHS năm 1999 chưa có quy định cụ thể loại trừ trách nhiệm hình sự trong các trường hợp này, chưa tạo được cơ chế hữu hiệu, tích cực cho việc đấu tranh ngăn chặn và chống tội phạm Việc bổ sung quy định như vậy là hợp lý, phù hợp với tình hình thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm
Điều 25 Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật
và công nghệ
Trang 16Việc BLHS năm 2015 bổ sung quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với sự pháttriển kinh tế tri thức, thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển Bảo đảm chắc chắn cho những ý tưởng mới, sáng tạo, cải tiến kỹ thuật và công nghệ, động viên các nhà khoa học nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học, kỹ thuật tiên tiến vì sự phồn vinh của đất nước, nếu đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm và đã áp dụng đầy đủ các biện pháp đề phòng sẽ được loại trừ trách nhiệm hình sự
Điều 26 Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên
Theo quy định này thì người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên không phải chịu trách nhiệm hình sự khi
có đủ ba điều kiện sau đây:
Một là, mệnh lệnh phải là của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân (quân đội nhân dân và công an nhân dân)
Hai là, việc thi hành mệnh lệnh đó là để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh
Ba là, người thi hành mệnh lệnh đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó./
11.Nêu các giai đoạn thực hiện tội phạm? Phân tích các dạng phạm tội chưa đạt trong BLHS 2015? (30 điểm)
Các giai đoạn thực hiện TP: 20 điểm
- Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước của quá trình thực hiện tội phạm cố
ý được phân biệt với nhau bởi các dấu hiệu, biển hiệu nhằm đánh giá sự diễn biến mức độthực hiện ý định phạm tội, làm cơ sở cho việc xác định phạm vi và mức độ trách nhiệm hình sự và hình phạt, bao gồm: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành (Điều 14, Điều 15 BLHS 2015)
- Vấn đề TNHS có thể đặt ra khi người phạm tội đã bước vào giai đoạn chuẩn bị phạm tội
- Tội phạm có thể phải dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị hoặc giai đoạn chưa đạt hoặc
Như vậy, vấn đề TNHS được đặt ra là có cơ sở và cần thiết
Như vậy, vấn đề TNHS được đặt ra là có cơ sở và cần thiết
- Luật HS 1999, sửa đổi, bổ sung chỉ đặt vấn đề TNHS cho những trường hợp chuẩn bị phạm tội khi tội định phạm là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Tuy nhiên BLHS 2015 đã qui định cụ thể,chi tiết, thu hẹp phạm vi chịu trách nhiệm hình sự hơn:
Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111,
112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301,
302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều
123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự Tức là chỉ người nào
Trang 17chuẩn bị phạm các tội nêu trên thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự và chỉ có điều luật nào quy định một khung hình phạt riêng dành cho trường hợp chuẩn bị phạm tội thì mới được áp dụng.
- Đối với phạm tội chưa đạt: mọi trường hợp phạm tội chưa đạt phải chịu TNHS,
vì đây là trường hợp người phạm đã có hành vi trực tiếp xâm hại khách thể, đã trực tiếp
đe dọa gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội (Điều 15 BLHS)
- Căn cứ xác định TNHS cụ thể cho trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được quy định tại Điều 57 BLHS: “Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành
vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng”
Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có những hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó
Điều 15 Bộ luật hình sự quy định: “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội”
2 Phân tích các dạng phạm tội chưa đạt (10 điểm)
+ Chưa đạt chưa hoàn thành (về hành vi): người phạm tội chưa thực hiện hết các hành vi phạm tội cần thiết để gây hậu quả Ví dụ, đối với tội hiếp dâm (Điều 141 Bộ luật hình sự) về mặt khách quan được mô tả là: “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ” Trong trường hợp này, nếu người phạm tội chỉ mới dùng một trong những hành vi tiền đề (dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực…) nhưng chưa giao cấu được với nạn nhân thì được xem là phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành
+ Chưa đạt đã hoàn thành: người phạm tội đã thực hiện được những hành vi cần thiết cho rằng để đạt được mục đích (hậu quả), nhưng hậu quả không xảy ra do những nguyên nhân ngoài ý muốn Ví dụ, đối với tội giết người (Điều 123 Bộ luật hình sự), mặt khách quan đòi hỏi phải có hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác một cách trái pháp luật và hậu quả phải có người chết từ hành vi đó Nếu chỉ có hành vi tước đoạt sinh mạng một cách trái pháp luật (đầu độc, bắn, đâm, chém…vào những vùng trên cơ thể có thể dẫn đến chết người…) nhưng hậu quả chưa xảy ra thì được xem là phạm tội chưa đạt
bị phạm tội
Theo khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự, đối với trường hợp phạm tội chưa đạt:
- Nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc
tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm;
Trang 18- Nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định
12 Trình bày khái niệm, ý nghĩa án treo Điều kiện được hưởng án treo Điều kiện thử thách của án treo và hậu quả pháp lý của việc vi phạm điều kiện thử thách theo qui định tại Điều 65 BLHS 2015 (xem thêm Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP về hơớng dẫn
áp dụng Điều 65 BLHS về án treo của HĐTP TANDTC) 1
a Khái niệm, ý nghĩa
Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện được áp dụng đối với người phạm tội bị xử phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạmtội và các tình tiết giảm nhẹ mà xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù
Án treo không phải là hình phạt Bản chất pháp lý của án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Đây là biện pháp khoan hồng của nhà nước áp dụng đối với người phạm tội bị xử phạt tù nhưng Tòa án xét thấy có cơ sở không cần buộc họ chấp hành hình phạt đã tuyên và buộc họ phải tuân thủ những điều kiện thử thách nhất định trong một thời hạn nhất định Bản chất pháp lý của chế định án treo nhằm tạo điều kiện cho người bị kết án làm ăn lương thiện, chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức và gia đình
Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này
b Căn cứ hưởng án treo
- Về mức phạt tù tòa tuyên: việc cho xét hưởng án treo chỉ đặt ra đối với người bị
tù giam Mức phạt tù là không quá 3 năm là 1 trong năm căn cứ xét cho hưởng án treo Khi xét cho hưởng án treo tòa án căn cứ vào mức hình phạt tù đã tuyên chứ không phụ thuộc loại tội phạm thực hiện là INT, NT, RNT, ĐBNT
- Về nhân thân người phạm tội: người phạm tội phải có nhân thân tốt Người có nhân thân tốt được hiểu là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự;
- Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục
Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo
Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư: người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tức là từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó
có ít nhất 1 tình tiết giảm nhẹ được qui định tại khoản 1 điều 51 BLHS 2015 Trường hợpvừa có tình tiết tăng nặng vừa có tình tiết giảm nhẹ, thì số lượng tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ 2 tình tiết trở lên,trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
- Yêu cầu phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng mà xét thấy không cần phải chấp hành hình phạt tù: Dựa vào yêu cầu phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng tòa án xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù Tòa án chỉ áp dụng án treo cho ngườiphạm tội khi có đủ cơ sở cho rằng việc không bắt người bị kết án chấp hành hình phạt tù
1
Trang 19sẽ không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
Chú ý, các trơờng hợp không được hưởng án treo:
Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ,dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố
ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng
Người phạm tội nhiều lần, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi
Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm
c Điều kiện thử thách của án treo và hậu quả pháp lý của việc vi phạm điều kiện thử thách
*Điều kiện thử thách của án treo
Điều kiện thử thách của án treo là người phạm tội không phạm tội mới trong thời gian chấp hành thử thách
Thời gian thử thách của án treo là thời hạn do Tòa án ấn định, tối thiểu 1 năm và tối đa là 5 năm Tùy thuộc vào mức hình phạt tù đã tuyên, thời gian thử thách được ấn định đối với mỗi trường hợp phạm tội cụ thể có khác nhau nhưng không được thấp hơn 1năm và vượt quá 5 năm
Khi quyết định thời gian thử thách, Tòa án phân biệt các trường hợp sau:
- Người bị xử phạt tù không bị tạm giam thì thời gian thử thách bằng 2 lần mức phạt tù , nhưng không được vươt quá 5 năm và dưới 1 năm
- Người bị xử phạt tù đã bị tạm giam, thì lấy mức phạt tù trừ đi thời gian đã bị tạm giam để xác định mức hình phạt tù còn lại cần phải chấp hành Thời gian thử thách trong trường hợp này bằng 2 lần mức phạt tù còn lại phải chấp hành nhưng không vượt quá 5 năm và dưới 1 năm
Trong trường hợp đặc biệt Tòa án có thể ấn định thời gian thử thách ngắn hơn các mức nêu trên, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án
Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên bản án đầu tiên cho hưởng án treo:
Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo,kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án
Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, nhưngHội đồng giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm để điều tra hoặc xét xử lại và sau
Trang 20khi xét xử sơ thẩm lại, xét xử phúc thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn chohưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc tuyên án phúc thẩm lầnđầu.
Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, bản án không bị khángcáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án sơ thẩm chohưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực
Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo,nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử tháchtính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực
Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm khôngcho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc phẩm, giữ nguyên bản án sơthẩm hoặc Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thửthách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
*Hậu quả pháp lý của việc vi phạm điều kiện thử thách:
Đối với người hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Tòa
án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo qui định tại khoản 5 điều 65 Bộ luật này
Vì vậy, nếu trong thời gian thử thách mà người được hưởng án treo phạm tội mới thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên Trong thời gian này, thời gian thử thách
đã chấp hành không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt vì trong thời gian thử thách người được hưởng án treo chỉ chấp hành điều kiện thử thách của án treo chứ không phải chấp hành hình phạt
Trong thực tế, có thể gặp trường hợp trong thời gian thử thách, người được hưởng
án treo bị xét xử về tội phạm trước khi có bản án này thì việc quyết định hình phạt có điểm đặc biệt trong trường hợp này tòa án tuyên hình phạt với tội đang xét xử, do người được hưởng án treo không vi phạm trong thời gian thử thách nên sẽ chấp hành song song
2 bản án mà không được tổng hợp 2 bản án bởi bản chất của án treo nó không phải là hình phạt
Đối với người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
c Nghĩa vụ của người được hưởng án treo: được qui định cụ thể tại Điều 64 Luật thi hành án hình sự 2010, cụ thể:
1 Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
2 Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục
3 Trường hợp người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú từ 01 ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng
4 Ba tháng một lần trong thời gian thử thách người được hưởng án treo phải nộp bản tự nhận xét về việc chấp hành pháp luật cho người trực tiếp giám sát, giáo dục; trường hợp đi khỏi nơi cư trú từ 03 tháng đến 06 tháng, thì phải có nhận xét của Công an
Trang 21cấp xã nơi người đó đến lưu trú hoặc tạm trú để trình với Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người đó.
13 Trình bày khái niệm, các trường hợp được xóa án tích, thời hạn được xóa án tích theo BLHS hiện hành.
a Khái niệm (Điều 69 BLHS 2015)
Xóa án tích là việc công nhận một người là chưa bị kết án sau khi họ đã chấp hànhxong bản án, đã trải qua qua một thời gian nhất định và hội đủ các điều kiện luật định
Án tích là hậu quả pháp lý của việc phạm tội và là một trong những hình thức thựchiện trách nhiệm hình sự Án tích tồn tại trong suốt quá trình người phạm tội bị kết án về một tội phạm cho đến khi được xóa án Sau khi chấp hành xong bản án, trải qua 1 thời hạn nhất định chứng tỏ người phạm tội đã hướng thiện, NN sẽ xóa án cho người bị kết
án
“Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án.”
“Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng
và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích” Đây là qui định mới BLHS
2015, người bị kết án trong trường hợp này mà không thuộc trường hợp tái phạm, cũng không thuộc trường hợp được coi là dấu hiệu định tội của một số tội phạm có quy định vềcác trường hợp đã bị xử phạt hành chính, đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
b Các trường hợp được xóa án tích
Đương nhiên được xóa án tích:được áp dụng đối với người bị kết án không phải
về các tội quy định tại Chương XIII Qui định các Tội phạm An ninh quốc gia và Chương XXVIqui định Tội phá hoại hòa bình, chống loại người, tội phạm chiến tranh của Bộ luật này khi họ đãchấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án vàđáp ứng các điều kiện quy định:
Chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó
đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành
vi phạm tội mới trong thời hạn:
01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt
tù nhưng được hưởng án treo;
02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hìnhnhưng đã được giảm án
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cưtrú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b
và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung
Hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mớitrong thời hạn quy định nếu trên
Tòa án sẽ không còn trách nhiệm phải cấp “giấy chứng nhận xóa án tích cho ngườiđương nhiên được xóa án tích” nữa mà trách nhiệm này thuộc về cơ quan hành pháp
- Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, khi có yêu cầu sẽ cấp phiếu LLTP xác nhận không có án tích/
Trang 22 Xóa án tích theo quyết định của Tòa án (điều 71 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017)
Khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người
đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tùnhưng được hưởng án treo;
03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hìnhnhưng đã được giảm án
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cưtrú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản này thì Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung
Như vậy thời hạn xóa án tích theo BLHS 2015 đã rút ngắn hơn sơ với BLHS 1999
Đối với Tội phạm về An ninh quốc gia,Tội phá hoại hòa bình, chống loại người, tội phạm chiến tranh thì Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào
tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bịkết án và đáp ứng điều kiện về thời hạn nêu trên
Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt
Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công,được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó
cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này
c Thời hạn xóa án tích
- Đối với trường hợp Đương nhiên xóa án tích, theo quyết định của Tòa án thì thờihạn xoa án tích tính theo Hình phạt chính đã tuyên
- Đối với gười bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới
và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành
- Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó
- Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt
Xóa án tích đối với người chưa thành niên phạm tội:
Đối tượng áp dụng:
Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các
trường hợp sau đây: Điều 107.1 BLHS 2015.
o Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi;
Trang 23o Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tộiphạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
o Người bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố
ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
Điều 107.2 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
o 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữhoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
o 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
o 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
o 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm
14 Trình bày khái niệm, điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ Nghĩa vụ của người bị kết án cải tạo không giam giữ.Phân biệt cải tạo không giam giữ với
án treo
a Khái niệm Điều 36, Điều 100 BLHS 2015
Cải tạo không giam giữ là hình phạt không tước đi tự do, không buộc người
bị kết án phải cách ly khỏi xã hội và giao họ cho cơ quan, tổ chức để giám sát, giáo dục trong thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm
b Điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ:
Hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổiđến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạmtội nghiêm trọng hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng,
Người phạm tội có nơi làm việc ổn định hoặc nơi thường trú rõ ràng
Xét về nhân thân xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội đối vớingười phạm tội vì thế nhân thân người phạm tội phải tốt, bản thân họ phải hướng thiệndưới sự giáo dục, giám sát của cộng đồng xã hội
c Nghĩa vụ của người bị kết án cải tạo không giam giữ
Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa
vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hằng tháng Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án
Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự
Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc
bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ
Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và khôngquá 05 ngày trong 01 tuần
Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự
Trang 241.Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia lao động, học tập, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, quy ước của thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cưnơi mình cư trú;
2.Làm bản cam kết với cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục, trong đó nêu rõ nội dung quyết tâm và hướng sửa chữa lỗi lầm của mình Bản cam kết phải có ý kiến của người được phân công trực tiếp giám sát, giáo dục (sau đây gọi là người trực tiếp giám sát, giáo dục);
3 Thực hiện nghiêm chỉnh bản cam kết của mình, phải tích cực sửa chữa lỗi lầm;
làm ăn lương thiện và tham gia các hoạt động chung tại cộng đồng nơi mình cư trú;
4 Ghi chép đầy đủ các nội dung quy định trong sổ theo dõi và nộp cho người trực tiếp giám sát, giáo dục khi hết thời hạn cải tạo không giam giữ;
5 Chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại (nếu có);
6 Hàng tháng phải báo cáo bằng văn bản với người trực tiếp giám sát, giáo dục vềtình hình rèn luyện, tu dưỡng của mình; trong trường hợp người bị kết án vắng mặt khỏi nơi cư trú trên 30 ngày, thì bản báo cáo phải có nhận xét của cảnh sát khu vực hoặc công
an xã nơi người đó đến tạm trú;
7 Ba tháng một lần phải tự kiểm điểm về kết quả thực hiện bản cam kết của mình nói tại điểm 2 Điều này trước tập thể nơi mình làm việc, học tập hoặc cư trú theo quy định tại Điều 8 của Nghị định này;
8 Khai báo và giao nộp đầy đủ phần thu nhập bị khấu trừ theo quyết định của Tòa
án cho cơ quan thi hành án dân sự Nếu không nộp đúng hạn thì phải chịu lãi suất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
9 Phải có mặt khi cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục yêu cầu;
10 Trong trường hợp người bị kết án cần đi khỏi nơi cư trú:
a) Nếu là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người lao động làm công ăn lương, thì phải xin phép Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi mình làm việc, đồng thời báo cho tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản hoặc cảnh sát khu vực,công an xã nơi mình cư trú;
b) Nếu là người đang học tập tại cơ sở giáo dục, đào tạo thì phải xin phép lãnh đạo
cơ sở giáo dục, đào tạo, đồng thời báo cho tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản hoặc cảnh sát khu vực, công an xã nơi mình cư trú;
c) Nếu là người được giao cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn giám sát, giáodục thì phải báo với người trực tiếp giám sát, giáo dục mình; trong trường hợp đi khỏi nơi
cư trú trên 30 ngày thì phải báo cáo bằng văn bản gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn giám sát, giáo dục, trong đó ghi rõ thời gian vắng mặt, nơi đến tạm trú;
d) Trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c khoản 10 Điều này, nếu người bịkết án đi khỏi nơi cư trú qua đêm thì khi đến nơi phải trình báo ngay và nộp sổ theo dõi
người bị kết án cho cảnh sát khu vực hoặc công an xã nơi đến tạm trú.
d.Phân biệt cải tạo không giam giữ và án treo
Án treo và cải tạo không giam giữ đều không cách ly người bị kết án khỏi xã hội
và giao cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương giám
Trang 25sát, giáo dục., và đều được áp dụng đối với người có việc làm ổn định và nơi cư trú rõ ràng
Án treo
Bản chất: Là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện
Điều kiện áp dụng: Khi mức phạt tù không quá 3 năm, căn cứ nhân thân của ngườiphạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt
tù thì tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến 5 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình
sự (khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự)
Nếu người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách, có nhiều tiến bộ, toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách
Nếu trong thời gian hưởng án treo mà phạm tội mới thì toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới
Nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
Hình phạt bổ sung, nghĩa vụ:
Người bị án treo bị áp dụng hình phat bố sung: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định Tước 1 số quyền công dân (Điều 41, Điều 44.2 BLHS 2015)
- Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
- Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục
-Trường hợp người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú từ 01 ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng
- Ba tháng một lần trong thời gian thử thách người được hưởng án treo phải nộp bản tự nhận xét về việc chấp hành pháp luật cho người trực tiếp giám sát, giáo dục; trường hợp đi khỏi nơi cư trú từ 03 tháng đến 06 tháng, thì phải có nhận xét của Công an cấp xã nơi người đó đến lưu trú hoặc tạm trú để trình với Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người đó
Cải tạo không giam giữ
Bản chất: Là một hình phạt chính (điểm c khoản 1 Điều 32 Bộ luật hình sự)
Điều kiện áp dụng :Từ 6 tháng đến 3 năm với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội (khoản 1 Điều 36 BLHS 2015)
Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ
Nghĩa vụ, hình phạt bổ sung: Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hằng tháng Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án
Trang 26Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa
vụ quân sự
Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ
Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và khôngquá 05 ngày trong 01 tuần
Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặcđang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người
khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự
15 Trình bày Điều kiện tha tù trước thời hạn theo quy định BLHS hiện hafnhh (xem thêm Nghị Quyết sô 01/2018/NQ – HĐTP về hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 của BLHS về tha tù truoc thoi hạn của HĐTP TANDTC).
Tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp được Tòa án áp dụng đối với
người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình
sự, xét thấy không cần buộc họ phải tiếp tục chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ
Điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đang chấp hành án phạt
tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 66 của Bộ luật Hình sự có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điềukiện sau đây:
1 Đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù
2 Phạm tội lần đầu: có thể xem xét nếu thuộc trường hợp sau đây:
a) Trước đó chưa phạm tội lần nào;
b) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự;c) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;
d) Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích
3 Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt thể hiện ở việc chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động cải tạo và phải có đủ kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên theo quy định của pháp luật về thi hành án hình
sự, cụ thể như sau:
a) Người đang chấp hành án phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạnphải có ít nhất 20 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên
b) Người đang chấp hành án phạt tù trên 20 năm đến 30 năm phải có ít nhất 16 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loạichấp hành án phạt tù từ khá trở lên
Trang 27c) Người đang chấp hành án phạt tù trên 15 năm đến 20 năm phải có ít nhất 12 quýliên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.
d) Người đang chấp hành án phạt tù trên 10 năm đến 15 năm phải có ít nhất 08 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loạichấp hành án phạt tù từ khá trở lên
đ) Người đang chấp hành án phạt tù trên 05 năm đến 10 năm phải có ít nhất 06 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loạichấp hành án phạt tù từ khá trở lên
e) Người đang chấp hành án phạt tù trên 03 năm đến 05 năm phải có ít nhất 04 quýliên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên
g) Người đang chấp hành án phạt tù từ 03 năm trở xuống phải có ít nhất 02 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên
Ví dụ: Nguyễn Văn A bị kết án 14 năm Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2018, A đãchấp hành án được 07 năm tù Để đủ điều kiện xét tha tù trước thời hạn có điều kiện (trong Quý I/2018), thì Nguyễn Văn A phải được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trởlên của 08 quý liên tục liền kề như sau: Quý I/2018; Quý I, II, III, IV/2017; Quý II, III, IV/2016
4 Có nơi cư trú rõ ràng
Nơi cư trú là nơi tạm trú hoặc thường trú theo quy định của Luật Cư trú mà người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được tha tù
Nơi cư trú rõ ràng là nơi cư trú có địa chỉ được xác định cụ thể
5 Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
a) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và án phí là đã nộp đầy
đủ các khoản tiền phạt và án phí thể hiện ở các biên lai, chứng từ hoặc có quyết định miễn chấp hành hình phạt tiền, miễn nộp án phí của Tòa án
b) Đã chấp hành xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một trong các trường hợp:
Đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo bản án, quyết định của Tòa án; có quyết định đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; có thỏa thuận bằng văn bản của bị hại hoặc đại diện hợp pháp của bị hại về việc không phải thi hành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo bản án, quyết định của Tòa án được cơ quan có thẩm quyền xác nhận
6 Đã chấp hành được ít nhất một phần hai mức phạt tù có thời hạn; ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn
a) Thời gian đã chấp hành án phạt tù là thời gian người đó bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành án phạt tù trong các cơ sở giam giữ hoặc thời gian người đó bị bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, không kể thời gian được tại ngoại, được hoãn, tạm đình chỉ và thời gian được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù
Trang 28Thời gian đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù (nếu có) được tính để trừ vào phầnthời hạn chấp hành án phạt tù còn lại.
Ví dụ: Nguyễn Văn B bị kết án 14 năm tù Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2018, Nguyễn Văn B đã chấp hành án được 07 năm tù Trong quá trình chấp hành án, B được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 01 năm, nên thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại là
06 năm
b) Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn
Người có công với cách mạng, thân nhân người có công với cách mạng được xác định theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng
Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng được xác định theo quy định của pháp luật về người khuyết tật
Việc xác định người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh hoặc kết luận của Hội đồng xác định mức
độ khuyết tật
7 Khi xét tha tù trước thời hạn có điều kiện phải xem xét thận trọng, chặt chẽ để bảo đảm việc tha tù trước thời hạn có điều kiện không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là đối với các trường hợp phạm tội về ma túy, tham nhũng, phạm tội
có tổ chức, các đối tượng chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố, chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm
Điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đang chấp hành án phạt
tù về tội phạm ít nghiêm trọng
Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 66 của Bộ luật Hình sự có thể được tha tù trước thời hạn có điều kiện khi có đủ các điều kiện được hướng dẫn tại các Khoản 2, 3, 4, 5 và
6 Điều 2 của Nghị quyết này
Điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người dưới 18 tuổi đang chấphành án phạt tù
Người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 66 của Bộ luật Hình sự có thể được tha tù trước thời hạn có điều kiện khi có đủ các điều kiện sau đây:
1 Có các điều kiện được hướng dẫn tại các Khoản 2, 3 và 4 Điều 2 của Nghị quyết này
2 Đã chấp hành được một phần ba thời hạn phạt tù
16 Trình bày Chế định Chuẩn bị phạm tội theo quy định BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017
Khái niệm: Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc
tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội
Trang 29phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.
Đối tượng: Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109,
110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299,
300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự”
Bộ luật Hình sự năm 2015 sử dụng phương pháp liệt kê các tội phạm mà người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, gồm 25 tội, đólà: Điều 108 (Tội phản bội Tổ quốc); Điều 110 (Tội gián điệp); Điều 111 (Tội xâm phạm
an ninh lãnh thổ); Điều 112 (Tội bạo loạn); Điều 113 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 114 (Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 117 (Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều
118 (Tội phá rối an ninh); Điều 119 (Tội chống phá trại giam); Điều 120 (Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chốngchính quyền nhân dân); Điều 121 (Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 123 (Tội giết người); Điều 134, (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 168 (Tội cướp tài sản); Điều 169, các khoản 2, 3 và 4 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); Điều 207 (Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả); Điều 299 (Tội khủng bố); Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố); Điều 301 (Tội bắt cóc con tin); Điều 302 (Tội cướp biển); Điều 303 (Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 324 (Tội rửa tiền)
Như vậy, ngoài 25 trường hợp đã được liệt kê thì đối với các tội phạm khác mà người phạm tội mới chuẩn bị phạm tội thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Riêng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình
sự về Tội giết người và Tội cướp tài sản ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Về lý luận, chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm, nhưng ở giai đoạn này người phạm tội chưa thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm, tức là chưa có hành vi xâm phạm đến đối tượng tác động Ví dụ A chuẩn bị dao để tìm B giết nhưng bị em của A phát hiện nên A không thực hiện hành vi giết B
Hành vi chuẩn bị phạm tội thường được thể hiện dưới các dạng sau:
Chuẩn bị kế hoạch phạm tội như: Bàn bạc, phân công trách nhiệm cho từng người,
kế hoạch tiêu thụ tài sản hay kế hoạch che giấu tội phạm… Dạng chuẩn bị phạm tội này thường xảy ra đối với những tội phạm được thực hiện có đồng phạm hoặc có tổ chức Tuy nhiên, cũng có trường hợp tội phạm chỉ do một người thực hiện vẫn có sự chuẩn bị
kế hoạch phạm tội Ví dụ A có ý định đầu độc B, tự A đã vạch ra một kế hoạch như mua thuốc độc ở đâu, bỏ thuốc độc vào nước cho B uống như thế nào, sau khi B bị trúng độc thì làm thế nào để che giấu được tội phạm
Trang 30- Thăm dò hoặc tìm địa điểm phạm tội, dạng chuẩn bị này chủ yếu đối với các tội xâm phạm sở hữu hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân Ví dụ A muốn cướp tài sản tại nhà B, nên A đã nhiều lần đến nhà B thăm dò xem quy luật sinh hoạt của gia đình ra sao để tiến hành cướp tài sản.
- Chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội như: Chuẩn bị xe máy để đi cướp tài sản, chuẩn bị dao để giết người, chuẩn bị thuốc nổ để hủy hoại tài sản, chuẩn bị xăng để đốt nhà, chuẩn bị thuốc mê để làm cho người có tài sản uống nhằm chiếm đoạt tài sản củahọ.v.v
- Loại trừ trước những trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm được thuận lợi
dễ dàng như: Cho các con đi nghỉ mát để ở nhà giết vợ được dễ dàng
Như vậy, chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo ra tiền đề (điều kiện) cần thiết cho việc thực hiện tội phạm Hành vi chuẩn bị phạm tội có một ý nghĩa rất quan trọng đến kết quả của việc thực hiện tội phạm, chuẩn bị càng chu đáo công phu bao nhiêu thì kết quả của việc thực hiện tội phạm càng đạt kết quả bấy nhiêu Tuy nhiên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội được đánh giá và phân biệt thành hai loại: Loạihành vi chuẩn bị phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và loại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mặc dù cả hai loại đều chưa gây ra hậu quả, nhưng tính chất nguy hiểm của hành vi chuẩn bị phạm tội có khác nhau và sự khác nhau đó lại không phụ thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi chuẩn bị mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm mà người đó định thực hiện
Về lý luận thì chỉ có tội phạm được thực hiện do cố ý (cố ý trực tiếp) thì mới có giai đoạn chuẩn bị phạm tội Do đó, sẽ không có hành vi chuẩn bị phạm tội mà tội phạm
đó sẽ được thực hiện do lỗi cố ý gián tiếp hoặc do lỗi vô ý
Việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội, BLHS năm 2015 cũng có nhiều sửa đổi, bổ sung như:
Nếu khoản 2 Điều 52 BLHS năm 1999 quy định: “Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định”, thì khoản 2 Điều 57 BLHS năm 2015 chỉ quy định: “Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể” Vậy muốn biết hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể thì lại phải tìm từng điều luật xem điều luật đó có quy định hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội hay không?Nếu điều luật nào có quy định trường hợp chuẩn bị phạm tội thì mới áp dụng, còn điều luật nào không quy định chuẩn bị phạm tội thì không được áp dụng
Về mức độ chịu TNHS ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội sẽ được thể hiện tại bảng dưới đây:
Độ tuổi Mức độ chịu TNHS TNHS ở giai đoạn Các tội phải chịu
chuẩn bị phạm tội
Người Hình phạt được quyết định Điều 108, 109,
Trang 31dưới 18 tuổi
Mức hình phạt cao nhất không quá 1/2 mức hình phạt được quy định
trong khung hình phạt đối với hành vichuẩn bị phạm tội trong điều luật được áp dụng
Từ đủ 14 đến
dưới 16 tuổi
Mức hình phạt cao nhất không quá 1/3 mức hình phạt được quy định
trong khung hình phạt đối với hành vichuẩn bị phạm tội trong điều luật được áp dụng
Điều 123, 168 BLHS 2015
17 Phân biệt các Giai đoạn thực hiện tội phạm quy định tại BLHS hiện hành
Nội
dung
Chuẩn bị phạm tội
Phạm tội chưa đạt
Tội phạm hoàn thành
Tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội
Khái
niệm
Giai đoạn người phạm tội tiến hành tìm kiếm công cụ phạm tội; sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội hoặc chuẩn bị những Điều kiện thuận lợi cho tội phạm quan sát địa điểm, Điều kiện liên quan xung quanh hoàn cảnh của nạn nhân
Giai đoạn
mà người phạm tội có thực hiện hành vi phạm tội, nhưng không thực hiện được đến cùng
do những cản trở khách quan
Giai đoạn hành vi phạm tội làm thỏa mãn tất cảcác dấu hiệu được nêu trongcấu thành tội phạm quy định trong luật
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
là tự mình không thực hiện tội phạmđến cùng, tuykhông có gì ngăn cản
Đặc
điểm
– Thứ nhất, CBPT tồn tại dưới dạng
“hành vi” và hành vi chuẩn bị liên quan trực tiếp đến quá trình
– Thứ nhất, người phạm tội đã trựctiếp thực hiện tộiphạm qua việc:
(i)Thực
Cần phân biệt Tội phạm hoàn thành cới Tội phạm kết thúc:
+ Tội
– Nửa chừng: tức phải xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm
Trang 32thực hiện tội phạm như: tìm kiến công cụ, phương tiện phạm tội; tạo Điều kiện cần thiết khác (nghiêncứu, xem xét địa hình nơi dự định thực hiện tội phạm, ),
– Thứ ba, nguyên nhan không thực hiện tội phạm được đến cùng là do khách quan ngoài
ý muốn (yếu tố giúp phân biệt với tự ý nửa chừng chấm dứt phạm tội)
hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm, hoặc
(ii) Thực hiện hành vi đi liền trước hành
vi khách quan.- Thứ hai, người phạm tội chưa thực hiện tội phạm đến cùng (tức chưa hành
vi của họ chưa thỏa mãn hết cácdấu hiệu về mặt khách quan trong cấu thành tội phạm (dấu hiệu phân biệt với tội phạm hoàn thành)- Thứ ba, nguyên nhân không thựchiện tội phạm đến cùng là do:
+ Khách quan ngoài ý muốn hoặc
+ Sai lầmcủa người phạm tội (về đối tượngtác động hay công cụ, phươngtiện,…) như:
bắn nhưng đạn không nổ, thuốc độc không đủ liều lượng,…
phạm hoàn thành: hành vi phạm tội thỏa mãn hết các dấu hiệu về mặt pháp lý quy định trong luật
+ Tội phạm kết thúc:
hành vi phạm tội thực sự chấm dứt trên thực tế.-> Hai thời điểm trên
có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau
tội chưa đạt
– Tự
ý, tức phải:+ Tự nguyện chấm dứt hành vi phạmtội
+ Chấm dứt một cách dứt khoát: triệt
để, từ bỏ hẳn
ý định phạm tội
Phạm
vi trách
Chỉ phải chịu TNHS đối
Người phạm tội chưa
Mọi hành vi tội
Được miễn trách
Trang 33nhiệm hình
sự
với những tội quyđịnh tại khoản 2 Điều 14 BLHS 2015
đạt phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội phạm chưa đạt (Điều 15)
phạm hoàn thành về nguyên tắc đều phải chịu TNHS
nhiệm hình
sự về tội địnhphạm (Điều 16)
Lưu ý: chỉ là
người phạm tội được miễn TNHS, tức vẫn bị coi
Nếu Điềuluật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc
tử hình thì áp dụng hình phạt
tù không quá 20 năm; nếu là tù
có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà Điều luật quy định
(khoản 3 Điều 57)
Áp dụngtheo quy định tại từng Điều luật của tội phạm cụ thể
Trang 34+ Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức
và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”.
+ Điều 2 BLHS quy định: “1 Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự 2 Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.
+ Điều 8 BLHS quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện”.
+ Điều 30 BLHS quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong
Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội”.
+ Điều 50 BLHS quy định: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự”.
Trang 35+ Điểm b khoản 2 Điều 3 quy định: “Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế”.
– Nội dung:
+ Ngành LHS với các quy định về tội phạm và các quy định về hình phạt
có giá trị như nhau đối với tất cả mọi người và pháp nhân thương mại nói chung và đặc biệt là đối với những người và pháp nhân thương mại đã có hành vi phạm tội nói riêng.
+ Ngành LHS không được phép quy định các đặc điểm về nhân thân là cơ sở
để truy cứu TNHS.
3 Nội dung cơ bản, sự thể hiện trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) & ý nghĩa của nguyên tắc nhân đạo.
d) Nguyên tắc nhân đạo
– Thể hiện ở nguyên tắc xử lý tội phạm, về các hình phạt và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội.
+ Nguyên tắc xử lý tội phạm
Điểm d Khoản 1 Điều 3 BLHS quy định: “Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra”.
Điểm d Khoản 2 Điều 3 BLHS quy định: “Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra”.
+ Các hình phạt và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội
Về mục đích của hình phạt Điều 31 BLHS quy định: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm”.
Đối với hai hình phạt nghiêm khắc nhất là hình phạt tù chung thân và tử hình, LHS đã giới hạn phạm vi áp dụng nhằm thể hiện tính nhân đạo.
Điều 39 BLHS quy định: “Không áp dụng hình phạt tù chung thân đối
Khoản 2 Điều 40 BLHS quy định: “Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.”