Do vậy, để nghiên cứu rõ hơn đối tượng giải quyết vụ án hành chính, cụ thể làquyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm dưới khía cạnh lập pháp và việc áp dụngquy định này trong thực tiễn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-o0o -BÀI TIỂU LUẬN KIỂM TRA CÁ NHÂN MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
Đề bài:
Trình bày và phân tích quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án theo Điều
228 Luật TTHC năm 2015, sửa đổi bổ sung 2019 Cho ví dụ quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính theo quy định tại Điều 229 Luật TTHC 2015, sửa đổi bổ sung 2019.
Họ và tên:
Lớp:
MSSV:
Hồ Chí Minh, năm 2022
Trang 2I Lời mở đầu
Giải quyết vụ án hành chính là một trong những hoạt động tố tụng của Tòa án.Nói đến giải quyết vụ án hành chính là nói đến một quá trình tố tụng gồm nhiềugiai đoạn trong đó thủ tục phúc thẩm vụ án là một trình tự thủ tục Tòa án thực hiệnchế độ hai cấp xét xử án hành chính, trừ trường hợp xét xử vụ án hành chính đốivới khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu
cử đại biểu Hội đồng nhân dân
Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúcthẩm trong thời hạn do Luật TTHC quy định thì có hiệu lực pháp luật; trường hợpbản án quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được giải quyếttheo thủ tục phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật
Khi chưa có Luật TTHC, giải quyết vụ án hành chính chủ yếu căn cứ vào pháplệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính Sau đó, Luật TTHC ra đời đã tạohành lang pháp lý thông thoáng hơn cho công dân thực hiện quyền khiếu kiện củamình tại Tòa án Những quy định mới trong Luật là nút gỡ khó khăn cho ngườikhởi kiện
Trong những năm gần đây, tình hình thụ lý, giải quyết vụ án hành chính ngàycàng tăng cả về số lượng và phức tạp về nội dung tranh chấp Nhìn chung, việc giảiquyết án hành chính đã đem lại hiệu quả nhất định, ổn định được tình hình chínhtrị, trật tự xã hội của từng địa phương Nhưng cũng không ít những vụ án sau khixét xử sơ thẩm người khiếu kiện không đồng ý tiếp tục kháng cáo hoặc Viện kiểmsát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, vụ án vì thế kéo dài Nhiều vụ án sau khixem xét theo thủ tục phúc thẩm phải hủy toàn bộ án sơ thẩm, giao về xét xử sơthẩm lại hoặc cải sửa một phần hoặc toàn bộ án sơ thẩm Đối tượng để giải quyết
vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm không chỉ là bản án, chưa có hiệu lựcpháp luật mà còn là quyết định như tạm đình chỉ, đình chỉ,
Do vậy, để nghiên cứu rõ hơn đối tượng giải quyết vụ án hành chính, cụ thể làquyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm dưới khía cạnh lập pháp và việc áp dụngquy định này trong thực tiễn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.Trong nhiều trường hợp, Tòa án đã thụ lý vụ án cần phải ra quyết định tạm đìnhchỉ xét xử phúc thẩm vụ án do xuất hiện những căn cứ do luật định Ngoài ra, trongquá trình xét xử phúc thẩm vụ án hành chính, có thể xuất hiện những lý do làm cho
Trang 3Tòa án không thể tiếp tục tiến hành tố tụng Bởi vì việc tiếp tục giải quyết vụ ántrong những trường hợp này có thể sẽ không đảm bảo quyền tham gia tố tụng củacác đương sự hoặc làm cho kết quả giải quyết vụ án không chính xác Trong nhữngtrường hợp như vậy, Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ
án Tuy nhiên, việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án không đúng có thể làmcho thời gian giải quyết bị kéo dài, gây thiệt hại cho quyền lợi chính đáng củađương sự Các quy định về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm nếu được quy địnhkhông hợp lý có thể dẫn tới quyền lợi hợp pháp của đương sự không được Tòa ánbảo vệ
Qua đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm
là rất cần thiết, nhằm làm sáng tỏ bản chất pháp lý của tạm đình chỉ, cơ sở khoahọc của việc xây dựng các quy định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hànhchính
Từ đó, nhằm đánh giá những hạn chế của pháp luật hiện hành, bất cập trongthực tiễn áp dụng pháp luật về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, đưa ra những kiếnnghị hoàn thiện hơn cả về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần khắc phục nhữngđiểm còn đáng lo ngại trong Luật TTHC hiện hành, mang lại hiệu quả nhất địnhtrong việc áp dụng Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm nói riêng và giảiquyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm nói chung
II NỘI DUNG PHÂN TÍCH
2.1 Phân tích tên gọi “Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm” vụ án hành chính (Điều 228 Luật TTHC)
Theo giải thích của Từ điển Tiếng việt thì “Tạm là chỉ trong một thời gian nào
đó, khi có điều kiện sẽ thay đổi” còn “Đình chỉ là ngừng lại hoặc làm cho ngừng lại trong một thời gian hoặc vĩnh viễn 1 ” Như vậy, tạm đình chỉ được hiểu là tạm
thời ngừng hoặc làm cho ngừng lại trong một thời gian nào đó, khi có điều kiện thì
sẽ tiếp tục lại
“Vụ án hành chính” là một thuật ngữ pháp lý, theo Từ điển giải thích Luật học
thì “Vụ án hành chính là vụ án phát sinh khi có cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện
yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp quy định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại và quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri của cơ quan nhà nước, người có thẩm
1 Viện ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng việt, NXB.Đà Nẵng
Trang 4quyền trong cơ quan nhà nước và được tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật”
Từ khái niệm nêu trên, nhận thấy rằng tạm đình chỉ vụ án hành chính được nhìnnhận từ nhiều góc độ khác nhau nhưng về bản chất là một khái niệm thống nhất.Qua đó, Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính là việc tạm ngừng việcxét xử phúc thẩm vụ án hành chính khi có các căn cứ do Luật tố tụng hành chínhquy định cho đến khi lý do việc tạm ngừng đó không còn
Điều này có nghĩa là đã phát sinh sự kiện pháp lý làm chấm dứt căn cứ của việctạm đình chỉ xét xử phúc thẩm Như vậy, ngay sau khi chấm dứt căn cứ của việctạm đình chỉ thì quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án đương nhiên mấthiệu lực và Tòa án phải tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục quy định mà khôngphải ra quyết định để khôi phục việc giải quyết vụ án
2.2 Căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm
Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính là việc Tòa án cấp phúc thẩmkhi có những căn cứ luật định sẽ ra quyết định tạm dừng việc giải quyết phúc thẩm
vụ án hành chính; Việc giải quyết phúc thẩm sẽ được tiếp tục khi căn cứ tạm đìnhchỉ được khắc phục Theo đó, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ ra quyết định tạm đình chỉ
xét xử phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Luật TTHC: “Tòa án cấp
phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, hậu quả của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm và tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án được thực hiện theo quy định tại Điều 141 và Điều 142 của Luật này” Như vậy, căn cứ tạm đình
chỉ xét xử phúc thẩm, hậu quả của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm được việndẫn đến căn cứ và hậu quả của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án tại Điều 141, 142Luật TTHC
Viện dẫn theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Luật TTHC thì tạm đình chỉ xét xửphúc thẩm khi xuất hiện một trong các trường hợp sau đây:
- Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ
Trang 5trường hợp đương sự là cá nhân và là một trong các đương sự đang tham gia vàoviệc giải quyết vụ án hành chính đã chết Nếu một trong các đương sự chết trongquá trình Tòa án đang giải quyết vụ án thì quá trình tố tụng có thể bị gián đoạn dochưa có chủ thể kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ Việc chưa có người thừa
kế quyền và nghĩa vụ có thể là chưa xác định được ngay người thừa kế hoặc đã xácđịnh được nhưng người thừa kế chưa thể tham gia tố tụng
Đối với đương sự là cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà chưa
có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng Yếu tố “chưa có” ởđây được hiểu là khi đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặcphá sản, quyền và nghĩa vụ của họ được phép thừa kế theo quy định của Bộ luậtdân sự về thừa kế nhưng tại thời điểm đó, Tòa án chưa xác định ngay được chủ thể
có quyền thừa kế là ai, đang ở đâu nên Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ xét xửphúc thẩm để có thời gian xác định chủ thể được thừa kế và sẽ tiếp tục giải quyết
vụ án sau khi xác định được cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng
Do vậy, khi đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc phásản mà quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ được thừa kế và cá nhân, cơ quan, tổchức thừa kế đã sẵn sàng có mặt để tiếp tục thừa kế tham gia hoạt động tố tụng thìTòa án sẽ tiến hành giải quyết vụ án mà không ra quyết định Tạm đình chỉ xét xửphúc thẩm hay Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
Ví dụ, Ngày 15/7/2019 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Tân Thành, huyện Hải
Hậu, tỉnh Nam Định đã ra ban hành Quyết định số 130/QĐ-UBND về việc đình chỉthi công xây dựng công trình, cho rằng bà A đã xây dựng chuồng trại không đúngpháp luật Sau đó, bà A có kiến nghị yêu cầu xem xét lại nhưng không được ghinhận giải quyết Do vậy, bà A đã khởi kiện ra TAND huyện Hải Hậu yêu cầu Tòa
án hủy Quyết định số 130/QĐ-UBND và đã được Tòa án này thụ lý giải quyết Bản
án sơ thẩm ra quyết định bác đơn khởi kiện của bà A vì cho rằng không có căn cứ
và giữ nguyên Quyết định số 130/QĐ-UBND Không đồng ý với bản án trên, bà Atiếp tục kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm lên TAND tỉnh Nam Định yêu cầu Tòa
án xem xét lại bản án sơ thẩm Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà
A và tiến hành thụ lý Không lâu sau, bà A bị tai nạn chết đột ngột Khi xảy ra tìnhhuống này, Tòa án nhận thấy quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà A được thừa kế
Trang 6nhưng chưa xác định được chính xác người kế thừa nên Tòa án đã ra Quyết địnhtạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án để xác định người kế thừa của bà A.
- Đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên
mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật; 3
Theo quy định của Bộ luật dân sự thì người mất năng lực hành vi dân sự khimột người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làmchủ được hành vi của mình Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quanTòa án sẽ ra Quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, Bộ luật Dân sự
triển hoàn chỉnh về thể chất, trí tuệ, tinh thần và phải chịu trách nhiệm về nhữnghành động của mình Người chưa thành niên là người chưa phát triển hoàn toànđầy đủ về thể chất, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân Trongnhững trường hợp này do đương sự không thể nhận thức và làm chủ được hành vinên họ sẽ không thể tự tham gia tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng,không thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Vì vậy, cần phải có ngườiđại diện theo pháp luật để thay mặt họ tham gia tố tụng
Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người đại diện theo pháp luật là đại diện
do pháp luật quy định hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định Cụthể, người đại diện theo pháp luật là đối với con chưa thành niên (dưới 18 tuổi) –Cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật; Đối với người giám hộ – Người giám hộ
là người đại diện theo pháp luật; Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự– Người được Tòa án chỉ định là người đại diện theo pháp luật; Đối với hộ gia đình– Chủ hộ là người đại diện theo pháp luật; Người đứng đầu pháp nhân theo quyđịnh của Điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền
Đối với Tố tụng hành chính, đương sự khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ
án hành chính họ cũng phải đáp ứng các điều kiện về độ tuổi, khả năng nhận thức
và điều khiển hành vi của mình Đây là quy định hoàn toàn hợp lý và cần thiết đểbảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho chính họ, góp phần bảo đảm sự kháchquan, công bằng và chính xác trong quá trình giải quyết vụ án Do vậy, nếu đương
4 Điều 20 Bộ luật Dân sự 2015
5 Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015
Trang 7sự đó có người đại diện mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật đó là
ai, đang ở đâu thì Tòa án căn cứ vào khoản này để ra Quyết định tạm đình chỉ xét
xử phúc thẩm vụ án hành chính
Ví dụ, do không đồng ý với bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Bình
Thạnh về việc bác yêu cầu khởi kiện của ông A và giữ nguyên Quyết định517/QĐ-XPVPHC về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nên ông A
đã kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.Sau khi được Tòa án thụ lý thì Tòa án phát hiện ông A bị mất năng lực hành vi dân
sự Do chưa xác định được người đại diện theo pháp luật của Ông Do đó, Hộiđồng xét xử phúc thẩm đã ra quyết định Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hànhchính để có thời gian xác định người đại diện theo pháp luật cho ông A
- Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể
có mặt vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt đương sự; 6
Thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định rất cụ thể tại Điều 130 Luật TTHC.Tùy thuộc vào đối tượng khiếu kiện và tính chất của từng vụ án mà có sự khácnhau nhất định Trong thời hạn cụ thể đó, Tòa án phải tiến hành các biện phápnghiệp vụ cần thiết để đưa ra định hướng giải quyết một cách chính xác, đúng đắn
để các đương sự phải có mặt tham gia phiên tòa xét xử phúc thẩm Tuy nhiên,không phải khi nào đương sự cũng đều có mặt tại phiên tòa theo đúng yêu cầu, mà
có thể do nhiều lý do khác nhau nên đương sự vắng mặt Trong trường hợp nàyTòa án phải xem xét lý do vắng mặt của đương sự có chính đáng hay không? Nếu
có lý do chính đáng thì Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ
án hành chính
Lý do chính đang được hiểu là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, đương
sự không thể lường trước được dẫn đến trường hợp đương sự không thể có mặt khiTòa án yêu cầu Vắng mặt này không phải do lỗi chủ quan của đương sự mà do trởngại khách quan, sự kiện bất khả kháng xảy ra bất ngờ làm cho đương sự khôngthể khắc phục được dẫn đến việc họ không thể tham gia vào vụ án
Rõ ràng, việc xác định lý do chính đáng có vai trò quan trọng trong việc đảmbảo vụ án được giải quyết chính xác, đúng trình tự thủ tục tố tụng, bảo vệ được
6 Điểm c Khoản 1 Điều 141 luật TTHC
Trang 8quyền tham gia tố tụng của các cá nhân, cơ quan, tổ chức Nếu họ thuộc trườnghợp xin xét xử vắng mặt hoặc đương sự vắng mặt nhưng có người đại diện theođiểm b,d khoản 2 Điều 157 Luật TTHC thì Tòa án vẫn tiếp hành xét xử vụ án hànhchính Việc pháp luật quy định Tòa án không tạm đình chỉ trong trường hợp này làphù hợp và đáp ứng yêu cầu giải quyết một cách nhanh chóng Bởi vì trong nhữngtrường hợp này mặc dù vắng mặt nhưng đương sự đã thể hiện được ý chí của mìnhtrong việc đảm bảo quyền lợi của bản thân thông qua việc đã có đơn đề nghị xét xửvắng mặt, hoặc đã có người đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họtham gia phiên tòa.
Ví dụ, ngày 04/7/2017 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã D, huyện N, tỉnh HB đã
ban hành Quyết định số 31/QĐXPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực đất đai đối với bà Nguyễn Thị T cư trú tại xã D, huyện N, tỉnh HB Khôngđồng ý với Quyết định này nên bà T đã khởi kiện ra TAND có thẩm quyền yêu cầuhủy bỏ Quyết định số 31/QĐXPVPHC Vụ việc đã được Tòa án cấp sơ thẩm giảiquyết Tại bản án sơ thẩm, Tòa án đã bác yêu cầu khởi kiện của bà T vì cho rằngyêu cầu này không có căn cứ Sau đó bà T kháng cáo lên TAND tỉnh theo thủ tụcphúc thẩm và được Tòa án chấp nhận thụ lý Sau đó, Tòa án gửi giấy triệu tập hợp
lệ nhưng Bà T vắng mặt vì lý do bệnh nặng mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xửphúc thẩm Trong trường hợp này để đảm bảo quyền tham gia tố tụng của bà A,Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính này
- Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan; 7
Một vụ án hành chính muốn giải quyết chính xác, triệt để, khách quan, đúngpháp luật nhiều khi Tòa án không phải chỉ căn cứ vào các văn bản pháp luậtchuyên ngành mà còn phải chờ đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc kếtquả giải quyết vụ án khác có liên quan
Kết quả giải quyết của các vụ án này là căn cứ, cơ sở cho việc Tòa án tiếp tụcgiải quyết vụ án hành chính đã thụ lý Khi chưa có kết quả giải quyết vụ án trên thìTòa án không thể tiếp tục giải quyết vụ án hành chính được Nếu Tòa án vẫn cứtiếp tục giải quyết vụ án thì phán quyết mà Tòa án đưa ra có thể không chính xác,thiếu căn cứ… Do đó, để đảm bảo kết quả giải quyết được chính xác, khách quan,
7 Điểm d Khoản 1 Điều 141 luật TTHC
Trang 9đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Tòa án phải ra quyết định tạmđình chỉ xét xử phúc thẩm để chờ kết quả giải quyết của các vụ án trên Ngoài ra,việc tạm đình chỉ còn giúp Tòa án có được nguồn tài liệu, chứng cứ cần thiết từ cơquan hữu quan để phục vụ cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, góp phầnbảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự một cách hiệu quả.
Ví dụ, Ông A bị Uỷ ban nhân dân huyện B, tỉnh X ra Quyết định 01 về việc thu
hồi đất Không đồng ý với quyết định trên nên ông A đã khởi kiện vụ án hànhchính ra Tòa án nhân dân huyện B và được tòa án thụ lý Sau đó Tòa án xét xử sơthẩm đã ra bản án sơ thẩm bác đơn khởi kiện của ông A và giữ nguyên Quyết định
01 này Ngay sau đó, ông A kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh X theo thủ tụcphúc thẩm để yêu cầu xét xử lại Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xửnhận thấy, Tòa án khác đang giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụngđất giữa ông A với bà C về mảnh đất bị Uỷ ban nhân dân huyện B thu hồi nêu trên.Trong trường hợp để đảm bảo việc giải quyết được chính xác thì Hội đồng xét xửphúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính để đợikết quả giải quyết vụ án dân sự do Tòa án đang có thẩm quyền giải quyết
- Cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại; cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án; 8
So với Luật TTHC 2010, đây là căn cứ tạm đình chỉ mới được Luật TTHC 2015
bổ sung Việc bổ sung này là điểm tiến bộ và rất cần thiết của Luật TTHC năm
2015 Bởi vì nhiều khi vụ án hành chính rất phức tạp, liên quan đến nhiều nộidung, nhiều đối tượng khác nhau, Tòa án cần phải căn cứ vào rất nhiều nguồn tàiliệu, chứng cứ để có thể giải quyết triệt để để đảm bảo quyền lợi của các bên trong
vụ án
Theo đó, trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Tòa án phát hiện chứng cứ của
vụ án còn thiếu, chưa chính xác và toàn diện cần giám định lại, giám định bổ sung
và cần yêu cầu cơ quan tổ chức lưu giữ quản lý tài liệu chứng cứ của vụ án cungcấp thêm các tài liệu, chứng cứ cho mình Tất cả các hoạt động này đều dẫn đếnviệc giải quyết không thể tiếp tục, bị gián đoạn và nếu Tòa án vẫn tiếp tục giải
Trang 10quyết thì vụ án khó có thể được giải quyết triệt để, chính xác, khách quan Do đó,Tòa án cần phải ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm để đợi kết quả.
Việc Luật TTHC bổ sung thêm căn cứ này rất quan trọng, góp phần giải quyếtđúng đắn, đảm bảo tính khách quan và chính xác trong các phán quyết của Tòa án
- Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản đó 9
So với các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án tại Điều 118 Luật TTHC 2010thì đây cũng là một trong các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án mới được LuậtTTHC bổ sung Tòa án có thẩm quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét sửađổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật có liên quan đến vụ án có dấu hiệu tráivới Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Do
đó, trong quá trình giải quyết vụ án mà Tòa án thực hiện quyền kiến nghị này đến
cơ quan có thẩm quyền và cần đợi kết quả các cơ quan có thẩm quyền xử lý thì Tòa
án phải tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
Mục đích nhằm giúp Tòa án cơ sở pháp lý chính xác, vững chắc để giải quyết
vụ án Nếu không đợi kết quả đó thì việc giải quyết vụ án sẽ không có kết quả hoặckhông thể giải quyết được, kết quả giải quyết vụ án thiếu chính xác, không đượcđảm bảo
Ví dụ, do không đồng ý với bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Bình
Thạnh về việc bác yêu cầu khởi kiện của ông A và giữ nguyên Quyết định517/QĐ-XPVPHC về xử phạt vi phạm hành chính trong giao thông đường bộ vì lý
do vượt quá nồng độ cồn nên ông A đã kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm lên Tòa
án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa
án xét thấy Luật Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông có dấu hiệutrái với Hiến pháp Trong trường hợp này, Thẩm phán được công giải quyết vụ án
Trang 11chính Việc quy định cụ thể các căn cứ trên là cơ sở quan trọng để Tòa án thực hiệnđúng, chính xác trách nhiệm của mình, tránh trường hợp Tòa án tùy tiện, phiếndiện chủ quan khi ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án gây ảnhhưởng đến tiến trình giải quyết cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
2.3 Hậu quả pháp lý về việc ra quyết định xét xử phúc thẩm
Hậu quả của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án được thực hiện theo quyđịnh tại Điều 142 Luật TTHC Căn cứ vào đó, thì quyết định tạm đình chỉ giảiquyết vụ án hành chính theo thủ tục phúc thẩm có các hậu quả xảy ra như sau:
- Tòa án không xóa tên vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý
mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án đó để theo dõi; 10
Vì tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm không làm chấm dứt việc giải quyết vụ án màchỉ là tạm thời dừng việc giải quyết trong một khoảng thời gian khi xuất hiện cáccăn cứ tạm đình chỉ được quy định tại điều 141 Luật TTHC 2015 cho nên Tòa ánkhông xóa tên vụ án trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú để tiện theo dõi tiến độ giảiquyết vụ án
Tuy nhiên, việc Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm không phụthuộc vào ý muốn của đương sự mà nó phụ thuộc vào việc có hay không căn cứ màLuật quy định, hơn nữa thời gian tạm đình chỉ giải quyết cũng không thể xác địnhđược bởi vì nó phụ thuộc vào việc tồn tại các căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúcthẩm Nếu căn cứ này không còn nữa thì vụ án lại được tiếp tục giải quyết
Bởi vậy, trong thực tiễn giải quyết vụ án nhiều khi vụ án hành chính bị tạm đìnhchỉ một khoảng thời gian ngắn cũng có thể là khá dài, cả Tòa án và đương sự khó
có thể biết trước khi nào vụ án sẽ được tiếp tục giải quyết
- Khi lý do tạm đình chỉ quy định tại Điều 141 của Luật này không còn thì Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án và hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án; 11
Trước đây, Luật TTHC 2010 không quy định nội dung này vào điều khoản quyđịnh về hậu quả của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính mà quy định tại
10 Khoản 1 Điều 142 Luật TTHC
11 Khoản 2 Điều 142 Luật TTHC