Báo cáo thực tập:Đánh giá hiệu quả của công việc cải tạo hệ thống thu gom nước thải và nước mưa vào lòng hè của Thành phố Hà Đông
Trang 1Theo quy hoạch phát triển đô thị đến 2010 tỷ lệ dân số đô thị sẽ đạt 56 – 60% và đến năm 2020 sẽ là 80% Quá trình đô thị hóa đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng nâng cao đời sống của người dân, giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội Bên cạnh đó những tác động tiêu cực của vấn
đề đô thị hóa đến môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng đòi hỏi cần có
sự giải quyết một cách hài hòa giữa phát triển kinh tế đô thị và giải quyết các vấn đề môi trường
Thành Phố Hà Đông nằm ở phía tây nam Hà Nội với mục tiêu phát triển thành đô thị xanh – sạch – Đẹp và đến 2020 sẽ trở thành Thành Phố tiêu chuẩn thì việc giải quyết các vấn đề môi trường đô thị càng trở nên bức thiết hơn
Do tốc độ phát triển đô thị tại Thành Phố Hà Đông phát triển quá nhanh
cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, sinh hoạt gia tăng với tốc độ nhanh chóng trong khi đó tình trạng các công trình công cộng ngày càng xuống cấp Đến năm 2003 Thành Phố liên tục phải chịu cảnh ngập úng vào mùa mưa, mùa khô thì lại phải chịu cảnh mùi hôi thối bốc lên từ hệ thống cống cũ đã được xây dựng từ rất lâu và xuống cấp nghiêm trọng
Trước tình hình đó Thành Phố Hà Đông đã quyết định thực hiện việc cải tạo hệ thống thu gom nước thải và nước mưa trên toàn Thành Phố nhằm khắc phục tình trạng trên phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2020 trở thành
Trang 2một Thành Phố tiêu chuẩn.
Chính vì vậy nên em chọn đề tài “ Đánh giá hiệu quả của việc cải tạo
hệ thống thu gom nước thải và nước mưa vào lòng hè của Thành Phố Hà Đông” để thực hiện chuyên đề tốt nghiệp
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : hệ thống cống thoát nước thải và nước mưa của
Thành Phố Hà Đông
Phạm vi nghiên cứu : Tiến hành nghiên cứu hệ thống thoát nước thải và nước
mưa trong nội thị Thành Phố Hà Đông
Mục tiêu nghiên cứu: nhằm tính toán những lợi ích mang lại cho Thành Phố
Hà Đông do tiết kiệm được các chi phí duy tu, nạo vét vận chuyển…
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thoát nước Thành Phố
Phương pháp nghiên cứu :
Tiến hành phân tích chi phí lợi ích do dự án mang lại
Sử dụng các chỉ tiêu kinh tế nhằm đánh giá hiệu quả của dự án
Xem xét các lợi ích do dự án mang lại trên cả ba mặt kinh tế – xã hội – môi trường
Kết cấu chuyên đề bao gồm ba phần
Phần I – Lời Mở Đầu
Phần II – Nội dung
Chương I – Cơ sở lý luận chung
Chương II – Tổng quan về các mô hình thoát nước đô thị ở Việt Nam
Chương III – Phân tích thực trạng hệ thống thoát nước Thành Phố Hà ĐôngChương IV – Phân tích hiệu quả dự án thu gom nước thải và nước mưa của Thành Phố Hà Đông
Phần III – Kiến nghị và giải pháp
Kết luận
Trang 3Chương I - CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Mối quan hệ giữa phát triển và các vấn đề môi trường
Hiện nay khi kinh tế càng phát triển thì đi kèm với nó là những vấn đề môi trường cũng ngày càng gia tăng Bên cạnh những lợi ích do phát triển kinh tế thì các vấn đề môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng và sức ép của phát triển kinh tế - xã hội lên môi trường ngày càng gia tăng
Nguyên nhân bắt nguồn từ nhiều vấn đề cụ thể:
1.1.1 Sự gia tăng về quy mô dân số
Quy mô dân số Việt Nam rất lớn đứng thứ ba Đông Nam Á, thứ 14 trên thế giới và là một trong những nước có mật độ dân số cao trên thế giới Trong hơn một thập kỉ trước đây ta đã khống chế được tốc độ gia tăng dân số quá nhanh Tuy nhiên từ sau năm 2000 đến nay tốc độ này lại có chiều hướng gia tăng, đặc biệt tình trạng sinh con thứ ba tăng mạnh ở các địa phương
Nguy cơ tái bùng nổ dân số đang đe doạ sự phát triển bền vững của đất nước Dân số cả nước đến nay là hơn 82 triệu dân và hàng năm liên tục tăng mỗi năm thêm khoảng 1 triệu người Đây cũng là một áp lực rất lớn đối với
Trang 4những nỗ lực giải quyết việc làm, cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản, phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường.
Việc phân bổ dân số là yếu tố quan trọng của phát triển Theo số liệu điều tra về biến động của dân số và kế hoạch hoá gia đình 1/4/2004, dân số phân bố không đều và có sự khác biệt rất lớn theo vùng địa lý kinh tế cụ thể:
Đồng bằng sông hồng và đồng bằng Sông Cửu Long là hai châu thổ sông lớn, nơi có đất đai màu mỡ và điều kiện canh tác thuận lợi chỉ chiếm 17% đất đai nhưng lại có dân số sinh sống chiếm 43% dân số cả nước Trong khi đó Tây Bắc và tây nguyên có diện tích đất chiếm đến 27% nhưng chỉ có 8.7% dân số sinh sống Chính vì vậy hiện tượng di dân tự do từ đồng bằng lên miền núi,từ vùng núi phía bắc vào phía nam và từ nông thôn vào Thành Phố vẫn đang diễn ra rất mạnh và rất khó có thể kiểm soát được
Bên cạnh đó quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ điều này sẽ làm cho dân số sinh sống ở các vùng nông thôn giảm cùng với đó là việc dân số thành thị tăng lên rất nhanh theo thống kê của Liên Hợp Quốc thì dân số sống ở nông thôn trên toàn thế giới sẽ giảm xuống còn 2.8 tỉ người vào năm 2050 so với 3.4 tỉ người trong năm 2007 Tại Việt Nam quá trình đô thị hoá cũng tuân theo quy luật của thế giới năm 1990 cả nước mới có 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã tăng lên 649 đô thị và năm 2003 là 656 đô thị Tỷ lệ dân số đô thị hiện nay dưới 40% theo quy hoạch phát triển đến năm 2010, tỷ lệ đó sẽ đạt
56 – 60%, đến năm 2020 là 80%
Đô thị hoá với tốc độ nhanh cũng gây ra những vấn đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằng sinh thái tài nguyên đất bị khai thác triệt để nhằm mục đích xây dựng đô thị, làm giảm diện tích cây xanh và mặt nước, gây ngập úng, cùng với nhu cầu sử dụng nước phục vụ sinh hoạt, dịch
vụ, sản xuất ngày càng tăng làm suy thoái nguồn tài nguyên nước nhiều nhà máy, xí nghiệp gây ô nhiễm môi trường lớn trước đây nằm ở ngoại thành nay
Trang 5đã lọt vào giữa các khu dân cư đông đúc, mở rộng không gian đô thị dẫn đến chiếm dụng đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến vấn đề an toàn lương thực quốc gia và đến đời sống của nhân dân ngoại thành; Sản xuất công nghiệp phát triển mạnh làm phát sinh một lượng chất thải rất lớn trong đó chất thải nguy hại ngày càng ra tăng, bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn nghiêm trọng, đô thị hoá làm tăng dòng người di dân từ nông thôn ra thành thị gây ra nhiều áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường đô thị.
1.1.2 Công nghiệp,xây dựng và giao thông vận tải
Trong hơn một thập kỷ qua, nền kinh tế nước ta lien tục đạt mức tăng trưởng cao (6-8%) đã tạo nhiều thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm và thu hẹp khoảng cách kinh tế với các nước trong khu vực Tuy nhiên do quá trình tăng trưởng kinh
tế còn dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên nên đã gây sức ép rất lớn lên môi trường
Năm 2004 nghành công nghiệp và xây dựng vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao, xấp xỉ 16% Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ 39.9% năm 2003 lên 40.1% năm 2004 Các nghành công nghiệp chế biến và sản xuất hàng xuất khẩu đang được chú ý phát triển cụ thể ở một
số nghành như: Cơ khí chế tạo máy, điện tử, may mặc, giày dép, chế biến thực phẩm, thủy sản… Tuy nhiên các sản phẩm trên đây tiêu thụ nhiều năng lượng, nguyên liệu và quá trình sản xuất thường gây ô nhiễm môi trường ở mức độ cao
Đồng thời nhiều khu công nghiệp tập trung được phát triển rất nhanh Năm 2002 có 80 khu và năm 2005 đã có trên 120 khu công nghiệp phân bố chủ yếu ở các vùng đông nam bộ, Đồng bằng Sông Hồng và ven biển miền Trung Phát triển công nghiệp tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân
Trang 6đồng thời nâng cao chất lượng của các sản phẩm trong nước nhưng bên cạnh
đó thì vấn đề ô nhiễm môi trường công nghiệp cũng ngày càng gia tăng và trở nên đáng báo động nguyên nhân gây ra tình trạng này là do việc quy hoạch các khu công nghiệp vẫn chưa thực sự hợp lý, hành lang pháp lý quy định cho vấn đề này chưa được hoàn thiện và chưa được quan tâm đầu tư đúng mức.Kinh tế phát triển kéo theo các nghành phát triển như Xây dựng, giao thông vận tải đây cũng là những ngành gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
1.1.3 Nông nghiệp
Với đặc thù nền kinh tế Việt Nam đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu đến nay khi kinh tế phát triển với tốc độ khá cao thì vẫn có khoảng 74% dân số sống ở nông thôn Sản xuất nông nghiệp cung cấp việc làm cho 60% lực lượng lao động, đóng góp khoảng 24%GDP và gần 30% giá trị hàng hóa xuất khẩu Mặt khác hoạt động nông nghiệp cũng gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường do việc sử dụng phân bón hóa học của nông dân ngày càng nhiều và không tuân thủ theo các yêu cầu kỹ thuật canh tác đang diễn ra khá phổ biến theo thống kê của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thì năm 2005 tỷ lệ sử dụng phân hóa học trong nông nghiệp tăng so với năm 1995 được biểu diễn như sau:
Hình 1.2 - Tỷ lệ tăng lượng phân bón vô cơ (N,P2O5,K2O) và sản lượng một
số loại cây trồng qua các năm ( tỷ lệ tăng so với năm 1995)
Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn - 2005
Trang 7Tỷ lệ gia tăng lượng phân bón làm cho đất canh tác bị thoái hóa chất lượng đất giảm sút gây ra năng suất cây trồng giảm sút đồng thời nguồn nước mặt và nước ngầm những nơi sử dụng bị ô nhiễm nghiêm trọng.
1.1.4 Đô thị hóa không cân đối
Trong những năm gần đây cùng với những chuyển biến tích cực về mặt kinh tế - xã hội, mạng lưới đô thị quốc gia cũng được mở rộng và phát triển
Từ năm 1999 đến 2004 cả nước ta đã có khoảng 200 đô thị Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ nhất ở cả 3 vùng trọng điểm là Bắc – Trung – Nam và ở các vùng duyên hải kể cả ở các đảo lớn như Phú Quốc, Côn Đảo, Vân Đồn, Cát Bà… Tăng trưởng trung bình của các đô thị ở nước ta là khoảng 12 – 15% Thu nhập đầu người tăng nhanh, tại các đô thị lớn đạt khoảng 1.000USD/năm Hệ thống đô thị thực sự đóng vai trò hạt nhân trong quá trình phát triển kinh tế tuy nhiên quá trình này cũng đã có tác động không nhỏ đến môi trường Không gian đô thị cũng được mở rộng đáng kể, tài nguyên đất đô thị đang được khai thác triệt để nhằm xây dựng các công trình làm cho diện tích cây xanh và mặt nước giảm gây ra ngập úng trong các đô thị Nhu cầu nước phục vụ sinh hoạt, dịch vụ, sản xuất ở đô thị ngày càng tăng làm suy giảm nguồn tài nguyên nước và vấn đề nước thải, rác thải đô thị trở thành một bài toán chưa có lời giải cuối cùng
Trang 8
1.1.5 Mặt trái của hội nhập kinh tế
Nền kinh tế nước ta đã và đang hội nhập một cách sâu rộng và hiệu quả với nền kinh tế khu vực và trên thế giới: Thiết lập quan hệ thương mại với gần 160 nước và vùng lãnh thổ; thu hút FDI từ các đối tác của gần 70 nước và vùng lãnh thổ tranh thủ ODA của 45 nước và các định chế tài chính quốc tế;
Ký 90 hiệp định thương mại song phương; 46 hiệp định khuyến khích và bảo
hộ đầu tư; 40 hiệp định chống đánh thuế hai lần
Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế, thương mại khu vực
và quốc tế như Hiệp Hội các nước đông nam Á (ASEAN); Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương (APEC); Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB) và đến hiện nay thì Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại Thế Giới (WTO)
Quá trình hội nhập đã mang lại những thành tựu to lớn cho đất nước ta Hội nhập kinh tế góp phần giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, công ăn việc làm, bảo vệ môi trường, Củng cố an ninh quốc phòng
Bên cạnh đó quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng bộc lộ những khuyết điểm hết sức to lớn đặc biệt là đối với vấn đề môi trường cụ thể:
Hình 1.3 – sự thay đổi diện tích đất đô thị so với diện tích đất tự
nhiên qua các năm
Nguồn: Niên giám thống kê 2004
Trang 9Thứ nhất : Hội nhập kinh tế quốc tế gia tăng nguy cơ gây ô nhiễm môi
trường từ bên ngoài ( Ô nhiễm môi trường xuyên quốc gia ) Nếu không được kiểm soát một cách chặt chẽ thì các nước kém phát triển và đang phát triển sẽ trở thành bãi rác cho các nước phát triển gây ra những tác động to lớn đến môi trường
Thứ hai : Việc mở rộng thương mại quốc tế của Việt Nam hiện nay có
nguy cơ làm tăng suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên Vì hiện nay các hàng hóa xuất khẩu của nước ta vẫn dựa chủ yếu vào khai thác các loại tài nguyên đặc biệt là các tài nguyên không thể tái tạo
Thứ ba : Gia tăng các quy định môi trường trong thương mại quốc tế sẽ
là áp lực lớn đối với nước ta, một nước đang có những lợi thế về xuất khẩu các mặt hàng nhạy cảm về môi trường như nông sản, thủy sản nhưng lại bị hạn chế về thông tin, trình độ công nghệ, kinh nghiệm giải quyết tranh chấp
về môi trường
Thứ tư: Tự do hóa thương mại thúc đẩy sự phát triển của nhiều loại hình dịch vụ kể cả các loại hình có thể gây ra ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường như hệ thống chợ, hệ thống dịch vụ ăn uống, các điểm giết mổ, các cơ sở sản xuất và chế biến, hệ thống kho thương mại, vận tải hàng hóa 1.2 Tính cấp bách của đề tài
Hiện Nay Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, các đô thị Việt Nam đang được mở rộng và xây mới để đáp ứng yêu cầu về không gian sống làm việc và nghỉ ngơi của người dân đất nước càng phát triển thì hệ thống hạ tầng kĩ thuật ở đô thị càng có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của người dân cũng như các nghành công nghiệp và quan hệ lưu thông nội, ngoại đô Quy hoạch phát triển không gian đô thị chỉ được thực hiện có hiệu quả khi hạ tầng kĩ thuật được xây dựng,quản lý và bảo dưỡng một cách đồng bộ đúng quy chuẩn Tuy nhiên hiện nay tại Việt Nam
Trang 10vẫn chưa có những hệ thống thiết kế và nghiên cứu chi tiết về thực trạng chất lượng cũng như khả năng phục vụ của hệ thống hạ tầng kĩ thuật đô thị do nhiều nguyên nhân như: Thiếu kinh phí, chủ quan coi thường của các cấp chủ quản, thiếu tài liệu và thông tin cần thiết… Điều này làm cho việc quản lý và bảo dưỡng cũng như hoạch định phát triển tương lai cho hệ thống hạ tầng kĩ thuật khó khăn hơn hoặc không hiệu quả Để khắc phục tình trạng này cần nghiên cứu chi tiết và thống kê lại chất lượng của hệ thống hạ tầng kĩ thuật tại các đô thị Việt Nam Qua đó tìm ra các hạn chế của hệ thống tầng đang có và đưa ra các đề xuất về quản lý, bảo dưỡng và làm mới, nhằm đáp ứng được các yêu cầu của đô thị hiện đại.
Trong những năm gần đây nước ta đã phát triển với tốc độ tương đối mạnh tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng hơn 7% Song song với những mục tiêu tăng trưởng kinh tế thì tốc độ đô thị hóa ở nước ta cũng diễn ra mạnh
mẽ thu nhập của người dân được nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện Cùng với những mặt tích cực của quá trình đô thị hoá và phát triển kinh tế đó cũng còn tồn tại những vấn đề tiêu cực chưa được giải quyết như còn tồn tại một số các tệ nạn xã hội hay như vấn đề môi trường còn nhiều bất cập chưa được giải quyết đặc biệt với mục tiêu phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước thì cơ sở hạ tầng ở các khu đô thị mặc dù đã được quan tâm đầu tư nhiều hệ thống mới, việc cải tạo và phát triển khá nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu sống và làm việc của người dân tuy nhiên hệ thống hạ tầng kĩ thuật đô thị vẫn còn thiếu và yếu các công trình này xuống cấp nghiêm trọng và không thể đáp ứng được nhu cầu của cư dân đô thị cụ thể theo thống kê của những nghiên cứu gần đây cho thấy thực trạng hạ tầng kĩ thuật đặc biệt là hệ thống công ích thì đang thiếu nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng được thể hiện trong nghiên như sau:
Trang 11STT Loại hạ tầng đô thị Đáp ứng Thiếu hụt Nguồn
1 Hệ thống thu nhận rác thải 82.5% 17.5% JICA,2002
xây dựng
xây dựng
5 Hệ thống giao thông nội thị
Website bộ xây dựng
6 CV cây xanh & khoảng
không
dự đoán
Bảng 1.1: Số liệu thống kê sự thiếu hụt của hệ thống hạ tầng kĩ thuật đô thị
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị còn thiếu hụt rất nhiều tại các đô thị và các khu dân cư tập trung nơi có nhu cầu sử dụng cao các hạ tầng thiết yếu như bảng 1 đã liệt kê điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng môi trường sống như: Thiếu nước sạch, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông… nguyên nhân có nhiều nhưng tập trung vào một số điểm như : Suất đầu tư xây dựng mới hạn chế, chất lượng cải tạo thấp, quản lý lỏng lẻo, không chú ý duy tu bảo dưỡng, nhu cầu của người dân tăng quá nhanh…Ngoài ra còn có nguyên nhân từ sự không thống nhất giữa quy hoạch tổng thể, kế hoạch xây dựng cơ bản, kêu gọi đầu tư, vận hành, khai thác và sử dụng Bên cạnh đó chất lượng của các hệ thống còn nhiều yếu kém đặc biệt là tại các khu đô thị cũ thường
có chất lượng rất thấp và không đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân như hệ thống thoát nước thải sinh hoạt và nước mưa vào mùa mưa hoạt động không hiệu quả gây ra ứ đọng nước bẩn, lụt lội xảy ra trong nội thị và đây là các ổ phát sinh dịch bệnh
Những sự yếu kém này xuất phát từ ý thức của con người và do những
dự án triển khai xây dựng không đồng bộ gây ra làm ảnh hưởng đến chất
Trang 12lượng môi trường sống của người dân Cần có những giải pháp nhanh chóng nhằm khắc phục tình trạng trên.
Thành Phố Hà Đông có vị trí hết sức quan trọng là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội là trung tâm văn hoá chính trị của tỉnh Hà Tây Nằm bên bờ Sông Nhuệ cửa ngõ phía tây cách trung tâm Hà Nội 11km, là nơi tập trung các cơ quan hành chính và trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục, thể thao của Tỉnh Hà Tây Trong công cuộc đổi mới CNH – HĐH đất nước, Thành Phố Hà Đông đã có sự đầu tư phát triển đúng hướng theo tinh thần nghị quyết đại hội đảng bộ Thành Phố Hà Đông lần thứ 18 và nghị quyết số 10 NQ/TU của ban thường vụ tỉnh uỷ
Hà Tây về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành Phố Hà Đông đến năm
2010 và những năm tiếp theo trong đó trọng tâm phát triển đô thị và dịch vụ thương mại kết hợp phát triển công nghiệp – nông nghiệp với cơ cấu phù hợp
Trong môi trường phát triển đất nước hội nhập WTO để Thành Phố Hà Đông phát huy hết lợi thế của tỉnh nằm liền kề thủ đô Hà Nội và để Hà Tây trở thành vùng kinh tế trọng điểm của các tỉnh phía bắc với những cơ hội đầu
tư thuận lợi do hiệu ứng từ cú huých của công tác cải cách, sửa đổi các thủ tục hành chính về đầu tư của các tỉnh và các sở, ban, ngành lãnh đạo tỉnh
Thành Phố Hà Đông đã thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài và mạnh dạn thực hiện các dự án trong thời gian qua trong đó có các dự
án trọng điểm tất cả các dự án cần thu hồi 684ha đất với tổng số tiền bồi thường để giải phóng mặt bằng là hơn 1800 tỷ đồng và số tiền đầu tư xây dựng còn gấp nhiều lần.Với sự chú trọng đầu tư từ các nguồn vốn trong nước
và nước ngoài như hiện nay Thành Phố Hà Đông đang từng bước chuyển mình quyết tâm trở thành Thành Phố tiêu chuẩn quốc gia
Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều bất cập chưa được giải quyết triệt để đặc biệt là vấn đề môi trường của Thành Phố Hà Đông đang trong giai đoạn hoàn thiện nên cần được giải quyết triệt để nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 13cho người dân Thành Phố và phát huy hết tiềm năng của một Thành Phố thủ phủ của tỉnh Hà Tây Một trong những vấn đề môi trường nổi cộm của Thành Phố Hà Đông là vấn đề nước thải và thoát nước thải đã được Thành Phố quan tâm và đầu tư giải quyêt.
Do hệ thống thoát nước thải được xây dựng từ rất lâu nên hầu hết các hệ thống cống thoát nước của Thành Phố không đạt tiêu chuẩn và không đáp ứng được nhu cầu của người dân Thành Phố và không đáp ứng được nhu cầu tiêu thoát nước vào mùa mưa gây ra những tình trạng như ô nhiễm môi trường, dịch bệnh bùng phát, ngập lụt trong đô thị… Chính những vấn đề này đặt ra một bài toán cần được giải quyết đó là làm thế nào để khắc phục tình trạng trên
Sau rất nhiều nghiên cứu thực tế ở nhiều nơi Th.S Nguyễn Thị Kim Sơn – Phó Phòng tài nguyên môi trường Thành Phố Hà Đông đã nghiên cứu
và thiết kế hệ thống thu gom nước thải và nước mưa vào lòng hè cho hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường cao được lãnh đạo tỉnh Hà Tây chấp thuận và đưa vào thực hiện
CHƯƠNG II - TỔNG QUAN VỀ CÁC MÔ HÌNH THOÁT NƯỚC
ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM
Trang 14Hệ thống thoát nước đô thị là công trình phục vụ sinh hoạt của nhân dân Thành Phố và sản xuất công nghiệp Đặc điểm của hệ thống thoát nước là công trình nằm dười mặt đất, việc cải tạo mở rộng hệ thống thoát nước gặp nhiều khó khăn và tốn kém.
Hệ thống thoát nước là một tập hợp bao gồm những dụng cụ, đường ống và các công trình thực hiện ba chức năng: Thu, vận chuyển và xử lý nước thải trước khi thải ra sông hồ
2.1 Nhiệm vụ của hệ thống thoát nước
Hoạt động hàng ngày của con người tạo ra nhiều nguồn ô nhiễm có đặc tính khác nhau Những nguồn ô nhiễm có đặc tính khác nhau Những nguồn ô nhiễm đó bao gồm các chất thải sinh lý của con người, động vật nuôi
và chất thải của quá trình sản xuất theo nước thải xả vào môi trường bên ngoài
Nước sạch sau khi sử dụng vào mục đích sinh hoạt, sản xuất, nước mưa chảy trên các mái nhà, mặt đường, sân vườn trở thành nước thải chứa nhiều hợp chất vô cơ, hữu cơ dễ bị phân huỷ thối giữa và chứa nhiều vi trùng gây bệnh Nếu những loại nước thải này xả một cách bừa bãi sẽ gây ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí đồng thời nó cũng trở thành nguồn phát sinh gây nhiều loại bệnh nguy hiểm ảnh hưởng tới sức khoẻ của người dân Mặt khác nếu nước thải không được thu gom, vận chuyển nhanh chóng mọi loại nước thải ra khỏi khu vực dân cư, xí nghiệp công nghiệp đồng thời xử lý và khử trùng đạt yêu cầu vệ sinh trước khi thải vào nguồn tiếp nhận
2.2 Các bộ phận của hệ thống thoát nước
Hệ thống thoát nước bao gồm các bộ phận:
2.2.1 Ống thoát nước
Đường ống thoát nước đường phố đặt dọc theo các đường phố thu nước
từ ống thoát nước tiểu khu hay ống thoát nước ngoài sân nhà, xí nghiệp công
Trang 15nghiệp, trường học, bệnh viện, cửa hàng…
Đường ống thoát nước đường phố là phần đầu của mạng lưới thoát nước có rất nhiều nhánh mở rộng khắp Thành Phố chiếm phần lớn trong tổng số chiều dài của cả mạng lưới thoát nước.Trong những nhánh này nước tự chảy theo độ dốc Muốn đạt được như vậy ta chia địa phận khu dân cư thành những lưu vực thoát nước,giới hạn các khu vực là đường phân thuỷ Ống thoát nước đường phố đặt từ đường phân thuỷ đến phía trũng của lưu vực thoát nước
Ống góp lưu vực đặt dọc theo triền đất thếp thu nước từ nhiều ống thoát nước đường phố trong phạm vi lưu vực
Ống góp chính thu nước từ hai ống góp lưu vực trở lên
Ống chuyển đưa nước ra khỏi Thành Phố đến trạm bơm hay có công trình làm sạch trong suốt đường ống chuyển lưu lượng nước thoát sẽ không thay đổi
Trên mạng lưới đường ống chỗ ngoặt, chỗ nối nhánh … xây dựng Những giếng thăm để kiểm tra, tẩy rửa và thông cống khi cống bị tắc.Trên đây là những bộ phận những đường ống trong đó nước tự chảy do tác động của trọng lực không cần áp lực Trong thực tế không phải bao giờ việc vận chuyển nước thải bằng cơ chế tự chảy cũng diễn ra một cách dễ dàng đặc biệt là những khu vực có địa hình bằng phẳng độ dốc thấp hoặc đường ống tự chảy gặp gò cao Gặp những trường hợp ấy ta phải sử dụng bơm để đưa nước lên cao
2.2.2 Trạm bơm nước
Hệ thống trạm bơm nước với nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp động lực nhằm đưa nước từ những chỗ trũng lên những chỗ cao giúp cho việc thoát
Trang 16nước diễn ra một cách hiệu quả và nhanh chóng khắc phục tình trạng ứ tắc nước thải gây ngập úng, Trạm bơm nước thải bao gồm:
Các trạm bơm cục bộ, trạm bơm vận chuyển, trạm bơm khu vực và trạm bơm chính Các trạm bơm được đặt ở những chỗ thấp và có điều kiện để
Ở các trạm bơm để đề phòng sự cố cho bơm phải đặt ống xả nước từ cuối ống tự chẩy ra sông hồ hay nơi đất thấp gần đấy, đoạn này gọi
là ống xả sự cố
2.2.3 Giếng thu nước
Trên mạng lưới thoát nước mưa có giếng thu nước mưa trên mạng lưới thoát nước riêng còn có giếng thải nước mưa Việc làm sạch nước thoát tiến hành trong trạm làm sạch Đây cũng là một tập hợp các công trình và có thể chia chúng thành ba nhóm sau đây:
Các công trình làm sạch cơ học
Các công trình làm sạch sinh học
Các công trình xử lý cặn bùn
2.2.4 Các công trình khử trùng nước & Công trình thải nước ra sông
Đây là các công trình thực hiện công đoạn cuối cùng của việc thoát nước bao gồm:
Hệ thống khử trùng nước thải
Hệ thống thải nước ra sông
Trang 172.3 Các loại hình hệ thống thoát nước
Hệ thống thoát nước là tổ hợp của những công trình, những thiết bị và các giải pháp kĩ thuật được tính toán và tổ chức nhằm thực hiện nhiệm vụ thoát nước một cách hiệu quả nhất Tuy nhiên tuỳ thuộc vào phương thức thu gom, vận chuyển, mục đích yêu cầu xử lý và sử dụng nước thải mà người ta phân loại thành các hình thức sau:
2.3.1 Hệ thống thoát nước chung
Hệ thống thoát nước chung là hệ thống trong đó tất cả các loại nước thải (nước mưa, nước thải sinh hoạt,nước thải sản xuất…)được dẫn, vận chuyển trong cùng một mạng lưới cống tới trãmử lý hoặc xả ra nguồn tiếp nhận
Ưu điểm:
Đảm bảo tốt nhất về phương diện vệ sinh vì toàn bộ phần nước bẩn đều được xử lý trước khi được xả vào phần tiếp nhận (nếu có trạm xử lý)
Đạt giá trị kinh tế đối với mạng lưới thoát nước các nhà cao tầng vì khi
có tổng chiều dài của mạng lưới tiểu khu phố giảm được 30% đến 40% so với
hệ thống thoát nước riêng hoàn toàn, chi phí quản lý và chi phí xây dựng hệ thống giảm từ 20 – 25%
Khuyết điểm:
Đối với khu vực xây nhà thấp tầng, hệ thống chung có nhiều khuyết điểm chế độ thuỷ lực làm việc của hệ thống không ổn định: mùc mưa nước chảy đầy cống có thể gây ngậplụt nhưng mùa khô chỉ có nước thải sinh hoạt
và nước thải sản xuất ( lưu lượng nhỏ hơn nhiều lần so với nước mưa) thì độ dày và tốc độ dòng chảy nhỏ không đảm bảo điều kiện kĩ thuật gây nên lắng đọng cặn làm giảm khả năng chuyển tải do đó phải tăng số lần nạo vét, thau rửa cống Ngoài ra do nước thải chẩy tới trạm bơm và trạm xử lý không điều hoà về lưu lượng, chất lượng nên công tác điều phối trạm bơm và trạm xử lý
Trang 18không điều hoà về lưu lượng, chất lượng nên công tác điều phối trạm bơm và trạm xử lý trở nên phức tạp, khó đạt hiệu quả như mong muốn Chi phí bảo dưỡng cao
Phạm vi áp dụng:
Phù hợp với giai đoạn đầu xây dựng của hệ thống riêng
Phù hợp với những đô thị hoặc những khu vực đô thị xây dựng nhà cao tầng:
Bên cạnh có nguồn tiếp nhận lớn cho phép xae nước thải vào với mức độ yêu cầu sử lý thấp
Điều kiện địa hình thuận lợi cho thoát nước hạn chế được số lượng trạm bơm và áp lực bơm
Cường độ mưa nhỏ
2.3.2 Hệ thống thoát nước riêng
Hệ thống thoát nước riêng là hệ thống có hai hay nhiều mạng lưới: Một mạng lưới dùng để vận chuyển nước thải bẩn ( nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất ) trước khi xả vào nguồn tiếp nhận phải qua xử lý, một mạng lưới khác dùng để vận chuyển nước thải được quy định là nước sạch (nước mưa)
có thể xả thẳng vào nguồn tiếp nhận Nước thải sản xuất có thể được vận chuyển chung với nước thải sinh hoạt nếu nước thải sản xuất có chứa những chất bẩn tương tự như với nước thải sinh hoạt Nếu nước thải sản xuất có chứa các chất khác với các chất có trong nước thải sinh hoạt thì nhất thiết phải được vận chuyển bằng một mạng lưới riêng biệt Trường hợp mỗi loại nước thải được vận chuyển trong hệ thống thoát nước riêng gọi là hệ thống riêng hoàn toàn
Khi chỉ có hệ thống cống ngầm để vận chuyển nước thải sinh hoạt và nước thải bẩn sản xuất còn nước thải sản xuất quy ước nước sạch và nước mưa được vận chuyển lộ thiên đổ trực tiếp vào nguồn tiếp nhận gọi là hệ
Trang 19thống riêng không hoàn toàn Hệ thống này thường được dùng ở giai đoạn trung gian trong quá trình xây dựng hệ thống riêng hoàn toàn.
Ưu điểm:
So với hệ thống thoát nước chung thì có lợi hơn về mặt quản lý và mặt xây dựng
Chế độ làm việc thuỷ lực của hệ thống tương đối ổn định
Công tác quản lý duy trì hiệu quả
Nhược điểm:
Xét về phương diện lý thuyết thì vệ sinh kém hơn so với những hệ thống khác vì phần chất bẩn trong nước mưa không được xử lý trực tiếp mà xả trực tiếp vào nguồn tiếp nhận nhất là giai đoạn đầu của mùa mưa hoặc thời gian đầu của các trận mưa lớn, khi công suất của nguồn tăng lên không đáng kể điều kiện pha loãng kém, dễ làm cho nguồn bị quá tải boẻi chất bẩn
Trong đô thị cùng một lúc có nhiều hệ thống công trình tồn tại
Giá thành xây dựng và quản lý cao
Phạm vi áp dụng:
Hệ thống riêng hoàn toàn phù hợp cho những đô thị lớn, xây dựng tiện nghi và cho các xí nghiệp công nghiệp:
Có khả năng xả toàn bộ lượng nước mưa vào nguồn tiếp nhận
Điều kiện địa hình không thuận lợi đòi hỏi phải xây dựng nhiều trạm bơm khu vực
Cường độ nước mưa lớn
2.3.3 Hệ thống thoát nước mưa nửa riêng.
Là hệ thống trong đó những điểm giao nhau giữa hai mạng lưới độc lập người ta xây dựng giếng tràn tách nước mưa Tại những giếng này khi lưu lượng nước mưa ít, chất thải nước mưa bẩn nước mưa sẽ chảy vào mạng lưới nước
Trang 20sinh hoạt theo cống góp chung dẫn đến trạm xử lý Khi lưu lượng nước tương đối sạch nước mưa sẽ tràn qua giếng tách theo cống xả ra nguồn tiếp nhận
Hệ thống thoát nước riêng phù hoẹ với
Nguồn tiếp nhận nước thải trong đô thị với công suất nhỏ và không có dòng chảy
Những nơi có nguồn nước sử dụng vào mục đích tắm, thể thao
Khi yêu cầu tăng cường bảo vệ nguồn nước khỏi bị ô nhiễm bẩn do nước thải mang vào
Như vậy mỗi hệ thống thoát nước đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Phạm vi áp dụng và hiệu quả của các hệ thống cũng khác nhau Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể, cơ sở kinh tế kĩ thuật mà lựa chọn hệ thống phù hợp
2.4 Điều kiện tiếp nhận nước thải vào mạng lưới thoát nước
Khả năng tiếp nhận các loại nước thải vào mạng lưới thoát nước của hệ thống thoát nước riêng hoặc chung được xác định bởi thành phần nhiễm bẩn
và lợi ích của việc xử lý chung có tính đến các chỉ tiêu về kinh tế, kĩ thuật và
vệ sinh
Trang 21Nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất bẩn không được xả vào mạng lưới thoát nước mưa Nước thải từ các đài phun tạo cảnh, nước thấm và nước rửa đường thường xả vào mạng lưới thoát nước chung hoặc mạng lưới thoát nước mưa.
Theo các chỉ tiêu kinh tế thường thì thoát và xử lý hỗn hợp nước thải sinh hoạt và sản xuất có lợi song trong nhiều trường hợp khi nước thải sản xuất chứa nhiều chất độc hạ thì không được phép xả và xử lý chung
Nước thải sản xuất chỉ được phép xả vào mạng lưới chung hoặc riêng khi đảm bảo không gây tác hại với vật liệu làm cống và công trình xử lý cũng như không phá hoại chế độ làm việc bình thường của hệ thống chẳng hạn như:
Không chứa những chất ăn mòn vật liệu
Không chứa những chất làm tắc cống hoặc những chất khí tạo thành hỗn hợp dễ nổ và cháy
Nhiệt độ không vượt quá 400c
Không chứa những chất làm ảnh hưởng xấu đến quá trình xử lý sinh học của nước thải
Hỗn hợp nước thải sinh hoạt và sản xuất phải đảm bảo nồng độ PH
= 8,5
Các loại rác thức ăn thừa trong gia đình chỉ được thải vào mạng lưới thoát nước khi đã được nghiền nhỏ với kích thước từ 3 – 5 mm và pha loãng bằng nước với tỷ lệ 1 rác 8 nước (1/8)
Những loại nước thải khác nhau có thành phần và nguồn gốc khác nhau việc nắm được điều kiện tiếp nhận nước thải của các hệ thống thoát nước sẽ làm cho việc tiêu thoát nước thải diễn ra một cách hiệu quả hơn, việc quản lý công tác thoát nước thải hiệu quả hơn, đồng thời làm tăng tuổi thọ của các công trình thoát nước công cộng tránh tình trạng gây ô nhiễm môi trường do
Trang 22các chất thải trong nước hòa hợp với nhau gây ra những phản ứng tạo các chất gây ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, gây ra tình trạng ô nhiễm không khí, các chất đó có thể phá hủy kết cấu xây dựng của các công trình xây dựng công cộng như hệ thống thoát nước làm giảm tuổi thọ của các công trình đặc biệt là gây ảnh hưởng trực tiếp đến người dân Thành Phố mà đặc biệt là những người sống xung quanh khu vực có hệ thống công cộng.
Có thể biểu diễn điều kiện tiếp nhận nước thải thông qua bảng thông tin sau:Các loại hình thoát nước
Hệ thống thoát nước
Hệ thống riêngNước
sinh hoạt
Nước sản xuất
Nước mưaNgầm Hở
Hệ thống chung
1. nước thải sinh hoạt từ:
- Nhà ở, nhà công cộng, nhà
sản xuất
- Bệnh viện truyền nhiễm, các
trạm điều dưỡng, điều trị cách
ly sau khi clo hoá
- Đài phun nước, trạm lạnh và
điều hoà không khí
+
+
+
+-
-+
+
+
+-
+
-+++
+
-+++
+
+
+
++
+++
Trang 23nghiệp chế biến thịt, thuộc
da, chứa các chất bẩn dễ gây
bệnh truyền nhiễm sau khi xử
lý và khử trùng
+ -
+++
+ -
+++
+++
-**
-**
+++
-++++
+++
Bảng 1.2: Điều kiện tiếp nhận nước thải vào mạng lưới thoát
Trang 24CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HỆ THỐNG
THOÁT NƯỚC THẢI CŨ THÀNH PHỐ HÀ ĐÔNG
Giới thiệu chung về Thành Phố Hà Đông
Thành Phố Hà Đông là thủ phủ của tỉnh Hà Tây có quốc lộ 6A chạy qua trung tâm Thành Phố, nối thủ đô Hà Nội với các tỉnh Tây Bắc của Tổ quốc với diện tích tự nhiên 33,3 Km2 dân số 13,5 vạn người trải qua nhiều giai đoạn phát triển Thành Phố Hà Đông vẫn luôn giữ vị trí là trung tâm kinh
tế, văn hoá chính trị của tỉnh Hà Tây với những ưu thế về địa lý và sự quan tâm đầu tư của tỉnh, bằng nỗ lực đi lên của cán bộ và nhân dân toàn Thành Phố trong những năm qua Thành Phố Hà Đông đã có những bước tăng trưởng
và tiến bộ vượt bậc đời sống của nhân dân được chú trọng và chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao theo thống kê của tỉnh Hà Tây thì tính đến năm 2003 GDP bình quân đầu người của Thành Phố là 1075 USD với cơ cấu giá trị xuất khẩu các mặt hàng là : nông nghiệp chiếm 3,89%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ chiếm 52.93% ; thương mại - dịch vụ 43.18% với những thành tựu đã đạt được Hà Đông xứng đáng là điểm tựa kinh tế của toàn tỉnh Hà Tây trong tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá
Thành Phố Hà Đông – thủ phủ của tỉnh Hà Tây với một điều kiện thuận lợi về mặt vị trí địa lý và có điều kiện tự nhiên tương đối tốt trong những năm gần đây tốc độ phát triển của Thành Phố Hà Đông đã tăng lên một cách nhanh chóng không chỉ thể hiện ở mặt kinh tế mà các vấn đề xã hội cũng được quan tâm giải quyết, Nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư vào các dự án tại Hà Đông tương đối lớn Nhìn chung trong 10 năm trở lại đây Thành Phố Hà Đông đã thực sự chuyển mình theo hướng tích cực tuy nhiên vẫn còn các vấn
đề chưa được giải quyết triệt để
Trang 253.1 1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Thành Phố Hà Đông
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Trên bản đồ, Thành Phố Hà Đông thuộc tỉnh Hà Tây có toạ độ địa lý
20059’ vĩ độ bắc,105045’ kinh độ đông nằm dọc hai bên quốc lộ 6A từ Hà Nội
đi Hoà Bình cách trung tâm Thành Phố Hà Nội hơn 10km về phía tây nam giáp với các huyện:
- Phía bắc giáp huyện Từ Liêm – Hà Nội
- Phía Nam giáp huyện Thanh Oai – Hà Tây
- Phía Đông giáp Huyện Thanh Trì – Hà Nội
Trang 26- Phía Tây giáp huyện Chương Mỹ, Hoài Đức – Hà Tây
Với tổng diện tích 47.91km2 bao gồm 15 đơn vị hành chính
Thành Phố Hà Đông có 07 phường và 08 xã với 119 thôn, khu phố
- Phường Quang trung
- Phường nguyễn trãi
- Phường yết kiêu
Tính đến năm 2001 thì quy mô diện tích của Thành Phố Hà Đông là
1626 ha Nhìn chung Thành Phố Hà Đông có địa hình tương đối bằng phẳng
độ lệch địa hình không lớn cao độ giao động từ +3.5 đến 6.8 m
3.1.1.3 Khí hậu
Thành Phố Hà Đông nằm trong vùng khí hậu của đồng bằng bắc bộ, mang đặc trưng của khí hậu gió mùa Nhiệt độ trung bình trong năm là 23.640C các tháng nóng nhấ trong năm là tháng 6,7,8 nhiệt độ trung bình là
360C các tháng có nhiệt độ trung bình thấp là tháng 12, tháng 1, tháng 2
Trang 27Về lượng mưa: Nhìn chung lượng mưa của Thành Phố Hà Đông không lớn
lượng mưa trung bình năm là 1620 mm, Lượng mưa cao nhất là 2497 mm
Về độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình năm là 86%, độ ẩm tương đối cao nhất
của năm là 94%, Độ ẩm tương đối thấp nhất của năm là 31%
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của Thành Phố Hà Đông
3.1.2.1 Tình hình kinh tế của Thành Phố Hà Đông
Theo số liệu năm 2003 trên địa bàn Thành Phố có 155 cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Riêng trong khu vực Thành Phố có 60 cơ sở công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp, trong đó có 11 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài với các sản phẩm chính như áo jacket xuất khẩu, Đồng hồ, Ổ khoá xe máy, Đồ chơi trẻ em, Lắp ráp xe máy, Đá sẻ ốp lát, Bê tong trộn sẵn…
Các sản phẩm chủ yếu của tiểu thủ công nghiệp là: Than tổ ong, Cửa xếp, Dao kéo, Gạch, Lốp xe đạp, Lọ đựng thuốc,Lụa tơ tằm, Bia, Thảm, Đồ mộc, Mũ, Khăn mặt, Chi tiết xe máy …
Tổng đóng góp GDP của các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp thuộc khu vực Thành Phố là 222.71 tỷ đồng chiếm 54.45% trong tổng GDP của Thành Phố
Mạng lưới thương mại và dịch vụ của Thành Phố Hà Đông phát triển rộng khắp trên toàn địa bàn Thành Phố, Từ các doanh nghiệp Trung Ương, Doanh nghiệp địa phương, Doanh nghiệp tư nhân, Các hộ gia đình kinh doanh
và các hộ gia đình tự sản xuất.hàng hoá giao lưu rộng rãi thuận lợi đa dạng về chủng loại và có chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu của người sử dụng.Tổng GDP của ngành dịch vụ là 153 tỷ đồng chiếm 36.96% tổng GDP của toàn Thành Phố
Hà Đông là nơi giàu tiềm năng về thiên nhân cũng như về nguồn lao động là nơi cung cấp lương thực dồi dào không chỉ cho riêng Thành Phố mà cho cả thị trường rộng lớn như : Hà Nội và các vùng phụ cận.Tính đến năm
Trang 281997 Thành Phố Hà Đông có 1519.4ha đất canh tác nông nghiệp trong đó có diện tích cây lúa là 1281.52ha.GDP ngành nông nghiệp là 23.142 tỷ đồng chiếm 5.59% tổng GDP của toàn Thành Phố.
3.1.2.2 Tình hình xã hội, Dân cư của Thành Phố Hà Đông.
Trước tình hình tăng trưởng kinh tế của Thành Phố Hà Đông tình hình dân cư ở khu vực này cũng khá phức tạp.Việc phát triển các khu công nghiệp
và tập trung nhiều trường học ở đây đã làm cho tình hình dân số của Thành Phố tăng nhanh trong những năm gần đây, đồng thời các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và các loại hình phục vụ người dân cũng phát triển mạnh đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của người dân và tình hình an ninh xã hội của Thành Phố
Theo thống kê của phòng thống kê Thành Phố Hà Đông hiện tại trên địa bàn Thành Phố có 28 trường học các cấp trong đó có 09 trường mẫu giáo mầm non, 09 trường tiểu học, 07 trường trung học phổ thông cơ sở và 03 trường phổ thông trung học trong khi đó một số trường đại học trực thuộc Trung Ương cũng được xây dựng ở đây đó là : Trường trung học xây dựng số
1, Học viện Quân Y 103, Học viện chính trị, Trường trung học Y tế, Trường nhạc hoạ, Trường ĐH kiến trúc, Học Viện Bưu chính viễn thông, Trường Tuệ Tĩnh, Trường nghiệp vụ cán bộ quản lý, Trường mỹ nghệ và trung tâm hướng nghiệp Do tình trạng đăng ký của sinh viên cư trú tại khu vực chưa chính xác nhưng theo thống kê của phòng thống kê thì trung bình có 2680 học sinh/1 vạn dân Thành Phố có 3 bệnh viện khám chữa bệnh cho dân toàn tỉnh, một trung tâm y tế Thành Phố tất cả các phường đều có trạm y tế tính bình quân
60 giường bệnh/ 1 vạn dân
Dân cư tập trung đông ở đây đã làm cho việc quản lý của các cấp các ngành trở nên phức tạp nhất là tình trạng xả rác bừa bãi và do dân số quá đông dẫn đến nhu cầu sử dụng nước phục vụ sinh hoạt và các hoạt động khác
Trang 29rất lớn, tình trạng sử lý lượng nước sinh hoạt sau khi sử dụng và thoát nước sinh hoạt cũng là một vấn đề cấp bách gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường
và ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân
3.1.2.3 Về xây dựng kết cấu hạ tầng
Tỉnh và Thành Phố đã tập trung sức thực hiện quy hoạch xây dựng, hàng năm đầu tư hàng Ngàn tỉ đồng xây dựng hạ tầng cơ sở như: Trụ sở làm việc của các cơ quan, hệ thống các công trình phúc lợi công cộng, Công trình văn hoá thể thao, mở thêm nhiều tuyến phố, điện chiếu sáng mới, đồng thời cải tạo nâng cấp mặt đường, vỉa hè, hệ thống thoát nước của các tuyến phố cũ Nhiều dự án lớn đã được đầu tư xây dựng theo quy hoạch Bộ mặt đô thị từng bước khang trang sạch đẹp, trật tự đô thị chuyển biến tích cực theo hướng phát triển đô thị hiện đại
3.1.2.4 Về phát triển Đô Thị
Hiện nay hệ thống giao thông nội thị đối ngoại và các khu chức năng của Thành Phố đang được hình thành như: Trung tâm hành chính mới, khu công viên thể thao – cây xanh, trung tâm xúc tiến thương mại, cụm công nghiệp Yên nghĩa, Điểm công nghiệp – Làng nghề vạn phúc, Đa sỹ, các trường học, trung tâm y tế, khu đô thị văn quán – Yên phúc, Mỗ Lao, văn Phú, Lê trọng tấn, chợ Hà Đông …Tất cả đã được quy hoạch chi tiết và triển khai xây dựng với tốc độ nhanh cụ thể là:
Mạng lưới đường giao thông đang được đầu tư xây dựng đồng bộ, hiện đại theo quy hoạch
Hiện tại Thành Phố có 130,587km đường nội thị trong đó có 64.4
km đường phố chính, nội thị, mật độ giao thông chính đạt 7,381km/
km2 khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt 2.500.000 tấn; Khối lượng vận chuyển hành khách là 5.958.144 người
Trang 30 Sông Nhuệ và Sông Đáy là hai con sông bao quanh Thành Phố rất thuận lợi cho giao thông đường thuỷ, tưới tiêu nước cho nông nghiệp, du lịch sinh thái…
85% dân số Thành Phố được dùng nước sạch bình quân 120lít/người/ngày đêm; chất lượng nước cung cấp của công ty cấp nước Hà Đông đảm bảo yêu cầu cho người sử dụng theo tiêu chuẩn
1329 của Bộ Y tế
Hệ thống thoát nước Thành Phố hiện nay là hệ thống thoát nước chung.Tổng chiều dài của hệ thống cống khu vực nội thị là 114km chiếm 100% chiều dài của các tuyến phố chính, nội thị.Hệ thống thoát nước của Thành Phố dần được khắc phục và cải thiện đảm bảo
vệ sinh môi trường
Mạng lưới điện đô thị của Thành Phố ngày càng được mở rộng,tổng chiều dài của cáp điện toàn Thành Phố là 77km Đến nay 95% các tuyến phố chính đã lắp hệt thống chiếu sáng đô thị 80% các tuyến đường ngõ xóm, đường trong khu phố chính, khu dân cư đã có đèn chiếu sáng công cộng, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân Ngoài ra các khu vui chơi giải trí, công viên, vườn hoa, các bồn tròn đều có đèn sân vườn và đèn trang trí
Hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn Thành Phố Hà Đông đã được đầu tư thiết bị hiện đại cơ bản đáp ứng được yêu cầu sử dụng hoà mạng trong nước và quốc tế Số máy điện thoại bình quân 22máy/100 người dân Hệ thống phát thanh truyền hình, truyền thanh, đài truyền thanh của Thành Phố phục vụ được 90% số dân được nghe đài 3 cấp, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương
Đất trồng cây xanh đô thị Thành Phố Hà Đông đạt mức bình quân 9,5m2/người Đất trồng cây xanh công cộng dân dụng đạt mức bình
Trang 31quân 2,6m2/người Hệ thống các công trình phúc lợi công cộng đã được đầu tư cơ bản Khối lượng rác thu gom bằng 80 – 85% lượng rác thải, xử lý rác thải đảm bảo thực hiện đúng quy trình đáp ứng yêu cầu về vệ sinh môi trường trong khu vực Hệ thống xử lý chất thải rắn được chôn lấp đảm bảo vệ sinh môi trường
3.1.2.5 Môi trường nước Thành Phố Hà Đông
Thực trạng môi trường nước Thành Phố Hà Đông và các nguồn phát sinh nước thải
Thành Phố Hà Đông thủ phủ của tỉnh Hà Tây có thể nói đây là nơi phát triển kinh tế đứng đầu của tỉnh hàng năm GDP của Thành Phố đóng góp khoảng 35% GDP toàn tỉnh với nhiều ngành nghề khác nhau, nhiều khu công nghiệp, các công trình xây dựng nhà ở… phát triển đã mang lại một bộ mặt mới cho Thành Phố Hà Đông trong 10 năm trở lại đây
Bên cạnh những thành tựu hết sức đáng khích lệ thì chính những nghành nghề và sự phát triển nhanh chóng của Thành Phố đã mang lại những hậu quả đối với môi trường đòi hỏi phải có biện pháp khắc phục như: Tình trạng ô nhiễm nước, tình trạng ô nhiễm không khí, tình trạng ô nhiễm đất…
Trên lưu vực Sông Nhuệ - đáy có nhiều nguồn nước thải gây ô nhiễm đến chất lượng nước của các con sông này với mức độ ô nhiễm khác nhau như: Nước thải sinh hoạt, nước thải y tế, nước thải công nghiệp, nước thải nông nghiệp, nước thải làng nghề…
Trong số các nguồn nước thải lớn tại lưu vực Sông Nhuệ - Đáy nước thải sinh hoạt đóng góp tỷ lệ lớn nhất 56% Đây là một đặc trưng nổi bật của lưu vuẹc Sông Nhuệ - Đáy so với các lưu vực sông khác
Nước thải sinh hoạt với tỷ lệ đóng góp lớn, tải lượng các chất ô nhiễm hữu cơ cao, đã làm cho chất lượng nước Sông Nhuệ và một số đoạn của Sông Đáy vị ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng Trong các tỉnh Thành Phố của lưu vực
Trang 32thì Hà Tây đóng góp 21% lượng nước thải sinh hoạt đứng sau Hà Nội 54% Theo niên giám thống kê năm 2005 của WHO thì tỉ lệ đóng góp các chất ô nhiễm của Hà Tây và các vùng thuộc lưu vực Sông Nhuệ - Đáy như sau:
Hà Nội Hà Tây Hà Nam Nam
Định
Ninh Bình
Hoà Bình
Toàn lưu vực sôngCOD
(Theo phương pháp tính toán tải lượng ô nhiễm của WHO Dân số theo niên
giám thống kê,2005)
Cùng với mật độ dân số trung bình cao dẫn đến tình trạng gia tăng lượng nước thải Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh, trong khi hạ tầng kĩ thuật
Trang 33đô thị không phát triển tương xứng đã làm gia tăng vấn đề ô nhiễm môi trường trong đó có vấn đề môi trường gây ra do nước thải sinh hoạt.
Hầu hết lượng nước thải sinh hoạt của cư dân lưu vực Sông Nhuệ đều không qua xử lý mà được đổ thẳng vào các sông hồ trong lưu vực đây chính
là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước của Sông Nhuệ với các nguồn phát sinh nước thải chủ yếu:
Nước thải y tế:: Là loại nước thải nguy hại cần được xử lý triệt để trước
khi thải vào nguồn tiếp nhận Tuy nhiên, hiện nay hầu hếy các cơ sở y tế chưa
có hệ thống xử lý nước thải lượng nước thải này cũng được thải trực tiếp vào
hệ thống nước thỉa sinh hoạt và đổ vào nguồn nước mặt trong lưu vực sông
Nước thải công nghiệp : Theo niên giám thống kê năm 2003 toàn bộ
lưu vực Sông Nhuệ - Đáy có 4.113 doanh nghiệp công nghiệp ( trong đó Hà Nội chiếm 67% số cơ sở) có giá trị sản xuất 83.382 tỷ đồng Các hoạt động công nghiệp này đã phát sinh nhiều chất thải ở cả ba dạng rắn, lỏng, khí gây ô nhiễm và ảnh hưởng lớn đến môi trường nước của lưu vực sông Làm suy giảm chất lượng nước mặt của các thuỷ vực trong khu vực
Tại Hà Tây lượng nước thải trong lĩnh vực này là 80.000m3/ngày, chiếm 25% tổng số nước thải công nghiệp thải xuống lưu vực sông biểu hiện
cụ thể thông qua bảng số liệu sau:
Cơ khí-chế
tạo máy
chế biến thực phẩm
Dệt nhuộm Hoá chất
và giấy
vật liệu xây dựng
Các nghành sản xuất khác
cơ sở
cơ sở
cơ sở
Bảng2.2 : số lượng cơ sở xả thải xuống Sông Đáy – Hà Tây
(Nguồn: chương trình nghiên cứu ô nhiễm lưu vực Sông Nhuệ - Đáy)
Trang 34Các nghành với đặc thù sản xuất khác nhau nên thành phần chất thải ra môi trường nước cũng khác nhau tuy nhiên những chất thải của nghành này tương đối nguy hiểm và khó xử lý nên gây ra những ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Sản xuất nông nghiệp: Với số dân tham gia hoạt động sản xuất nông
nghiệp trong Lưu vực Sông Nhuệ - Đáy chiếm khoảng 60 – 70% dân số toàn khu vực
Trồng trọt: các sông trong lưu vực Sông Nhuệ - Đáy là các hệ thống
thuỷ lợi liên tỉnh,phục vụ nước tưới cho sản xuất nông nghiệp trong vùng Chế độ dòng chảy chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi hệ thống các cống điều tiết trong lưu vực Chế độ đóng mở của các cống này tác động rất lớn đến chất lượng nước trong lưu vực (Đặc biệt là hệ thống thuỷ lợi Sông Nhuệ)
Ngoài ra các hoạt động canh tác nông nghiệp với đặc thù của nghành nghề là phải sử dụng phân bón hoá học và thuốc BVTV nên việc sử dụng không đúng quy cách làm cho chất lượng nước bị ô nhiễm nghiêm trọng việc này còn gây ra những tác động đến chất lượng đất ven lưu vực
Việc ô nhiễm môi trường làng nước mặt trong các làng nghề của Lưu vuẹc Sông Nhuệ - Đáy diễn ra khá trầm trọng với các đặc trưng khác nhau cho mỗi loại hình điển hình như:
Trang 35• Làng nghề Cát Quế, Hoài Đức ( Sản xuất mạch nha, miến, đường, bánh đa) mỗi ngày thải ra 3.500m3
• Làng nghề Dương Liễu, Hoài Đức ( sản xuất miến dong, tinh bột) mỗi ngày thải ra 6.800m3
• Làng nghề Minh Khai, Hoài Đức ( sản xuất miến dong tinh bột ) mỗi ngày thải ra 5.500m3
Theo nguồn của sở tài nguyên môi trường tỉnh Hà Tây 12/2/2005
tại mỗi làng nghề với các ngành nghề khác nhau sẽ có những chất thải khác nhau cụ thể:
Các cơ sở chế biến nông sane thực phẩm có mức độ ô nhiễm của nước thải rất cao, chủ yếu là các chất hữu cơ với hàm lượng vượt TCVN nhiều lần.Lượng thải khoảng 380 – 400kg BOD5/tấn sản phẩm, 600 – 650kg COD/tấn sản phẩm
Các cơ sở dệt nhuộm sử dụng nhiều hoá chấ.Nước thải có độ màu rất cao, lượng hoá chất dư thừa lớn Lượng nước thải khoảng 81kg COD/tấn sản phẩm, 300kg TS/tấn sản phẩm
Nước thải của các cơ sở sản xuất cơ khí có mạ chứa kim loại với hàm lượng vượt TCVN nhiều lần: Cr(VI):420 lần; Cr(III): 18 – 100 lần; Pb: 6-24 lần; Zn : 6 – 32 lần
Nước thải từ các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng có hàm lượng chất rắn lơ lửng cao, vượt qua TCVN 1,3 – 7,3 lần; Hàm lượng SO4 vượt TCVN
300 – 400 lần
Những Vấn đề này hiện nay đặt ra cho Thành Phố Hà Đông một vấn đề
về môi trường hết sức cấp bách đòi hỏi cần được giải quyết trong thời gian tới nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng bền vững