của địa phương, giúp lựa chọn đúng các loại hình sử dụng đất phù hợp với cây trồng, vật nuôi để đưa ra hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong từng giai đoạn và là cơ sở để đề
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Vấn đề hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
1.1.1 Những lý luận cơ bản về hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu quả cao trong sản xuất để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp bền vững là xu thế tất yếu đối với các nước trên thế giới
Kết quả, mà là kết quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu? Có đem lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế, khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó (Nguyễn Đình Hợi, 1993) Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá của hiệu quả Trên phạm vi toàn xã hội, các chi phí bỏ ra để thu được kết quả phải là chi phí lao động xã hội Vì thế, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả lao động xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hóa kết quả và tối thiểu hóa chi phí trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên hữu hạn (Bùi Văn Ten, 2000)
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự, 2001)
Sử dụng đất đai có hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đó là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển được nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững đồng thời phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao nhất (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
* Các nội dung và nhiệm vụ sử dụng đất được thể hiện ở
- Sử dụng hợp lý về không gian để hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất
- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập trung thâm canh
Việc sử dụng đất phụ thuộc rất nhiều các yếu tố liên quan Vì vậy, việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998) Nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: Hiệu quả kinh tế; hiệu quả xã hội; hiệu quả môi trường
- Phải xem xét đến lợi ích trước mắt và lâu dài
- Phải xem xét cả lợi ích riêng của người sử dụng đất và lợi ích của cả cộng đồng
- Phải xem xét giữa hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác
- Đảm bảo sự phát triển thống nhất giữa các ngành
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất người ta thường đánh giá trên ba khía cạnh: Hiệu quả về mặt kinh tế sử dụng đất; Hiệu quả về mặt xã hội và hiệu quả về mặt môi trường
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất của xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội (Vũ Năng Dũng, 1997)
Theo C.Mác (1962) thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Trên cơ sở thực hiện vấn đề “Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động (vật hóa và lao động sống) giữa các ngành” Theo quan điểm của C Mác đó là qui luật
“Tiết kiệm”, là “Tăng năng suất lao động xã hội”, hay đó là “Tăng hiệu quả” Ông cho rằng: “Nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội” Như vậy, theo quan điểm của Mác tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hội
Các nhà khoa học kinh tế Samuel - Nordhuas cho rằng: “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng năng suất của nó” (Dẫn theo Vũ Phương Thuỵ, 2000)
Theo L.M Canirop “Hiệu quả của sản xuất được tính toán và kế hoạch hóa trên cơ sở những nguyên tắc chung của nền kinh tế quốc dân bằng cách so sánh kết quả của sản xuất với chi phí hoặc nguồn lực đã sử dụng”
Tác giả Đỗ Khắc Thịnh cho rằng: “Thông thường hiệu quả được hiểu như một hiệu số giữa kết quả và chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa” Do vậy, nói một cách linh hoạt hơn nên hiểu hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp mong muốn và hiệu quả có nghĩa là không lãng phí
Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất ở bản chất của nó Người sản xuất muốn thu được kết quả phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn So sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó sẽ có hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hóa kết quả với một lượng chi phí định trước hoặc tối thiểu hóa chi phí để đạt được một kết quả nhất định
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:
- Một là: Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”, nó là động lực phát triển của lực lượng sản xuất, là điều kiện quyết định phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống con người qua mọi thời đại;
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Những điểm cần lưu ý khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Diện tích đất có hạn, dân số ngày càng tăng, nhu cầu về lương thực thực phẩm cũng tăng Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, cần xem xét ở các khía cạnh sau:
- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào kinh tế và không kinh tế (ánh sáng, nhiệt độ, không khí ) Chính vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được xác định bằng kết quả thu được trên 1 đơn vị diện tích cụ thể, thường là 1 ha, tính trên
1 đồng chi phí, 1 lao động đầu tư (Nguyễn Đình Hợi, 1993);
- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh, do đó cần phải đánh giá hiệu quả của từng cây trồng, từng hệ thống luân canh trên mỗi vùng đất;
- Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế, cần phải nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất (môi trường đất, nước) (Ngô Thế Dân, 2001);
- Đối với sản xuất nông nghiệp, môi trường vừa là tài nguyên vừa là đối tượng lao động, vừa là điều kiện tồn tại và phát triển của toàn bộ nền nông nghiệp Mặt khác, nông nghiệp thường tác động mạnh mẽ lên môi trường Trong quá trình phát triển, ở nhiều giai đoạn phản ứng của môi trường thường tạo ra những trở ngại to lớn, có khi không thể vượt qua được Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường không bị phá huỷ gây tác hại đến đời sống xã hội Đồng thời, cần tạo ra môi trường thiên nhiên và xã hội thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp ở giai đoạn hiện tại và mở ra những điều kiện phát triển trong tương lai Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp với môi trường xung quanh Cụ thể là khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có phù hợp với đất đai hay không? Việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp có để lại tồn dư hay không?;
- Lịch sử nông nghiệp là một quãng đường dài thể hiện sự phát triển mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Nói đến nông nghiệp không thể không nói đến nông dân, đến các quan hệ sản xuất trong nông thôn Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp, đến các vấn đề xã hội như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn (Đường Hồng Dật và các cộng sự, 1994)
1.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc nâng cao hiệu quả là mục tiêu chung, chủ yếu xuyên suốt mọi quá trình sản xuất của xã hội Tùy theo nội dung của hiệu quả mà có những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau ở mỗi thời kỳ phát triển KT-XH khác nhau Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến chưa thống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả
Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể xem xét ở các mặt sau:
+ Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng cho xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu KT - XH, môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm, thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (Đỗ Nguyên Hải, 2001);
+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên 1 đơn vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra ít nhất, ảnh hưởng môi trường ít nhất Đó là phản ánh kết quả quá trình đầu tư sử dụng các nguồn lực thông qua đất, cây trồng, thực hiện quá trình sinh học để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hội với hiệu quả cao (Đỗ Nguyên Hải, 2001);
+ Các tiêu chuẩn được xem xét với việc ứng dụng lý thuyết sản xuất cơ bản theo nguyên tắc tối ưu hóa Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hóa chi phí các yếu tố đầu vào, theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định, hoặc thực hiện cực đại hóa lượng nông sản khi có một lượng nhất định đất nông nghiệp và các yếu tố đầu vào khác (Dẫn theo Đỗ Nguyên Hải, 2001);
+ Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những người sống bằng nông nghiệp Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:
* Bền vững về mặt kinh tế
Loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định thì được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hóa sản phẩm
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, củi, hạt, củ, quả và tàn dư để lại) Một hệ thống nông nghiệp bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường Mặt khác, chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và hướng tới xuất khẩu tùy theo mục tiêu của từng vùng
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức của vùng thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng
* Bảo vệ về môi trường
Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì đất, ngăn ngừa sự thóai hóa đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ phì nhiêu của đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững Độ che phủ phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (> 35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh )
* Bền vững về mặt xã hội
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiêncứu
Đánh giá được hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn khu vực làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn tiến hành một số nội dung chính như sau:
- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng sử dụng đất NN trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Tp Hà Nội;
- Đánh giá hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trường) của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn;
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn khu vực nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu thứ cấp: Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội, thực trạng sử dụng đất nông nghiệp, các loại hình sử dụng đất và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện
Các điểm nghiên cứu phải đại diện về kế hoạch thực hiện Kế hoạch 692 của UBND huyện Chương Mỹ về dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng Căn cứ vào các tiêu chuẩn trên, luận văn đã tiến hành lựa chọn 3 xã đại diện là Quảng Bị, Thụy Hương và Lam Điền
Cách chọn điểm nghiên cứu: 3 xã Quảng Bị, Thụy Hương và Lam Điền là 3 xã nằm trong chương trình thực hiện phát triển nông thôn mới của huyện Chương Mỹ, nền kinh tế của 3 xã phát triển nhờ vào nông nghiệp là cao nhất trên địa bàn Tại 3 xã này đã và đang áp dụng các mô hình sản xuất nông nghiệp mới sau khi thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng
- Phương pháp điều tra nông thôn phỏng vấn bằng bảng hỏi: Ở mỗi xã đại diện, tiến hành điều tra nông hộ theo phương pháp chọn mẫu có hệ thống với tổng số hộ điều tra là 90 hộ (mỗi xã chọn 3 thôn, mỗi thôn 10 hộ) Nội dung điều tra nông hộ bao gồm: chi phí sản xuất, lao động, năng suất cây trồng, loại cây trồng, mức độ thích hợp cây trồng với đất đai và những ảnh hưởng đến môi trường (có mẫu phiếu kèm theo)
- Phương pháp thống kê và đánh giá hiệu quả:
Phân tích, xử lý số liệu theo chuỗi thời gian để nhận biết quy luật của các yếu tố liên quan trong quá trình sử dụng đất và hiệu quả kinh tế sử dụng đất làm cơ sở đưa ra những giải pháp sử dụng đất hiệu quả hơn Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel
- Phân tích hiệu quả kinh tế:
Với các mô hình canh tác cây trồng dưới 12 tháng, áp dụng phương pháp tĩnh: Coi các yếu tố chi phí và kết quả là độc lập tương đối và không chịu tác động của yếu tố thời gian, mục tiêu đầu tư và biến động giá trị đồng tiền Phương pháp này áp dụng tính toán cho các mô hình canh tác cây ngắn ngày:
CP: Chi phí Đối với phương pháp này, nếu giá trị tính toán P > 0 thì mô hình canh tác đó có hiệu quả kinh tế và ngược lại
Với những mô hình canh tác trồng cây trên 12 tháng sử dụng phương pháp động: Cụ thể, phương pháp phân tích lợi ích, chi phí CBA (Cost - Benefit Analysis) sẽ được áp dụng
Phương pháp CBA là một phương pháp cho một hệ thống quyết định và thiết lập những mục tiêu đạt được trong tương lai Các chỉ tiêu cần tính toán là NPV, BCR, IRR, đã được tích hợp sẵn trong chương trình Excel, trong đó:
- Giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng - NPV (Net Present Value): Là chỉ tiêu xác định lợi nhuận ròng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, có tính đến ảnh hưởng của nhân tố thời gian thông qua tính chiết khấu.Chỉ tiêu NPV dùng để đánh giá các hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất, hoạt động sản xuất nào có NPV càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao, NPV > 0: Sản xuất có lãi, NPV < 0: Sản xuất bị lỗ, NPV = 0: Sản xuất hòa vốn NPV được tính theo công thức
NPV: Giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng (đồng);
Bt: Giá trị thu nhập của năm thứ t (đồng);
Ct: Giá trị chi phí của năm thứ t (đồng); r: Tỉ lệ chiết khấu hay lãi suất (%); t: Thời gian thực hiện các sản xuất (năm); Σ: Tổng giá trị hiện tại của thu nhập ròng từ năm 0 đến năm n; n: Số năm của chu kỳ sản xuất
- Tỷ suất thu nhập và chi phí - BCR (Benefit to Cost Ratio): Là hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất Nếu PTCT có BCR > 1 và càng lớn: Hiệu quả kinh tế càng cao, ngược lại BCR ≤ 1: Không hiệu quả BCR được tính theo công thức:
BCR: Tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (đồng/đồng);
BPV: Giá trị hiện tại của thu nhập (đồng);
CPV: Giá trị hiên tại của chi phí (đồng)
Các ký hiệu khác được giải thích ở công thức 2.1
- Tỉ lệ thu hồi vốn nội bộ - IRR (Internal Rate of Return): Thể hiện tỉ lệ sinh lời của vốn đầu tư cho mô hình canh tác có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu IRR được tính theo tỉ lệ %, là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư hay nó phản ánh mức độ quay vòng của vốn Vì vậy, IRR cho phép xác định thời điểm hoàn trả vốn đầu tư IRR càng lớn thì hiệu quả càng cao, khả năng thu hồi vốn càng sớm (IRR > r: có lãi; IRR < r: bị lỗ; IRR = r: Hòa vốn, khi đó NPV = 0)
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội:
Các tiêu chí đánh giá hiệu quả xã hội được thảo luận cùng người dân và cho điểm dựa trên các tiêu chí đó (thang điểm từ 1 đến 10) Các tiêu chí đánh giá hiệu quả xã hội bao gồm:
+ Khả năng lan rộng và phát triển hàng hóa của mô hình;
+ Mức độ thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm;
+ Đảm bảo an ninh lương thực và an toàn thực phẩm;
+ Mức độ đầu tư và yêu cầu về kỹ thuật canh tác;
+ Mức độ thu nhập kinh tế, phù hợp với thị trường tiêu thụ
Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường: Đánh giá hiệu quả môi trường là chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thảo luận cùng người dân và cho điểm từ 1 đến 10 để đánh giá hiệu quả của môi trường với 1 số các tiêu chí:
+ Khả năng bảo vệ đất chống xói mòn;
+ Mức độ sử dụng phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật;
+ Sự ổn định của năng suất cây trồng qua các năm
Các tiêu chí đánh giá này được thảo luận cùng người dân và cho điểm
Phương pháp tính hiệu quả tổng hợp:
Hiệu quả tổng hợp của các phương thức canh tác có nghĩa là một phương thức canh tác phải có hiệu quả kinh tế nhất, mức độ chấp nhận của xã hội cao nhất (hiệu quả xã hội) và góp phần gìn giữ bảo vệ môi trường sinh thái (hiệu quả sinh thái) Áp dụng phương pháp tính chỉ số hiệu quả tổng hợp mô hình canh tác (Ect) của W Rola (1994):
Ect f n n 1 or or min max 1 min max
Ect là chỉ số hiệu quả tổng hợp Nếu Ect = 1 thì mô hình canh tác có hiệu quả tổng hợp cao nhất, Ect càng gần 1 thì hiệu quả tổng hợp càng cao; f là các đại lượng tham gia vào tính toán (NPV, CPV, IRR…); n là số đại lượng tham gia vào tính toán
Các phương pháp khác
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Từ các kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi có tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia, cán bộ phòng Nông nghiệp, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Kinh tế cũng như các điển hình sản xuất nông dân giỏi của huyện để đề xuất hướng sử dụng đất và đưa ra các giải pháp thực hiện
- Phương pháp dự báo: Các đề xuất được dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài và những dự báo về nhu cầu của xã hội và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật nông nghiệp.