1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN NGHIỆP VỤ THANH TRA

64 24 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu 1: Phân biệt hoạt động thanh tra hành chính và hoạt động thanh tra chuyên ngành theo quy định luật thanh tra năm 2010
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Thanh Tra
Thể loại Bài viết nghiệp vụ thanh tra
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 54,69 KB
File đính kèm Cau hoi, dap an nghiep vu thanh tra.rar (52 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1 Hãy phân biệt hoạt động thanh tra hành chính và hoạt động thanh tra chuyên ngành theo quy định luật thanh tra năm 2010 Câu 1 Hãy phân biệt hoạt động thanh tra hành chính và hoạt động thanh tra c.

Trang 1

Câu 1: Hãy phân biệt hoạt động thanh tra hành chính và hoạt động thanh tra

chuyên ngành theo quy định luật thanh tra năm 2010?

Thanh tra hành chính Thanh tra chuyên ngành

1. Khái niệm:

Thanh tra hành chính là hoạt động thanh

tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực

thuộc trong việc thực hiện chính sách,

pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được

giao

1 Khái niệm:

Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định

về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản

lý thuộc ngành, lĩnh vực đó

2. Phương thức thanh tra:

Thanh tra hành chính phải tổ chức đoàn

thanh tra, phải có quyết định thanh tra

2 Phương thức thanh tra:

Thanh tra chuyên ngành có thể tổ chức đoàn hoặc có thể được thực hiện bởi thanh tra viên độc lập và trên cơ sở sự phân công nhiệm vụ

3. Hệ quả thanh tra:

Thanh tra hành chính là hoạt động thanh

tra trong nội bộ bộ máy nhà nước; là

thanh tra của cơ quan cấp trên đối với cơ

quan, đơn vị, cá nhân cấp dưới Thanh tra

hành chính mang tính kiểm soát nội bộ

(được hiểu theo nghĩa rộng là nội bộ của

bộ máy nhà nước hay nội bộ của bộ máy

3 Hệ quả thanh tra:

Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra việc thực hiện pháp luật chuyênngành, việc chấp hành các quy định về chuẩn kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ, ngành,trừ công việc thực hiện nhiệm vụ, quyền

Trang 2

các cơ quan nhà nước, thường là theo hệ

thống) Mục đích cụ thể của hoạt động

thanh tra hành chính là làm trong sạch bộ

máy, bảo đảm kỷ cương, kỷ luật trong

quản lý, điều hành

hạn mang tính chất công vụ Mục đích của hoạt động thanh tra chuyên ngành là bảo đảm sự chấp hành pháp luật của mọi

cơ quan, tổ chức, cá nhân, bảo đảm trật

tự kỷ cương, pháp luật phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực

4 Quyền của các thành viên đoàn

thanh tra:

- Thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân

công của Trưởng Đoàn thanh tra

- Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp

thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản,

giải trình về những vẫn đề liên quan đến

nội dung thanh tra

- Kiến nghị với Trưởng Đoàn thanh tra áp

dụng các biện pháp thuộc nhiệm vụ,

quyền hạn của Trưởng Đoàn thanh tra

- Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ

được giao với Trưởng Đoàn thanh tra và

chịu trách nhiệm trước Trưởng Đoàn

thanh tra và pháp luật về tính chính xác,

trung thực, khách quan của nội dung đã

- Kiến nghị Trưởng Đoàn thanh tra áp dụng các biện pháp thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Đoàn thanh tra

- Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hànhchính

- Kiến nghị xử lý các vấn đề khác liên quan đến nội dung thanh tra chuyên ngành

- Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao với Trưởng Đoàn thanh tra và

Trang 3

chịu trách nhiệm về tính chính xác, trungthực, khách quan của nội dung đã báo cáo.

5 Chủ thể:

Hoạt động thanh tra hành chính chủ yếu

do Thanh tra Chính phủ và các cơ quan

Thanh tra nhà nước khác (Thanh tra bộ,

thanh tra cấp tỉnh, Thanh tra sở, thanh tra

cấp huyện) quyết định và tiến hành

Ngoài ra, đối với những vụ việc phức tạp,

liên quan đến trách nhiệm quản lý của

nhiều cơ quan, đơn vị hoặc đối với những

vụ việc đặc biệt phức tạp, liên quan đến

trách nhiệm quản lý của nhiều cấp, nhiều

ngành thì Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà

nước (Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân

dân cấp tỉnh, Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy

ban nhân dân cấp huyện) ra quyết định

thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra

hoặc Đoàn thanh tra liên ngành để thực

hiện nhiệm vụ thanh tra

5 Chủ thể:

Hoạt động thanh tra chuyên ngành chỉ do

cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực quyết định và thực hiện

Cụ thể là, Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện quyết định thanh tra Khi xét thấy cần thiết, Bộ trưởng, Giám đốc sở, ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra

6 Đối tượng:

Đối tượng của hoạt động thanh tra hành

chính phải là các cơ quan nhà nước và

công chức nhà nước Hoạt động thanh tra

hành chính hướng vào việc xem xét, đánh

6 Đối tượng:

Đối tượng thanh tra của thanh tra chuyênngành là mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong ngành, lĩnh vực đó

Trang 4

giá việc thực hiện pháp luật, nhiệm vụ

cũng như hiệu quả quản lý của bộ máy

nhà nước

7 Thời hạn thanh tra:

- Thời hạn cuộc thanh tra được tính từ

ngày công bố quyết định thanh tra cho

đến khi kết thúc việc thanh tra tại nơi

được thanh tra

7 Thời hạn thanh tra:

- Thời hạn cuộc thanh tra được tính từ ngày công bố quyết định thanh tra cho đến khi kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra

- Thời hạn thanh tra chuyên ngành độc lập đối với mỗi đối tượng thanh tra là 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiến hành thanh tra Trường hợp cần thiết, Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở, Tổng cục trưởng, Cục trưởng thuộc Bộ, Chi cục trưởng thuộc Sở gia hạn thời gian thanh tra nhưng thời gian gia hạn không được vượt quá 05 ngày làm việc

Câu 2: Phân tích khái niệm Khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo và nhận diện các đạng Khiếu nại?

Khái niệm: Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức

theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyềnxem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhànước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ

Trang 5

luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái phápluật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Từ khái niệm có thể thấy: khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu tác động trực tiếp của quyết định hành chính hay hành vi hành chính hoặc là đề nghị của cán bộ, công chức chịu tác động trực tiếp của quyết định kỷ luật đối với cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Đề nghị này xuất phát từ nhận thức chủ quan của người khiếu nại khi họ cho rằng quyền và lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi

hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có

thể kết luận là có sự vi phạm hay không sau khi đã xem xét một cách khách quan và thận trọng nội dung vụ việc cùng những tài liệu và chứng cứ có liên quan.

Như vậy, khiếu nại là quyền, là hành vi của các chủ thể như cơ quan nhà nước, tổ chức

và cá nhân, còn hoạt động giải quyết khiếu nại là hoạt động mang tính quyền lực nhà

nước, chỉ được thực hiện bởi người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Quyền khiếu nại của công dân xuất hiện trong mối liên hệ với quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước Quá trình công dân thực hiện quyền khiếu nại chính là quá trình cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các tài liệu, chứng cứ về sự vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công

dân từ phía cơ quan và người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước.

* Nhận dạng các kiểu khiếu nại:

- KN Hành chính: Là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ công chức theothủ tục luật khiếu nại xem xét lại đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xết lạiquyết định hành chính, hành vi hoặc quyết định kỷ luật cán bộ cho rằng quyếtđịnh hanh vi đó traí với pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp củamình Theo Luật khiếu nại năm 2011 Ngoài ra còn quy định trong các văn bảnthuộc các ngành, lĩnh vực: Thuế, Tài chính, Môi trường, xử phạt vi phạm hànhchính

Trang 6

Khiếu Nại hành chính bao gồm: Quyết định hành chính, hành vi hành chính,quyết định kỷ luật cán bộ công chức

+ Quyết định hành chính: là quyết định bằng văn bản của Cơ quan hành chínhnhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được ápdụng 1 lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể trong hoạt động quản lý hànhchính

+ Hành vi hành chính: là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước người cóthẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụtheo quy định của pháp luật Lưu ý là khác với quyết định hành chính, hành vi hànhchính bị khiếu nại có thể là hành vi của công chức nhà nước không làm đúng hoặclàm trái các quy định của pháp luật nó được nhận biết là trái pháp luật có thể dohành động hoặc không hành động, hành động nghĩa là cán bộ, công chức không làmmột việc mà quy định phải làm

+ Quyết định kỷ luật cán bộ công chức là quyết định bằng văn bản của ngườiđứng đầu cơ quan, tổ chức áp dụng một trong các hình thức kỷ luật là khiển trách,cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc đối với cán bộ, côngchức thuộc quyền xử lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức

- KN Tư pháp: Là yêu cầu, đề nghị của công dân, tổ chức với cơ quan tư pháp,người có trách nhiệm trong cơ quan tư pháp về quyết định, hành vi mà ngườikhiếu nại cho là không đúng gây thiệt hại đến quyền và lợi ích chính đáng của họ

và đòi bồi thường thiệt hại do việc làm không đúng đó gây ra (chủ yếu là cáchoạt động liên quan đến điều tra, truy tố, xét xử) Hoạt động điều tra, truy tố, xét

xử được quy định rất rõ trong pháp luật tố tụng, đặc biệt là trong pháp luật tốtụng hình sự KN về lĩnh vực này thường có 2 loại KN liên quan đến quyết địnhđiều tra, truy tố, xét xử hoặc khiếu nại đối với các quyết định trong việc thựchiện một số biện pháp như khám xét nhà cửa, kiểm kê, niêm phong tài sản, kê

Trang 7

- KN của thành viên trong tổ chức đoàn thể đối với quyết định hoặc việc làm của

Trang 8

Câu 3: Tại sao trong hoạt động thanh tra phải "coi trọng công tác chính trị tư tưởng" hãy phân tích nguyên tắc trên và liên hệ việc thực hiện nguyên tắc này tại

cơ quan đơn vị nơi công tác?

Trả lời:

Thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xemxét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách phápluật, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan tổ chức cá nhân được thực hiện bởi cơ quan chuyêntrách theo một trình tự thủ tục do PL quy định Nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lýchính sách pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp thựchiện, phòng ngừa và phát hiện xử lý hành vi vi phạm pháp luật, giúp cơ quan tổ chức, cánhân thực hiện đúng quy định của pháp luật.Phát huy nhân tố tích cực góp phần nâng caohiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích họp pháp của cơquan, tổ chức, cá nhân

Luật Thanh tra năm 2010 quy định hoạt động thanh tra phải " Tuân theo phápluật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; khôngtrùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thựchiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổchức, cá nhân là đối tượng thanh tra".( Điều 7, Luật thanh tra năm 2010)

Để tiến hành một cuộc thanh tra do đoàn thanh tra thực hiện, chúng ta phải tuân

theo những nguyên tắc cụ thể phải ""coi trọng công tác chính trị tư tưởng" là một trong

những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động của đoàn thanh tra

Công tác chính trị, tư tưởng nhằm thống nhất chung về mục đích, yêu cầu, nộidung cuộc thanh tra cần đạt được trong nội bộ đoàn thanh tra; giữa các thành viên đoànThanh tra với đối tượng thanh tra và đạt sự nhất trí cao trong các cơ quan chức năng cóliên quan đến cuộc thanh tra

Trang 9

Nội bộ đoàn thanh tra cần thống nhất cao về ý nghĩa, tầm quan trọng, mục đích,yêu cầu mà cuộc thanh tra đã đề ra Việc quán triệt yêu cầu, nội dung, phương pháptiến hành, nội quy, kỷ luật cần thực hiện nghiêm túc Nội quy Đoàn thanh tra phải đượcthảo luận dân chủ tạo nên sự thống nhất; công tác quản lý, điều hành của Trưởng đoàn

là những vấn đề quan trọng tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong Đoànthanh tra Đây là nhân tố quan để cuộc thanh tra đạt được mục, yêu cầu đề ra

Sự thống nhất cao trong đoàn Thanh tra không chỉ dừng ở việc quán triệt các nộidung trên Thực tế cho thấy, diến biến tư tưởng của thành viên Đoàn thanh tra chịunhiều tác động của xã hội, môi trường thanh tra, các hành vi chống đối của đối tượngthanh tra, sự quan tâm của người ra quyết định thanh tra Mặt khác , trình độ năng lực,khả năng áp dụng pháp luật của thành viên đoàn thanh tra cũng khác nhau Vì vậy,chăm lo công tác chính trị tư tưởng trong đoàn thanh tra trước hết là thuộc về người raquyết định thanh tra và trưởng đoàn thanh tra

Trước hết, Trưởng đoàn thanh tra giao nhiệm vụ cho thành viên trong đoàn phảitùy khả năng cụ thể của từng người Việc giao nhiệm vụ theo phương châm đúngngười, đúng việc sẽ có tác dụng tốt, tạo tâm lý vững tin cho người được phân côngnhiệm vụ

Trong khi tiên hành thanh tra, trưởng Đoàn thanh tra phải theo sát công việc củatừng thành viên để kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng, tiến độ công việc để có sự điềuchỉnh kịp thời Trưởng đoàn thanh tra ngoài chức trách pháp luật quy định phải làngười bạn để thành viên đoàn thanh tra chia sẻ, là chỗ dựa tin cậy mỗi khi thành viênđoàn thanh tra gặp khó khăn

Công tác chính trị tư tưởng đối với đối tượng thanh tra và đơn vị được cử thanhtra cũng cần được chú trọng Tâm lý chung của đối tượng thanh tra là chống đối khônghợp tác với đoàn thanh tra Các hình thức chống đối của đối tượng thanh tra rất đa dạngnhưng phổ biến là không cung cấp hoặc chậm cung cấp hồ sơ, tài liệu cho đoàn thanh

Trang 10

tra; tìm nhiều biện pháp để thời gian thanh tra ghi trong quyết định thanh tra sớm kếtthúc, trong khi đó đoàn thanh tra chưa làm rõ được nội dung thanh tra

Do mỗi cuộc thanh tra đều có mục đích, yêu cầu, nội dung, nhiệm vụ thanh trakhác nhau Trước hết, Trưởng đoàn thanh tra và thành viên Đoàn thanh tra phải tìmhiểu đặc điểm, tình hình; gặp gỡ trao đổi, lắng nghe những ý kiến thuận chiều và tráichiều; tìm hiểu cách tổ chức công tác tài chính, kế toán của đơn vị đối tượng thanh tra;phát huy được vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng; sự đóng góp của các đoàn thể; tinhthần thẳng thắn đấu tranh xây dựng cán bộ đảng viên và quần chúng vào cuộc thanh tra.Đây là giai đoạn ban đầu của một cuộc thanh tra và là gđoạn khó khăn nhất nên trưởngđoàn và thanh viên đoàn thanh tra phải có thái độ cảm thông, chia sẻ đối tượng thanhtra thực sự tin tưởng, trao đổi hết những khó khăn, thuận lợi, những vấn đề mà nộidung thanh tra hướng tới

Tuy nhiên, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra với đối tượng thanhtra phải biết giữ mình không bị sa ngã Đồng thời, cũng là hành động thiết thực, thấm

nhuần lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh" Thanh tra là tai mắt của trên và là người bạn của dưới".

Công tác chính trị, tư tưởng ở nơi tiến hành thanh tra phải quan tâm và thực hiện liên tục trong suốt quá trình thanh tra Quá trình thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra và thanh tra viên phải tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo người ra quyết định thanh tra và sự đóng góp của các cơ quan chức năng; chấp hành tốt kỷ luật về chế độ chính trị, báo cáo

và tranh thủ sự phối hợp của các cơ quan chức năng có liên quan

Trang 11

Câu 4 Anh (chị) hãy phân tích quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng?, liên hệ trong nhận thức và thực hiện quan điểm của Đảng và NN về công tác phòng chống tham nhũng ở ngành, địa phương nơi công tác.

Trả lời: Kể từ khi thành lập nước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và

đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp phòng chống tham nhũng Năm 1945, Chủ tịchHCM đã ký sắc lệnh số 64/SL về việc thành lập Ban thanh tra đặc biệt để giám sát, pháthiện và xử lý cán bộ công chức vi phạm pháp luật trong đó có hành vi tham nhũng Ngày 27/01/1946, Chủ tịch HCM ban hành sắc lệnh số 223 về trừng trị các tội danhđưa và nhận hối lộ, biển thủ công quỹ CT HCM rất quan tâm về vấn đề phòng, chốngtham ô, quan liêu lãng phí Người cho rằng đó chính là thứ giặc nội xâm nguy hiểmkhông kém giặc ngoại xâm, nếu toàn Đảng, toàn dân không kiên quyết đấu tranh phòngchống thì sẽ dẫn đến những suy thoái đỗ vỡ không thể lường hết được Cùng với tham

ô, lãng phí cũng bị HCM coi là một tội lỗi đối với đất nước, đối với nhân dân Lãng phí

có khi còn có hại nhiều hơn tham ô, vì lãng phí rất phổ biến, lãng phí của cải, thì giờ,lực lượng của nhân dân, của Chính phủ Tham ô lãng phí còn làm tha hóa, suy thoáiđạo đức cách mạng của cán bộ, phá hoại tinh thần trng sạch, ý chí vượt khó của cán bộ,nhân dân, xói mòn long tin của nhân dân vào Đảng, nhà nước

Công tác chống tham ô, lãng phí là rất quan trọng, phải được tất cả các cấp, cácngành quan tâm và tiến hành thường xuyên

Tư tưởng của Hồ Chỉ tịch đã được quán triệt sâu sắc trong các Nghị quyết củaĐảng, trong các văn bản pháp luật của Nhà nước

Nghị quyết 14/NQ/TW đã chỉ rõ: chống tham nhũng là cuộc đấu tranh hết sức phứctạp, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng

- Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn chặt với đổi mới kinh tế xã hội, nâng caođời sống của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, tang cường đại đoàn kết toàn dân

Trang 12

- Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới hệ thống chínhtrị, xây dựng Đảng và kiện toàn, tăng cường đoàn kết nội bộ.

- Chống tham nhũng phải gắn liền với chống quan liêu, lãng phí

- Đấu tranh chống tham nhũng phải kết hợp giữa xây, phòng và chống Vừa tíchcực phòng ngừa, vừa xử lý nghiêm mọi hành vi tham nhũng

- Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng một cách chủ động, huy động, phối hợp chặtchẽ mọi lực lượng đấu tranh chống tham nhũng, thực hiện chống tham nhũng ở mọicấp, mọi ngành

- Đấu tranh chống tham nhũng là nhiệm vụ lâu dài, phải tiến hành kiên quyết, kiêntrì và thận trọng, không nóng vội, không chủ quan, phải có kế hoạch cụ thể, có bước đivững chắc, sử dụng nhiều biện pháp trong đó lấy giáo dục làm cơ sở, lấy pháp chế làmđảm bảo

Những quan điểm đó một lần nữa được khẳng định và nhấn mạnh tại Nghị quyết04/NQ/TW ngày 21/8/2006 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về phòng chống thamnhũng, lãng phí Nghị quyết đã đặt ra mục tiêu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi thamnhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triểnkinh tế xã hội, cũng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch,vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương liêm chính và đưa ra hệ thống quanđiểm:

- Đảng lãnh đạo chặt chẽ công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; phát huy sứcmạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân; thực hiện đồng bộ các biện phápchính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự

- Phòng chống tham nhũng, lãng phí phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế xãhội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cũng cố hệ thống chính trị vàkhối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh

Trang 13

- Vừa tích cực, chủ động phòng ngừa, vừa kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng,trong đó phòng ngừa là chính, gắn phòng chống tham nhũng, lãng phí với xây dựng,chỉnh đốn Đảng, phát huy dân chủ, thực hành tiết kiệm, chống chủ nghĩa cá nhân,chống quan liêu.

- Phòng chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài; phảitiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững chắc, tích cực và cótrọng tâm, trọng điểm

- Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chú trọng tổng kết thực tiễn và tiếp thu

có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài

Quan điểm của Đảng & Nhà nước ta về phòng chống tham nhũng được cụ thể hóa,thể hiện tập trung trong chiến lược quốc gia về phòng chống tham nhũng đến năm 2020

cụ thể như sau:

1 Phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính chị dưới sự lãnhđạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhân mạnh tráchnhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổchức đoàn thể và quần chúng nhân dân

2 Phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng vừa cấp bách vừa lâu dài,xuyên suốt quá trình phát triển KTXH và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trongthời kỳ mới

3 Sử dụng tổng thể các giải pháp phòng, chống tham nhũng, vừa tích cực chủ độngtrong phòng ngừa, vừa kiên quyết trong phát hiện, xử lý với những bước đi vững chắc

có trọng tâm, trọng điểm, trong đó phòng ngừa là cơ bản, lâu dài; gắn phòng chốngtham nhũng với thực hành tiết kiện, chống quan liêu lãng phí

4 Xây dựng lực lượng chuyên trách đủ mạnh, có phẩm chất chính trị, bản lĩnh đạođức nghề nghiệp làm nòng cốt trong công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng

Trang 14

theo hướng chuyên môn hóa với các phương tiện, công cụ, kỹ năng phù hợp, bảo đảmvừa chuyên sâu vừa bao quát các lĩnh vực, các mặt của đời sống KT-XH.

5 Đặt quá trình phòng, chống tham nhũng trong điều kiện hội nhập, chủ động hợptác hiệu quả với các quốc gia, các tổ chức quốc tế; chú trọng tổng kết thực tiển và tiếpthu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài trong công tác phòng, chống tham nhũng

Liên hệ thực tiễn:

- Trong lý luận nhận thức:

- Trong công tác phòng, chống tham nhũng tại ngành, địa phương mình:

Trang 15

Câu 5: Trình bày nội dung và trách nhiệm của các cấp các ngành trong QLNN về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo(trang 200-204 giáo trình)

 Nội dung QLNN về công tác giải quyết KN, TC:

Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục

do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lạiquyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, củangười có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán

bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâmphạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ

chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

-Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân, là hình thức dân chủ trực tiếp để nhândân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền vàlợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân Nhận thức được tầm quan trọng củavấn đề này, Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo,tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền khiếu nại, tố cáo của mình

và tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tinh thần đó đã được thể chế hoátại Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và đã được sửa đổi bổ sung tại các Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004 và năm 2005 và nay là LuậtKhiếu nại 2011, Luật Tố cáo 2011

Công tác giải quyết KN, TC lien quan đến tất cả các ngành, vì thế quản lý nhà nước vềcông tác giải quyết KN, TC cũng là trách nhiệm của nhiều cơ quan Nội dung công tácQLNN về giải quyết KN, Tc bao gồm:

+ Ban hành các văn bản pháp luật về giải quyết KN, TC;

Trang 16

+ Tuyên truyền, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về KN, TC+ Thah tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về KN, TC;

+ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chưc làm công tác giải quyết KN, TC và tiếp côngdân;

+ Tổng hợp tình hình KN, TC và việc giải quyết KN, TC;

+ Tổng kết kinh nghệm về công tác giải quyết KN, TC

*Trách nhiệm của các cấp các ngành trong quản lý NN về công tác giải quyết KN, TC:

Theo quy định tại Điều 63 Luật KN 2011 và Điều 41 Luật TC 2011 thì:

+ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại của các cơquan hành chính nhà nước, quản lý công tác giải quyết tố cáo trong các cơ quan hànhchính nhà nước trong phạm vi cả nước

+ Thanh tra Chính phủ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước

về công tác giải quyết khiếu nại trong phạm vi cả nước, thực hiện quản lý nhà nước vềcông tác giải quyết tố cáo trong phạm vi thẩm quyền của Chính phủ

+ Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước vềcông tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi quản lý của mình

+ Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,thanh tra sở, thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giúp thủ trưởng cơquan quản lý nhà nước cùng cấp quản lý công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

Câu: 6 – Trình bày về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao thực hiện chức năng TT chuyên ngành? Theo quy định của pháp luật hiện nay những

cơ quan nào được giao thực hiện chức năng TT chuyên ngành?

Trả lời

Trang 17

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN ĐƯỢC GIAO THỰC HIỆN CHỨCNĂNG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục và tương đương, Cục thuộc Bộ, Cục thuộc Tổng cục và tương đương, Chi cục thuộc Sở, Chi cục thuộc Cục và tương đương được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành

1 Tổng cục và tương đương (sau đây gọi chung là Tổng cục); Cục thuộc Bộ; Chi cụcthuộc Sở có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Xây dựng kế hoạch thanh tra gửi Thanh tra bộ, Thanh tra sở tổng hợp trình Bộtrưởng, Giám đốc sở phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đó;

b) Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹthuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực;

c) Thanh tra những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được Chánh Thanh tra

bộ, Chánh Thanh tra sở giao;

d) Thanh tra những vụ việc khác do Bộ trưởng, Giám đốc sở giao;

đ) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý vềthanh tra của mình;

e) Tổng hợp, báo cáo kết quả thanh tra chuyên ngành với Thanh tra bộ, Thanh tra sở

2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Cục thuộc Tổng cục và tương đương, Chi cục thuộc Cục

và tương đương được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành; Cục trưởngthuộc Tổng cục và tương đương, Chi cục trưởng thuộc Cục và tương đương; chế độthông tin, báo cáo, hoạt động thanh tra chuyên ngành của Cục thuộc Tổng cục và tươngđương, Chi cục thuộc Cục và tương đương được giao thực hiện chức năng thanh trachuyên ngành do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định cụ thể

Trang 18

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục trưởng và tương đương, Cục trưởng thuộc

Bộ, Chi cục trưởng thuộc Sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành

Tổng cục trưởng và tương đương (sau đây gọi chung là Tổng cục trưởng); Cục trưởngthuộc Bộ; Chi cục trưởng thuộc Sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyênngành có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1 Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra công tác thanh tra chuyên ngành được giao

2 Quyết định thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc theo yêu cầucủa Bộ trưởng, Chánh Thanh tra bộ, Giám đốc sở, Chánh Thanh tra sở; phân công côngchức thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành

3 Kiến nghị người có thẩm quyền xử lý việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nộidung, thời gian thanh tra trong phạm vi quản lý của cơ quan mình

4 Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành quy địnhcho phù hợp với yêu cầu quản lý; kiến nghị đình chỉ hoặc hủy bỏ quy định trái phápluật phát hiện qua công tác thanh tra

5 Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật

CƠ QUAN ĐƯỢC GIAO THỰC HIỆN CHỨC NĂNG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH

- Tổng cục và tương đương, Cục thuộc Bộ được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành

1 Bộ Công Thương: Cục Quản lý thị trường, Cục Hóa chất, Cục Kỹ thuật an toàn vàMôi trường công nghiệp

Trang 19

2 Bộ Giao thông vận tải: Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục Đường sắt Việt Nam,Cục Đường thủy nội địa Việt Nam, Cục Hàng hải Việt Nam, Cục Hàng không ViệtNam.

3 Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Tổng cục Thống kê

4 Bộ Khoa học và Công nghệ: Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Cục Antoàn bức xạ và Hạt nhân

5 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Tổng cục Dạy nghề, Cục Quản lý Lao độngngoài nước

6 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Tổng cục Thủy lợi; Tổng cục Lâm nghiệp;Tổng cục Thủy sản; Cục Thú y; Cục Bảo vệ thực vật; Cục Trồng trọt; Cục Chăn nuôi;Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản; Cục Kinh tế hợp tác và Phát triểnnông thôn; Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối

7 Bộ Ngoại giao: Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài

8 Bộ Nội vụ: Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Ban Tôn giáo Chính phủ

9 Bộ Tài nguyên và Môi trường: Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, Tổng cục Môitrường, Tổng cục Quản lý đất đai

10 Bộ Tài chính: Tổng cục Thuế; Tổng cục Hải quan; Kho bạc Nhà nước; Ủy banChứng khoán Nhà nước; Tổng cục Dự trữ Nhà nước; Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm

11 Bộ Thông tin và Truyền thông: Cục Tần số vô tuyến điện; Cục Viễn thông; CụcQuản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử; Cục Báo chí; Cục Xuất bản

12 Bộ Y tế: Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình; Cục Quản lý dược; Cục Quản

lý khám, chữa bệnh; Cục Quản lý môi trường y tế; Cục Y tế dự phòng; Cục An toàn vệsinh thực phẩm

- Cục thuộc Tổng cục và tương đương được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành

Trang 20

3 Trung tâm Tần số khu vực.

4 Chi cục Quản lý thị trường thuộc Sở Công Thương

5 Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thuộc

Sở Y tế

6 Chi cục về bảo vệ thực vật, thú y, thủy sản, quản lý chất lượng nông lâm sản và thủysản, thủy lợi, đê điều, lâm nghiệp, phát triển nông thôn thuộc Sở Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn

Trang 21

Câu: 7 – Phân tích khái niệm Tố cáo theo quy định của Luật tố cáo và nhận dạng

tố cáo:

trả lờiKhái niệm tố cáo:

Tố cáo theo nghĩa chung là vạch tội lỗi, hành vi vi phạm, việc làm không đúngcủa kẻ khác trước cơ quan, tổ chức hoặc trước dư luận, trước nhân dân

Theo quy định của Luật tố cáo năm 2011: Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do

Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi viphạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gâythiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.Theo quy định của luật khiếu nại, tố cáo thì chủ thể được quyền tố cáo chỉ là côngdân, khác với khiếu nại, chủ thể được quyền khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức.quy định này nhằm cá thể hóa trách nhiệm của người tố cáo trong trường hợp tố cáo sai

sự thật và không chấp nhận tố cáo đông người, tố cáo tập thể Quyền tố cáo là quyềnchính trị cơ bản của công dân Công dân tức là “người có quốc tịch Việt Nam” (theoĐiều 49 Hiến pháp 1992); và cá nhân nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam Như vậy:công dân dù bị ảnh hưởng trực tiếp hay không bị ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm phápluật của đối tợng bị tố cáo, đều có quyền thực hiện việc tố cáo khi biết được có hành vi

vi phạm pháp luật xảy ra trong đời sống xã hội

Hình thức tố cáo là người tố cáo phải làm đơn hoặc trực tiếp tố cáovới cơ quan, tốchức cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật tức là Công dân có thể cungcấp các thông tin về hành vi vi phạm pháp luật cho các cơ quan nhà nước có thẩmquyền, theo một trình tự thủ tục do pháp luật quy định và người tố cáo luôn là chủ thể

xác định, có những quyền, nghĩa vụ được quy định trong Luật tố cáo. Khi công dân

thực hiện quyền tố cáo thì giữa họ với cơ quan nhà nước sẽ phát sinh những quan hệ

Trang 22

pháp luật nhất định, họ phải trình bày trung thực nội dung tố cáo và họ phải chịu tráchnhiệm về trước pháp luật về những thông tin mà mình cung cấp

Nội dung tố cáo của công dân rất đa dạng và phức tạp; có tố cáo về những việclàm trái pháp luật của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước khi thực hiện nhiệm

vụ, công vụ; có những tố cáo về những sai phạm trong công tác quản lý của các cơ

quan, trong đó có cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Ngoài ra, công dân có thể tố

cáo các hành vi vi phạm về đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức… Tổng hợp lại,đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhânnào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi íchhợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Quy định này đã chỉ rõ hành vi bị tố cáokhông chỉ là hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại mà còn bao gồm cả những hành vi

vi phạm pháp luật đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức và cá nhân

Từ đó, có thể thấy trách nhiệm của Nhà nước ta trong việc quản lý đất nước, không chỉ

là khắc phục những hành vi gây thiệt hại mà trước đó phải phòng ngừa và ngăn chặnkịp thời những hành vi vi phạm có thể xảy ra, tránh những thiệt hại cho xã hội Việc tốcáo của công dân cũng theo đó mà đòi hỏi Nhà nước phải có biện pháp giáo dục, trừngtrị kịp thời, thậm chí là áp dụng các biện pháp nghiêm khắc để loại trừ những hành vitrái pháp luật xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân

Các dạng tố cáo:

- Nếu căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm PL của hành vi bị tố cáo, thì có thểphân thành tố cáo về tội phạm, tin báo, tố giác về tội phạm; tố cáo về vi phạm pháp luậtchung

- Nếu căn cứ vào lĩnh vực thì có thể chia thành tố cáo về hành vi vi phạm chưađến mức tội phạm(xử lý hành chính)thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hànhchính NN; tố cáo về tội phạm(bao gồm cả tin báo, tố giác về TP) thuộc thẩm quyền giảiquyết của CQtư pháp- CQ tiến hành tố tụng; tố cáo hành vi VPPLvề lao động thuộc

Trang 23

-Nếu căn cứ vào đối tượng bị tố cáo thì có thể chia thành tố cáo hành vi VPPL củaCBCC trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo hành vi VPPL trong các lĩnh vựcquản lý của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào.

Ngoài ra còn có tố cáo đối với hành vi vi phạm(vi phạm pháp luật hoặc vi phạmđiều lệ) của các thành viên của các tổ chức thộc thẩm quyền giải quyết của các tổ chức(chính trị, chính trị-xã hội, kinh tế, xã hội, nghề nghiệp )

Tóm lại, quyền khiếu nại và quyền tố cáo là những quyền chính trị cơ bản của

công dân, là phương tiện bảo đảm cho việc thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợppháp khác của công dân, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội Đồng thời đó cũng lànguồn thông tin quan trọng về tình trạng pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước,

nó góp phần củng cố mối liên hệ giữa nhà nước và công dân

Trang 24

Câu 8: Phân tích mục đích của hoạt động thanh tra? Liên hệ thực hiện mục đích của hoạt động thanh tra ở cơ quan, đơn vị nơi anh chị đi học:

Trả lời:

Khái niệm:thanh tra là chức năng thiết yếu của QLNN, là hoạt động kiểm tra, xemxét, đánh giá, xử lý của CQQLNN đối với việc thực hiện chính sách, PL,nghĩa vụ,quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách theo

một trình tự, thủ tục pháp luật quy định nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý,

chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắcphục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức,

cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phầnnâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Mục đích của hoạt động thanh tra là nội dung quan trọng đã được pháp luật thanhtra đề cập, đó là:

- Phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơquan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục:

- Phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật:

-Giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật:

- Phát huy nhân tố tích cực;

- Góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước;

- Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cánhân

Như vậy: so với luật TT 2004, LTT2010 đã thể hiện rõ mục đích thanh tra theo tưtưởng của Ctịch HCM: “ Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới” Đồngthời với vai trò là công cụ của quản lý nhà nước, mục đích chủ yếu của hoạt động thanh

Trang 25

tra là giúp chủ thể quản lý nhà nước kiểm soát và đảm bảo cho các đối tượng quản lýchấp hành đúng pháp luật chứ không chỉ tìm ra vi phạm để xử lý.

Trang 26

Câu 9: Phân biệt khái niệm KN,TC trong Luật KN, Luật TC

Theo Luật khiếu nại 02/2011/QH13: Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ

chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổchức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chínhcủa cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chínhnhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết địnhhoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Theo Luật Tố cáo 03/2011/QH13 : Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật

này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạmpháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệthại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

- Chủ thể: công dân, cơ quan, tổ chức

hoặc cán bộ, công chức thực hiện quyền

khiếu nại

- Đối tượng: quyết định hành chính, hành

vi hành chính của cơ quan hành chính

nhà nước, của người có thẩm quyền trong

cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết

định kỷ luật cán bộ, công chức

- Mục đích: Nhằm bảo vệ lợi ích của

người đi khiếu nại

- Chủ thể: công dân thực hiện quyền tốcáo

- Đối tượng: về hành vi vi phạm phápluật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân

Trang 27

- Mục đích: Bảo đảm lợi ích của nhànước, quyền lợi ích hợp pháp của côngdân, cơ quan, tổ chức.

Trang 28

một phạm vi hẹp, đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng

Theo nghĩa hẹp và là khái niệm  được pháp luật Việt Nam quy định (tại Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005), tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn

đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi [2]  Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới

hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chínhtrị; nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sảncủa Nhà nước Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vitham nhũng ở khu vực xảy ra phổ biến nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thích hợpvới việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như: kê khai tài sản, côngkhai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý trách nhiệm củangười đứng đầu

2 Những đặc trưng cơ  bản

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc trưng cơ bảnnhư sau:

a) Chủ  thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn

Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức vụ,quyền hạn Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ

Trang 29

Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹthuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trongdoanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn gópcủa Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền

hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó (khoản 3, Điều 1, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005).

Nhìn chung, nhóm đối tượng này có  đặc điểm đặc thù so với các nhóm đối tượngkhác như: họ thường là những người có  quá trình công tác và cống hiến nên có nhiềukinh nghiệm; được đào tạo có hệ thống, là những chuyên gia trên nhiều lĩnh vực khácnhau; là  những người có quan hệ rộng và có uy tín xã hội nhất định và thậm chí có thế mạnh về kinh tế Những đặc điểm này của chủ thể hành vi tham nhũng chính là yếu

tố gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xét xử hành vi tham nhũng

b) Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao

“Lợi dụng chức vụ, quyền hạn”  để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng Khithực hiện hành vi tham nhũng, kẻ tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn củamình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc chongười khác Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng Một người có chức

vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vitham nhũng Tuy nhiên, không phải mọi hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đãlợi dụng chức vụ, quyền hạn đó đều được coi là hành vi tham nhũng Ở đây có sự giaothoa giữa hành vi này với các hành vi tội phạm khác, do vậy cần lưu ý khi phân biệthành vi tham nhũng với các hành vi vi phạm pháp luật khác. 

c) Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi

Hành vi tham nhũng là hành vi cố ý Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi.Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng

Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ,quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng Như vậy,

Trang 30

khi xử lý về hành vi tham nhũng, không bắt buộc chủ thể tham nhũng phải đạt được lợiích.

Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định việc đánh giá tính chất và mức  độ nguy hiểmcủa hành vi tham nhũng chủ yếu dựa trên căn cứ xác định những lợi ích vật chất mà kẻtham nhũng đạt được để từ đó quyết định mức độ xử lý Lợi ích vật chất hiện nay trong

cơ chế thị trường thể hiện ở rất nhiều dạng khác nhau, nếu chỉ căn cứ vào những tài sảnphát hiện hoặc thu hồi được để đánh giá lợi ích mà kẻ tham nhũng đạt được thì sẽ làkhông đầy đủ Thêm nữa, các lợi ích vật chất và tinh thần đan xen rất khó phân biệt; ví

dụ như: việc dùng tài sản của Nhà nước để khuyếch trương thanh thế, gây dựng uy tínhay các mối quan hệ để thu lợi bất chính Trong trường hợp này, mục đích của hành vivừa là lợi ích vật chất, vừa là lợi ích tinh thần

Đối với khu vực tư, khi có vụ việc tham nhũng xảy ra, pháp luật đã có những

sự điều chỉnh nhất định Tuy nhiên, cũng có trường hợp, người có chức vụ, quyền hạntrong các tổ chức, doanh nghiệp thuộc khu vực tư cấu kết, móc nối với những ngườithoái hoá, biến chất trong khu vực công hoặc lợi dụng ảnh hưởng của những người này

để trục lợi Trong trường hợp đó, họ trở thành đồng phạm khi người có hành vi thamnhũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự

3 Các hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật hiện hành

Bộ  luật hình sự, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã phân loại tham nhũng

theo hành vi Theo đó, những hành vi sau đây thuộc nhóm hành vi tham nhũng:

- Tham ô tài sản

- Nhận hối lộ

- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm  đoạt tài sản

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

- Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

Trang 31

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây  ảnh hưởng với người khác để trục lợi.

- Giả mạo trong công tác vì vụ  lợi

- Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn  đểgiải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử  dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ  lợi

- Nhũng nhiễu vì vụ lợi

- Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ  vì vụ lợi

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật

vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điềutra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi

Trong 12 hành vi tham nhũng nêu trên, có  7 hành vi đã được quy định

trong Bộ luật hình sự năm 1999; được sửa đổi, bổ sung ngày năm 2009 và có hiệu lực

từ ngày 1-1-2010, bao gồm:

- Tham ô tài sản: là lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình cótrách nhiệm quản lý

- Nhận hối lộ: là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian

đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào

để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ

- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm  đoạt tài sản

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi: là việc cá nhân vì vụ lợi hoặc động cơ  cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làmtrái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp phápcủa công dân

Trang 32

- Lạm quyền trong khi thi hành công vụ: là  cá nhân vì vụ lợi hoặc động cơ  cá nhânkhác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích củaNhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây  ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi: làviệc cá nhân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc

sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào, gây hậu quảnghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, để dùng ảnh hưởngcủa mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộctrách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc khôngđược phép làm

- Giả mạo trong công tác: là cá  nhân vì vụ lợi hoặc động cơ cá  nhân khác mà lợidụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây:

+ Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu;

+ Làm, cấp giấy tờ giả;

+ Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn[3]

Hành vi thứ 8 đến hành vi thứ 12 mới được bổ sung do đây là những hành vi đã phátsinh và đang trở nên phổ biến trên thực tế, cần được quy định cụ thể làm cơ sở pháp

lý cho việc xử lý So với những hành vi tham nhũng tại Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 và các tội phạm về tham nhũng trong Bộ luật hình sự năm 1999; được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì Luật phòng, chống tham nhũng có bổ sung 5 hành vi tham

nhũng mới Đây là những hành vi xuất hiện ngày càng phổ biến trong thời gian gầnđây Việc quy định thêm 5 loại hành vi mới này là cần thiết và là cơ sở pháp lý để đấutranh với những biểu hiện ngày càng phức tạp của tham nhũng Tuy nhiên, không phảimọi hành vi tham nhũng đều bị xử lý về hình sự mà chỉ những hành vi hội đủ các dấu

hiệu cấu thành tội phạm quy định trong Bộ luật hình sự thì mới được xác định là tội

phạm và bị xử lý bằng biện pháp hình sự, (các hành vi được quy định từ khoản 1 đến

Ngày đăng: 06/02/2023, 14:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w