ĐÂY LÀ CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN CHI TIẾT CHUYÊN ĐỀ VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CHO KÌ THI CHUYÊN VIÊN CHÍNH , THANH TRA VIÊN CHÍNH , CHUYÊN VIÊN CAO CẤP , THANH TRA VIÊN CAO CẤP . ĐỀ THI QUA CÁC NĂM ĐÁP ÁN CHI TIẾT, ĐẦY ĐỦ ĐƯỢC CHỌN LỌC . ĐÂY LÀ TÀI LIỆU RẤT HAY VA CẦN THIẾT CHO CÁC BẠN CHUẨN BỊ CHO KÌ THI NÂNG NGẠCH. CHÚC CÁC BẠN ĐẠT KẾT QUẢ TỐT TRONG KÌ THI .
Trang 1Quyền lực NN là bộ phận quan trọng nhất của QLCT bởi vì:
- Bản chất QLNN là quyền lực của giai cấp thống trị (QLNN là QLCT của giai cấpcầm quyền được tổ chức thành NN)
- QLNN có tính đặc thù ở chỗ nó gắn với bộ máy và phương tiện cưỡng chế thihành như CQHC, thủ tục pháp lý, lực lượng vũ trang…
QLNN là một bộ phận của QLCT, QLNN có đầy đủ các đặc trưng của QLCT
- QLNN được thực hiện bằng hệ thống bộ máy nhà nước
- Khả năng sử dụng các công cụ, phương tiện, lực lượng Nhà nước để buộc cácgiai cấp, tầng lớp XH khác phải phục tùng ý chí của giai cấp, tầng lớp thống trị
- Là bộ phận quan trọng nhất của QLCT, tạo nên sự thay đổi của QLNN (chínhquyền thuộc về giai cấp, tầng lớp nào) sẽ dẫn đến sự thay đổi căn bản tính chất củaquyền lực chính trị, phương thức cầm quyền và chế độ chính trị
- Quyền lực nhà nước là bộ phận quan trọng nhất của QLCT.Việc chuyển quyềnlực nhà nước từ tay giai cấp này sang tay giai cấp khác sẽ làm thay đổi bản chấtcủa chế độ chính trị
- Mọi dạng quyền lực nhà nước đều mang tính chính trị nhưng không phải mọiquyền lực chính trị đều có tính chất của quyền lực nhà nước So với quyền lực NN,quyền lực CT rộng hơn, đa dạng hơn về phương pháp thực hiện cũng như hìnhthức biểu hiện
- QLNN trong xã hội hiện đại bao gồm 3 nhánh chủ yếu là quyền lập pháp, quyềnhành pháp và quyền tư pháp
Câu 2 Phân tích cơ chế “ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”
Cơ chế là sự vận hành tổng hợp của các yếu tố trong một sự vật theo một nguyêntắc nhất định, để sự vật đó tồn tại và phát triển đúng như bản chất vốn có của nó
Sự vận hành cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là bảođảm mở rộng và thực thi có hiệu quả nền dân chủ XHCN, làm cho mọi quyền lực
xã hội đều thuộc về nhân dân
Trang 2Đảng lãnh đạo – yếu tố tiên quyết đảm bảo cho sự vận hành cơ chế có hiệu quả.
Vai trò lãnh đạo của Đảng không tự nhiên mà có và không phải cứ tự nhận màđược Vai trò đó đã được thử thách, kiểm nghiệm trong đấu tranh giải phóng dântộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc hiện nay Nhân dân Việt Nam thừa nhận, tin tưởng trao cho Đảngvai trò lãnh đạo toàn xã hội và dân tộc
Nhà nước quản lý – yếu tố quyết định trực tiếp sự thành công trong vận hành cơ
chế Nhà nước của chúng ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Vấn đề đặt ra là, làm thếnào để bảo đảm và phát huy vai trò quản lý của nhà nước trong điều kiện xây dựngNhà nước pháp quyền?
Nhân dân làm chủ - yếu tố trung tâm của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản
lý, nhân dân làm chủ” Tầm quan trọng đặc biệt của yếu tố này biểu hiện ở chỗ:quyền lực của Đảng và Nhà nước đều từ quyền lực của nhân dân
Cương lĩnh năm 1991 do Đại hội VII của Đảng thông qua đã khẳng định bản chất,nội dung của mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làmchủ Về mối quan hệ của Đảng với xã hội (trong đó có Nhà nước) và nhân dân,Cương lĩnh chỉ rõ:” Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các địnhhướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyếtphục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên,Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào các hoạtđộng trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoànt hể Đảng không làmthay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy Đảngliên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trongkhuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
+ Về mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, Cương lĩnh xác định: Là tổ chứcthể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, Nhà nước
ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọimặt đời sống xã hội bằng pháp luật
Nhà nước có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắngnghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân
Qua các văn kiện của Đảng, costheer đưa ra quan điểm về nội dung moisquan hệgiữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ như sau: Đảng lãnh đạoNhà nước và xã hôi bằng chủ trương, đường lối và mục tiêu chính trị của mình,
Trang 3trong đó mục tiêu chính trị cao nhất của Đảng là vì lợi ích của nhân dân, do vậyĐảng được nhân dân suy tôn, ủy thác quyền lãnh đạo xã hội Để cụ thể hóa, thựcthi đường lối chính trị, Đảng cần có bộ máy nhà nước do Đảng lãnh đạo, cử cán
bộ, đảng viên để bầu vào các vị trí lãnh đạo.Nhân dân làm chủ thông qua đại diệncủa mình (do Đảng giới thiệu để nhân dân lựa chọn, bầu ra) bằng hệ thống luậtpháp.Về phần mình, nhân dân có nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền hạn ở chỗ tham giaxây dựng luật pháp; thực hiện và giám sát các tổ chức, cá nhân của Đảng, Nhànước thực hiện các quy định của luật pháp Hiệu quả công tác lãnh đạo của Đảng,quản lý của Nhà nước, làm chủ của nhân dân, xét cho cùng là hiệu quả thực hiện ýchí, nguyện vọng của Đảng và nhân dân /
Câu 3: Phân tích vai trò của Nhà nước trong hệ thống chính trị (HTCT)? Tại sao nói nhà nước là trung tâm của HTCT.
Nhà nước là tổ chức quan trọng nhất trong việc thực thi quyền lực chính trị củagiai cấp cầm quyền, bằng hệ thống luật pháp buộc mọi người phải tuân thủ; đồngthời còn những tổ chức cưỡng chế đặc biệt như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù…
để bảo đảm thực hiện
Trong hệ thống chính trị ,nhà nước giữ vai trò quản lý chủ yếu, thông qua việc banhành hệ thống pháp luật và thực thi hệ thống đó trong xã hội nhà nước hiện thựchóa đường lối phát triển của đảng cầm quyền đã được pháp lý hóa trong hệ thốngpháp luật, đồng thời nhà nước trong một quốc gia còn là chủ thể duy nhất của côngpháp quốc tế
Nhà nước Cộng hòa XHCNVN là trụ cột của hệ thống chính trị nước ta, là công cụ
tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu tráchnhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội Nhà nước
là phương tiện quan trọng nhất của nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình.Nhà nước trong HTCT có chức năng thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảngthành các quy định pháp luật trong Hiến pháp và các quy định pháp luật khác vàthực hiền quyền quản lý đất nước Hoạt động của nhà nước nằm dưới sự lãnh đạocủa Đảng nhưng có tính độc lập tương đối, với các công cụ và phương thức quản
lý riêng của mình
Nhà nước là trung tâm của hệ thống chính trị bởi vì:
Nhà nước là đại diện chính thức cho mọi giai cấp và các tầng lớp nhân dân trong
xã hội Nhà nước là tổ chức công quyền, là chủ thể của quyền lực chính trị
Trang 4Nhà nước quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội và cónhững phương tiện và công cụ để duy trì trật tự xã hội ổn định
Nhà nước CHXHCNVN sử dụng pháp luật và thông qua pháp luật để quản lý xãhội, thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước
Nhà nước CHXHCNVN là tổ chức chính trị mang chủ quyền quốc gia; là tổ chứcduy nhất được coi là chủ thể của công ước quốc tế
Nhà nước CNXHCNVN là chủ sở hưu đối với tư liệu sản xuất quan trọng của xãhội, thông qua đó nhà nước điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế
Câu 4 Phân tích cách thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước và cho biết mối quan hệ giữa quyền hành pháp với quyền lập pháp và quyền tư pháp?
“ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”
Đây vừa là quan điểm vừa là nguyên tắc chỉ đạo công cuộc tiếp tục, xây dựng vàhoàn thiện bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh toàn diệncông cuộc đổi mới cả về kinh tế lẫn chính trị
Về quyền lực nhà nước là thống nhất.
Quyền lực nhà nước thống nhất là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn sâu sắc.Cho đến nay, các khía cạnh của vấn đề quyền lực NN là thống nhất như: thế nào làthống nhất quyền lực nhà nước? Quyền lực NN thống nhất ở đâu? Ý ngĩa củaquyền lực NN là thống nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhưthế nào? Các khía cạnh này chưa được nhận thức thống nhất Có một số người chorằng, quyền lực NN là thống nhất nhưng sự thống nhất đó tập trung vào Quốc hội
Do vật Quốc hội được Hiến pháp xác nhận là cơ quan quyền lực NN cao nhất Vàvới vị trí pháp lý đó, những người này cho rằng Quốc họi là cơ quan có qoànquyền, là cơ quan cấp trên của các quyền hành pháp và tư pháp Một số khác lạicho rằng, trong nhà nước kiểu mới như nước ta, giai cấp công nhân và nhân dânlao động dưới sự lãnh đạo của một Đảng, ngày càng thống nhất về lợi ích, trongnội bộ không có sự phân chia thành phe phái đối lập như trong nhà nước tư sản,nên thống nhất quyền lực nhà nước là yếu tố cơ bản, duy nhất giữ vai trò quyếtđịnh trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước mà không cần thiết phảiphân công quyền lực nhà nước Quan niệm này đề cao tính thống nhất của quyềnlực nhà nước, phủ nhận, xem thường hoặc hạ thấp vai trò phân công, phân nhiệmrành mạch quyền lực nhà nước.Thực chất quan niệm này cũng không khác gì quanđiểm nói trên
Trang 5Theo nội dung và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 thì quyền lực nhà nướcthống nhất là ở Nhân dân Quan niệm thống nhất quyền lực nhà nước là ở Nhân
dân thể hiện ở nguyên tắc “tất cả quyền lực NN thuộc về Nhân dân” Trước đây, Hiến pháp cũng quy định “Tất cả quyền lực Nn thuộc về nhân dân” nhưng được
thực hiện bằng nguyên tắc tập trung quyền lực NN (tập quyền) Do đó, tất cảquyền lực NN thuộc về nhân dân nhưng lại tập trung vào Quốc hội, như quan niệmnói trên Với nhân thức rằng, Nhân dân là chủ thể của quyền lực NN nhưng vìkhông thực hiện được quyền lực NN một cách trực tiếp nên đã trao toàn bộ quyềnlực NN của mình cho Quốc hội Quốc hội được Hiến pháp năm 1980 xác định là
cơ quan có toàn quyền Ngoài 15 nhiệm vụ và quyền hạn quy định ở Điều 83, Hiến
pháp 1980 còn quy định “ Quốc hội có thể định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết” (Điều 83) đến Hiến pháp năm 1992, Điều
84 quy định Quốc hội chỉ có 14 nhiệm vụ quyền hạn (không còn là một Quốc hộitoàn quyền như Hiến pháp năm 1980), nhưng Điều 6 Hiến pháp lại quy định :”Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng Nhân dân
là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguện vọng cuarNhaan dân…” Như vậy,Quốc hội vẫn là Quốc hội toàn quyền trong Hiến pháp năm 1992 bời Nhân dânkhông thực hiện quyền lực Nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp mà chỉbằng hình thức daanchur đại diện Nguyên tắc tập trung quyền lực nhà nước củaNhân dân vào Quốc hội phù hợp với điều kiện kinh tế kế hoạch hóa, tập trung quanliêu bao cấp, với ưu điểm bảo đảm cho quyền lực nhà nước tập trung, quyết định
và thực thi quyền lực nhà nước nhanh chóng, thống nhất Tuy nhiên, nguyên tắcnày trong điều kiện mới đã bộc lộ nhiều hạn chế Đó là thiếu sự phân định phạm viquyền lực nhà nước được nhân dân giao quyền nân không đề cao được trách nhiệmcủa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hạ thấp vai trò daanchur trực tiếpcủa nhân dân, thiếu sự kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước.Hơn nữa, nguyên tắc này phủ nhận tính độc lập tương đối giữa các quyền nên đãhạn chế tính năng động, hiệu quả và trách nhiệm của mỗi quyền Nhân dân và xãhội không cơ sở để đánh giá chất lượng hoạt động của quyền lực nhà nước Dovậy, trong điều kiện dân chủ và pháp quyền XHCN, tập quyền không phù hợp vớiviệc phát huy đầy đủ vai trò của quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, tiềm ẩnnguy cơ lạm dụng quyền lực NN của Nhân dân từ phía các cơ quan nhà nước.Nhận rõ hạn chế của nguyên tắc tập quyền trong điều kiện mới, Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung và phát triển năm 2011), Hiến phápnăm 2013 đã khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phốihợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp, tư pháp (Điều 2) Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân được Hiến
Trang 6pháp quan niệm Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, Nhân dânthông qua quyền lập hiến giao quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, choChính phủ và cho cơ quan tư pháp như các Hiến pháp trước đây Theo điều 70Hiến pháp năm 2013, Nhân dân chỉ trao cho Quốc hội ba nhóm quyền hạn vànhiệm vụ: quyền hạn và nhiệm vụ về lập hiến, lập pháp; quyền hạn và nhiệm vụ vềgiám sát tối cao; quyền hạn và nhiệm vụ về quyếtđịnh các vấn đề quan trọng củađất nước Đồng thời Điều 6 quy định Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nướckhông những bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng Nhân dân vàcác cơ quan khác của Nhà nước mà còn bằng dân chủ trực tiếp thông qua việc thựchiện quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý, trong đó có trưng cầu
ý dân về Hiến pháp (điều 29 và điều 120) có như vậy, nguyên tắc tất cả quyền lựcnhà nước thuộc về nhân dân mới đúng, mới bảo đảm thực hiện đầy đủ, không hìnhthức Như vật, thống nhất quyền lực nhà nước được hiểu là toàn bộ quyền lực nhànước thuộc về Nhân dân, tập trung thống nhất ở Nhân dân, chứ không phải tậptrung ở Quốc hội Quan niệm đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực Trướchết, điều đó chỉ ra rằng quyền lực NN dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tưpháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là Nhân dân, đều do Nhân dân ủyquyền, giao quyền Do vậy, nói quyền lực nhà nước là thống nhất trước tiên là sựthống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhà nước Cả ba quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhaunhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng một nhà
nước “đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh “ như Điều 3 Hiến pháp mới đã quy định.
Quan niệm quyền lực nhà nước là thống nhất như nói trên của Hiến pháp năm
2013 là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước đề cao trách hiệm của nhà nướctrước Nhân dân, hạn chế sự dựa dẫm, ỷ lại trong việc thực hiện quyền hạn vànhiệm vụ mà Nhân dân đã ủy quyền Đó cũng là cơ sở để không có chỗ cho cácyếu tố cực đoan, đối lập, thiếu trách nhiệm trong mối quan hệ giữa các quyền, nhất
là giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp Đồng thời, đó cũng là điều kiện đểhình thành cơ chế kiểm soát, nhận xét, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt độngcủa các quyền từ bên trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng như từ bên ngoài làNhân dân
Như vậy, quyền lực nhà nước là thống nhất và tập trung ở Nhân dân, chủ thể tốicao và quy nhất của quyền lực NN là quan niệm có ý nghĩa chỉ đạo tổ chức quyềnlực NN trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và
Trang 7vì dân Mọi biểu hiện xa rời quan điểm quyền lực NN thuộc về Nhân dân theoHiến Pháp năm 2013 đều dẫn đến tổ chức quyền lực nhà nước kém hiệu quả.
Về phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Trong chế độ dân chủ và pháp quyền XHCN thì quyền lực nhà nước không phải
là quyền lực tự có của nhà nước mà quyền lực được Nhân dân ủy quyền, Nhân dângiao quyền Vì thế, tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên phải kiểm soátquyền lực Nhà nước Mặt khác, khi ủy quyền cho nhà nước, quyền lực nhà nướclại thường vận động theo xu hướng tự phủ định mình, trở thanh đối lập của chínhmình lúc ban đầu ( từ của Nhân dân là số đông chuyển thành số ít của một nhómngười hoặc của một người) C.Mác gọi hiện tượng này là sự tha hóa của quyền lựcnhà nước Hơn nữa, quyền lực nhà nước là của nhân dân giao cho các cơ quan nhànước suy cho cùng là giao cho những người cụ thể thực thi Mà con người thì
luôn” luôn luôn chịu sự ảnh hưởng của các loại tình cảm và dục vọng đối với các
hành động của con người.” Điều cũng khiến cho lí tính đôi bị chìm khuất[1] Đặc
biệt là khi lí tính bị chi phối bởi các dục vọng, thói quen hay tình cảm thì khả năngsai lầm trong việc thực thi quyền lực nhà nước càng lớn Với đặc điểm đó của conngười, không thể khẳng người được ủy quyền luôn luôn làm đúng, làm đủ những
gì mà nhân dân đã ủy quyền Vì vậy kiểm soát quyền lực NN là một nhu cầu kháchquan từ phía người ủy quyền đối với người được ủy quyền Hơn thế nữa, quyền lựcnhà nước không phải là một đại lượng có thể cân, đong, đo, đếm được một cáchrạch ròi, vì nó là một thể thống nhất như nói ở trên Điều đó lại càng đỏi hỏi phảikiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế hiệu lực và hiệu quả thực thi quyền lực nhànước được Nhân dân ủy quyền
Xuất phát từ các đòi hỏi khách quan nói trên, quyền lực nhà nước thườngđược lượng hóa bằng các quy định của Hiến pháp để phân định nhiệm vụ quyềnhạn của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Sự lượng hóa này là để giaocho các cơ quan nhà nước khác nhau, thay mặt Nhân dân thực hiện Sự phânđịnhcác quyền như vậy là điều kiện cơ bản để Nhân dân giao quyền mà không bị lamhquyền, Nhân dân kiểm soát và đánh giá được hiệu lực, hiệu quả thực hiện cácquyền mà mình đã giao Đồng thời cũng là để cho các cơ quan tương ứng đượcgiao quyền đề cao trách nhiệm trong việc thực thi quyền lực NN và tự kiểm traviệc thực hiện quyền lực NN được giao cho mình Theo đó, trong Hiến pháp năm
2013 đã có một bước tiến mới trong việc phân công quyền lực NN Lần đầu tiêntrong Hiến pháp nước ta chỉ rõ Quốc hội thực hiện quyền lập hiến (không còn làduy nhất có quyền lập hiến như Hiến pháp năm 1992), quyền lập pháp (điều 69),
Trang 8CHính phủ thực hiện quyền hành pháp (điều 94), Tòa án Nhân dân thực hiệnquyền tư pháp (điều 102) Việc xác nhận các cơ quan khác nhau thực hiện cácquyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là một thay đổi quan trọng, tạo điều kiện đểlàm rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ quyền hạn của mỗi quyền.
Đối với quyền lập pháp là quyền đại diện cho Nhân dân thể hiện ý chí chungcủa quốc gia Những người được Nhân dân trao cho quyền này là những người dophổ thông đầu phiếu bầu ra hợp thành cơ quan gọi là Quốc hội Thuộc tính cơ bản,xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là đại diện cho Nhân dân, bảo đảm cho ýchí chung của Nhân dân được thể hiện trong các đạo luật mà mình là cơ quan duynhất được Nhân dân giao quyền biểu quyết thông qua luật Quyền biểu quyết thôngqua luật là quyền lập pháp, chứ không phải là quyền đưa ra các mô hình xử sự cho
xã hội Vì vậy, quyền lập pháp không đồng nghĩa với quyền làm ra luật Đồng thời,
là người thay mặt Nhân dân giám sát tối cao mọi hoạt động của nhà nước, nhất làhoạt động thực hiện quyền hành pháp, để góp phần giúp cho các quyền mà Nhândân giao cho các cơ quan nhà nước không bị lạm quyền, lộng quyền hay bị tha hóa.Quyền hạn và nhiệm vụ của Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp được quyđịnh ở Điều 70 và Điều 120 của Hiến pháp năm 2013
Quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí chung của quốc gia doChính phủ đảm trách Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này
là đề xuất, hoạch định, tổ chức soạn thảo chính sách quốc gia và sau khi chính sáchquốc gia được thông qua là người tổ chức thực hiện và quản lý nhà nước mà thựcchất là tổ chức thực hiện pháp luật để bảo đảm an ninh, an toàn và phát triển xãhội Không có một Chính phủ thực hiện quyền hành pháp một cách hữu hiệu,thông minh; không thể có một nhà nước giầu có, phát triển ổn định cả về mặt kinh
tế lẫn mặt xã hội Thực hiện quyền này đòi hỏi Chính phủ và các thành viên củaChính phủ phải nhanh nhạy, quyết đoán kịp thời và quyền uy tập trung thống nhất.Quyền hạn và nhiệm vụ của Chính phủ - cơ quan thực hiện quyền hành pháp đượcquy định một cách khái quát ở Điều 96 Hiến pháp năm 2013
Quyền tư pháp là quyền xét xử, được Nhân dân giao cho tòa án thực hiện.Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là nguyên tắc xuyên suốt và cao nhấttrong tổ chức thực hiện quyền này; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân canthiệp vào việc xét xử của thẩm phán và hội thẩm Nhân dân (khoản 2 Điều 103).Đây thực chất là quyền bảo vệ ý chí chung của quốc gia bằng việc xét xử các hành
vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật từ phía công dân và cơ quan nhà nước Vì vậy,bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân là nhiệm vụ hàng đầu củaquyền tư pháp (khoản 3 Điều 102) Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ
Trang 9tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ tính pháp quyền và công lý trong các phán quyết củaTòa án.
Như vậy, xuất phát từ đặc điểm của quyền lực nhà nước, việc phân địnhthành ba quyền nói trên là một nhu cầu khách quan Ngày nay, xu hướng phân địnhrành mạch ba quyền đó ngày càng được coi trọng trong tổ chức quyền lực nhànước Bời vì, xã hội càng phát triển, phân công lao động càng phải chuyên mônhóa cao để phát huy hiệu quả Đồng thời, thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyềnXHCN ở nước ta chỉ ra rằng việc phân định mạch lạc ba quyền là cách thức tốtnhất để phát huy vai trò của nhà nước trong công cuộc xây dựng và phát triển đấtnước
Tuy nhiên, như đã nói ở trên, trong nhà nước ta quyền lực nhà nước là thốngnhất Đó là sự thống nhất về mục tiêu chính trị chung.Vì vậy, việc phân định quyềnlực nhà nước không chứa đựng và bao quát việc phân lập mục tiêu chính trị chungcủa quyền lực nhà nước Do vậy, mặc dù có sự phân định ba quyền nhưng cả baquyền lập pháp, hành pháp và tư pháp không hoàn toàn tách biệt nhau mà “ràngbuộc lẫn nhau”, cả ba quyền đều phải phối hợp với nhau, phải hoạt động một cáchnhịp nhàng trên cơ sở làm đúng, làm đủ nhiệm vụ và quyền hạn mà Nhân dân giaocho mỗi quyền được Hiến pháp – Đạo luật gốc của nhà nước và xã hội quy định.Mục đích của việc phân công quyền lực nhà nước là để nhằm kiểm soát quyền lựcnhà nước, bảo đảm cho tính pháp quyền của nhà nước và phát huy dân chủ XHCN,chứ không phải là để thỏa hiệp hay chia rẽ quyền lực nhà nước giữa các quyền.Thực tiễn chỉ ra rằng sức mạnh và sự thịnh vượng của một quốc gia, cũng như khảnăng đối mặt với những khó khăn, thách thức phần lớn được quyết định bởi sựvững mạnh của các thiết chế, cam kết của các nhánh quyền lực nhà nước với Nhândân về tính pháp quyền
Điều đó không kém phần quan trọng so với các yếu tố về tài nguyên thiênnhiên, khí hậu hoặc vị trí địa lý của quốc gia Những nước duy trì được sự pháttriển ổn định lâu dài về kinh tế xã hội và chính trị là những nước tuân theo tinhthần của pháp quyền Ý nghĩa của sự phân công quyền lực nhà nước là để phânđịnh nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, để nhà nướchoạt động có hiệu lực và hiệu quả, quyền lực nhà nước ngày càng thực sự là quyềnlực của Nhân dân, tính pháp quyền của nhà nước ngày càng được đề cao Nội dung
và tinh thần của các quy định về việc phân công nhiệm vụ quyền hạn cho Quốchội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân nhìn chung đáp ứng các yêu cầu nói trên và là cơ
sở để tiến hành kiểm soát quyền lực nhà nước
Trang 10Về kiểm soát quyền lực nhà nước, ngoài việc phân công mạch lạc nhiệm vụquyền hạn của các quyền để tạo cơ sở cho kiểm soát quyền lực; Hiến pháp năm
2013 còn tạo lập cơ sở Hiến định để hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luậtđịnh (Điều 119) Đồng thời, Hiến pháp giao cho: Quốc hội, các cơ quan của Quốchội, Chủ tịch nước, Chính phủ,Tòa án Nhân dân, Viện kiểm sát Nhân dân, các cơquan khác của nhà nước có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp.Như vậy, Hiếp pháp lầnnày tuy chưa hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp chuyên trách như Nghị quyết củaĐảng đã đề ra, nhưng với quy định của Điều 119 đã tạo cơ sở hiến định để xâydựng một có chế bảo vệ Hiến pháp do luật định Rồi đây, Luật hoạt động giám sátcủa Quốc hội, Luật Thanh tra, Luật Tổ chức Viện kiểm sát Nhân dân chắc chắn sẽđược sửa đổi bổ sung để hình thành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trongviệc tuân theo Hiến pháp một cách hữu hiệu hơn
Trong tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước theo nguyên tắc phân quyềnmềm dẻo thì kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp, chủ yếu là kiểm soát của lập pháp và tư pháp đối với hành pháp.Để tăngcường kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung,điều chỉnh một số nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốchội, ví dụ như: Ủy ban thường vụ Quốc hội được bổ sung thêm nhiệm vụ; Quyếtđịnh, thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới, đơn vị hành chính dướitỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (khoản 8 điều 74) Quốc hội được bổ sungthêm nhiệm vụ quyền hạn: phê chuẩn, đề nghị, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chứcthẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao (khoản 7, Điều 70) Cùng với điều đó,Hiếnpháp năm 2013 đã thiết lập thêm hai thiết chế độc lập: Hội đồng bầu cử quốc gia
có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, chỉ đạo công tác bầu cử đại biểuHội đồng Nhân dân các cấp (Điều 117) và Kiểm toán nhà nước có nhiệm vụ giúpQuốc hội kiểm soát việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công (Điều 118) Sự rađời các thiết chế hiến định độc lập này cũng nhằm tăng cường các công cụ để Nhândân kiểm soát quyền lực nhà nước trong bầu cử, trong sử dụng tài chính ngân sáchnhà nước và tài sản công một cách hiệu quả hơn
Câu 5 Nêu về tính cấp bách phải đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở nước ta? Những thuận lợi và nguy cơ của đảng cầm quyền?
Trang 11- Các thế lực phản động, thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu diễn biến hòabình, bạo loạn nhằm lật đổ, đôie mới nhằm thêm sức mạnh của đảng ta.
Làm rõ 4 nguy cơ: Tụt hậu, Chệch đường lói; tham nhũng, quan liêu, lãngphí; Diễn biến hòa bình của thế lực thù địch
Tham khảo
Đổi mới và kiện toàn tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là một yêu cầu bức xúc do chính thực tiễn đặt ra và vì thế, nó được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước Nhận thức sâu sắc ý nghĩa quan trọng của nhiệm vụ này, trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định rằng, chúng ta cần phải tiếp tục cải tiến bộ máy của Đảng, Nhà n ước và các tổ chức đoàn thể thuộc hệ thống chính trị theo hướng tinh giản và nâng cao hiệu quả; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa các tổ chức, kiện toàn các cấp uỷ đảng, giải quyết các mối quan hệ và nâng cao chất lượng hoạt động của các Ban Đảng, Đảng đoàn, Ban Cán sự đảng, Đảng uỷ khối và Đảng uỷ cơ quan Thực tiễn của đất nước trong những năm qua cho thấy, sự vững mạnh và hoạt động có hiệu quả của hệ thống chính trị là yếu tố đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng quyết định đối với sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Trong chặng đường 20 năm đổi mới vừa qua, hệ thống chính trị của đất nước đã có những bước chuyển biến quan trọng Vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục được khẳng định, giữ vững và ngày càng nâng cao Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đang được chúng ta tiến hành một cách chủ động, tự giác và thận trọng Các tổ chức, đoàn thể khác thuộc hệ thống chính trị nước ta được củng cố một bước quan trọng, đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội được tôn trọng, phát huy và thực hiện ngày càng đầy
đủ hơn.
Tuy nhiên, việc tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị vẫn là một nhiệm vụ cấp bách và cần thiết để phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Thực tế cho thấy, hệ thống chính trị của nước ta hiện còn nhiều vần đề cần được khắc phục, giải quyết Nhìn chung,
cơ cấu bộ máy của Đảng và các tổ chức thuộc hệ thống chính trị ở các cấp hiện còn khá cồng kềnh, đầu mối tổ chức
và biên chế ngày càng tăng Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của một số cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị chưa được quy định rõ ràng, chưa được thực hiện đầy đủ, đôi khi còn chồng chéo, trùng lặp và phân tán Chức năng, nhiệm vụ quy định cho bộ, ngành này nhưng lại do bộ, ngành khác thực hiện Có chức năng, nhiệm vụ do một
số bộ, ngành và uỷ ban nhân dân địa phương cùng thực hiện nhưng lại chưa có cơ quan nào đứng ra chủ trì và chịu trách nhiệm chính.
Chất lượng của các hoạt động nghiên cứu, thẩm định, hướng dẫn, kiểm tra… của các cơ quan tham mưu còn có những hạn chế nhất định Ban cán sự Đảng, Đảng đoàn ở các ngành Trung ương và các địa phương còn lúng túng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ Một số tổ chức chính trị - xã hội vẫn chưa khắc phục được phương thức hoạt động cũ, mang tính hành chính hoá trước đây; chưa phát huy vai trò và hoàn thành tốt chức năng vận động, tổ chức và hướng dẫn quần chúng nhân dân trong việc thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến tính hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý, điều hành các hoạt động của đời sống xã hội.
Đội ngũ cán bộ hiện nay, xét cả về chất lượng và số lượng, chưa ngang tầm với những yêu cầu mới, ngày càng cao của giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập với thế giới; đặc biệt, một số nơi có tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ (nhiều cán bộ yếu kém năng lực chuyên môn, thiếu cán bộ nghiên cứu và chuyên gia giỏi) Trình độ tổ chức, quản lý của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị còn thấp, không đồng bộ Một số cán bộ có chức, có quyền có biểu hiện tham vọng cá nhân cục bộ, kèn cựa địa vị,
cơ hội, gia trưởng độc đoán, quan liêu, ức hiếp nhân dân, kém ý thức tổ chức kỷ luật, phát ngôn và làm việc tuỳ tiện, gây mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng Những biểu hiện này đang có chiều hướng gia tăng, làm ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò lãnh đạo và tăng cường sức chiến đấu của Đảng, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước Trước những biến động phức tạp trên thế giới và tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, cũng như do
sự nhận thức mơ hồ, lệch lạc về chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội, một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện dao động, giảm sút niềm tin, hoài nghi đối với đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước Tư tưởng chạy theo đồng tiền, tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu… làm cho một bộ phận cán bộ,