Chính phủ quy định chi tiết về các biện pháp bảo vệ người tố cáo, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc bảo vệ người tố cáo.
- Phân tích những điểm mới về cơ chế bảo vệ người tố cáo so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998.
Luật Tố cáo năm 2011 quy định 1 chương (chươngVI) về bảo vệ người tố cáo còn tại Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy định về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo tại Điều 57 và 58.
Điều 57
1- Người tố cáo có các quyền sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình;
c) Yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết tố cáo;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù.
2- Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo;
b) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.
Điều 58
1- Người bị tố cáo có các quyền sau đây:
a) Được thông báo về nội dung tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;
c) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.
2- Người bị tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
c) Bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra.
Trên cơ sở các quy định trên Luật Tố cáo năm 2011 có những quy định mới về bảo vệ người tố cáo so với Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 như sau:
Thứ nhất: Quy định rõ phạm vi, đối tượng và thời hạn bảo vệ Thứ hai: Bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo
Thứ ba: Bảo vệ người tố cáo tại nơi công tác, làm việc Thứ tư: Bảo vệ người tố cáo tại nơi cư trú
Thứ năm: Bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo.
Bảo vệ người tố cáo là một nội dung hết sức quan trọng, nhằm giúp người tố cáo tin tưởng vào sự đúng đắn, công minh của pháp luật, giúp họ quan tâm và mạnh dạn phản ánh những việc làm sai trái của cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ, góp phần hạn chế đơn thư tố cáo nặc danh.
Đề cao và bảo vệ quyền tố cáo của công dân, tạo đủ công cụ hình thành cơ chế hữu hiệu để bảo vệ an toàn tính mạng, danh dự, nhân phẩm và các quyền, lợi ích vật chất, tinh thần khác cho người tố cáo. Đồng thời cũng quy định về trừng trị nghiêm khắc đối với người lợi dụng quyền tố cáo để vu khống, làm hại người khác hoặc trả thù người tố cáo.
Quy định tại Luật tố cáo năm 2011 thể hiện sự ưu tiên đối với việc bảo vệ tính mạng, tài sản của người tố cáo, khi cần thiết có thể bảo vệ cả người thân của họ, đồng thời bảo vệ quyền lợi về chính trị, kinh tế, việc làm, uy tín của người tố cáo.
Luật tố cáo năm 2011 quy định phải bảo vệ bí mật cho người tố cáo, dù họ có yêu cầu hay không có yêu cầu để đề phòng sự chủ quan, sơ xuất hoặc đổ lỗi cho nhau của cả người tố cáo và cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong giải quyết tố cáo.
Như vậy mới có thể thúc đẩy cho người dân tham gia chủ động, tích cực và có trách nhiệm hơn vào công việc của Nhà nước, xã hội, thực hiện quyền làm chủ và góp sức xây dựng nhà nước trong sạch, xã hội công bằng, văn minh”.
Câu 20: Hãy phân tích các dấu hiệu của của hành vi tham nhũng? Trên cơ sở đó nêu các hành vi tham nhũng theo quy định của Luật PCTN năm 2005?
Trả lời:
* Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ quyền hạn đó vì vụ lợi.
* Các dấu hiệu của hành vi tham nhũng
- Chủ thể là người có chức vụ quyền hạn. Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền hạn. Người có chức vụ quyền hạn bao gồm: Cán bộ, công chức viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân, cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp Nhà nước, cán bộ lãnh đạo quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp, người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ, có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Nhìn chung những người có chức vụ quyền hạn họ có đặc điểm, đặc thù so với nhóm đối tượng khác như: có nhiều kinh nghiệm trong quá trình công tác, được đào tạo có hệ thống ở nhiều lĩnh vực khác nhau, là người có quan hệ rộng, có uy tín trong xã hội và thậm chí có thế mạnh về kinh tế.
Từ những đặc điểm trên của chủ thể hành vi tham nhũng chính là yếu tố gây khó khăn cho việc phát hiện điều tra, xét xử hành vi tham nhũng.
- Lợi dụng chức vụ,quyền hạn được giao để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng.
Khi được hiện hành vi tham nhũng chủ thể hành vi tham nhũng phải sử dụng “ chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác. Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng. Một người có chức vụ quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng.